Truy tìm Dracula - Chương 54

Chương 54

“Ấn tượng đầu tiên - và sau này là ký ức của cha về Bungari
- là những ngọn núi nhìn từ trên không, những ngọn núi cao và sâu thẳm, phủ đầy
một màu xanh đen kịt của cỏ cây và phần lớn nằm cách biệt với đường giao thông,
dù thỉnh thoảng đây đó một dải màu nâu chạy giữa các làng mạc hoặc dọc theo
những vách đá dựng đứng. Helen ngồi yên lặng bên cha, mắt dán chặt vào ô cửa
máy bay, bàn tay nằm yên trong tay cha, dưới lớp áo khoác. Cha có thể cảm nhận
lòng bàn tay cô ấm áp, những ngón tay xinh xắn, không đeo nhẫn và hơi lành
lạnh. Thỉnh thoảng chúng ta nhìn thấy ánh sáng phản chiếu lấp lánh giữa những
khe núi, cha nghĩ hẳn đó là những dòng sông, và cha đã căng mắt tìm kiếm, dù
không mấy hy vọng, một hình đuôi rồng cuộn lại mà có lẽ là lời giải cho câu đố
của chúng ta. Lẽ dĩ nhiên, chẳng có gì khớp với những đường nét mà dù có nhắm
mắt cha cũng quá rành ấy.

“Chắc sẽ chẳng có gì ở đây khớp với những đường nét ấy đâu,
cha tự nhủ như vậy, chỉ để dập tắt niềm hy vọng cứ trào dâng một cách bất trị
trong người khi nhìn thấy những ngọn núi già cỗi đó. Sự tối tăm mù mịt, vẻ
nguyên sơ chưa hề bị lịch sử hiện đại đụng chạm tới, sự thiếu vắng khó hiểu của
các thành phố, thị trấn hoặc công trình công nghiệp khiến cha hy vọng. Không
hiểu vì sao, cha cảm nhận quá khứ càng được giấu kín trong đất nước này bao
nhiêu thì càng có khả năng nó được bảo tồn bấy nhiêu. Chúng ta đang bay bên
trên hành trình không còn dấu vết của các tu sĩ kia, và chắc hẳn họ đã vượt qua
những ngọn núi như thế này - biết đâu chính là những đỉnh núi này, dù chúng ta
chưa biết chắc lộ trình của họ. Cha chia sẻ với Helen suy nghĩ đó vì muốn nghe
hy vọng của chính mình được nói ra thành lời. Helen lắc đầu. ‘Chúng ta không
biết chắc liệu họ có đến được Bungari hay không, hay thậm chí liệu họ có thực
sự khởi hành đi Bungari hay không nữa,’ cô nhắc nhở cha, nhưng đồng thời cũng
vuốt ve bàn tay cha dưới tấm áo khoác như để làm nhẹ đi cách nói thẳng thừng
của mình.

“ ‘Em biết đấy, anh chẳng biết gì về lịch sử Bungari cả,’
cha nói. ‘Anh sợ mình sẽ mất phương hướng ở đây mất.’

“Helen mỉm cười. ‘Dù không phải là chuyên gia nhưng em có
thể nói qua cho anh biết là người Xlavơ đã di cư từ miền Bắc đến khu vực này
vào thế kỷ thứ sáu và thứ bảy, và một bộ lạc Thổ tên là Bungari đã đến đây vào
thế kỷ thứ bảy, tầm đó. Họ đã liên minh chống lại đế quốc Byzantine - làm thế
là sáng suốt - và vị vua đầu tiên của họ là một người Bungari tên là Asparuh.
Vào thế kỷ thứ chín, sa hoàng Boris I đã biến Thiên Chúa giáo thành tôn giáo
chính thức của xứ sở này. Mặc dù vậy, có vẻ như ông ta vẫn là một anh hùng vĩ đại
ở đây. Đế quốc Byzantine cai trị từ thế kỷ mười một cho đến đầu thế kỷ mười ba,
và sau đó Bungari trở thành một đất nước rất hùng mạnh cho đến khi bị người
Ottoman đè bẹp vào năm 1393.’

“ ‘Khi nào thì người Ottoman bị tống cổ đi?’ cha hỏi đầy
quan tâm. ‘Có vẻ như chúng ta gặp họ ở khắp mọi nơi.’

