Truy tìm Dracula - Chương 70 + 71
Chương 70
Tháng Mười hai 1963
Con gái thương yêu,
Lúc này mẹ đang ở Napoli. Năm nay, mẹ sẽ cố tìm kiếm
một cách có hệ thống hơn. Thời tiết tháng Mười hai ở Napoli rất ấm,
thật tốt, vì mẹ đang bị cảm lạnh. Trước đây, khi chưa phải xa con, mẹ chưa bao
giờ biết đến cô đơn, bởi vì mẹ chưa từng được ai yêu như cha con đã yêu mẹ - và
như con yêu mẹ nữa, mẹ nghĩ vậy. Bây giờ, mẹ là một người phụ nữ cô đơn trong
một thư viện, vừa khụt khịt lau mũi vừa ghi chép. Mẹ tự hỏi liệu có ai từng cô
đơn như mẹ giữa chốn này cũng như trong căn phòng khách sạn kia. Giữa chốn đông
người, mẹ phải quàng khăn hoặc mặc áo cao cổ. Khi mẹ ăn trưa một mình, có người
mỉm cười với mẹ và mẹ cười đáp lại. Rồi mẹ lại ngoảnh đi. Con không phải là
người duy nhất mà mẹ không xứng đáng để tiếp xúc.
Mẹ thương yêu của con,
Helen
Tháng Hai 1964
Con gái thương yêu,
Athens rất bụi bặm ồn ào, và mẹ phải rất khó khăn mới tiếp
cận được những tài liệu mẹ cần tại Viện Trung cổ Hy Lạp, cái viện cũng có vẻ
Trung cổ chẳng khác gì những thứ nó lưu giữ. Nhưng sáng hôm nay, khi ngồi trên
thành Acropolis, mẹ hầu như có thể hình dung được cái ngày mà sự chia cách giữa
chúng ta chấm dứt, và chúng ta sẽ ngồi - có lẽ lúc đó con đã là một phụ nữ
trưởng thành - trên những tảng đá đổ nát này nhìn xuống thành phố dưới kia.
Tưởng tượng xem: con sẽ cao, như mẹ, như cha, với mái tóc mây đen tuyền - rất
ngắn hoặc thắt bím dày? - đeo kính mát, đi giày thể thao và cột khăn trùm đầu
nếu gió mạnh như ngày hôm nay. Và lúc đó mẹ cũng đã già, nhăn nheo, chỉ hãnh
diện vì con. Những anh chàng phục vụ bàn sẽ nhìn con chăm chăm chứ không nhìn
mẹ, và mẹ sẽ cười hãnh diện, còn cha sẽ trừng mắt nhìn họ sau tờ báo.
Mẹ thương yêu của con,
Helen
Tháng Ba 1964
Con gái thương yêu,
Hôm qua mẹ cảm thấy mê thành Acropolis đến độ sáng nay mẹ đã
quay trở lại nơi ấy, chỉ để viết cho con. Nhưng khi ngồi ở đó, đưa mắt nhìn
thành phố bên dưới, vết thương trên cổ mẹ bắt đầu co giật, và mẹ nghĩ một kẻ
đang ở sát bên đã tác động đến mình, mẹ chỉ có thể nhìn quanh, cố gắng tìm giữa
các đám đông du khách bất cứ kẻ nào tình nghi. Mẹ không thể hiểu vì sao tên ác
ôn này chưa vượt qua bao thế kỷ ngăn cách để tìm mẹ. Mẹ là của hắn vì đã bị hút
máu, đã bị ô uế, đang thoáng cảm thấy khao khát hắn. Tại sao hắn chưa hành động
để chấm dứt tình trạng khốn khổ của mẹ? Nhưng ngay khi nghĩ đến điều đó, mẹ
chợt nhận ra là mình phải tiếp tục chống cự lại hắn, phải ngăn ngừa và bảo vệ
bản thân mình khỏi hắn bằng mọi thứ bùa phép, phải tìm ra các sào huyệt của hắn
với hy vọng sẽ bắt được hắn tại một trong những nơi đó, bắt hắn một cách hoàn
toàn bất ngờ để có thể làm nên lịch sử bằng cách tiêu diệt hắn. Con, thiên thần
mẹ đã đánh mất, chính là ngọn lửa nung nấu tham vọng ghê gớm này.
