Truy tìm Dracula - Chương 59 phần 1
Chương 59
“BIÊN NIÊN KÝ” CỦA ZACHARIAS Ở ZOGRAPHOU
Do Atanas Angelov và Anton Stoichev biên soạn
GIỚI THIỆU
“Biên niên ký” của Zacharias là một tài liệu lịch sử.
Bất chấp tình trạng không hoàn chỉnh rất đáng thất vọng,
“Biên niên ký” của Zacharias cùng với tập ký “Chuyện kể của Stefan Kẻ Lãng Du”
là một nguồn tư liệu quan trọng chứng thực những lộ trình hành hương của tín đồ
Thiên Chúa giáo vùng Balkan thế kỷ mười lăm, cũng như thông tin về số phận thi
hài ông hoàng Vlad III “Ţepeş” xứ Wallachia, từ lâu vốn được cho là đã được
chôn cất tại tu viện hồ Snagov (hiện thuộc về Rumani). Nó cũng cung cấp cho
chúng ta một miêu tả hiếm có về những người tử đạo vô danhWallachia (mặc
dù chúng ta không thể biết chắc chắn nguồn gốc dân tộc của các tu sĩ ở Snagov,
ngoại trừ Stefan, nhân vật chính của “Biên niên ký”). Chỉ có bảy người tử đạo
khác được ghi nhận có gốc gác Wallachia, và không ai trong số này tuẫn đạo
ở Bungari.
Tập “Biên niên ký” không tên này được viết bằng ngôn ngữ
Xlavơ vào năm 1479 hoặc 1480 và do một tu sĩ tên Zacharias tại tu viện Zographou,
núi Athos, Bungari ghi lại. Zographou, “tu viện của họa sĩ”, tọa lạc gần trung
tâm bán đảo Athonite, thoạt tiên được thành lập vào thế kỷ thứ mười và đến
những năm 20 của thế kỷ mười ba thì trực thuộc giáo hội Bungari. Cùng với tu
viện Hilandar ở Serbia và Panteleimon ở Nga, tu viện Zographou không bị giới
hạn trong quốc gia nơi tu viện tọa lạc; chính điều này và sự thiếu thông tin về
Zacharias khiến ta không thể xác định gốc gác của ông: Zacharias có thể là
người Bungari, Serbia, Nga, hoặc có lẽ là người Hy Lạp, mặc dù việc Zacharias
sử dụng tiếng Xlavơ ủng hộ cho giả thuyết ông là người gốc Xlavơ. “Biên niên
ký” chỉ cho chúng ta biết ông sinh ra vào thế kỷ mười lăm và được cha tu viện
trưởng ở Zographou, vốn rất quý trọng tài năng của ông, chọn đích thân nghe lời
xưng tội của Stefan Kẻ Lãng Du và ghi lại lời xưng tội này vì một mục đích quan
trọng liên quan đến bộ máy quan chức giáo hội và có lẽ còn liên quan cả đến
khía cạnh tâm linh nữa.
Các lộ trình Stefan đề cập trong chuyện kể của ông phù hợp với
vài tuyến đường hành hương nổi tiếng. Constantinople là đích đến sau cùng của
những người hành hương xứ Wallachia, cũng như tất cả tín đồ Thiên Chúa giáo ở
phương Đông. Xứ Wallachia, và đặc biệt là tu viện ở hồ Snagov, cũng là một địa
điểm hành hương và được biết tới như là con đường để người hành hương tiếp cận
cả Snagov và Athos tại những vùng xa xôi nhất. Việc các tu sĩ băng qua Haskovo
trên đường đến Bachkovo cho thấy có lẽ họ đã sử dụng đường bộ từ Constantinople
qua Edirne (hiện là Thổ Nhĩ Kỳ) để vào miền Đông Nam Bungari; vì các bến cảng
thông dụng ven Biển Đen hẳn đã đưa họ đi rất xa về hướng Bắc chứ không qua
Haskovo.
