Truy tìm Dracula - Chương 39
Chương 39
“Từ khi gặp gỡ Éva, bác của Helen, cha thường nhớ đến bà -
dù chỉ gặp mặt bà có ba lần. Có những người chỉ sau một thời gian quen biết
ngắn ngủi đã có thể ghi dấu hình ảnh của họ trong ký ức ta sâu hơn nhiều người
ta vẫn gặp ngày này qua ngày khác suốt cả một thời gian dài. Bác Éva chắc chắn
là một người đầy sức sống, một con người mà hai mươi năm nay cả ký ức lẫn trí
tưởng tượng của cha đã cùng chung sức gìn giữ như một hình ảnh đầy màu sắc sinh
động. Đã nhiều lần cha hình dung ra bà khi đọc miêu tả các nhân vật trong sách,
hoặc các gương mặt trong lịch sử; ví dụ như, hình ảnh bà ấy tự động hiện lên
trong tâm trí khi cha đọc đến đoạn có nhân vật Phu nhân Merle, người phụ nữ đầy
thủ đoạn trong cuốn Chân dung một Quý Bà của Henry James.
“Thực ra, trong suy nghĩ của cha, bác Éva nằm trong số những
phụ nữ xinh đẹp, vừa khôn ngoan, vừa dữ dội; nên hiện tại cha cũng khá khó khăn
khi hình dung lại con người thực sự của bà trong lần gặp gỡ đầu tiên, buổi tối
đầu hè ở Budapest năm 1954. Cha nhớ rõ ràng Helen đã lao vào vòng tay của bà
với vẻ trìu mến chẳng mấy khi thấy cô bộc lộ còn bà chỉ trầm tĩnh đứng yên, ôm
và hôn thắm thiết lên cả hai bên má cô cháu gái. Khi Helen quay lại, đôi má ửng
hồng, giới thiệu chúng ta với nhau, cha thấy nước mắt long lanh trong mắt của
cả hai người phụ nữ. ‘Bác Eva, đây là anh bạn đồng nghiệp người Mỹ của cháu,
người mà cháu đã kể với bác. Anh Paul, đây là bác tôi, Éva Orbán.’
“Cha bắt tay, cố không nhìn bà chằm chằm. Éva là một phụ nữ
đẹp, cao ráo và có lẽ khoảng năm mươi lăm tuổi. Điều khiến cha ngạc nhiên đến
sững sờ là bà rất giống Helen. Họ có thể là hai chị em - một người khá lớn tuổi
và người kia trẻ hơn nhiều, hoặc hai người là một cặp sinh đôi - một người già
dặn với những trải nghiệm gian khổ, trong lúc người kia vẫn còn trẻ trung tươi
mát một cách diệu kỳ. Thực ra, bác Éva tuy thấp hơn nhưng vóc dáng vẫn còn mạnh
mẽ và thanh nhã như Helen. Gương mặt bà hẳn đã có một thời đáng yêu hơn Helen,
và bà vẫn còn rất đẹp, với chiếc mũi dọc dừa thẳng và khá dài, đôi gò má cương
nghị, đôi mắt huyền trầm tư. Màu tóc của bà làm cha bối rối, nhưng rồi cha nhận
ra rằng tóc của bà có thể chưa bao giờ có được màu nguyên thủy tự nhiên của nó,
hiện tại đó là một màu đỏ ánh tím kỳ lạ, nhuốm bạc một chút ở chân. Trong những
ngày kế tiếp ở Budapest, cha đã nhìn thấy những mái tóc nhuộm như vậy ở nhiều
phụ nữ, nhưng dù sao lần đầu nhìn thấy màu tóc đó thì cha vẫn ngạc nhiên. Bà
mang một đôi bông tai vàng nhỏ, mặc chiếc sơ mi nữ màu đỏ bên dưới bộ vest sậm
màu, cùng kiểu với bộ vest của Helen.
