Khoảng trời mênh mông - Chương 09 - 10
CHƯƠNG 9
Cách Vida ba dặm về hướng Tây
Bắc, Montana
Ngày 30 tháng Ba năm 1918
Cậu Holt kính mến!
Mợ Ivy chắc không cần cầu
Chúa cứu rỗi linh hồn cháu nữa đâu. Ngày mai có lễ Phục Sinh, cháu sẽ đi lễ
buổi đầu tiên ở Vida. Còn điều này khiến mợ vui hơn nữa: Cháu sẽ ở lại cùng đan
lát tập thể với hội Lady’s Knitting Circle. Lại nói về chuyện đan lát: Cháu rất
muốn nhưng mấy ngón tay không chịu hợp tác gì cả. Nhưng ít nhất, cháu cũng ngồi
bên, cuộn len giúp mọi người.
Traft Martin, một người hàng
xóm, ngỏ lời muốn đưa cháu đến nhà thờ, nhưng cháu từ chối. Anh ta quản lí
trang trại của gia đình, một trong nhưng trang trại lớn nhất vùng. Anh Traft
đẹp trai đã dừng chân tại ruộng nhà cháu giúp nhặt đá những hai lần. Chỉ bấy
nhiêu thôi, tội lỗi kinh khủng nhất cũng được đặc xá. Tuy nhiên, cháu đã nguyện
trao tim chốn khác: trao cho 320 mẫu đất Montana. Có lẽ sau tháng Mười một, khi
được chính thức công nhận quyền sở hữu đất, cháu mới dám nghĩ đến mấy anh chàng
hay nịnh đầm.
Cháu đã đọc xong cuốn Cẩm
Nang Canh Tác 1907 của Campbell. Bây giờ, cháu đang đọc sách nuôi dạy gà vịt
mượn của Jim Gà Trống. Cháu muốn chuẩn bị sẵn kiến thức trước khi đem gà về
nuôi. Có thể nói, đề tài đọc sách của cháu đã thay đổi đáng kể. Mới ở đây có ba
tháng mà từ đầu đến chân cháu đã giống hệt nông dân. Chẳng bao lâu nữa, lời ăn
tiếng nói của cháu cũng rặt một thứ ngôn ngữ của nhà nông đích thực.
Thứ bảy trước lễ Phục Sinh,
tôi dọn dẹp nhà cửa. Đầu tiên, tôi rửa chén bát của bữa điểm tâm, tiếp theo là
chà ván sàn. Tôi dùng nước lau nhà dội rửa sạch hai bậc gỗ trước cửa. Còn vài
giọt cuối cùng, tôi vảy nốt vào mấy hộp thiếc có gieo hạt sẵn bày ngay cạnh
cửa. Tôi bất giác mỉm cười khi nghĩ đến bụi hoa hướng dương nở rộ trước nhà vào
tháng tám. Sau một ngày cặm cụi lau dọn nhà, chuẩn bị món thịt viên và đậu li
ma cho bữa tối, tôi kéo cái chậu giặt to và nặng từ kho vào nhà, chậm chạm đổ
từng nồi nước ấm từ bồn trữ nước trên bếp vào chậu. Sau khi tắm thật kỹ như mọi
tối thứ bảy trước, tôi cuốn lô cho tóc. Từ khi rời Iowa đến giờ, đây là lần đầu
tiên tôi săn sóc bản thân nhiều như vậy. Bởi đã quyết định lễ Phục Sinh là dịp
sửa sọan đôi chút.
Sáng hôm sau, Plug rất ga
lăng. Nó nhẫn nại đưa tôi len lỏi theo nhiều dải đường mòn lầy lội. Tôi xếp
nhiều hũ mứt mận dại cậu Chester làm sẵn vào giỏ mang theo để cùng chung vui
trong bữa ăn sau lễ. Chuyến đi đến thị trấn dễ chịu và yên bình. Nếu có bạn
đồng hành chắc còn vui hơn, nhưng khi tôi rủ chị Perilee, chị lắc đầu:
- Lúc này đến đó chỉ tổ cãi
nhau. Vả lại, chị phải đưa bọn trẻ đến lớp học ngày Chủ nhật.