Sự xuất hiện của các điểm hành hương truyền thống trong
“Biên niên ký” của Zacharias đặt ra câu hỏi liệu chuyện kể của Stefan có phải
là một tài liệu về hành hương hay không. Tuy nhiên, hai sự kiện được coi là lý
do cho các cuộc lãng du của Stefan - rời khỏi thành phố suy tàn Constantinople
để sống ly hương từ sau năm 1453, vận chuyển các thánh tích và tìm kiếm một
“vật báu” ở Bungari sau năm 1476 - đã khiến ký sự này trở thành biến thể của
một biên niên ký hành hương kinh điển. Hơn nữa, chỉ riêng việc Stefan rời khỏi
Constantinople lúc còn là một tu sĩ trẻ cũng có vẻ như bị thúc đẩy chủ yếu bởi
ước vọng tìm kiếm những địa điểm thiêng liêng ở nước ngoài.
Đề tài thứ hai mà cuốn “Biên niên ký” soi rọi đến là những
ngày cuối cùng của ông hoàng Vlad III xứ Wallachia (1428?-1476), thường được
biết đến dưới tên Vlad Ţepeş Kẻ Xiên Người, hoặc Dracula. Dù vài sử gia cùng
thời với Dracula đã thuật lại những chiến dịch của ông ta chống lại người Thổ
cũng như những cuộc đấu tranh giành giật và duy trì ngai vàng xứ Wallachia,
nhưng không mấy ai đề cập chi tiết đến cái chết và việc chôn cất ông hoàng này.
Vlad III đã có những đóng góp hào phóng cho tu viện ở Snagov xây dựng lại nhà
thờ, như Stefan khẳng định trong chuyện kể của mình. Có khả năng Dracula cũng
yêu cầu được chôn cất ở đó, theo truyền thống của các nhà sáng lập hoặc bảo trợ
chính của các tổ chức trong khắp thế giới Chính Thống giáo.
Stefan khẳng định trong cuốn “Biên niên ký” rằng Vlad đã đến
thăm tu viện này vào năm 1476, năm cuối đời ông ta, có lẽ một vài tháng trước
khi chết. Năm 1476, ngai vàng của Vlad III phải chịu sức ép khủng khiếp từ Quốc
vương Ottoman Mehmed II, người không ngừng giao tranh với Vlad từ năm 1460.
Đồng thời, việc Vlad nắm giữ ngai vàng xứ Wallachia cũng bị đe dọa bởi một nhóm
địa chủ sẵn sàng về phe với Mehmed nếu vị Quốc vương này tiến hành một cuộc xâm
lấn mới vào Wallachia.
Nếu “Biên niên ký” của Zacharias chính xác thì cuộc viếng
thăm Snagov của Vlad III đã không được sử sách chép lại và chắc hẳn cực kỳ nguy
hiểm đối với bản thân ông ta. “Biên niên ký” ghi lại là Vlad đã mang kho báu
đến tu viện; rằng việc ông ta hành động liều lĩnh như vậy chứng tỏ tầm quan trọng
của mối ràng buộc giữa ông ta và Snagov. Hẳn ông ta phải biết rõ mạng sống của
mình thường xuyên bị đe dọa, từ đế chế Ottoman và cả từ đối thủ chính ở
Wallachia thời kỳ đó, Basarab Laiota, người chiếm giữ ngai vàng Wallachia ngay
sau cái chết của Vlad. Bởi vì viếng thăm Snagov chẳng đem lại mấy lợi ích chính
trị, nên có vẻ hợp lý khi suy ra rằng Snagov rất quan trọng đối với Vlad III vì
những lý do tâm linh hoặc lý do cá nhân, có thể ông ta định biến chốn này thành
nơi yên nghỉ sau cùng của mình. Dù thế nào thì “Biên niên ký” của Zacharias
cũng khẳng định về cuối đời ông ta đặc biệt lưu tâm đến Snagov.