Mẹ thương yêu của con,
Helen
Chương 71
“Khi chúng ta nhìn thấy bức ảnh thánh trong tay Baba Yanka,
cha không biết ai há hốc miệng kinh ngạc trước, cha hay là Helen, nhưng cả hai
chúng ta đều kìm nén phản ứng của mình ngay lập tức. Ranov đang đứng tựa vào
một thân cây cách chúng ta chưa đến mười bước chân, cha thở phào khi thấy gã
đang nhìn ra ngoài thung lũng, vẻ buồn chán và khinh khỉnh, mải mê với điếu
thuốc, và dường như chẳng chú ý gì đến bức ảnh. Một lát sau, Baba Yanka đã
ngoảnh đi hướng khác, rồi cùng với bà già kia nhảy những bước nhảy sinh động và
oai nghiêm ra khỏi đống lửa, hướng về phía vị cha xứ. Hai cậu bé lấy lụa phủ
các bức ảnh thánh ngay khi được hai người phụ nữ trao lại. Cha để mắt theo dõi
Ranov. Lúc này vị cha xứ đang làm dấu ban phước lành cho hai người phụ nữ, sau
đó Sư huynh Ivan dẫn họ đi và trao cho mỗi người một ly nước. Khi đi ngang qua,
Baba Yanka liếc nhìn chúng ta đầy vẻ hãnh diện, mặt đỏ bừng, mỉm cười, gần như
là nháy mắt, Helen và cha cúi chào bà, lòng đầy kính sợ. Cha chăm chú nhìn bàn
chân bà lúc bà đi qua; đôi bàn chân trần chai sần nứt nẻ hoàn toàn không hề hấn
gì, bàn chân người phụ nữ kia cũng vậy. Chỉ có gương mặt họ vẫn còn tỏa hơi
nóng của ngọn lửa, như bị sạm nắng.
“ ‘Con rồng,’ Helen thì thầm với cha khi chúng ta đang chăm
chú nhìn hai người phụ nữ.
“ ‘Đúng vậy,’ cha cũng thì thào. ‘Chúng ta phải tìm ra nơi
người ta cất giữ bức ảnh này cũng như niên đại của nó. Đi nào. Vị cha xứ đã hứa
đưa chúng ta đi xem một vòng nhà thờ.’
“ ‘Ranov thì sao?’ Helen không nhìn xung quanh.
“ ‘Chúng ta chỉ còn cách cầu mong hắn đừng quyết định đi
theo thôi,’ cha nói. ‘Anh không nghĩ là gã đã nhìn thấy bức ảnh thánh.’
“Vị cha xứ đang quay trở lại nhà thờ, mọi người bắt đầu tản
đi. Chúng ta chậm rãi bước theo và thấy ông đang đặt bức ảnh Thánh Petko trở
lại trên bục. Không nhìn thấy hai bức ảnh kia đâu. Cha cúi đầu cảm ơn, và vừa
đưa tay chỉ ra phía ngoài vừa nói với ông bằng tiếng Anh là buổi lễ rất đẹp.
Ông có vẻ hài lòng. Sau đó, cha làm dấu chỉ quanh nhà thờ và nhướng mày. ‘Chúng
tôi có thể thăm qua một vòng không?’
“ ‘Một vòng à?’ Ông thoáng cau mày, rồi lại mỉm cười. Xin
chờ một chút - ông chỉ cần cởi bỏ áo choàng. Ông trở lại trong bộ áo chùng đen
thường nhật và cẩn thận dẫn chúng ta đến từng hốc tường, chỉ trỏ giải thích các
‘ikoni’(1) _ và ‘Hristos’(2) _ và một vài điều gì đó mà chúng ta chỉ hiểu loáng
thoáng. Có vẻ như ông rất am hiểu nơi này và lịch sử của nó, giá mà chúng ta có
thể hiểu được ông. Sau cùng, cha hỏi ông hai bức ảnh thánh kia ở đâu, và ông
trỏ vào lối đi bên hông nhà thờ mà cha đã để ý trước đó. Có vẻ như hai bức ảnh
đã được mang trở lại khu hầm mộ, nơi cất giữ chúng. Vị cha xứ sốt sắng đi lấy
cây đèn lồng rồi dẫn chúng ta xuống.
