Truy tìm Dracula - Chương 62
Chương 62
“Hiếm có khoảnh khắc nào trong những năm nghiên cứu, viết
lách và suy tư của cuộc đời mình lại khơi lên trong cha một sự thấu ngộ bất ngờ
như giây phút Helen thốt lên suy đoán của cô trong thư viện ở Rila. Vlad
Dracula đã quay lại Constantinople để tìm thủ cấp của mình - hoặc
đúng hơn, cha tu viện trưởng ở Snagov đã gửi thi thể không đầu của Dracula đến
đó để ráp lại với cái đầu. Phải chăng Dracula đã thỉnh cầu việc này lúc còn
sống, khi biết về món tiền thưởng hậu hĩnh cho cái đầu nổi tiếng của mình và sở
thích của vị Quốc vương Hồi giáo: bêu đầu kẻ thù trước công chúng? Hoặc chính
cha tu viện trưởng tự gánh lấy sứ mệnh này vì không muốn giữ lại ở Snagov cái
xác không đầu của nhà bảo trợ có lẽ là dị giáo - hoặc nguy hiểm. Chắc chắn, một
con ma cà rồng không đầu chẳng phải một mối đe dọa to tát cho lắm - hình ảnh ấy
còn có vẻ rất khôi hài - nhưng nỗi lo âu, xáo động trong đám tu sĩ có lẽ đã đủ
để thuyết phục cha tu viện trưởng tổ chức lễ an táng Dracula đúng nghi thức
Công giáo tại một nơi nào khác. Chắc hẳn ông ta không thể tự gánh lấy trách
nhiệm phá hủy thi hài của ông hoàng. Và ai mà biết ông ta đã hứa hẹn những gì
với Dracula khi hắn còn sống?
“Một hình ảnh đặc biệt lại hiển hiện trong tâm trí cha: Cung
điện Tokapi ở Istanbul, nơi mà mới đây cha đã lang thang tản bộ trong một
buổi sáng ngập nắng, và những cánh cổng nơi các đao phủ Ottoman từng bêu đầu
những kẻ cừu địch của Quốc vương. Chắc hẳn thủ cấp của Dracula phải được cắm
vào cây cọc cao nhất - Kẻ Xiên Người cuối cùng cũng bị xiên vào cọc. Bao nhiêu
người đã đến xem cái thủ cấp ấy, bằng chứng về chiến thắng của Quốc vương
Mehmed II? Có lần Helen đã nói với cha ngay cả cư dân Istanbul cũng rất sợ
Dracula và lo ngại hắn có thể đánh vào thành phố. Không doanh trại Thổ nào phải
run sợ khi hắn đến nữa; rốt cuộc Mehmed II đã nắm quyền kiểm soát cái khu vực
luôn gây phiền hà khó chịu kia và có thể đặt một ông vua chư hầu Ottoman lên
ngai vàng xứ Wallachia như đã mong muốn bao năm qua. Tất cả những gì còn lại
của Kẻ Xiên Người là một chiến lợi phẩm gớm ghiếc, với hai mắt nhăn nhúm nhắm
nghiền và râu tóc bù xù bê bết máu.
“Người bạn đồng hành của chúng ta dường như cũng đang trầm
tư về một hình ảnh tương tự. Ngay khi chắc chắn Sư huynh Rumen đã đi khỏi, Stoichev
thì thầm, ‘Đúng, hoàn toàn có khả năng như vậy. Nhưng làm thế nào các tu sĩ tu
viện Panachrantos lấy được thủ cấp của Dracula từ cung điện Quốc vương? Quả
thực nó là một vật báu, như Stefan gọi trong câu chuyện của ông.’
“ ‘Chúng ta đã làm thế nào để lấy thị thực nhập cảnh vào
Bungari?’ Helen hỏi, đôi mày nhướng lên. ‘Bakshish(1)_ - không phải ít đâu. Sau
cuộc xâm chiếm, các tu viện trở nên vô cùng khốn khó, nhưng một số tu viện có
thể đã cất giấu được lượng lớn tiền vàng và châu báu - những thứ vệ binh hoàng
gia rất thèm khát.’