“Khi chúng ta bắt tay nhau, bác Éva nghiêm nghị nhìn vào mặt
cha, hầu như thẳng thắn. Cha nghĩ có thể bà đang xem xét liệu cha có khuyết
điểm nào để cảnh báo với cô cháu gái, nhưng rồi cha lại tự trách mình; sao bà
lại xem cha như một đối tượng tiềm tàng cho cô cháu gái thương yêu của bà được?
Cha nhận ra những vết chân chim ở đuôi mắt và khóe môi, dấu hiệu của một nụ
cười cởi mở. Chỉ một lát sau, nụ cười đó đã nở ra, tựa như bà không thể kìm nén
lâu hơn. Thảo nào người đàn bà này có thể dễ dàng thu xếp để nhét thêm người
vào các cuộc hội nghị hoặc lấy được dấu thị thực nhập cảnh ngay tức khắc, cha
nghĩ, vẻ thông minh của bà rạng ngời đến mức chỉ nụ cười của bà mới sánh nổi.
Giống như Helen, hàm răng bà trắng và đều đặn, một đặc điểm mà cha bắt đầu nhận
ra không thường có bẩm sinh ở người Hungary.
“ ‘Rất hân hạnh được gặp bà,’ cha nói. ‘Cám ơn bà đã thu xếp
để chúng tôi được vinh dự tham gia hội nghị này.’
“ ‘Bác Éva cười, siết chặt tay cha. Cha đã lầm vì khoảnh
khắc trước đó nghĩ rằng bà là người kín đáo và trầm lặng; lúc này bà đang huyên
thuyên một tràng tiếng Hungary, cha tự hỏi có phải bà cho là cha có thể hiểu
được những câu ấy không. Helen lao đến cứu nguy ngay. ‘Bác tôi không nói được
tiếng Anh,’ cô giải thích. ‘Mặc dù bác hiểu tiếng Anh nhiều hơn mức bác thừa
nhận. Những người lớn tuổi ở đây thường học tiếng Đức hoặc tiếng Nga, đôi khi
cả tiếng Pháp, nhưng tiếng Anh thì họa hoằn lắm. Tôi sẽ phiên dịch cho anh.
Suỵt…’ Cô trìu mến đặt bàn tay lên cánh tay bà bác, nói một vài câu cầu khiến
ngắn gọn bằng tiếng Hung. ‘Bác ấy nói rất hân hạnh được đón tiếp anh ở đây và
hy vọng anh sẽ không gặp rắc rối nào, bởi bác đã làm cho cả văn phòng của viên
phó lãnh sự phụ trách thị thực nhập cảnh rối tung lên với việc cấp thị thực cho
anh. Bác ấy mong sẽ được anh mời đến nghe diễn thuyết - bác ấy không hiểu tiếng
Anh tốt lắm đâu, nhưng đó là vấn đề nguyên tắc - và anh phải thỏa mãn sự tò mò
của bác về trường đại học của anh ở Mỹ, về việc anh đã gặp tôi như thế nào,
liệu ở Mỹ tôi có cư xử chừng mực không, và thứ đồ ăn nào mẹ anh thường nấu. Sau
này, bác ấy chắc chắn sẽ còn nhiều thắc mắc khác nữa đấy.’
“Cha ngạc nhiên nhìn hai người bọn họ. Cả hai đang mỉm cười
nhìn cha, hai người phụ nữ tuyệt vời, cha chợt nhận ra sự giống nhau kỳ lạ giữa
tính cách ưa châm biếm của Helen trên gương mặt bác cô, dù Helen có thể có lợi
thế hơn nếu bắt chước được nụ cười thường trực như trên gương mặt của bác Éva.
Chắc chắn không ai lừa được một người như bác Éva Orbán; xét cho cùng, cha nhớ
lại, bà xuất thân từ một làng quê Rumani mà đã lên được đến một vị thế đầy
quyền lực trong chính quyền Hungary kia mà. ‘Chắc chắn tôi sẽ cố gắng đáp ứng
những mối quan tâm của bác cô.’ Cha nói với Helen. ‘Xin vui lòng giải thích với
bà ấy món đặc sản của mẹ tôi là thịt băm nướng và nui pho mát.’