“Các bậc cầu thang đá rất dốc, hơi lạnh từ bên dưới bốc lên
khiến nhà thờ lại có vẻ ấm áp. Cha nắm chặt tay Helen khi chúng ta thận trọng
bước từng bước sau cây đèn lồng của vị cha xứ, ánh đèn soi rạng những khối đá
cổ xưa chung quanh chúng ta. Tuy nhiên, căn phòng nhỏ bên dưới không tối thui
tối mò; hai giá nến đang cháy sáng cạnh một bệ thờ, và một lúc sau chúng ta mới
nhận ra, dù chỉ lờ mờ, đó không phải một bệ thờ mà là một hòm đựng di hài thánh
nhân bằng đồng chạm khắc tinh xảo, che phủ một phần bởi một tấm lụa Damas đỏ
được thêu thùa công phu. Bên trên hòm là hai bức ảnh thánh đóng khung bạc, Đức
Mẹ Đồng Trinh và - cha bước đến một bước - con rồng và vị hiệp sĩ. ‘Sveti
Petko,’ vị cha xứ vui vẻ nói, tay sờ vào hòm đựng di hài thánh nhân.
“Cha trỏ vào ảnh Đức Mẹ Đồng Trinh, và ông nói điều gì đó
liên quan đến Bachkovski manastir, dù chúng ta không thể hiểu gì nhiều hơn. Rồi
cha lại trỏ vào bức ảnh thánh kia, và vị cha xứ tươi cười. ‘Sveti Georgi,’ ông
nói, trỏ vào vị hiệp sĩ. Rồi ông chỉ con rồng: ‘Drakula.’
“ ‘Chữ đó có thể chỉ có nghĩa là con rồng,’ Helen nhắc.
“Cha gật đầu. ‘Làm thế nào để hỏi ông ấy bức ảnh có từ bao
giờ nhỉ?’
“ ‘Star? Staro?’(3) _ Helen phỏng đoán.
“Vị cha xứ lắc đầu để bày tỏ sự đồng ý. ‘Mnogo star,’(4) _
ông nói, vẻ mặt nghiêm nghị. Chúng ta nhìn ông chăm chăm. Cha đưa tay lên rồi
đếm ngón tay. Ba? Bốn? Năm? Vị cha xứ mỉm cười. Năm. Năm ngón tay - khoảng năm
trăm năm.
“ ‘Ông ấy nghĩ bức ảnh có từ thế kỷ mười lăm,’ Helen kết
luận. ‘Chúa ơi, bây giờ làm sao hỏi nó xuất xứ từ đâu nhỉ?’ Cha trỏ vào bức
ảnh, làm cử chỉ khoát tay một vòng quanh khu hầm mộ, chỉ lên nhà thờ phía trên
chúng ta. Khi hiểu ra, ông làm một cử chỉ mà ai cũng hiểu là dấu hiệu không
biết: vừa nhún vai vừa nhướng mày lên. Ông không biết. Có vẻ như ông cố nói cho
chúng ta hiểu là bức ảnh đã có ở nhà thờ Thánh Petko hàng trăm năm - ngoài điều
đó ra, ông không biết gì hơn.
“Sau cùng, vị cha xứ quay người, mỉm cười, và chúng ta chuẩn
bị theo ông cùng ngọn đèn lồng trở lại cầu thang. Lẽ ra chúng ta đã rời khỏi
khu hầm mộ đó mãi mãi, trong nỗi vô vọng hoàn toàn, nếu Helen không bất chợt bị
mắc kẹt gót giày giữa hai viên đá sàn. Cô há hốc miệng kinh ngạc, vẻ bực bội -
cha biết Helen không mang theo đôi giày nào khác - và cha nhanh chóng cúi xuống
giúp cô. Vị cha xứ gần như đã khuất dạng, nhưng ánh nến bên cạnh hòm di hài
cũng đủ sáng cho cha nhìn thấy hình ảnh được khắc trên mặt đứng của bậc cấp
dưới cùng, ngay sát bên chân Helen. Đó là một con rồng nhỏ, nét khắc thô nhưng
không lẫn vào đâu được, và rõ ràng cùng một mẫu với con rồng trong cuốn sách
của cha. Cha quỳ xuống, lấy tay lần theo từng đường nét hình khắc ấy. Nó quen
thuộc đến độ cha tưởng như chính mình cũng có thể khắc hình rồng kia vào đó.