Tuy nhiên, chị cương quyết
giữ bí mật lý do không đi cùng tôi. Thế nên, tôi đành đến thị trấn một mình.
Khi gần đến nơi, tiếng nhạc
nhã vẳng đến tai tôi. Một nỗi nhớ nhung tràn ngập hồn. Kể từ buổi lễ Chủ nhật
cuối cùng được đi với Charlie đến nay, tôi không được nghe thánh ca.
Một chị trẻ măng, sau này tự
giới thiệu là Grace Robbins, chào tôi:
- Chào. Rất mừng được gặp em.
Chị khoác tay tôi dẫn vào.
Chúng tôi, cùng ngồi cạnh nhau trên ghế băng. Khi nhạc công ngừng chơi, chị ghé
tai tôi thì thầm:
- Ăn xong, tụi mình cùng đan
một lát. Đan áo cho chiến sĩ, em ạ. Nói đến đây, khuôn mặt, ánh mắt chị hiện
lên niềm tin và sự tự hào.
Bà Martin, lộng lẫy trong
xiêm áo màu vàng, nghiêm khắc ngăn tiếng thì thào của Grace bằng cái liếc mắt
sắc như dao. Grace nhăn nhó khó chịu nhưng cũng nín khe.
Buổi lễ kết thúc, sau khi bắt
tay cha Tweed và ăn tối cùng giáo đoàn, đàn bà con gái có mặt chia làm hai
nhóm. Nhóm thứ nhất, dọn rửa bàn ghế, chén dĩa sau bữa ăn. Nhóm thứ hai, nhóm
Grace lôi tôi vào, ngồi quanh bàn lấy đồ đan lát ra.
Grace lục lọi chiếc giỏ lớn:
- Chị có dư một đôi kim đan
và một cuộn len đây.
Nói xong, chị đưa tôi kim đan
và len cho tôi rồi bảo tôi cầm lấy. Tôi khổ sở bắt cho đủ mũi ban đầu. Vừa làm
tôi vừa nhớ đến đôi tất đan mãi mới xong đã gửi cho Charlie. Lỗ thủng trên hai
chiếc tất ấy còn nhiều hơn lỗ trên bánh pho mai tổ ong. Tôi nhìn quanh căn
phòng. Kim đan trong tay người ta va vào nhau canh cách, tay họ đan nhanh như
gió. Còn kim của tôi cứ trầy lên tr xuống, sợi len xơ hết.
Grace nhìn tôi thương hại.
Chị vừa kéo mạnh cuộn len để có thêm đọan sợi không bị kéo căng:
- Em nghĩ sao về chương trình
tiết kiệm bằng cách tận dụng ánh sáng ban ngày?
- Em nghe họ bảo như thế sẽ
tiết kiệm than. Có hai mươi quốc gia cùng tham gia chương trình cơ mà.
Không hiểu ở bên Pháp,
Charliecó dậy sớm hơn bình thường một giờ không nhỉ? (Tôi thầm nghĩ).
Một bà béo, tôi chưa hề quen
biết, cằn nhằn:
- Nhưng ai lại đi bắt đầu
chiến dịch vào đúng lễ Phục Sinh cơ chứ. Bà Schillinger phàn nàn:
- Mong gì ở Tổng thống Wilson
hả bà? Người gì mà lạnh lùng như tảng nước đá. Mà này, cha ông ta là mục sư của
giáo hội Scotland đấy bà ạ.
Grace nhăn mặt nhìn món đồ
đang đan:
- Hình như chị vừa đan lỗi.
Bà Martin phán:
- Nghĩa vụ của người dân ái
quốc chúng ta là hưởng ứng chương trình này và nhiều qui định khác để chứng tỏ ta
hết lòng vì tiền tuyến.