“Cha suy nghĩ rất lung về chuyện này. ‘Cuốn sách hướng dẫn
về Istanbul có nói là thủ cấp những kẻ kình địch của Quốc vương Mehmed bị ném
xuống kênh Bosphorus sau một thời gian bêu lên thị chúng. Có thể một người ở
Panachrantos đã can thiệp vào quy trình ấy - như vậy sẽ ít nguy hiểm hơn cố lấy
thủ cấp Dracula tại cổng cung điện.’
“ ‘Chúng ta hoàn toàn không biết thực hư chuyện này thế
nào,’ Stoichev nói, ‘nhưng tôi nghĩ phỏng đoán của cô Rossi là một phỏng đoán
rất có cơ sở. Rất có khả năng thủ cấp của Dracula là vật các tu sĩ cất công tìm
kiếm ở Tsarigrad. Về mặt tâm linh, cũng có một lý do sâu xa để họ hành động như
vậy. Tín điều Chính Thống giáo của chúng tôi nêu rõ khi chết thi hài con người
cần phải giữ càng nguyên vẹn càng tốt - cũng vì lý do đó, chúng tôi không có
tục hỏa táng - bởi vào Ngày Phán xét, chúng tôi sẽ phục sinh trong thân xác
đó.’
“ ‘Vậy di hài các vị thánh bị phân tán rải rác khắp nơi thì
sao?’ cha hỏi, giọng hồ nghi. ‘Làm sao họ có thể phục sinh trong một thể xác
nguyên vẹn được? Đó là chưa kể vài năm trước tôi còn nhìn thấy đến năm bàn tay
của Thánh Francis ở Ý.’
“Stoichev bật cười. ‘Thánh thì được hưởng đặc quyền chứ,’
ông nói. ‘Nhưng Vlad Dracula, dù là một sát thủ đáng sợ đối với quân Thổ Nhĩ
Kỳ, chắc chắn không phải là một vị thánh. Thực ra, cha tu viện trưởng Eupraxius
hết sức lo lắng cho linh hồn bất tử của Dracula, ít nhất là theo chuyện kể của
Stefan.’
“ ‘Hoặc lo cho thể xác bất tử của Dracula,’ Helen nói rõ
hơn.
“ ‘Vậy thì,’ cha góp ý, ‘có thể các tu sĩ ở Panachrantos đã
liều mạng lấy thủ cấp của Dracula để chôn cất theo đúng nghi lễ, nhưng vệ binh
hoàng gia phát hiện ra vụ đánh cắp và bắt đầu lùng sục, vì vậy thay vì chôn nó
ở Istanbul cha tu viện trưởng đã phải cho mang cái thủ cấp ra khỏi thành. Chắc
hẳn thỉnh thoảng lại có người hành hương đến Bungari’ - cha liếc nhìn Stoichev
chờ sự xác nhận - ‘và họ nhờ đưa cái đầu đi chôn cất ở… chà, ở Sveti Georgi,
hoặc một tu viện Bungari nào đó mà họ có quan hệ. Sau đó, các tu sĩ Snagov đến,
nhưng đã quá trễ, không thể ráp thân lại với đầu được nữa. Tu viện trưởng tu
viện Panachrantos nghe tin đã liên lạc với nhóm tu sĩ Snagov, và các tu sĩ
quyết định hoàn thành sứ mệnh của mình bằng cách mang cái xác đi tìm cái đầu.
Vả lại, họ cũng phải nhanh chóng rời khỏi chốn quái quỷ đó trước khi vệ binh
hoàng gia chú ý đến mình.’
“ ‘Một suy đoán tuyệt vời.’ Stoichev trao cho cha nụ cười lạ
lùng của ông. ‘Như tôi đã nói, chúng ta không thể biết chắc, bởi tài liệu của
chúng ta chỉ gợi ý bóng gió về những sự kiện này thôi. Nhưng anh đã dựng chúng
thành một bức tranh đầy sức thuyết phục. Rồi chúng tôi sẽ làm anh quên tiệt cái
đám thương nhân Hà Lan kia thôi.’ Cha cảm thấy mặt mình đỏ bừng, phần vì hài
lòng phần vì ngượng nghịu, nhưng nụ cười của Stoichev thật thân ái.