Helen cũng cúi xuống bên cạnh cha, quên bẵng chuyện giày dép. ‘Lạy Chúa,’ cô
thốt lên. ‘Chỗ này là chỗ nào vậy?’
“ ‘Sveti Georgi,’ cha trả lời, giọng điềm tĩnh. ‘Chỗ này
chắc phải là tu viện Sveti Georgi.’
“Trong ánh sáng lờ mờ, Helen trố mắt nhìn cha, tóc cô lòa
xòa trước mắt. ‘Nhưng nhà thờ này mới có từ thế kỷ mười tám mà,’ cô phản bác.
Nhưng rồi mặt cô sáng lên. ‘Anh nghĩ là…’
“ ‘Rất nhiều nhà thờ có nền móng cũ xưa hơn chính bản thân
chúng, đúng không? Và chúng ta biết nhà thờ này được xây dựng lại sau khi quân
Thổ đã thiêu rụi ngôi nhà thờ nguyên thủy. Nó không thể là một nhà thờ của tu
viện hay sao, một tu viện mà mọi người đã quên lãng từ lâu?’ cha thì thầm trong
cơn khích động. ‘Nó có thể được xây dựng lại hàng chục năm sau hoặc nhiều thế
kỷ sau, và được đặt tên lại theo vị thánh tử đạo mà người ta còn nhớ.’
“Helen kinh hãi quay lại, nhìn chằm chằm vào hòm di hài bằng
đồng sau lưng chúng ta. ‘Anh có nghĩ là…’
“ ‘Anh không biết,’ cha đáp lại, chậm rãi. ‘Có vẻ như người
ta khó lòng mà nhầm lẫn bộ di hài này với bộ di hài khác, nhưng em nghĩ xem cái
hòm kia được mở ra gần đây nhất là lúc nào?’
“ ‘Trông nó có vẻ không đủ lớn,’ Helen nhận xét. Dường như
cô không thể nói gì thêm.
“ ‘Không đủ lớn,’ cha tán đồng, ‘nhưng chúng ta cũng phải
thử. Ít nhất là anh phải thử. Anh muốn em đứng ngoài chuyện này, Helen.’
“Helen ném cho cha một cái nhìn kỳ quặc, tựa như sửng sốt
khi cha thậm chí còn đuổi cô đi nơi khác nữa. ‘Đột nhập vào nhà thờ và xâm phạm
hầm mộ một vị thánh là chuyện nghiêm trọng đấy.’
“ ‘Anh biết,’ cha đáp lại. ‘Nhưng nếu đây không phải là mộ
một vị thánh thì sao?’
“Có hai cái tên mà chúng ta không thể thốt ra dưới chốn lạnh
lẽo và tăm tối này, trong ánh nến lập lòe, chỉ có mùi sáp cháy và mùi đất. Một
trong hai cái tên đó là Rossi.
“ ‘Ngay bây giờ sao? Ranov sẽ đi tìm chúng ta đấy,’ Helen
nói.
“Khi chúng ta ra khỏi nhà thờ, bóng cây xung quanh nhà thờ
đã ngả dài, Ranov đang chờ đợi, mặt lộ vẻ sốt ruột. Sư huynh Ivan đứng bên
cạnh, dù cha để ý thấy cả hai hầu như không nói gì với nhau. ‘Anh chợp mắt được
một chút chứ?’ Helen hỏi, giọng lịch sự.
“ ‘Đến giờ về lại Bachkovo rồi đấy.’ Ranov đáp lại cộc lốc;
cha tự hỏi phải chăng gã thất vọng vì có vẻ như chúng ta chẳng tìm kiếm điều gì
ở đây cả. ‘Chúng ta sẽ khởi hành về Sofia vào buổi sáng. Tôi có việc phải làm ở
đấy. Tôi hy vọng các bạn hài lòng về công việc nghiên cứu của mình.’
“ ‘Cũng tạm hài lòng,’ cha đáp. ‘Tôi muốn đến thăm Baba
Yanka một lần nữa, để cám ơn sự giúp đỡ của bà.’