“ ‘Á, thịt băm nướng,’ Helen thốt lên. Bà Éva nở nụ cười tán
thưởng sau khi nghe cô giải thích. ‘Bác ấy nhờ anh chuyển đến mẹ anh lời thăm
hỏi và chúc mừng vì đã có người con trai tuyệt vời.’ Cha cảm thấy đỏ mặt lên vì
ngượng nhưng vẫn hứa sẽ chuyển đến bà nội con lời nhắn đó. ‘Giờ bác ấy đưa
chúng ta đến một nhà hàng mà anh sẽ rất thích, một hương vị Budapest cổ xưa.’
“Vài phút sau, cả ba chúng ta đã ngồi vào băng ghế sau trong
xe riêng của bác Éva - cũng xin nói thêm là chẳng mấy giống xe của người vô sản
- Helen ngồi chỉ trỏ các cảnh quan bên ngoài mỗi lần bà bác nhắc. Cha cũng nên
nhắc lại, qua hai lần gặp gỡ, bác Éva chưa bao giờ thốt ra với cha một từ tiếng
Anh nào, nhưng cha có ấn tượng đó chỉ là một vấn đề nguyên tắc - một nghi thức
mang tính chống phương Tây chăng? - như bất kỳ vấn đề nào khác; khi Helen và
cha có chuyện trao đổi với nhau, bác Éva thường có vẻ như hiểu được phần nào
câu chuyện, ngay cả trước khi Helen kịp dịch lại. Tựa như thông qua cách dùng
ngôn ngữ thế này, bác Éva đang tuyên bố rằng phải giữ khoảng cách với những gì
của phương Tây, thậm chí phải tỏ ra căm ghét một chút, nhưng cá nhân một người
phương Tây thì hoàn toàn có thể là một người dễ thương và đáng được hưởng trọn
vẹn lòng hiếu khách của người Hungary. Rốt cuộc, cha cũng quen với việc nói
chuyện với bà thông qua Helen, thậm chí một đôi lần cha có cảm giác gần như
hiểu được những âm điệu trầm bổng như thơ của thứ tiếng bà nói.
“Dù sao thì giữa chúng ta vẫn có một vài hình thức giao tiếp
không cần phải có người thông dịch. Sau một cuộc dạo bằng xe dọc theo dòng sông
cực kỳ thú vị, chúng ta vượt qua cái mà sau này cha mới biết là Széchenyi
Lánchid, cây Cầu Xích Széchenyi, một phép màu của kỹ thuật thế kỷ mười chín,
được đặt tên theo một trong những con người vĩ đại có công làm đẹp cho thành
phố Budapest, Bá tước István Széchenyi. Khi chúng ta hướng lên cây cầu, ráng
chiều hắt lên từ dòng Danube tràn ngập toàn bộ quang cảnh, làm cho các hình
khối đầy ấn tượng của các lâu đài và giáo đường bên Buda, nơi chúng ta đang
hướng đến, như chìm vào trong một bức tranh khắc nổi chỉ có hai màu vàng và
nâu. Bản thân cây cầu là một công trình đồ sộ mà thanh nhã, đỡ trên mình nó hai
khải hoàn môn khổng lồ, canh giữ ở mỗi đầu là tượng những chú sư tử nằm phủ
phục. Cha há hốc miệng, sững sờ ngắm nhìn, và bắt gặp nụ cười của bác Éva,
Helen, đang ngồi giữa cha và Éva cũng nở nụ cười tự hào. ‘Một thành phố tuyệt
vời,’ cha thốt lên, bác Éva chợt với sang siết chặt cánh tay cha, tựa như cha
đã trở thành một trong những đứa con đã lớn khôn của bà.