Grace mỉm cười tự hào:
- Mọi người có biết tuần
trước anh cháu vừa lên đường tòng quân chưa? Chắc bây giờ anh ấy đang trên
đường đến trại Lewis.
Môi bà Martin giật giật.
Không còn nghi ngờ gì nữa, Grace vừa xoáy vào đúng điểm yếu của bà. Bà hằm hè:
- Không nhất thiết phải mặc
áo lính mới được gọi là phụng sự tổ quốc.
Nghe vậy, tôi đâm thắc mắc
không hiểu sao giờ này Traft vẫn chưa nhập ngũ. Công bằng mà nói, tôi biết
nhiều người có đăng ký theo đúng qui định nhưng người ta chưa kêu đến số của
họ. Tất nhiên, Charlie không chờ người ta đến bắt quân dịch. Ngày đó, anh tình
nguyện nhập ngũ.
Giọng bà Martin cho thấy cơn
giận dữ của bà ta đang leo tha
- Chẳng hạn con trai tôi
phụng sự Hội Đồng Tự Vệ. Ông Nefzger trong ban đăng ký nghĩa vụ quân sự. Lại
còn…
m vực của bà càng lúc càng
cao hơn, chói tai hơn. Vẻ lấm lét của Grace ngày càng rõ. Bà Schillinger vội đỡ
lời:
- Leona này, hình như chị có
tin mới cần thông báo cho mọi người biết phải không?
Bà Martin trịnh trọng chỉnh
tư thế làm tà áo lụa màu vàng kêu sột sọat, trước khi quay sang bà Schillinger:
- Theo tôi, tốt nhất chị em
ta nên biết trước tin này (Bà ta ngừng lời như thể chờ mọi người van xin mình
tiết lộ thông tin. Thấy chẳng ai xin xỏ gì, bà đành nói tiếp). Cha Tweed và tôi
cùng đồng thuận rằng thành lập ca đoàn cho nhà thờ Vida lúc này là thích hợp
nhất. Cha giao tôi phụ trách việc này.
Grace nhìn tôi rồi ngán ngẩm
đảo mắt lên trời.
- Sáng kiến đấy.
Nhìn vẻ mặt Grace, tôi vừa
nói vừa cố nín cười. Về lĩnh vực hợp xướng, giáo đoàn này hơi lộn xộn, chắp vá.
Ca đoàn mới sẽ khiến bầu không khí trong các buổi lễ thêm tươi vui. Nhân đây,
tôi sẽ rủ chị Perilee cùng tham gia.
- Cháu xin tiến cử một người.
Bà Martin nhìn tôi từ phía
trên gọng kính:
- Cháu cũng biết hát ư? Tôi
bật cười:
- Trời đất. Dạ không phải
cháu. Người cháu vừa nói hát hay hơn cháu nhiều. Grace phát nhẹ vào tay tôi:
- Hattie à, bò nhà chị còn
hát hay hơn em. Mọi người cười ồ. Tôi cũng cười theo:
- Ở nhà thờ gần nơi cũ cháu
ở, cháu buộc phải rời ca đoàn thiếu nhi vì giọng hát nghe như mèo gào.
Bà Martin chất vấn:
- Nếu chúng tôi không có vinh
dự được cháu góp mặt, thì cháu định đề nghị ai đây?
Tôi hạ đôi kim đam xuống:
- Người này có giọng hát hay
như thiên thần, là chị Perilee Mueller đấy ạ.
Cả phòng chợt im phăng phắc. Grace
lừ mắt nhìn tôi nhưng tôi không hiểu chị muốn nói gì. Cố xoa đi bầu không khí
im lặng nặng nề, tôi tiếp tục:
- Cháu có tả cũng không bằng
các cô các bác nghe chị ấy hát một lần. Còn nữa, chị Perilee thuộc gần hết mọi
bài thánh ca.
Bà Martin rút khăn tay lau
cặp môi mỏng dính. Bà ta cất giọng run run khiến người ta không khỏi e ngại là
bà sẽ ngã lăn ra bất tỉnh nhân sự trước khi kịp nói hết câu:
- Tôi không muốn động chạm
đến ai, nhưng Perilee, hứ, Mueller không hề đi lễ.