Hoàn cảnh chết của Vlad III cũng rất mờ ám, và càng mù mờ
hơn bởi sự mâu thuẫn giữa những truyền thuyết dân gian và giả thuyết này nọ của
các học giả. Vào cuối tháng Mười hai năm 1476 hoặc đầu tháng Giêng năm 1477,
Vlad bị một bộ phận quân Thổ Nhĩ Kỳ ở Wallachia phục kích, và bị giết trong
trận đụng độ nhỏ sau đó. Một vài chuyện truyền khẩu cho rằng thực ra ông ta đã
bị người của mình giết chết, vì bị nhầm là một sĩ quan Thổ khi leo lên đồi để
quan sát rõ hơn trận đánh đang diễn ra. Một biến thể của truyền thuyết này còn
khẳng định vài người trong đám thủ hạ đã tìm cơ hội ám sát ông ta để trừng trị
bản tính ác độc khét tiếng. Hầu hết mọi nguồn tư liệu bàn luận về cái chết này
đều nhất trí là thi thể của Vlad đã bị chặt đầu và thủ cấp ấy được mang về
Constantinople dâng lên Quốc vương Mehmed như bằng chứng về sự gục ngã của một
kẻ đại kình địch.
Dù sao chăng nữa thì theo chuyện kể của Stefan, chắc hẳn một
vài thủ hạ của Vlad vẫn trung thành với ông ta, bởi họ đã mạo hiểm mang thi thể
ông về Snagov. Từ lâu người ta vẫn tin rằng cái xác không đầu được chôn cất
trong nhà thờ tu viện Snagov, trước bệ thờ.
Nếu câu chuyện của Stefan Kẻ Lãng Du đáng tin cậy, thì xác
của Vlad III đã được bí mật chuyển từ Snagov đến Constantinople, và từ đó
chuyển tiếp đến một tu viện tên Sveti Georgi, ở Bungari. Mục đích của việc dời
chuyển này, và “vật báu” mà các tu sĩ tìm kiếm trước tiên ở Constantinople rồi
sau đó ở Bungari là gì, đều không rõ ràng. Câu chuyện của Stefan khẳng định
rằng vật báu kia sẽ “nhanh chóng cứu rỗi linh hồn của ông hoàng này”, điều này
cho thấy hẳn cha tu viện trưởng Snagov đã nghĩ vật báu ấy cần thiết về khía
cạnh tâm linh. Có thể ông ta và các tu sĩ của mình tìm kiếm một thánh tích
thiêng liêng ở Constantinople còn sót lại sau những cuộc càn quét của người
Latin hoặc Ottoman. Cũng có thể ông ta không muốn lãnh trách nhiệm hủy hoại cái
xác ở Snagov, hoặc chặt thi thể đó ra vì tin rằng làm vậy sẽ ngăn ngừa được ma
cà rồng, hay cũng không thể mạo hiểm giao cho dân địa phương thực hiện việc
này. Căn cứ vào thân thế của Vlad và thực tế là các giáo sĩ Chính Thống giáo
không đủ can đảm tham gia vào việc cắt xén, hủy hoại xác chết con người, thì sự
miễn cưỡng này cũng là điều tự nhiên.