“Helen giải thích với cha rằng bác Éva muốn cho cha biết về
việc xây dựng lại cây cầu. ‘Budapest bị tàn phá nặng nề trong chiến tranh,’ cô
dịch lại. ‘Chúng tôi vẫn còn một cây cầu chưa sửa xong, nhiều công trình khác
cũng phải chịu hoàn cảnh tương tự. Anh có thể thấy chúng tôi đang xây dựng lại
ở khắp mọi nơi trong thành phố. Nhưng cây cầu này đã được sửa chữa lại để -
người ta gọi thế nào nhỉ? - kỷ niệm một trăm năm tuổi của nó, từ năm 1949,
chúng tôi rất hãnh diện vì điều đó. Và đặc biệt là tôi vô cùng hãnh diện vì bác
là người đứng ra tổ chức việc tái thiết đó.’ Bác Éva gật đầu, mỉm cười và rồi
có vẻ như khựng lại vì chợt nhớ là mình được xem là không hiểu gì về những lời
Helen vừa nói với cha.
“Một lát sau, chúng ta chạy vào một đường hầm có vẻ như nằm
ngay dưới tòa lâu đài, bác Éva nói với chúng ta bác đã chọn đi ăn ở một trong
các nhà hàng ưa thích nhất của bác, một chỗ ‘Hungary đích thực’ trên phố József
Attila. Cha vẫn còn ngạc nhiên về tên những đường phố của Budapest, ngoài một
số tên hoàn toàn xa lạ và có vẻ kỳ lạ với cha còn một vài tên khác, như cái tên
này, gợi nhớ lại một quá khứ mà cha nghĩ chỉ có trong sách vở. Đường József
Attila hóa ra cũng bề thế như hầu hết những đường phố khác của thành phố, hoàn
toàn không phải là một đường mòn bùn lầy với những lều trại hoang dã dọc hai
bên với những chiến binh Hung Nô nhồm nhoàm ăn uống ngay trên lưng ngựa. Bên
trong nhà hàng rất yên tĩnh và thanh lịch, viên quản lý nhà hàng vội vã chạy
đến chào hỏi đích danh bác Éva. Có vẻ bà đã quen với kiểu quan tâm đặc biệt
này. Chỉ trong vài phút, chúng ta đã yên vị tại một bàn tốt nhất trong phòng,
từ vị trí đó chúng ta có thể thưởng ngoạn cảnh trí của những cây cổ thụ và các
tòa nhà cổ kính, những khách bộ hành tản bộ trong bộ cánh mùa hè sang trọng,
thoáng nhìn thấy những chiếc xe nhỏ rồ ga phóng ngang qua thành phố. Cha ngồi
dựa ra phía sau, buông ra một tiếng thở dài hài lòng.
“Bác Éva gọi món ăn cho cả ba người, như một điều đương
nhiên, món ăn đầu tiên được mang ra kèm theo một loại rượu mạnh gọi là pálinka,
Helen cho biết đó là loại rượu chưng cất từ quả mơ. ‘Nào, bây giờ chúng ta sẽ
có một món rất ngon với thứ rượu này đây,’ bác Éva giải thích với cha, thông
qua Helen. ‘Chúng tôi gọi món này là hortobàgyi palacsinta. Một loại bánh sữa
nhồi với thịt bê, một món ăn truyền thống của dân chăn cừu ở những vùng đất
thấp của Hungary. Anh sẽ thích món này cho mà xem.’ Cha thích thật, và cũng
thích tất cả các món sau đó - thịt hầm rau, món ba lớp gồm trứng gà luộc kỹ,
khoai tây và xúc xích Ý cắt lát, những món xa lát đẫm nước xốt, cừu hầm đậu
xanh, và loại bánh mì vàng nâu tuyệt vời. Cho đến lúc đó cha vẫn chưa cảm thấy
đói sau một ngày dài di chuyển. Cha cũng chú ý nhận thấy Helen và bác cô đã ăn
uống rất tự nhiên, với một vẻ ngon miệng mà không một phụ nữ Mỹ lịch sự nào dám
biểu lộ công khai trước mặt người khác.