Tôi cải chính:
- Chị ấy chưa đi đấy thôi.
Bà Martin phản đối:
- Tôi cho rằng đấy không phải
là ý hay.
Máu trong huyết quản tôi sôi
sình sịch như món thịt gà hầm lá xô thơm.
- Sao lại không ạ.
Grace cố lái sự chú ý của tôi
sang hướng khác.
- Hattie này, sợi của em rối
rồi. Để chị gỡ cho.
Chị cầm lấy đôi kim đan trong
tay tôi. Bà Martin đằng hắng:
- Theo tôi, vấn đề của cô bé
này không chỉ là cuộn sợi rối (giọng bà ta trơn tuột). Brooks này, lúc nào bình
tâm hơn, ta chắc cháu sẽ đồng ý rằng Perilee Mueller không phải là sự bổ sung
thích hợp cho ca đoàn này. (Bà ta kéo mạnh sợi từ cuộn len màu xanh trong
lòng). Tất nhiên, cháu còn trẻ người non dạ lắm. (Bà ta chiếu ánh mắt lạnh lùng
về phía tôi). Năm nay cháu bao nhiêu tuổi?
Kinh ngạc, tôi buột miệng:
- Mười sáu ạ. Nhưng đến tháng
Mười này cháu mười bảy rồi.
- Và cháu đang chứng minh
quyền sở hữu đất. Một mình. (Bà Martin cất món đồ đang đan vào túi, đứng lên
cầm áo khoác). Thú vị thật. (Những lời bà nói như mũi dao nhọn xoáy vào tim
tôi) Hội Đồng Tự vệ của hạt chắc cũng thấy chuyện này thú vị lắm đây.
Ruột gan tôi lộn tùng pho.
Tôi xoay người định tiến về phía bà:
- Bà định nói gì?
Grace nắm tay tôi, thì thào
sát bên tai:
- Đừng!
Tôi cay đắng nuốt khan, xô
ghế đứng dậy:
- Xin thứ lỗi. Cháu còn nhiều
việc phải làm.
Tôi chào mọi người ra về trước
sự ngạc nhiên của họ. Đường từ Vida về nhà dài ba dặm trường, vậy mà tôi không
nhớ mình đã đi qua những đâu. Tôi thẫn thờ ngồi trên lưng Plug như bao bột vô
tri. Một bài báo trời tờ Herald có kể lính tráng hiện đang mắc chứng váng đầu
bởi đạn pháo. Đó chính xác là cảm giác của tôi lúc này: Thật sự choáng váng.
Tôi dẫn Plug vào kho, vuốt ve
an ủi nó, rồi thưởng cho nó nắm yến mạch. Cặp môi mềm mại của chú ngựa hiền
lành chạm nhẹ vào lòng bàn tay tôi khiến lòng tôi dịu lại. Bà Martin lầm chăng?
Hội Đồng Tự vệ có liên quan gì đến trang trại của tôi? Tuổi tác của tôi có dính
dáng gì đến quyền sở hữu trang trại này? Cậu Chester cho tôi quyền thừa hưởng
đất đai của cậu. Cho chính tôi chứ không phải ai khác.
Tâm hồn vơi bớt lo âu, tôi vỗ
về Plug, thậm chí còn tặng Violet một câu chào âu yếm.
Khi đến gần nhà, tâm trạng
thư thái vụt biến thành nặng nề, chẳng khác nào một mẻ bánh tôi vừa nhào. Cửa
trước mở hé. Tôi rón rén bước lên, gõ nhẹ vào cửa:
- Cô Leafie đấy à?
Có lẽ cô vừa ghé chơi. Thỉnh
thoảng, trên đường đi đâu đó, cô vẫn ghé thăm tôi.
- Cô có trong ấy không? Không
có tiếng trả lời.