Đáng tiếc là người ta vẫn chưa tìm thấy địa điểm chôn cất di
hài Vlad III ở Bungari, và thậm chí, giống như trường hợp tu viện Paroria ở
Bungari, nơi tọa lạc cái tu viện tên là Sveti Georgi cũng chưa được biết đến;
có lẽ nó đã bị bỏ hoang hoặc bị phá hủy thời đế chế Ottoman, và “Biên niên ký”
là tài liệu duy nhất tiết lộ vị trí tu viện, dù chỉ chung chung. “Biên niên ký”
chép rằng các tu sĩ chỉ đi một đoạn ngắn - “không quá xa” - từ tu viện ở
Bachkovo, cách thành phố Asenovgrad bên sông Chepelarska khoảng ba mươi lăm cây
số về hướng Nam. Rõ ràng là Sveti Georgi nằm ở đâu đó về phía Nam miền Trung
Bungari. Phần lớn dãy Rhodope thuộc khu vực này, một trong những khu vực bị đế
quốc Ottoman chinh phục sau cùng ở Bungari; một vài vùng có địa hình đặc biệt
hiểm trở ở khu vực này chưa bao giờ nằm hoàn toàn dưới ách cai trị của người
Thổ. Nếu Sveti Georgi tọa lạc trong vùng núi non này thì có thể phần nào giải
thích cho việc nó được chọn làm địa điểm yên nghỉ tương đối an toàn cho di hài
Vlad III.
Mặc dù “Biên niên ký” khẳng định tu viện đã trở thành một
địa điểm hành hương sau khi các tu sĩ Snagov đến đó, cái tên Sveti Georgi vẫn
không xuất hiện trong các nguồn tư liệu quan trọng của thời kỳ ấy, hoặc trong
bất kỳ nguồn tư liệu nào sau này, điều đó chứng tỏ tu viện đã bị xóa sổ hoặc bỏ
hoang không bao lâu sau khi Stefan rời khỏi nơi đó. Tuy nhiên, chúng ta biết
được đôi điều về việc thành lập tu viện Sveti Georgi nhờ bản sao duy nhất của
một typikon_(1) được lưu giữ tại thư viện tu viện Bachkovo. Theo tài liệu này,
Sveti Georgi được Georgios Komnenos, một người anh em họ xa của Hoàng đế
Byzantine, Alexios I Komnenos, xây dựng năm 1101. “Biên niên ký” của Zacharias
khẳng định là lúc nhóm tu sĩ từ Snagov đến, tu sĩ ở Sveti Georgi “già nua và
lèo tèo vài người”; có thể đoán chừng là nhóm thầy tu ít ỏi này đã gìn giữ chế
độ tế lễ được quy định trong typikon, sau đó chế độ này cũng được đám tu sĩ
người Wallachia tuân thủ.
Điều đáng lưu ý là “Biên niên ký” nhấn mạnh cuộc hành trình
của các tu sĩ Wallachia ngang qua Bungari theo hai cách khác nhau: thuật lại
khá chi tiết sự tuẫn đạo của hai người trong nhóm dưới tay các quan chức
Ottoman và ghi chép lại sự chú ý của người dân Bungari trong quá trình họ hành
hương trên đất nước này. Không có cách nào để biết được điều gì đã kích động
những người Thổ ở Bungari, nói chung vốn khoan dung với những hoạt động tôn
giáo của người Thiên Chúa giáo, lại xem các tu sĩ người Wallachia là một mối đe
dọa. Qua Zacharias, Stefan thuật lại là những người bạn của ông ta đã “bị hỏi
cung” ở thị trấn Haskovo trước khi bị tra tấn và giết chết, điều này lại dẫn
đến giả thuyết là chính quyền Ottoman tin rằng nhóm tu sĩ nắm giữ một thông tin
nhạy cảm nào đó về mặt chính trị. Haskovo nằm ở Đông Nam Bungari, một vùng nằm
dưới quyền cai trị bó buộc của người Thổ vào thế kỷ mười lăm. Điều kỳ lạ là các
tu sĩ tử đạo bị trừng phạt theo hình phạt truyền thống của người Thổ đối với
tội trộm cắp (chặt tay) và tội đào tẩu (chặt chân). Đa số những người tuẫn đạo
dưới chế độ cai trị của đế chế Ottoman đều bị tra tấn và giết chết bằng các
phương cách khác. Các hình thức trừng phạt trên, cũng như việc lục soát xe ngựa
của các tu sĩ được Stefan tả lại trong câu chuyện của mình, cho thấy rõ quan
chức ở Haskovo đã buộc các tu sĩ vào tội trộm cắp, dù có vẻ như không chứng
minh được lời cáo buộc đó.