“ ‘Mãi đến năm 1878,’ Helen xác nhận. ‘Người Nga đã giúp
Bungari đánh đuổi quân Ottoman.’

“ ‘Và rồi Bungari lại đứng về phe Trục trong cả hai cuộc
chiến.’(1)_

“ ‘Đúng vậy, và ngay sau chiến tranh quân đội Liên Xô đã
mang lại cả một cuộc cách mạng vẻ vang. Ta sẽ làm được gì nếu không có quân đội
Liên Xô cơ chứ?’ Helen nở một nụ cười rạng rỡ nhất mà cũng cay đắng nhất, và
cha siết mạnh tay cô.

“ ‘Nói khẽ thôi nào,’ cha nói. ‘Nếu em không cẩn thận, anh
sẽ phải cẩn thận gấp đôi cho cả hai chúng ta.’ ”

“Phi trường Sofia bé tí; cha đã chờ đợi một công trình tráng
lệ của chủ nghĩa cộng sản hiện đại, nhưng chúng ta lại hạ cánh xuống một khoảng
đất rải nhựa khiêm tốn rồi cuốc bộ qua đó cùng các hành khách khác. Cha cố nghe
vài mẩu chuyện trò giữa họ và quả quyết hầu hết bọn họ đều là người Bungari. Họ
rất đẹp, một số người còn đẹp đến ấn tượng, gương mặt đa dạng từ người Xlavơ da
trắng mắt đen đến người Trung Đông da đồng, đám đông như một cái kính vạn hoa
đủ màu sắc và hình dạng: những hàng lông mày đen bờm xờm, những cái mũi dài
phình ra hoặc khoằm xuống, cánh phụ nữ trẻ tóc đen uốn quăn trên vầng trán cao,
các ông lão trông vẫn còn mạnh khỏe dù hàm răng không còn bao nhiêu chiếc. Họ
cười nói sôi nổi với nhau; một ông cao lớn cầm tờ báo khoa tay múa chân với
người bạn đồng hành. Quần áo của họ rõ ràng không theo lối người phương Tây, dù
vậy cha cũng khó mà nói được gì về kiểu cắt may của những bộ vest và váy áo,
những đôi giày nặng nề và những cái mũ chỉ một màu đen ấy, tất cả trông quá lạ
lẫm trong mắt cha.

“Cha cũng ấn tượng về niềm hạnh phúc gần như không giấu giếm
của những con người này khi đặt chân xuống mảnh đất - hoặc nhựa đường - của xứ
sở Bungari quê hương, và điều này đã làm đảo lộn hình ảnh định kiến của cha về
một đất nước cố kết chặt chẽ với người Liên Xô, thậm chí giờ vẫn là đồng minh
thân cận nhất, cánh tay mặt của Stalin, dù đã hơn một năm sau cái chết của ông
ta - một đất nước không có niềm vui trong vòng cương tỏa của những ảo tưởng mà
có lẽ trong đó họ sẽ mãi đắm chìm. Những khó khăn trong việc xin thị thực
Bungari tại Istanbul - một đoạn đường được bôi trơn chủ yếu nhờ tiền bạc từ quỹ
bí mật của Turgut và những cú điện thoại từ người đồng nhiệm Bungari ở Sofia
của bác Éva - đã làm tăng thêm lo ngại của cha về đất nước này, và cha thấy đám
quan chức mặt nặng như chì, những kẻ mà rốt cuộc cũng miễn cưỡng đóng dấu chuẩn
thuận vào hộ chiếu của chúng ta ở Budapest, dường như đã bị ướp xác trong áp
bức. Helen tâm sự với cha là chính việc tòa đại sứ Bungari cấp thị thực cho
chúng ta lại làm cô thấy băn khoăn.

“Tuy nhiên, nhìn chung người Bungari đích thực có vẻ như là
một chủng tộc khác hẳn. Khi đi vào tòa nhà phi trường, chúng ta nhận ra mình
đang xếp hàng trước quầy thủ tục hải quan, thậm chí ở đây tiếng cười nói còn to
hơn, và chúng ta có thể nhìn thấy người đi đón bà con họ hàng đứng sau rào chắn
hét to những tiếng chào mừng. Xung quanh chúng ta, mọi người đang khai báo
những món tiền nhỏ nhoi và mấy món đồ lưu niệm mua ở Istanbul hoặc các điểm đến
trước đó, chúng ta cũng phải khai báo như vậy khi đến lượt.