“Tuy nhiên, sẽ là một điều sai lầm khi nghĩ rằng chúng ta
chỉ đang ăn uống. Khi tất cả các món ăn truyền thống này đã yên vị trong dạ dày
thì bác Éva bắt đầu nói và Helen dịch. Thỉnh thoảng cha nêu vài câu hỏi này nọ,
nhưng phần lớn thời gian, như cha nhớ, cha không kịp hấp thu cả hai thứ, thức
ăn và lượng thông tin bác Éva đưa ra. Bà có vẻ nhớ kỹ trong đầu rằng cha thực
sự là một nhà sử học; có lẽ thậm chí bà ngờ rằng cha hãy còn thiếu hiểu biết về
lịch sử Hungary và muốn chắc chắn cha không làm bẽ mặt bà tại hội nghị, hoặc
cũng có thể bà bị thôi thúc bởi lòng yêu nước của một công dân nhập cư từ lâu.
Dù động cơ là gì chăng nữa, bà đã diễn tả rất xuất sắc, thậm chí cha có thể
đoán được câu nói kế tiếp trên gương mặt sinh động và đầy sức sống của bà trước
khi Helen kịp dịch câu nói đó.
“Chẳng hạn, khi nâng ly pálinka lần cuối để kết thúc việc
chúc mừng tình hữu nghị giữa hai đất nước của chúng ta, bác Éva vừa cho gia vị
vào món bánh kếp của dân chăn cừu vừa thuật lại nguồn gốc của thành phố
Budapest - vốn là một vị trí đồn trú tên là Aquincum của binh lính La Mã, giờ
vẫn còn có thể thấy những tàn tích của người La Mã nằm rải rác khắp nơi - sau
đó bà vẽ nên một bức tranh sống động về Attila và chuyện đạo quân Hung Nô của
ông ta đã lấy được Budapest từ tay người La Mã vào thế kỷ thứ 5. Cha nghĩ, so
với người Hung Nô, người Ottoman thực sự là những người đến sau ôn hòa hơn. Món
thịt hầm rau - món ăn Helen quả quyết với cha bằng một vẻ mặt dứt khoát: là
gulyás chứ không phải thịt hầm rau, thịt hầm rau là món khác - lại dẫn đến một
đoạn kể lể dài dòng về cuộc xâm lăng khu vực này của người Hungary vào thế kỷ
thứ 9. Khi đến món khoai tây và xúc xích Ý cắt lát - chắc chắn là ngon hơn món
thịt băm nướng hoặc mì nui trộn pho mát nhiều - bác Éva mô tả lại, vào năm 1000
sau Công nguyên, giáo hoàng đã làm lễ đăng quang cho vua Stephen I, sau này là
Thánh István. ‘Ông vua này khởi thủy vốn là người ngoại đạo man rợ,’ bà nói
thông qua Helen, ‘nhưng ông ta đã trở thành vị vua Hungary đầu tiên cải đạo và
biến Hungary thành một nước Thiên Chúa giáo. Anh sẽ thấy tên ông ta khắp nơi ở
Budapest.’
“Ngay khi cha nghĩ mình đã no đến không thể ăn thêm một
miếng nào nữa, thì hai người phục vụ xuất hiện cùng với những đĩa bánh nướng và
bánh kem, tất cả phủ đầy sô cô la và kem, kèm theo cà phê - ‘cà phê
Eszpresszó,’ theo lời giải thích của bác Éva, những món ăn tráng miệng hẳn sẽ
rất phù hợp với một đại điện vương giả kiểu Áo Hung. Và cha cũng không biết
bằng cách nào, chúng ta vẫn còn bụng để tiêu thụ hết đống bánh tráng miệng đó.
‘Cà phê có một lịch sử bi thảm ở Budapest,’ Helen tiếp tục dịch lại lời của bác
Éva. ‘Một thời gian rất lâu trước đây - đúng hơn là năm 1541 - Sleyman I, kẻ
xâm lăng đến từ đế quốc Ottoman, đã mời Bálint Tưrưk, một trong các vị tướng
của Hungary chúng tôi đến doanh trại của ông ta để dự tiệc, và cuối bữa ăn,
trong lúc vị tướng nhâm nhi ly cà phê - anh biết đấy, vị tướng này là người
Hungary đầu tiên thưởng thức hương vị cà phê - Sleyman báo cho ông ta biết rằng
đội quân tinh nhuệ nhất của Thổ Nhĩ Kỳ đã chiếm lâu đài Buda trong lúc họ đang
ăn uống. Anh có thể hình dung ly cà phê đó đắng như thế nào.’