“ ‘Và mạng lưới của người Thổ bắt đầu cảnh giác trước sự
hiện diện rồi lại ra đi của các tu sĩ Snagov’ - Helen tiếp tục suy diễn câu
chuyện - ‘nên người Thổ đã lục soát các tu viện, phát hiện ra các tu sĩ từng
trú ngụ tại tu viện Thánh Irine, họ đã báo tin về cuộc hành trình của các tu sĩ
đến những quan chức dọc theo lộ trình, có lẽ là đến Edirne rồi sau đó là
Haskovo. Haskovo là thành phố lớn đầu tiên của Bungari mà các tu sĩ đến, và đó
là nơi họ bị - gọi là gì nhỉ? - ngăn cản.’
“ ‘Đúng vậy,’ Stoichev kết luận. ‘Chính quyền Thổ đã tra tấn
hai người trong nhóm để lục vấn tin tức, nhưng hai tu sĩ can đảm kia đã không
hé răng tiết lộ điều gì. Lính Thổ đã lục soát xe ngựa và chỉ tìm thấy lương
thực. Nhưng điều này lại làm nảy sinh một nghi vấn - tại sao lính Thổ không
phát hiện được cái xác?’
“Cha ngập ngừng. ‘Có thể họ không tìm một cái xác. Có thể họ
vẫn chỉ tìm kiếm cái đầu. Nếu vệ binh hoàng gia không biết gì nhiều về toàn bộ
câu chuyện ở Istanbul thì có thể họ vẫn cho rằng các tu sĩ Snagov đang vận
chuyển cái thủ cấp kia. “Biên niên ký” của Zacharias viết rằng lính Thổ đã nổi
giận khi mở những bó đồ mà chỉ tìm thấy lương thực. Cái xác hẳn đã được giấu
trong cánh rừng gần đó, nếu các tu sĩ được cảnh báo về cuộc khám xét.’
“ ‘Hoặc có thể họ đóng chiếc xe ngựa sao cho có một chỗ đặc
biệt để giấu cái xác,’ Helen ngẫm ngợi.
“ ‘Nhưng xác chết hẳn phải bốc mùi chứ,’ cha nhắc nhở Helen.
“ ‘Cái đó còn tùy thuộc anh tin vào điều gì nữa kia.’ Cô
nhìn cha, nở một nụ cười giễu cợt đầy duyên dáng.
“ ‘Anh tin vào điều gì ư?’
“ ‘Vâng. Anh thấy đó, một cái xác có nguy cơ trở thành quỷ
nhập tràng, hoặc đã trở thành quỷ nhập tràng, sẽ không phân hủy, hoặc sẽ phân
hủy chậm hơn. Theo truyền thống, nếu nghi ngờ có tình trạng hóa ma cà rồng,
người dân trong các làng mạc Đông Âu sẽ đào các xác chết lên để kiểm tra tình
trạng thối rữa, và sẽ phá hủy theo đúng nghi thức những xác không phân hủy theo
quy trình thông thường. Thậm chí thời nay, thỉnh thoảng việc đó vẫn xảy ra.’
“Stoichev rùng mình. ‘Một hành động quái dị. Tôi nghe nói
chuyện đó còn xảy ra ở Bungari nữa, lẽ dĩ nhiên thời nay đó là một hành động
bất hợp pháp. Giáo hội bao giờ cũng ngăn cấm hành động xâm phạm mồ mả người
chết, và hiện nay chính quyền của chúng tôi cũng nỗ lực ngăn cấm tất cả những
điều mê tín dị đoan.’
“Helen khẽ nhún vai. ‘Vậy thì cũng có khác gì hy vọng các
xác chết sẽ sống lại đâu cơ chứ?’ cô hỏi, nhưng đồng thời cũng mỉm cười với
Stoichev, và ông cũng bị nụ cười ấy lôi cuốn.