“Lông mày tay nhân viên hải quan trẻ nhướn lên, mất hút dưới
vành mũ lưỡi trai khi thấy hộ chiếu của chúng ta, gã đem hai sổ hộ chiếu đi
tham khảo ý kiến một nhân viên hải quan khác. ‘Chẳng phải điềm lành rồi,’ Helen
thì thào. Nhiều gã mặc đồng phục vây lấy chúng ta, tay lớn tuổi nhất và có vẻ
kênh kiệu nhất bắt đầu tra vấn chúng ta bằng tiếng Đức, rồi tiếng Pháp, và cuối
cùng bằng thứ tiếng Anh sai bét nhè. Theo lời dặn dò của bác Éva, cha bình tĩnh
đưa ra thư giới thiệu của Đại học Budapest, lá thư ấy yêu cầu chính quyền
Bungari cho phép chúng ta nhập cảnh vì có công việc quan trọng về lĩnh vực học
thuật, và một thư giới thiệu khác mà bác Éva đã lấy được từ một người bạn ở tòa
đại sứ Bungari cho chúng ta.

“Cha không biết tay nhân viên hải quan xoay xở như thế nào
với lá thư liên quan đến lĩnh vực học thuật và được viết bằng cả ba thứ tiếng
Anh, Hung và Pháp, nhưng lá thư từ tòa đại sứ thì viết bằng tiếng Bungari và có
đóng dấu của tòa đại sứ. Gã im lặng đọc, đôi hàng lông mày đen rậm to tướng
nhíu lại gần như chạm vào nhau trên sống mũi, và rồi trên mặt gã hiện lên vẻ
ngạc nhiên, thậm chí có thể nói là sửng sốt, gã nhìn chúng ta bằng ánh mắt kinh
ngạc. Điều đó thậm chí còn khiến cha lo lắng hơn cả lúc trước, khi gã có thái
độ thù địch, rồi cha chợt nhớ ra bác Éva đã khá mập mờ về nội dung lá thư của
tòa đại sứ. Lúc này chắc chắn cha không thể hỏi lá thư đó nói gì, và cha thấy
bối rối đến khổ sở khi tay nhân viên hải quan kia đột nhiên mỉm cười rồi thậm
chí còn vỗ lên vai cha nữa. Gã đến bên máy điện thoại trong một quầy thủ tục
hải quan và có vẻ như đã liên lạc được với một người nào đó sau một lúc lâu cần
mẫn quay số. Cha không thích cái kiểu gã cứ thỉnh thoảng cười vào ống nghe rồi
lại liếc nhìn chúng ta. Helen loay hoay bên cạnh cha, cha biết chắc hẳn cô hiểu
rõ toàn bộ chuyện này hơn cha.

“Cuối cùng, tay nhân viên hải quan cũng gác máy với điệu bộ
màu mè, giúp chúng ta lấy lại đám va li bụi bặm và dẫn chúng ta đến một quầy
rượu nằm trong phi trường, ở đó gã mời chúng ta những ly nhỏ rượu mạnh tên là
rakiya và cũng nhiệt tình uống cùng. Bằng vài thứ ngôn ngữ sai bét, gã hỏi
chúng ta đã tham gia cách mạng bao lâu, đã vào Đảng từ lúc nào, và những câu
hỏi đại loại, chẳng câu nào khiến cha thoải mái hơn. Việc này lại làm cho cha
suy nghĩ nhiều hơn về những điểm có thể không đúng sự thật trong lá thư giới
thiệu chúng ta, nhưng theo sự dẫn dắt của Helen, cha chỉ mỉm cười hoặc đưa ra
những nhận xét vô thưởng vô phạt. Gã nâng cốc chúc mừng tình hữu nghị giữa giai
cấp công nhân của mỗi quốc gia, rồi lại châm đầy ly cho tất cả. Nếu Helen hoặc
cha nói điều gì đó - chẳng hạn như một nhận xét tẻ nhạt về chuyện thăm viếng
đất nước xinh đẹp của gã - gã sẽ lắc đầu, toét miệng cười, tựa như phủ nhận
những nhận xét của chúng ta. Cha cảm thấy bối rối vì thái độ đó cho đến khi
Helen thầm thì với cha là cô đã từng đọc về đặc trưng văn hóa này: người
Bungari lắc đầu khi đồng ý và gật đầu khi phủ nhận.