Stefan thuật lại sự lưu tâm rộng khắp của người dân Bungari
suốt dọc lộ trình, điều này có thể đã kéo theo sự chú ý của người Thổ. Tuy
nhiên, chỉ tám năm trước đó, tức năm 1469, di hài của Sveti Ivan Rilski, một ẩn
sĩ và cũng là người sáng lập tu viện Rila, đã được chuyển từ Veliko Trnovo đến
một nhà nguyện ở Rila, đám rước này được Vladislav Gramatik chứng kiến và thuật
lại trong tác phẩm “Kể lại chuyến chuyển dời di hài Sveti Ivan”. Suốt cuộc dời
chuyển này, các quan chức Ottoman đã tỏ ra khoan dung trước sự chú ý của dân
Bungari địa phương đối với di hài đó, và cuộc diễu hành được xem như sự kiện và
biểu tượng đoàn kết của người Công giáo Bungari. Cả Zacharias và Stefan có lẽ
đã biết về đám rước di hài Ivan Rilski nổi tiếng, và chắc hẳn đến năm 1479 thì
Zacharias ở Zographou cũng phải có một bản tường thuật chép tay về sự kiện đó.
Thái độ rộng lượng trước đó - và mới đó thôi - đối với một
cuộc diễu hành tôn giáo tương tự dọc Bungari khiến nỗi lo ngại của người Ottoman
với hành trình của các tu sĩ xứ Wallachia trở nên có ý nghĩa đặc biệt. Việc lục
soát xe ngựa của các tu sĩ - chắc hẳn do lính của quan tổng trấn địa phương
tiến hành - cho thấy các quan chức người Thổ ở Bungari có lẽ đã biết được ít
nhiều về mục đích cuộc hành trình của họ. Chắc chắn chính quyền Ottoman không
thiết tha gì việc chứa chấp di hài một trong các kẻ thù lớn nhất trên mặt trận
chính trị, hoặc tỏ lòng khoan dung trước sự sùng kính di hài đó. Tuy nhiên,
điều khó hiểu hơn nữa là chắc hẳn họ không phát hiện được gì khi lục soát chiếc
xe ngựa, bởi sau đó chuyện kể của Stefan đề cập đến việc mai táng thi hài tại
tu viện Sveti Georgi. Chúng ta chỉ có thể suy đoán cách họ cất giấu một cái xác
nguyên vẹn (dù không đầu) nếu quả thực họ đã mang nó theo.
Cuối cùng, có một điểm cả các nhà sử học lẫn nhân học đều
quan tâm, đó là “Biên niên ký” đề cập đến những điều các tu sĩ tin rằng đã thấy
trong nhà thờ Snagov. Họ không thống nhất về những gì đã xảy ra với thi thể
Vlad III trong đêm thức canh xác và đã kể ra nhiều phương cách mà, theo truyền
thống, là nền tảng để một xác chết chuyển hóa thành quỷ nhập tràng - một con ma
cà rồng - điều đó cho thấy họ đều tin rằng Vlad có nguy cơ hóa ma cà rồng. Vài
người trong số họ tin là đã nhìn thấy một con thú nhảy qua xác chết, còn những
người khác thì cho rằng một sức mạnh siêu nhiên dưới dạng sương mù hoặc gió đã
tràn vào nhà thờ khiến xác chết ngồi dậy. Trong văn hóa dân gian vùng Balkan,
sự hình thành ma cà rồng bởi một con thú được ghi lại rất nhiều, cũng như niềm
tin là ma cà rồng có thể biến thành làn khói hoặc sương mù. Chắc hẳn các tu sĩ
đã biết đến sự khát máu khét tiếng của Vlad III, và việc ông ta tiến hành cải
sang đạo Công giáo trong gia thất của Mátyás Corvinus, tức vua Hungary, bởi
tính khát máu kia vốn là điều mà ai ở Wallachia cũng biết, còn việc cải đạo
chắc hẳn từng là một mối lo ngại của cộng đồng Chính Thống giáo ở đó (và đặc
biệt là với tu viện được Vlad ưu ái, nơi cha tu viện trưởng có lẽ cũng là Cha
giải tội của ông ta).