“ ‘Cô bạn ạ,’ Stoichev trả lời, ‘chúng ta có cách hiểu rất
khác nhau về các di sản của mình, nhưng tôi đánh giá cao sự nhanh trí của cô.
Còn bây giờ, các bạn ạ, tôi muốn dành thời gian để xem xét những tấm bản đồ của
các bạn - tôi chợt nghĩ trong thư viện này có thể có những tư liệu giúp chúng
ta đọc được các bản đồ đó. Cho tôi một giờ - việc tôi sắp làm có vẻ ngớ ngẩn,
nhưng hãy để tôi từ từ giải thích với các bạn.’
“Ranov lại vừa trở vào, gã đứng nhìn quanh thư viện và cựa
quậy không yên. Cha hy vọng gã không nghe được về tấm bản đồ.
“Stoichev hắng giọng. ‘Chắc các bạn muốn đi chiêm ngưỡng vẻ đẹp
của nhà thờ chứ nhỉ.’ Ông khẽ liếc về phía Ranov. Helen lập tức đứng dậy, tiến
về phía Ranov để lôi kéo sự chú ý của gã vào một câu chuyện rối rắm nào đó,
trong lúc cha kín đáo lục tìm và lấy trong cặp ra tập bản sao các tấm bản đồ.
Khi nhìn Stoichev háo hức đón lấy chúng, cha cảm thấy nôn nao trong lòng một
niềm hy vọng.
“Thật không may, Ranov có vẻ chú tâm dò xét công việc của
Stoichev và trao đổi với viên thủ thư hơn là chú ý đến chúng ta, mặc dù cha rất
muốn đánh lạc hướng gã. ‘Anh giúp chúng tôi tìm cái gì ăn tối được chứ?’ cha
hỏi gã. Viên thủ thư đứng lặng yên, nhìn cha chăm chú.
“Ranov mỉm cười. ‘Anh đói bụng à? Chưa đến giờ ăn ở đây đâu,
sáu giờ mới đến bữa tối. Chúng ta phải chờ đến lúc đó. Thật không may, ta sẽ
phải ăn chung với mấy ông thầy tu này.’ Gã quay lưng lại phía chúng ta rồi bắt
đầu nhìn ngắm một ngăn kệ đầy những cuốn sách bọc da, và chỉ có vậy.
“Helen theo cha ra cửa, siết chặt tay cha. ‘Mình đi dạo một
chút chứ anh?’ cô đề nghị khi chúng ta đã ra ngoài.
“ ‘Lúc này anh cũng không biết phải làm thế nào nếu không có
cái gã Ranov kia,’ cha nói, giọng u ám. ‘Không có gã thì chúng ta sẽ nói chuyện
gì nhỉ?’
“Helen bật cười, nhưng cha nhận ra cô cũng đang lo lắng.
‘Vậy em trở lại cố đánh lạc hướng gã lần nữa nhé?’
“ ‘Đừng,’ cha trả lời. ‘Tốt hơn là không nên. Chúng ta càng
làm như vậy, gã sẽ càng thắc mắc về những gì ông Stoichev đang xem. Chúng ta
không tống khứ nổi con ruồi phiền nhiễu ấy đâu.’