“Đúng lúc cha không thể uống thêm một giọt rakiya nào nữa
thì chúng ta được cứu thoát nhờ sự xuất hiện của một người đàn ông có gương mặt
khắc khổ mặc vest và đội mũ toàn một màu đen. Trông anh ta chỉ lớn hơn cha vài
tuổi và có lẽ sẽ đẹp trai hơn nếu vẻ tươi vui không biến mất trên gương mặt.
Cũng vậy, bộ ria mép đen hầu như không che được đôi môi bĩu lại như chê bai, và
mớ tóc đen lòa xòa trên trán chẳng giấu nổi vẻ cau có khó chịu của anh ta. Tay
nhân viên hải quan chào người đàn ông với vẻ tôn kính và giới thiệu anh ta là
người được chỉ định hướng dẫn cho chúng ta ở Bungari, rồi giải thích thêm là
chúng ta đã được biệt đãi trong việc này, bởi anh Krassimir Ranov là người rất
được trọng vọng trong chính phủ Bungari cũng như ở Đại học Sofia, và cũng là
người rành rẽ những thắng cảnh thú vị của đất nước cổ xưa và quang vinh này.

“Trong cơn lâng lâng vì rượu cha bắt tay con người lạnh lùng
đó và thầm cầu Chúa cho chúng ta được nhìn ngắm Bungari mà không cần đến một
hướng dẫn viên nào. Helen có vẻ không mấy ngạc nhiên trước toàn bộ việc này và
lên tiếng chào anh ta bằng thái độ mà theo cha thì vừa khó chịu vừa khinh
khỉnh. Ranov vẫn chưa thốt ra một lời nào, nhưng đã tỏ vẻ không ưa gì Helen
ngay cả trước khi tay hải quan lớn giọng giới thiệu Helen là người Hungary và
đang du học ở Hoa Kỳ. Lời giải thích đó làm ria mép anh ta giật giật, để lộ một
nụ cười nham hiểm. ‘Chào giáo sư,’ anh ta mở miệng - những lời đầu tiên - rồi
quay đi. Tay nhân viên hải quan tươi cười bắt tay chúng ta, vỗ vỗ lên vai cha
cứ như thể chúng ta đã là bạn bè thân quen, và rồi ra dấu cho chúng ta đi theo
Ranov.

“Bên ngoài phi trường, Ranov ra hiệu dừng một chiếc taxi,
cha chưa bao giờ nhìn thấy nội thất chiếc xe nào lạc hậu cũ kỹ đến vậy, lớp vải
đen nhồi chặt thứ gì đó, có lẽ là lông ngựa, và từ ghế ngồi phía trước Ranov
cho biết chúng ta đã được thu xếp lấy phòng ở một khách sạn nổi tiếng nhất.
‘Tôi tin các bạn sẽ cảm thấy thoải mái, ngoài ra khách sạn cũng có một nhà hàng
tuyệt vời. Ngày mai chúng ta sẽ gặp nhau ở đó để ăn sáng, khi ấy các bạn có thể
giải thích với tôi tính chất công việc nghiên cứu của các bạn và tôi có thể giúp
các bạn sắp xếp các cuộc hẹn thế nào để hoàn thành nghiên cứu đó. Chắc hẳn các
bạn sẽ mong được gặp đồng nghiệp ở Đại học Sofia cũng như các bộ ngành liên
quan. Chúng tôi cũng sẽ thu xếp để các bạn thăm viếng một vài địa điểm lịch sử
của Bungari.’ Anh ta lại nở nụ cười chua lè, cha nhìn anh ta đăm đăm, càng lúc
càng cảm thấy kinh sợ hơn. Tiếng Anh của anh ta quá tuyệt; mặc dù mang thổ âm
rõ rệt nhưng lại có âm điệu chính xác buồn tẻ của thứ đĩa học ngoại ngữ trong
ba mươi ngày.