Các bản viết tay.
“Biên niên ký” của Zacharias được biết đến qua hai tập bản
thảo viết tay là Athos 1480 và R.VII.132; bản sau còn gọi là “Bản của Tòa Giáo
trưởng”. Athos 1480, một bản thảo khổ tư viết tay theo kiểu chữ bán
ông-xi-an_(2), được phát hiện ở Bungari năm 1923 và hiện được cất giữ tại thư
viện tu viện Rila, Bungari. Athos 1480 là bản lâu đời hơn trong hai phiên bản
của “Biên niên ký”, hầu như chắc chắn do chính Zacharias chấp bút ở Zographou,
có lẽ ghi chép từ những lời xưng tội trong giờ phút lâm chung của Stefan. Bất
chấp lời khẳng định rằng ông “đã ghi lại từng lời”, chắc hẳn Zacharias ghi lại
bản này sau khi đã suy luận và sắp xếp khá nhiều, bởi Athos 1480 chỉ có một chỗ
chỉnh sửa và phản ảnh một sự trau chuốt không thể có được khi ghi chép ngay tại
chỗ. Bản gốc này có lẽ được giữ ở thư viện Zographou ít nhất đến năm 1814, bởi
tên nó được đề cập đến trong một thư mục các bản thảo viết tay thế kỷ mười lăm
và mười sáu ở Zographou, ghi niên đại năm đó. Athos 1480 xuất hiện trở lại ở
Bungari vào năm 1923, khi nhà sử học Bungari Atanas Angelov phát hiện ra nó
giấu trong bìa một cuốn sách chuyên luận khổ đôi thế kỷ mười tám ở thư viện tu
viện Rila, viết về cuộc đời Thánh George (Georgi 1364.21). Năm 1924, Angelov
khẳng định không còn bản nào ở Zographou. Chưa rõ bản gốc này được chuyển từ
Athos đến Rila chính xác vào lúc nào và bằng cách nào, mặc dù mối đe dọa từ các
cuộc cướp bóc của bọn cướp biển ở Athos suốt thế kỷ mười tám và mười chín có lẽ
đã phần nào tác động đến việc dời chuyển bản thảo này (cũng như vô số các tài
liệu và vật tạo tác quý giá khác) ra khỏi ngọn Núi Thiêng này.
Bản sao hoặc phiên bản thứ hai của “Biên niên ký” Zacharias,
và cũng là bản duy nhất được biết đến ngoài bản gốc - R.VII.132, hay còn gọi là
“Bản của Tòa Giáo trưởng” - được lưu giữ ở thư viện Tòa Giáo trưởng
Constantinople, theo phân tích chữ viết thì có niên đại vào khoảng giữa hoặc
cuối thế kỷ mười sáu. Có lẽ đó là phiên bản về sau của bản sao được cha tu viện
trưởng Zographou gửi đến giáo trưởng vào thời Zacharias. Bản gốc của phiên bản
này được cho là gửi kèm một lá thư từ tu viện trưởng, nhằm báo động giáo trưởng
về khả năng có một dòng dị giáo trong tu viện Sveti Georgi ở Bungari. Lá thư đó
hiện nay không còn nữa, nhưng có thể vì lý do hiệu quả và thận trọng, cha tu
viện trưởng Zographou đã yêu cầu Zacharias sao chép lại biên niên ký của mình
để giao cho Constantinople, giữ bản gốc lại cho thư viện Zographou. Trong
khoảng thời gian từ năm mươi đến một trăm năm từ khi nhận được bản sao ấy,
“Biên niên ký” vẫn được thư viện Tòa Giáo trưởng đánh giá là tài liệu quan
trọng, đủ để được gìn giữ bằng cách chép thêm một phó bản.