“ ‘Hắn đúng là một con ruồi phiền nhiễu.’ Helen quàng tay
cha. Mặt trời vẫn chiếu rực rỡ trong khu vực sân trong, và khi bước ra khỏi
bóng râm của những bức tường và hành lang mênh mông của tu viện, chúng ta mới
cảm thấy nóng. Ngước nhìn lên, cha có thể thấy những sườn núi phủ đầy cây cối
xung quanh tu viện, và những đỉnh núi đá dựng đứng bên trên. Tít trên cao, một
con đại bàng đang đảo cánh, chao lượn. Các tu sĩ trong lớp áo chùng đen nặng
nề, thắt lưng buộc chặt, mũ đen cao, râu cũng đen và dài thậm thượt, đang đi đi
lại lại giữa nhà thờ và tầng trệt tu viện, đang quét dọn sàn gỗ các hành lang,
hoặc đang ngồi trong vũng bóng râm hình tam giác gần cổng vòm nhà thờ. Cha băn
khoăn làm sao họ chịu đựng nổi cái nóng mùa hè trong bộ quần áo đó. Vào trong
nhà thờ cha mới hiểu được phần nào; không khí mát rượi như trong kho lạnh, lung
linh ánh sáng những ngọn nến và lấp lánh ánh vàng, đồng hoặc châu ngọc. Các mặt
tường phía trong được trang trí mạ vàng hoặc vẽ hình vị thánh và các nhà tiên
tri - ‘Tác phẩm nghệ thuật thế kỷ mười chín,’ Helen nhận xét một cách tự tin -
và cha dừng lại trước một ảnh thánh đặc biệt giản dị, một vị thánh râu trắng
dài, tóc điểm bạc đang trừng trừng nhìn thẳng vào chúng ta. Helen đọc to những
con chữ ghi sát bên vầng hào quang quanh đầu vị thánh. ‘Ivan Rilski.’
“ ‘Người mà hài cốt được mang đến đây tám năm trước khi ông
bạn người Wallachia của chúng ta đến Bungari ư? “Biên niên ký” đã đề cập đến
ông ta.’
“ ‘Đúng vậy.’ Helen đứng ngây mặt trước bức hình, tựa như
cho rằng nếu đứng đó đủ lâu thì bức tranh có thể lên tiếng với chúng ta.
“Những giây phút chờ đợi dài đằng đẵng bắt đầu làm thần kinh
cha mỏi mệt. ‘Helen,’ cha thốt lên, ‘dạo một vòng đi em. Chúng ta có thể leo
lên núi ngắm cảnh.’ Nếu không vận động một chút, chắc cha sẽ phát điên lên vì
cứ suy nghĩ về thầy Rossi.
“ ‘Được thôi,’ Helen tán đồng, rồi nhìn xoáy vào cha, tựa
như đọc được sự sốt ruột trong cha. ‘Miễn là đừng xa quá. Ranov không bao giờ
để chúng ta đi xa đâu.’
“Lối mòn dẫn lên núi quanh co xuyên cánh rừng rậm rịt, tán
rừng che chở cho chúng ta khỏi sức nóng buổi chiều, chẳng khác gì như đang ở
trong nhà thờ. Thật dễ chịu khi thoát khỏi cái gã Ranov kia dù chỉ vài phút,
Helen và cha thoải mái tay trong tay, dung dăng dung dẻ bước đi. ‘Em có nghĩ gã
thấy khó khăn khi phải chọn giữa chúng ta và ông Stoichev không?’
“ ‘Ồ, không đâu,’ Helen trả lời thẳng thừng. ‘Chắc chắn gã
đã cho một người khác theo dõi chúng ta. Chỉ một lát nữa thôi chúng ta sẽ đụng
đầu kẻ ấy, dù đó là ai, nhất là nếu chúng ta đi lâu hơn nửa giờ đồng hồ. Gã
không thể đơn độc vừa theo dõi chúng ta vừa phải chăm sóc ông Stoichev cẩn thận
để tìm hiểu nghiên cứu của chúng ta sẽ dẫn đến cái gì.’
“ ‘Em nói như thực ấy nhỉ,’ cha buột miệng, liếc nhìn khuôn
mặt nghiêng nghiêng của cô khi cô sải bước trên lối mòn. Cô đã kéo ngược mũ ra
phía sau, để lộ gương mặt hơi ửng hồng. ‘Anh không tài nào hình dung nổi người ta
có thể lớn lên mà phải hoài nghi như thế, phải chịu sự giám sát soi mói như
thế.’
“Helen nhún vai. ‘Chẳng có vẻ ghê gớm như vậy đâu, bởi em
không biết đến một kiểu sống nào khác.’
“ ‘Vậy sao em lại muốn rời bỏ đất nước mình để đến phương
Tây?’
“ ‘Đúng vậy,’ cô trả lời, nhìn lảng qua bên cạnh cha. ‘Em đã
muốn rời bỏ đất nước mình.’