“Lần này, nụ cười của bà trông có vẻ u sầu chứ chẳng tươi
sáng chút nào. Lại là người Ottoman, cha nghĩ - họ thật thông minh biết bao, và
tàn nhẫn nữa, một sự pha trộn lạ thường giữa mưu kế tinh tế và những thủ đoạn
mọi rợ. Đến năm 1541, họ đã chiếm giữ Istanbul gần một thế kỷ; nhớ đến điều này
khiến cha cảm nhận được sức mạnh bất diệt của họ, cái thành lũy vững chắc mà từ
đó họ vươn vòi bạch tuộc ra khắp châu Âu, chỉ chịu dừng bước trước những cổng
thành Vienna. Cuộc chiến của Vlad Dracula chống lại họ, giống như cuộc chiến của
những đồng bào Thiên Chúa giáo, là cuộc chiến của chàng David nhỏ bé chống lại
gã khổng lồ Goliath, mà mức độ thành công còn kém xa so với những gì David đạt
được. Mặt khác, những nỗ lực của thiểu số quý tộc khắp Đông Âu và vùng Balkan,
không chỉ trong Wallachia mà còn ở Hungary, Hy Lạp và Bungari - cha chỉ nêu tên
một vài nước làm thí dụ, rốt cuộc chỉ mở đường cho sự chiếm đóng của đế quốc
Ottoman. Helen đã thành công trong việc chuyển tải tất cả các thông tin trên
vào đầu óc cha và để lại trong cha một sự thán phục vô cùng đối với Dracula.
Hẳn hắn phải biết cuộc chiến đấu của mình chống lại các lực lượng Thổ Nhĩ Kỳ sẽ
yểu mệnh, tuy vậy hắn đã chiến đấu hầu như suốt cả đời để giải phóng lãnh thổ
khỏi tay những kẻ xâm lược.
“ ‘Thực ra đó là lần thứ hai quân Thổ chiếm đóng khu vực
này.’ Helen nhấp một ngụm cà phê rồi đặt cốc xuống cùng với một tiếng thở khoan
khoái, tựa như đối với cô, cà phê ở đây có mùi vị ngon hơn bất kỳ nơi nào khác
trên thế giới. ‘Năm 1456, János Hunyadi đã đánh bại quân Thổ ở Belgrade. Ông,
cùng với vua István và vua Matthias Corvinus - người đã xây dựng lại lâu đài
Buda và xây mới thư viện Bibliotheca Corviniana vĩ đại, nằm trong số những anh
hùng dân tộc của chúng tôi. Trưa mai, khi nghe tiếng chuông nhà thờ ngân vang
khắp thành phố, anh có thể hiểu đó là để tưởng nhớ những chiến công xa xưa từ
nhiều thế kỷ trước của Hunyadi. Hiện nay, hàng ngày người ta vẫn kéo chuông
tưởng nhớ ông.’
“ ‘Hunyadi,’ cha trầm ngâm nói. ‘Hình như tối hôm trước cô
có nhắc đến ông ta. Mà cô vừa nói chiến thắng của ông ta là vào năm 1456 đúng
không?’
“Cô và cha lại nhìn nhau, bất kỳ thời điểm nào nằm trong
khoảng thời gian Dracula còn sống đều trở thành một loại tín hiệu giữa hai
chúng ta. ‘Lúc đó, hắn đang ở Wallachia,’ Helen nói, giọng nhỏ lại. Cha biết cô
không có ý ám chỉ Hunyadi, bởi chúng ta đã có một thỏa thuận ngầm là không nhắc
đến tên Dracula trước mặt người khác.
“Bác Éva quá sắc sảo nên đã nhận ra sự im lặng của chúng ta,
và không để cho rào cản ngôn ngữ gây trở ngại. ‘Hunyadi à?’ bà hỏi, rồi nói thêm
một điều gì đó bằng tiếng Hungary.
“ ‘Bác tôi muốn biết liệu anh có mối quan tâm đặc biệt nào
đối với giai đoạn Hunyadi còn sống không,’ Helen giải thích.