“ ‘Tốt thôi,’ Ranov trông có vẻ bực bội nhưng cũng đi trước
dẫn đường trở lại làng, Sư huynh Ivan im lặng bước theo sau chúng ta. Con đường
làng lặng im không một tiếng động trong nắng chiều hanh vàng, mùi nấu nướng bốc
lên khắp mọi nơi. Một ông lão bước ra, đến bên giếng bơm giữa làng, lấy đầy một
xô nước. Xa tít cuối con đường nhỏ là nhà Baba Yanka, một bầy dê và cừu đang
được lùa vào chuồng; cha có thể nghe tiếng kêu rền rĩ và nhìn thấy chúng xúm
lại lộn xộn giữa các ngôi nhà trước khi một cậu bé vỗ roi đen đét xua chúng rẽ
quanh góc đường.
“Baba Yanka tỏ vẻ vui mừng khi nhìn thấy chúng ta. Thông qua
Ranov, chúng ta nói lời chúc mừng buổi hát diễn tuyệt vời và màn nhảy múa trong
lửa của bà. Sư huynh Ivan im lặng làm dấu ban phước lành cho bà. ‘Làm thế nào
mà bà không bị bỏng vậy?’ Helen hỏi.
“ ‘Ồ, đó là quyền năng của Chúa,’ bà trả lời, giọng dịu
dàng. ‘Sau đó, tôi cũng không nhớ chuyện đã xảy ra thế nào. Đôi khi, sau đó tôi
cảm thấy nóng ở chân, nhưng không bao giờ bị bỏng. Đối với tôi, đây là ngày
tuyệt vời nhất trong năm, dù không nhớ gì nhiều về ngày đó. Nhiều tháng sau,
tôi cảm thấy thanh thản như một mặt hồ.’
“Bà lấy trong tủ ra một cái chai không có nhãn hiệu rồi rót
cho chúng ta mỗi người một ly thứ nước màu nâu trong. Trong chai lềnh bềnh
những sợi cỏ dài, Ranov giải thích đó là những loại dược thảo, ngâm để lấy mùi
vị. Sư huynh Ivan từ chối, nhưng Ranov thì cầm lấy ly nước. Sau một vài hớp gã
bắt đầu hỏi Sư huynh Ivan một câu gì đó, giọng vừa bỗ bã vừa khiêu khích. Chẳng
mấy chốc, cả hai sa vào một cuộc tranh cãi mà chúng ta không hiểu nổi, dù thỉnh
thoảng cha nghe lõm bõm tiếng politicheski(5) _.
“Ngồi nghe được một lát, cha cắt ngang cuộc tranh luận để
nhờ Ranov xin phép Baba Yanka cho cha sử dụng phòng vệ sinh của bà. Gã bật cười
một cách khó ưa. Chắc hẳn gã lại sắp giở cái trò khôi hài cũ rích của mình, cha
nghĩ. ‘Tôi e là nhà vệ sinh ở đây chẳng dễ chịu lắm đâu,’ gã nói. Baba Yanka
cũng bật cười và trỏ về phía cửa sau. Helen nói sẽ đi theo cha để chờ đến lượt
mình. Nhà xí trong sân sau nhà Baba Yanka trông còn tồi tệ hơn túp lều tranh
kia nữa, nhưng đủ rộng để che khuất cuộc bỏ trốn thầm lặng của chúng ta, giữa
đám cây cối và tổ ong, qua cánh cổng sau. Không có ai trong tầm mắt, nhưng
chúng ta vẫn rảo bước khi ra đến con lộ, yên lặng len lỏi giữa các bụi cây, và
leo lên đồi. Ơn Chúa, không có ai quanh ngôi nhà thờ đang nằm im lìm dưới bóng
cây râm mát. Cái hố lửa tỏa một màu đỏ yếu ớt dưới các tán cây.
“Chúng ta không dám sử dụng cửa trước, ở đó chúng ta có thể
bị nhìn thấy từ đường làng; thay vì thế, chúng ta vội vã quành ra phía sau. Ở
đấy có một cửa sổ thấp, phủ rèm tím phía trong. ‘Chỗ đó dẫn vào điện thờ,’
Helen nói. Khung cửa gỗ chỉ cài lại, không khóa, và chỉ với một mẩu gỗ nhỏ
chúng ta đã mở được cánh cửa và chui vào giữa hai tấm màn, sau đó cẩn thận đóng
lại mọi thứ. Ở bên trong, cha nhận ra Helen đã nói đúng; chúng ta ở ngay sau
bức trướng ngăn bệ thờ. ‘Phụ nữ không được phép vào đây,’ Helen thì thầm trong
khi lia mắt nhìn quanh với vẻ hiếu kỳ của một học giả.