“Chúng ta dừng lại nghỉ một lát trên một thân cây đổ ven
đường. ‘Anh đang nghĩ vì sao người ta lại để chúng ta vào Bungari,’ cha nói với
Helen. Ngay cả ở nơi đây, giữa chốn rừng rậm này, cha cũng chỉ dám thì thầm.
“ ‘Và vì sao người ta lại để chúng ta một mình lang thang
quanh quẩn.’ Helen gật đầu. ‘Anh đã nghĩ đến điều đó chưa?’
“ ‘Anh thấy có vẻ như,’ cha chậm rãi trả lời, ‘người ta
không ngăn chúng ta tìm bất kỳ cái gì chúng ta đang tìm kiếm - việc họ có thể
làm dễ dàng - là bởi vì người ta muốn chúng ta tìm được thứ đó.’
“ ‘Tuyệt vời, thám tử Sherlock ạ.’ Helen lấy bàn tay quạt
cho cha. ‘Anh học hỏi được nhiều quá.’
“ ‘Như vậy, cứ cho là họ thực sự biết hoặc nghi ngờ cái mà chúng
ta đang tìm kiếm. Tại sao họ lại nghĩ chuyện Dracula là quỷ nhập tràng sẽ có
giá trị, thậm chí, tại sao họ lại tin được chuyện đó?’ Cha phải cố gắng lắm mới
nói ra được câu hỏi đó, dù đã hạ giọng chỉ còn như tiếng thì thầm. ‘Đã nhiều
lần chính em nói với anh rằng chính quyền cộng sản rất xem thường sự mê tín dị
đoan của giới nông dân. Vậy tại sao thay vì ngăn cản họ lại khuyến khích chúng
ta như thế này? Phải chăng họ nghĩ sẽ đạt được một thứ quyền lực siêu nhiên nào
đó trước người dân Bungari nếu chúng ta tìm được ngôi mộ của Dracula ở đây?’
“Helen lắc đầu. ‘Không phải vậy đâu. Mối quan tâm của họ
chắc chắn dựa trên nền tảng quyền lực, nhưng bao giờ cũng có tính khoa học
trong cách tiếp cận. Hơn nữa, nếu có một phát hiện hay điều gì đó đáng quan
tâm, họ cũng không muốn một người Mỹ được ca tụng vì chuyện đó.’ Helen trầm
ngâm một lúc. ‘Anh thử nghĩ xem, đối với khoa học, có gì tác động mạnh bằng
việc tìm ra cách làm cho người chết sống lại, hoặc bất tử trong mọi hoàn cảnh.
Nhất là đối với khối phương Đông, với những đại lãnh tụ đang được ướp xác trong
các lăng mộ của họ?’
“Hình ảnh gương mặt vàng khè của Georgi Dimitrov trong lăng
mộ ở Sofia chợt hiện lên trong đầu cha. ‘Như vậy càng có lý do để tiêu diệt
Dracula,’ cha nói, nhưng cha cũng cảm nhận mồ hôi đang túa ra trên trán.
“ ‘Và em cũng băn khoăn,’ Helen buồn rầu nói tiếp, ‘rằng
tiêu diệt hắn liệu có tạo ra khác biệt gì nhiều nhặn trong tương lai hay không.
Hãy nghĩ đến những gì mà Stalin đã làm với nhân dân ông ta mà xem, cả Hitler
nữa. Họ đâu cần sống đến năm trăm năm để thực hiện những sự việc kinh hoàng
kia.’
“ ‘Anh biết,’ cha tiếp lời. ‘Anh cũng đã nghĩ đến điều đó.’
“Helen gật đầu. ‘Anh biết không, điều kỳ lạ là Stalin công
khai ngưỡng mộ Ivan Bạo Chúa(2)_. Hai nhà lãnh đạo sẵn sàng đàn áp và tàn sát
nhân dân của mình - thực hiện bất kỳ hành động nào cần thiết - nhằm củng cố
quyền lực. Và anh biết Ivan Bạo Chúa ngưỡng mộ kẻ nào không?’