Tôi bước vào trong. Không một
bóng người. Nhưng rõ ràng có người vừa ở đây… và để lại thứ gì đó trên bàn. Tôi
cầm lên.
Hình như là truyền đơn: “Hãy
tham gia Liên minh Ái quốc Montana. Liên minh khiến giặc Đức ở hậu phương phải
khốn đốn, ngăn ngừa xung đột giai cấp, quảng bá tinh thần ái quốc chân chính.
Bất cứ ai, dù là nam giới, phụ nữ hay trẻ em Montana trung thành với tổ quốc
đều có thể tham gia
Tôi sục sạo quanh nhà, kiểm
tra số tài sản ít ỏi. Không có dấu hiệu đồ đạc bị xáo trộn, chỉ có tâm trí tôi
bị xào xáo đến rối bời.
CHƯƠNG 10
Ngày 2 tháng Tư năm 1918
Cách Vida ba dặm về phía Tây
Bắc, Montana.
Charlie thân mến!
Hy vọng sắp tới em có quà gửi
anh. Đừng lo, em không gửi thêm bít tất nữa đâu. Em mừng vì tất em đan khiến
anh và bạn bè vui đến thế. Để bù lại tài đan lát không mấy điệu nghệ, em đang
học may chăn ghép. Chị Perilee hài lòng khi thấy em học hành tấn tới. Nói thật
là chính em cũng mừng chứ chưa nói ai. Chắc anh cũng đoán được rằng em đang
ghép nhiều mảnh vải đẹp để may thành chăn cho anh. Em gọi nó là Cánh Quạt Của
Charlie. Một mẫu cải tiến từ mẫu Cối Xay Gió của em. Thật vinh dự thay vì anh
đã được công nhận là thợ máy. Chăn của em không che mưa được nhưng chắc sẽ giữ
ấm cho anh.
Em chơi cờ cũng lên tay lắm
nhé. Tuần trước, Jim Gà Trống có ghé qua đấu thêm một ván. Em phòng thủ rất
khá, dù cuối cùng phần thắng vẫn thuộc về Jim. Em họ của Jim ở Lewiston có báo
một tin không vui. Ở đó, người ta kéo nhau vào một trường cấp ba, lôi hết sách
giáo khoa tiếng Đức ra đốt thành tro. Chỉ có phép lạ mới cứu ngôi trường không
bốc cháy. Một giáo viên của trường buồn quá đã bỏ nhiệm sở và dọn nhà đi nơi
khác.
Em đang cố tập trung hoàn
toàn vào mục tiêu chính: chứng minh quyền sở hữu đất. Anh Karl chỉ em cách kiểm
tra đất xem đã thích hợp với việc gieo hạt chưa. Jim Gà Trống cũng thích cách
làm này. Anh Karl vốc nắm đất trên tay bóp mạnh. Đất của em còn rắn lắm, hạt
giống gieo xuống sẽ thối mất. Nhưng bác Nefzger bảo đừng lo, chờ đến giữa tháng
sau hãy gieo hạt. Nhưng em hy vọng không phải chờ lâu đến thế.
Đọc báo cáo canh tác của em,
anh cókhông? Thỉnh thoảng em cũng buồn cười vì bây giờ mình lại lo đến héo
người chuyện đất đai, thời tiết. Nhưng lo thế không phải ích kỷ đâu nghe. Bây
giờ, làm ruộng được coi là yêu nước nồng nàn đấy nhé. Người ta khuyến khích
chúng em trồng càng nhiều càng tốt. Thử nghĩ mà xem! Biết đâu lúa mì từ ruộng
em lại đến được bàn ăn của chiến sĩ thì sao.
Tuy nhiên, em hy vọng anh
không phải chờ ăn lúa em trồng. Mong trước khi em thu hoạch vào tháng Tám, anh
đã ở nhà từ lâu rồi.