“Căn phòng phía sau bức trướng hầu như bị choán hết bởi một
bệ thờ cao phủ những tấm vải sặc sỡ và những cây nến. Hai cuốn sách cổ dựng trên
một giá bằng đồng ở kế bên, móc dọc theo các vách tường treo những bộ lễ phục
lộng lẫy mà chúng ta đã được thấy vị cha xứ mặc trước đó. Mọi vật bất động và
tĩnh lặng đến khủng khiếp. Cha tìm thấy cánh cổng thánh, nơi vị cha xứ đi qua
để xuất hiện trước đám giáo dân, và chúng ta tiếp tục tiến tới để vào trong
gian nhà thờ tối om với ít nhiều cảm giác tội lỗi. Có một chút ánh sáng le lói
từ những cánh cửa sổ hẹp, nhưng tất cả nến đều đã tắt, có lẽ vì sợ hỏa hoạn, và
phải mất một lúc cha mới tìm được hộp diêm quẹt trên một ngăn kệ. Cha thắp cho
mỗi người một cây nến lấy từ trên giá nến. Sau đó, chúng ta thận trọng bước
xuống cầu thang. ‘Em chẳng ưa chỗ này,’ cha nghe Helen thì thào phía sau, nhưng
cha biết không phải cô có ý muốn muốn bỏ cuộc, dù trong bất kỳ trường hợp nào.
‘Anh nghĩ bao lâu nữa Ranov sẽ phát hiện ra sự vắng mặt của chúng ta?’
“Khu hầm mộ này đúng là nơi tăm tối nhất mà cha từng lui
tới, tất cả các ngọn nến ở đây đều đã tắt sạch, cha thầm cảm ơn hai đốm sáng mà
chúng ta mang theo. Cha dùng cây nến của mình để thắp lại những ngọn nến tắt.
Ánh sáng bùng lên, tấm vải thêu màu vàng trên hòm di hài lấp lánh dưới ánh nến.
Tay cha bắt đầu run lên một cách tệ hại, dù vậy cha vẫn xoay xở lấy con dao găm
nhỏ của Turgut ra khỏi túi áo khoác, cha đã cất ở đó từ khi rời khỏi Sofia. Cha
để con dao xuống nền, gần chiếc hòm di hài, rồi cùng Helen nhẹ nhàng nhấc hai
bức ảnh ra khỏi vị trí và đặt chúng dựa vào một vách tường - cha nhận thấy mình
tránh không đưa mắt nhìn cả con rồng lẫn Thánh George. Chúng ta kéo tấm vải
nặng nề ra để Helen gấp lại. Trong suốt khoảng thời gian ấy, lúc nào cha cũng
căng tai lắng nghe từng tiếng động, ở đây và cả trong nhà thờ bên trên, đến độ
chính sự tĩnh lặng như bắt đầu gõ tưng tưng và kêu ong ong trong tai cha. Có
một lúc Helen bíu lấy tay áo cha, và chúng ta cùng lắng nghe, nhưng vẫn không
có gì động đậy.
“Khi chỉ còn chiếc hòm di hài nằm trơ trụi, chúng ta nhìn
xuống, run rẩy. Nắp hòm khắc một bức phù điêu đẹp đẽ - một vị thánh tóc dài,
một tay đưa lên như để ban phước, có lẽ đó là chân dung vị thánh tử đạo mà
chúng ta có thể tìm thấy nắm xương tàn của ông ở bên trong. Cha chợt nhận ra
mình đang hy vọng chúng ta sẽ chỉ tìm thấy một vài mảnh xương thánh, và sau đó
khép lại toàn bộ chuyện này. Nhưng tiếp sau niềm hy vọng đó là một sự trống
rỗng - không có thầy Rossi, không trả được thù, vẫn mất mát. Nắp hòm có vẻ như
được đóng đinh hoặc cài chốt, nên cha không thể cạy nó lên nổi. Trong lúc loay
hoay, chúng ta đã làm nghiêng nó một chút, và thật rùng rợn, một cái gì đó dịch
chuyển bên trong, va vào vách hòm. Quả thực, cái hòm quá nhỏ đối với bất cứ thứ
gì ngoại trừ xác một đứa bé, hoặc các bộ phận lẻ của cơ thể, nhưng nó rất nặng.