“Cha cảm thấy như máu đang rút sạch khỏi tim mình. ‘Em có
nói với anh rằng người Nga có nhiều câu chuyện về Dracula.’
“ ‘Vâng. Chính xác là vậy.’
“Cha nhìn cô chăm chăm.
“ ‘Anh có thể hình dung một thế giới mà Stalin có thể sống
đến năm trăm năm không?’ Cô miết ngón tay lên một chỗ vỏ mềm trên thân cây.
‘Hoặc có thể bất tử?’
“Cha nhận ra mình đang nắm chặt tay lại. ‘Liệu chúng ta có
thể tìm ra một hầm mộ thời Trung cổ mà không dẫn dắt người nào khác đến đó?’
“ ‘Rất khó, có lẽ là không thể. Em chắc chắn họ đã cho người
theo dõi chúng ta khắp mọi nơi.’
“Ngay lúc ấy, một người đàn ông xuất hiện ở khúc quẹo con
đường mòn. Cha giật mình vì sự xuất hiện đột ngột của anh ta, đến nỗi suýt buột
miệng chửi thề. Nhưng đó là một người có bề ngoài giản dị, ăn mặc tuềnh toàng,
và vác một bó củi trên vai, anh ta đưa tay vẫy chào chúng ta rồi tiếp tục bước
đi. Cha nhìn Helen.
“ ‘Anh thấy chứ?’ cô khẽ nói.”
“Leo núi được một đoạn, chúng ta gặp một chỗ dốc nhô ra khỏi
vách đá. ‘Nhìn kìa,’ Helen nói. ‘Ngồi đây nghỉ một lát đã anh.’
“Thung lũng dốc đứng rậm rịt cây cối nằm ngay phía dưới
chúng ta, gần như bị lấp đầy bởi những bức tường và mái ngói đỏ của tu viện.
Giờ cha mới thấy rõ quy mô đồ sộ của tổng thể phức hợp này. Cả công trình như
một lớp vỏ bọc góc cạnh bao quanh nhà thờ, những mái vòm rực rỡ trong nắng
chiều, ngọn tháp Hrelyo vút lên ở giữa trung tâm. ‘Từ trên đây có thể thấy nơi này
được củng cố vững chắc như thế nào. Thử hình dung cảnh quân thù phải thường
xuyên nhìn xuống như thế này xem.’
“ ‘Hoặc người hành hương nữa chứ,’ Helen nhắc. ‘Đối với
người hành hương, nơi đây là một điểm đến tinh thần chứ không phải một thách
thức quân sự.’ Helen ngả người về phía sau, dựa vào một thân cây, vuốt thẳng
váy. Cô đã bỏ túi xách xuống, cởi mũ ra và xắn tay chiếc áo cánh sáng màu cho
bớt nóng. Mồ hôi lấm tấm trên trán và má. Gương mặt cô mang cái vẻ mà cha yêu
thích nhất - cô miên man suy nghĩ, nhìn đăm đăm như vừa tự lục vấn bản thân vừa
dõi đến một chốn xa xăm nào đó, mắt mở to chăm chú, miệng mím chặt; vì nguyên
nhân nào đó, cha vẫn luôn thích ánh mắt ấy hơn những lúc cô quay sang nhìn
thẳng vào cha. Mặc dù dấu cắn của tên thủ thư đã phai nhạt thành một vết thâm
tím, cô vẫn quàng khăn quanh cổ, cây thánh giá lấp lánh bên dưới. Vẻ đẹp sắc
sảo của Helen làm dậy lên trong cha cảm giác đau nhói, không đơn thuần là sự
thèm khát thể xác mà là một cảm giác gần như kinh sợ sự toàn mỹ của cô. Cô xa cách
vời vợi, của cha mà chẳng hề thuộc về cha.
“ ‘Helen,’ cha lên tiếng mà không nắm tay cô. Cha chưa định
nói nhưng không thể ngăn mình lại được. ‘Anh muốn hỏi em một chuyện.’