“Bản của Tòa Giáo trưởng” có thể là một bản sao sau này của
lá thư từ Zographou, ngoài ra nó còn khác bản Athos 1480 ở một điểm quan trọng
khác: nó cắt bỏ phần kể về những gì các tu sĩ khẳng định đã chứng kiến trong
đêm thức canh thi hài Vlad tại nhà thờ Snagov, cụ thể là từ dòng “một thầy tu
trông thấy một con thú” cho đến dòng “cái xác không đầu của ông hoàng cựa quậy
và cố ngồi dậy”. Đoạn này có thể đã được loại bỏ trong bản sao sau này nhằm
ngăn người sử dụng thư viện Tòa Giáo trưởng nắm giữ thông tin không cần thiết
về dòng dị giáo Stefan mô tả, hoặc có lẽ để giảm đến mức tối thiểu chuyện mê
tín dị đoan về nguồn gốc quỷ nhập tràng, một loạt niềm tin mà các giới chức
giáo hội thường bác bỏ. “Bản của Tòa Giáo trưởng” rất khó xác định niên đại,
mặc dù gần như chắc chắn nó là bản sao được liệt kê trong một bản danh mục thư
viện Tòa Giáo trưởng từ năm 1605.
Giữa hai bản chép tay “Biên niên ký” hiện đang tồn tại này
có một điểm tương đồng cuối cùng - một điểm nổi bật và khó hiểu. Cả hai đều bị
xé rách bằng tay hầu như tại cùng một điểm của câu chuyện. Athos 1480 kết thúc
tại chỗ “Tôi nhận ra,” trong khi “Bản của Tòa Giáo trưởng” tiếp tục “đó không
phải là một bệnh dịch thông thường, mà là,” mỗi tập đều bị xé rách ngay sau một
dòng hoàn chỉnh, có lẽ nhằm loại bỏ phần Stefan cung cấp chứng cứ về khả năng
tồn tại một dòng dị giáo hoặc một điều xấu xa sai trái khác tại tu viện Sveti
Georgi.
Một manh mối về thời điểm xảy ra việc hủy hoại này có thể
tìm thấy trong bản danh mục thư viện đề cập ở trên, trong đó “Bản của Tòa Giáo
trưởng” được chú thích là “không hoàn chỉnh”. Vì vậy, chúng ta có thể suy ra
phần cuối của bản này đã bị xé mất trước năm 1605. Tuy nhiên, chẳng có cách nào
để biết được liệu hai hành động cố ý hủy hoại trên có xảy ra trong cùng một
thời kỳ hay không, hay liệu có phải hành động này đã gợi ý cho một độc giả rất
lâu sau này thực hiện hành động kia, hoặc hai phần cuối của những tài liệu này
thực sự giống nhau như thế nào. Mức độ trung thực của “Bản của Tòa Giáo trưởng”
so với tập bản thảo viết tay tại Zographou, ngoại trừ việc thiếu mất đoạn về
thức canh xác, cho thấy là câu chuyện trong hai bản có lẽ đã kết thúc y hệt
nhau, hoặc ít nhất rất giống nhau. Hơn nữa, việc “Bản của Tòa Giáo trưởng” bị
xé rách dù đã bỏ đoạn nói về những sự kiện siêu nhiên trong nhà thờ Snagov ủng
hộ giả thuyết rằng nó cũng kết thúc bằng miêu tả về một dị giáo hoặc một điều
xấu xa tại tu viện Sveti Georgi. Trong số các bản thảo viết tay của vùng Balkan
thời Trung cổ, đến nay vẫn chưa ghi nhận được trường hợp nào khác về việc can
thiệp một cách có hệ thống vào hai bản sao của cùng một tài liệu ở cách xa nhau
hàng trăm dặm.