Một ý nghĩ khủng khiếp bỗng lóe lên trong đầu cha, rằng có thể cái thủ cấp của
Vlad rốt cuộc đã được đặt ở đây, dù giả thuyết đó lại làm nảy sinh nhiều vấn đề
chưa giải thích được. Cha bắt đầu đổ mồ hôi và tự hỏi liệu có nên quay lại tìm
một dụng cụ nào đó trong nhà thờ bên trên, dù không quá hy vọng là sẽ tìm được
thứ gì.
“ ‘Chúng ta thử đẩy nó xuống đất xem sao,’ cha nói qua hàm
răng nghiến chặt, và không biết bằng cách nào đó chúng ta đã cùng nhau đẩy được
cái hòm xuống nền đá yên ổn. Ở vị trí đó, cha mới nhìn thấy rõ hơn bản lề và
móc khóa trên nắp hòm, cha nghĩ vậy, thậm chí còn có thể dốc toàn lực để giật
tung nó lên.
“Lúc cha chuẩn bị thử làm vậy thì Helen buột miệng thốt ra
một tiếng la nho nhỏ. ‘Anh Paul, nhìn này!’ Cha vội quay lại và thấy khối đá
cẩm thạch bụi bặm nơi đặt hòm di hài không phải là một khối đặc; nắp của nó đã
lệch một chút vì nỗ lực di chuyển cái hòm của chúng ta. Cha không tin là lúc đó
mình còn thở nổi nữa, nhưng không nói một lời, chúng ta lại cùng hợp lực di
chuyển phiến đá cẩm thạch đó. Nó không dày, nhưng nặng trình trịch, cả hai
chúng ta thở hổn hển lúc dựa được nó vào vách tường sau. Phía dưới là một phiến
đá dài, bằng chiều dài của một người, cùng loại với đá nền và tường. Bức chân
dung trên đó cực kỳ thô sơ, chạm khắc trực tiếp vào mặt đá cứng - không phải là
gương mặt một vị thánh mà là của một người thực, một người đàn ông với gương
mặt khắc khổ, đôi mắt hình quả hạnh nhìn trừng trừng, mũi dài, ria mép rậm rịt
- một khuôn mặt tàn ác, cái mũ hình tam giác trên đầu chỉ càng làm cho gương
mặt đó trông tự mãn hơn, ngay cả khi nó chỉ là những đường nét thô.
“Helen lùi lại, môi trắng bệch dưới ánh nến, cha cố kiềm chế
để không túm lấy tay cô bỏ chạy lên cầu thang. ‘Helen,’ cha khẽ cất lời, nhưng
chẳng biết nói gì nữa. Cha nhặt lưỡi dao găm lên, còn Helen luồn tay vào đâu đó
trong bộ quần áo của mình - cha chưa bao giờ nhìn thấy là ở đâu - rút ra khẩu
súng nhỏ, đặt nó cách xa một cánh tay, gần sát tường. Rồi chúng ta thò tay dưới
mép và nâng tấm bia mộ lên. Được nửa chừng thì phiến đá trượt xuống. Lúc ấy cả
hai chúng ta đều run lẩy bẩy nên phiến đá dễ dàng tuột khỏi tay chúng ta. Chúng
ta nhìn xuống hình hài bên trong, mắt nhắm nghiền, nước da vàng bủng, môi đỏ
một cách dị thường, hơi thở nông và khẽ. Đó là giáo sư Rossi.”
Chú thích:
1. Tiếng Bungari trong nguyên bản, nghĩa là "Ảnh
thánh".
2. Tiếng Bungari trong nguyên bản, nghĩa là "Chúa Cứu
thế".
3. Tiếng Bungari trong nguyên bản, nghĩa là "Thế kỷ?
Nhiều thế kỷ?".
4. Tiếng Bungari trong nguyên bản, nghĩa là "Năm thế
kỷ".
5. Tiếng Bungari trong nguyên bản, nghĩa là "chính
trị".