Bạn anh
Hattie Inez Brooks
Tôi nhìn cuốn sổ tay chằm
chằm. Con mối nào bén mảng đến gần sổ này chắc sẽ phải chết đói. Tôi nhớ chuyện
thánh Moses đưa người Do Thái băng qua sa mạc. Thấy họ đói, Thượng đế phải làm
mưa lương thực từ trên trời rơi xuống. Tôi ngắm mãi bầu trời xa tít tắp của
Montana. Chẳng có dấu hiệu nào cho thấy sắp có mưa lương thực cả. Tôi kể lể
hoàn cảnh mình khi cầu kinh tối như thường lệ: “Lạy Chúa lòng thành, xin cho con
chút thu nhập giúp con thấy được ngày thu hoạch. Dù con không có gì đặc biệt,
nhưng vẫn rất cảm kích sự cứu giúp của Người”. Tôi nóng lòng được chứng kiến
lần nữa cách hành xử bí ẩn của Chúa.
Không ý tưởng nào chợt đến,
chẳng gởi ý nào như ánh chớp lòe vụt ngang bầu trời, tôi đành quay sang làm nốt
việc vặt trong kho. Mùa xuân đang giục mùa đông nhường chỗ cho mình. Đồng cỏ
lốm đốm hoa nghệ tây tím, hoa chuông vàng, và những bông cỏ đuôi chồn đẹp đến
nỗi mỗi khi đi qua chúng, tôi không thể bỏ qua, phải cúi xuống vuốt ve. Tôi
đang định hái hoa đồng nội thành bó lớn mang tặng chị Perilee. Dù ý tưởng ấy có
hấp dẫn đến mấy nhưng tôi chưa thực hiện ngay được vì dãy cọc rào vẫn cứ “réo
tên tôi”. Tôi vơ đống dụng cụ, ra ngoài tiếp tục công việc.
Một con ngựa quen thong dong
đi về phía tôi, trên lưng ngựa cũng là bóng dáng khá thân thuộc. Traft Martin
tự nhận trách nhiệm lấy thư của tôi từ chỗ Bub Nefzger tận Vida mang về. Nhờ
đó, tôi đỡ phải đến thị trấn lấy, nhưng tôi ước sao anh ta đừng làm vậy.
- Cô làm nhanh thật đấy.
Anh ta trườn từ lưng Rắc Rối
xuống, chân mang đôi giầy cao cổ đã sờn nhẹ nhàng chạm đất.
Tôi đóng thêm cây đinh nữa.
- Chẳng biết bao giờ mới xong
đây.
Traft bỏ mũ, treo lên đầu yên
ngựa. Nhúm tóc sau đầu anh ta hiện lên như dấu hỏi. Mùi thông nồng ấm có trong
dầu vuốt tóc thoảng đến bên tôi:
- Muốn tôi đỡ tay cho cô một
lát không?
Cánh tay van nài tôi đồng ý.
Nhưng trái tim bướng bỉnh có câu trả lời khác:
- Không, đừng. Cảm ơn!
Traft vỗ nhẹ túi áo:
- Tôi mang thư về cho cô này.
Cả mấy tờ báo nữa. Tôi biết cô thích đọc báo lắm mà.
Tôi tháo găng tay:
- Cảm ơn anh!
Traft ngần ngừ, như thể muốn
nói gì đó. Nhưng rồi anh cũng trao cho tôi bó giấy:
- Lại một bức thư nữa từ
Pháp.
- Của Charlie, bạn tôi đấy.
Tôi dùng ngay giọng của anh
ta để trả lời, rồi nhét bó giấy vào giỏ thức ăn.
- Thân không?
Không hiểu sao câu hỏi của
Traft lại khiến ruột gan tôi lộn nhào.
- Chúng tôi quen nhau lâu
rồi. Anh ấy cho tôi con mèo.
Traft gật mạnh đầu, như thể
muốn đưa mọi thông tin trong óc về đúng vị trí đã được sắp xếp.
- Thôi, tôi phải làm tiếp
đây.
Traft trở lại với con ngựa:
- Vậy chào Hattie nhé.
- Chào anh.