“Vì không biết phải nói gì, cha trả lời là tất cả mọi vấn đề
thuộc lịch sử châu Âu đều khiến cha cảm thấy thú vị. Câu bình luận ba phải này
đã mang lại cho cha một vẻ mặt khó đoán ý, gần như cau mày của bác Éva, cha vội
vàng tìm cách xoa dịu bà. ‘Xin cô vui lòng hỏi bà Orbán xem liệu tôi có thể nêu
một vài câu hỏi với bà ấy?’
“ ‘Dĩ nhiên.’ Nụ cười của Helen có vẻ như đã nắm bắt được cả
lời yêu cầu lẫn động cơ của nó. Khi cô dịch lại, bà Orbán quay sang nhìn cha,
vẻ khá cảnh giác.
“ ‘Tôi chỉ đang băn khoăn,’ cha nói, ‘liệu những gì tôi nghe
được ở phương Tây về chủ nghĩa tự do hiện thời ở Hungary có thực hay không?’
“Lần này, thì đến gương mặt Helen cũng lộ vẻ cảnh giác, và
cha nghĩ mình có thể sẽ lãnh của cô một cú đá quen thuộc ở dưới gầm bàn, nhưng
bác Éva đã gật đầu ra hiệu cho cô dịch lại câu hỏi của cha. Khi đã hiểu, bà ta
nở nụ cười độ lượng và nhẹ nhàng trả lời. ‘Ở Hungary này, chúng tôi luôn quý
trọng lối sống, sự độc lập của mình. Đó là lý do vì sao chúng tôi đã rất khó
khăn trong những giai đoạn cai trị của người Thổ và người Áo. Chính quyền đích
thực của Hungary sẽ luôn phục vụ những nhu cầu của nhân dân mình, càng lúc càng
tốt hơn. Khi cuộc cách mạng của chúng tôi đưa những người lao động thoát khỏi
sự áp bức và nghèo khổ, chúng tôi đã khẳng định sẽ thực hiện mọi việc theo cách
của riêng chúng tôi.’ Bà nở một nụ cười đằm thắm và cha ước gì có thể hiểu
nhiều hơn nụ cười đó. ‘Đảng Cộng sản Hungary luôn hòa hợp với thời đại.’
“ ‘Như vậy liệu bà có cảm thấy Hungary đang phát triển thịnh
vượng dưới chính quyền của Imre Nagy?’ Từ khi đến thành phố này, cha vẫn luôn
tự hỏi chính quyền của vị tân thủ tướng theo khuynh hướng tự do này đã mang lại
những thay đổi gì cho Hungary, từ khi ông thay thế Rákosi - vị thủ tướng theo
chủ trương cộng sản cực đoan - vào năm ngoái, và liệu ông ta có được sự ủng hộ
của toàn thể nhân dân như chúng ta đã đọc trên báo chí tại Mỹ. Cha nghĩ Helen
đã dịch lại với chút ít lo lắng, nhưng trên môi bác Éva vẫn là nụ cười không
thay đổi.
“ ‘Tôi thấy anh khá am hiểu tình hình thời sự đấy, anh bạn
trẻ ạ.’
“ ‘Tôi luôn quan tâm đến vấn đề quan hệ quốc tế. Tôi tin
rằng việc nghiên cứu lịch sử nên được coi là để chuẩn bị cho việc hiểu hiện
tại, chứ không phải là để thoát ly hiện tại.’
“ ‘Rất thông minh. Chà, để đáp ứng sự hiếu kỳ của anh thì
thủ tướng Nagy đang có được sự ủng hộ rất lớn của người dân và đang thực hiện
những cải cách phù hợp với lịch sử vinh quang của chúng tôi.’