“Cô gật đầu, ánh mắt và tâm trí vẫn còn lang thang trong cái
thánh địa khổng lồ bên dưới.
“ ‘Helen, em bằng lòng làm vợ anh nhé?’
“Cô từ từ quay sang cha, và cha đã tự hỏi không biết mình
đang nhìn thấy trên gương mặt đó là sự sững sờ, thích thú, hay vui sướng. ‘Anh
Paul,’ Helen lên tiếng, giọng nghiêm nghị. ‘Chúng ta quen nhau bao lâu rồi?’
“ ‘Hai mươi ba ngày,’ cha xác nhận. Đến lúc đó, cha mới nhận
ra mình đã không suy nghĩ cẩn thận xem phải hành xử thế nào nếu cô từ chối,
nhưng đã quá trễ nếu muốn rút lại câu hỏi, hoặc để dành nó cho một thời điểm
khác. Nếu cô nói không thì cha cũng chẳng thể lao mình xuống núi giữa chừng
cuộc tìm kiếm thầy Rossi, dù có lẽ cha rất muốn làm vậy.
“ ‘Anh nghĩ là đã hiểu rõ em?’
“ ‘Không hề,’ cha mạnh giọng chống chế.
“ ‘Anh nghĩ em đã hiểu anh?’
“ ‘Anh không chắc.’
“ ‘Chúng ta biết về nhau quá ít. Chúng ta đến từ hai thế
giới hoàn toàn khác nhau.’ Lần này cô mỉm cười, tựa như để lời mình nói bớt vẻ
chua cay. ‘Vả lại, em luôn nghĩ rằng em sẽ không lấy chồng. Em không phải là
kiểu người thích hợp để làm vợ. Và còn cái này thì sao?’ Cô đưa tay chạm vào chiếc
khăn quàng cổ. ‘Anh sẽ lấy một phụ nữ đã bị âm ty, quỷ dữ đánh dấu chứ?’
“ ‘Anh sẽ bảo vệ em khỏi bất cứ loại âm ty quỷ dữ nào dám
đến gần.’
“ ‘Đó chẳng phải là một gánh nặng hay sao? Và làm sao chúng
ta có thể có con’ - ánh mắt cô vừa gay gắt vừa thẳng thắn - ‘khi biết rằng
chúng có thể bị ảnh hưởng thế nào đó bởi sự nhiễm bệnh này.’
“Khó khăn lắm cha mới thốt nên lời qua cái cổ họng bỏng rát
của mình. ‘Như vậy câu trả lời của em là không ư, hay anh có thể lại cầu hôn em
vào một lúc khác?’
“Bàn tay cô - cha không thể hình dung sẽ ra sao nếu không có
bàn tay ấy, những đầu móng vuông vắn, làn da mềm mại, ngón tay xương xương -
đặt lên tay cha, và cha thoáng nghĩ mình không có chiếc nhẫn nào để mang vào
bàn tay ấy.
“Helen nhìn cha, vẻ mặt nghiêm trang. ‘Câu trả lời là dĩ
nhiên em sẽ làm vợ anh.’
“Sau nhiều tuần lễ tìm kiếm vô vọng một con người khác mà
cha cũng vô cùng yêu quý, cha quá sững sờ vì sự dễ dàng của cái tình yêu tìm
thấy này đến độ không thể thốt lên lời, thậm chí cũng không có nổi một nụ hôn. Chúng
ta yên lặng ngồi sát bên nhau, nhìn xuống những sắc đỏ, vàng, xám của cái tu
viện mênh mông kia.”
Chú thích:
1. Tiếng Bungari trong nguyên bản, nghĩa là "Tiền hối
lộ".
2. Sa Hoàng đầu tiên của Nga từ 1547 - 1584, còn gọi là Ivan
IV (1530 - 1584). Ông đã bành trướng đế quốc của mình đến tận dãy Ural và miền
Siberia, thúc đẩy nhiều cải cách trong nước, nhưng bị lưu tiếng xấu trong lịch
sử do các chính sách và hành động cực kỳ chuyên quyền tàn ác trong hai mươi năm
cuối đời.