“Gương mặt anh ta có nét gì đó quen quen. Chắc chắn cha chưa
bao giờ gặp anh ta trước đây, nhưng gương mặt ấy làm cha nhớ đến một người quen
biết, kèm theo là cảm giác thất vọng vì không thể nhớ ra cái người quái quỷ đó
là ai. Cảm giác ấy tiếp tục tồn tại dai dẳng trong cha suốt ngày đầu tiên ở
Sofia, nhùng nhằng bám theo cha trong chuyến tham quan thành phố
được-hướng-dẫn-từ-đầu-đến-cuối. Tuy nhiên, Sofia đẹp kỳ lạ - một sự pha trộn
giữa vẻ tao nhã của thế kỷ mười chín, nét lộng lẫy của thời Trung cổ với những
dinh thự mới mẻ sáng ngời theo kiểu cách xã hội chủ nghĩa. Ở trung tâm thành
phố, chúng ta thăm tòa lăng u ám chứa xác ướp nhà độc tài theo khuynh hướng
Stalin - Georgi Dimitrov, người đã chết cách đây năm năm. Ranov bỏ mũ trước khi
bước vào lăng và ra hiệu cho chúng ta đi trước. Chúng ta nhập vào hàng người
Bungari đang lặng lẽ bước ngang qua quan tài để mở của Dimitrov. Gương mặt của
nhà độc tài như làm bằng sáp, bộ ria mép đen rậm rịt giống y như Ranov. Cha nhớ
đến Stalin, thi hài ông ta nghe nói đã được đưa đến chỗ Lenin vào năm ngoái,
trong một tòa lăng tương tự trên Quảng trường Đỏ. Những nền văn hóa vô thần này
rõ ràng đã tỏ ra quá mẫn cán trong việc bảo quản thi hài các vị thánh của mình.

“Linh tính không hay của cha về gã đàn ông hướng dẫn càng
tăng lên khi gã lùi lại vẻ ghê tởm lúc cha hỏi liệu gã có thể giúp chúng ta
liên lạc với một người tên Anton Stoichev. ‘Ông Stoichev là kẻ thù của nhân
dân,’ gã khẳng định với chúng ta bằng giọng cáu kỉnh. ‘Sao các bạn lại muốn gặp
ông ta?’ Và rồi, thật kỳ lạ, hắn nói thêm, ‘Lẽ tất nhiên, nếu các bạn muốn, tôi
có thể thu xếp việc đó. Ông ta không còn dạy ở đại học nữa - với quan điểm về
tôn giáo của mình, ông ta không thể được lớp trẻ tin cậy. Nhưng ông ta rất nổi
tiếng và có lẽ các bạn muốn gặp ông ta vì lý do đó chăng?’ ”

“ ‘Ranov đã được yêu cầu phải đáp ứng bất kỳ điều gì chúng
ta muốn,’ Helen khe khẽ nhận xét khi chúng ta có được một khoảnh khắc riêng tư
bên ngoài khách sạn. ‘Vì sao? Vì sao có người cho rằng đó là một ý hay?’ Chúng
ta nhìn nhau, sợ hãi.

“ ‘Anh ước gì mình biết được điều đó,’ cha trả lời.

“ ‘Ở đây chúng ta phải vô cùng thận trọng.’ Vẻ mặt Helen
trầm trọng còn giọng nói thì lí nhí, cha cũng không dám hôn cô một cách công
khai. ‘Chúng ta phải thỏa thuận là từ giờ sẽ không để lộ bất kỳ điều gì ngoài
những quan tâm liên quan đến lĩnh vực học thuật, và nếu phải bàn luận công việc
trước mặt gã thì cố gắng để lộ càng ít càng tốt.’

“ ‘Đồng ý.’ ”

Chú thích:

1. Có lẽ ở đây tác giả có đôi chút nhầm lẫn. Khối Trục (The
Axis powers) là thuật ngữ phải đến những năm 1930 mới ra đời, để chỉ khối đối
địch với Đồng minh trong Thế chiến II - với ba nước đứng đầu là Đức, Nhật và Ý;
Bungari cũng thuộc phe này. Thời Thế chiến I, Bungari thuộc phe Liên Minh chống
lại phe Hiệp Ước, cùng với Đức, Áo - Hung, Thổ (đế chế Ottoman).

Báo cáo nội dung xấu