“Phải mất cả phút cha mới nhận thấy thực ra bác Éva đã cẩn
thận để chẳng đưa ra thông tin gì cả, và một phút nữa mới nghĩ ra đó chính là
sách lược ứng xử đã giúp bà giữ vững vị thế trong chính quyền suốt thời kỳ biến
động chuyển từ chính sách của giới lãnh đạo thân Liên Xô sang những cải cách
của những người chủ trương tinh thần dân tộc Hungary. Dù quan điểm cá nhân của
bà đối với Nagy có thế nào thì hiện ông ta vẫn điều hành chính quyền mà bà đang
tham gia hoạt động. Có lẽ chính sự cởi mở mà ông ta đã tạo ra ở Budapest cho
phép bà - một quan chức cấp cao trong chính phủ - có thể mời một người Mỹ đi ăn
tối. Ánh lấp lánh trong đôi mắt đen xinh đẹp của bà có thể đã đồng tình với
những suy nghĩ trên, dù vậy cha vẫn không dám chắc, và như thực tế sau này đã
chứng minh, hóa ra suy đoán của cha là chính xác.
“ ‘Và bây giờ, anh bạn, chúng tôi phải để anh ngủ chút ít
trước khi đăng đàn diễn thuyết. Tôi rất mong được nghe và sau đó sẽ cho anh
biết tôi nghĩ gì về bài thuyết trình đó,’ Helen tiếp tục việc thông dịch. Bác
Éva gật đầu với cha, vẻ thân thiện, nên cha cũng không thể không đáp lại bằng
nụ cười. Người phục vụ xuất hiện bên cạnh bà tựa như đã nghe được lời bà nói;
cha khẽ đề nghị được thanh toán hóa đơn, dù chưa rõ phép xã giao thích hợp ở
đây phải thế nào, thậm chí còn không biết liệu số tiền đổi ở phi trường có đủ
để trả cho bữa ăn thịnh soạn này không. Tuy nhiên, nếu thực sự có một tờ hóa
đơn thì nó đã được âm thầm thanh toán và biến mất trước khi cha kịp nhìn thấy.
Trong phòng giữ mũ áo, cha đã giành với tay quản lý nhà hàng để lấy áo khoác
cho bà, và chúng ta lại ngồi vào băng ghế sau chiếc xe chờ sẵn.
“Đến dưới chân cây cầu tráng lệ, Éva thì thầm một vài tiếng
khiến người lái xe dừng lại. Chúng ta bước ra ngoài, đứng nhìn sang ánh sáng
rực rỡ của khu Pest bên kia sông rồi nhìn xuống dòng sông đen thẫm lăn tăn gợn
sóng. So với bầu không khí mát lành của Istanbul, gió ở đây hơi lạnh, rát buốt
trên mặt cha, và cha có cảm giác như những thảo nguyên mênh mông vùng Trung Âu
đang ở ngay phía chân trời. Quang cảnh phía trước chúng ta gần như là cảnh
tượng mà cha muốn được nhìn thấy suốt đời; cha gần như không thể tin là mình
thực sự đang đứng đó, nhìn vào ánh đèn của thành phố Budapest.
“Bác Éva lại thầm thì điều gì đó, Helen từ tốn dịch lại.
‘Thành phố chúng tôi sẽ mãi mãi là một thành phố tuyệt vời.’ Cha ghi nhớ câu
nói đó. Gần hai năm sau, cha lại nhớ đến nó khi biết được lòng trung thành của
Éva Orbán đối với chính phủ tân cải cách sâu sắc đến mức nào: hai người con trai
đã trưởng thành của bà chết dưới xe tăng Liên Xô trên một quảng trường trong
cuộc nổi dậy năm 1956 của sinh viên Hungary, bản thân bác Éva cũng phải chạy
trốn lên miền Bắc Nam Tư, nơi bác đã biến mất trong những làng quê cùng với
mười lăm ngàn người Hungary tị nạn khỏi chính quyền bù nhìn của người Nga.
Helen đã viết thư cho bà nhiều lần, khẩn khoản năn nỉ bà cho phép chúng ta đưa
bà đến Mỹ, nhưng Éva thậm chí đã từ chối không làm thủ tục di cư. Vài năm sau,
cha cố gắng tìm tung tích của bà thêm một lần nữa, nhưng không thành công. Khi
cha mất Helen, cha cũng mất liên lạc với bác Éva.”