Tôi quai búa ngay khi anh ta
còn chưa đặt chân lên bàn đạp. Traft chợt dừng lại:
- À quên, còn chuyện này nữa.
Vũ hội. Ở Tòa thị chính tại Vida. Không biết cô có định đi không?
- Tôi không biết nhảy.
Tôi như nghe tiếng phản đối
của mợ Ivy the thé bên tai: “Nhảy nhót, chuốc rượu nhau, rồi bắt đầu nhẹ dạ với
người ta”.
- Thế nếu đó là nghĩa vụ của
người yêu nước thì sao nào? Vũ hội được tổ chức để gây quỹ cho cuộc vận động
mua Trái phiếu Tự do đấy.
Vẫn còn bực bội vì thông điệp
bỏ lại trên bàn, nghe từ yêu nước, tôi nghiêm mặt:
- Chắc cũng giống tham gia
Hiệp đoàn Ái quốc chứ gì.
Traft giật nảy mình:
- Gì cơ?
Tôi bèn kể về mẩu giấy nhắn:
- Tôi không hiểu ý nghĩa của nó.
Traft bối rối nghịch giây
cương. Trông anh ta như định nói thêm điều gì, nên tôi đứng đợi. Traft vuốt ve
cổ con ngựa:
- Có bao giờ cô nhận xét về
cuộc chiến, khiến có người nghĩ cô chống lại chủ trương tham chiến chăng?
- Chưa bao giờ tôi có hứng
bàn về nó với bất cứ ai.
Ngoại trừ Jim Gà Trống, nhưng
Traft không cần biết chuyện ấy làm gì. Traft lại ngần ngừ:
- Thế cô… Hattie này, cô cũng
biết hồi này người ta hay khắt khe với nhau lắm.
Tôi lắc chiếc búa trong tay:
- Nếu có người thấy tôi, chắc
họ chỉ thấy toàn hành động phản quốc như nhặt đá, làm hàng rào chẳng hạn.
Tôi cười gượng gạo. Giọng
Traft dịu xuống còn nhanh hơn ngọn lửa phụt tắt.
- Đừng coi nhẹ những việc ấy.
- Anh thử kể vài việc tôi làm
dễ bị người khác nghi là phản quốc xem.
Những ý nghĩ ngầm được chuyển
tải trong cuộc chuyện trò như dòng nước đã đổi chiều. Tôi cảm giác mình sẽ bị
xoáy nước lôi xuống tận ất cứ lúc nào. Dù có quyến rũ đến đâu, Traft vẫn đứng
đầu Hội Đồng Tự vệ. Vẫn là con trai của mẹ anh ta.
- Tôi biết chuyện này khó
nghe với cô, nhưng tôi sẽ nói thẳng. Người ta đang bàn tán về Karl Mueller.
Suýt nữa tôi đánh rơi cái
búa:
- Cái gì cơ? Họ nói gì?
- Cô có nghe chuyện Verne
Hamilton bị bắt chưa? Hắn bị cáo buộc phát ngôn kích động làm loạn khi bảo rằng
hắn sẽ không tòng quân, rằng nếu muốn bắt quân dịch thì hãy bắn què hai chân
hắn trước đi đã.
Tôi gật đầu. Trên báo đúng là
có tin ấy.
- Hôm trước, khi nói về Bub,
Karl bảo người ta có quyền ăn nói kiểu ấy. Bảo là có quyền tự do ngôn luận, và
nhiều câu đại loại thế.
- Chẳng nhẽ không phải sao?
Traft nhìn thẳng vào mắt tôi:
- Cô Hattie này, đây là thời
chiến. Hơn nữa, Karl người Đức, là kẻ thù.
- Anh ấy không phải kẻ thù.
Anh ấy là người tốt nhất trên đời khiến ai cũng muốn được làm quen.
Traft mỉm cười, nhưng đó là
nụ cười giống mợ Ivy. Mợ thường cười như vậy mỗi khi bảo tôi rằng đòn trừng
phạt tôi sắp phải hứng chịu chỉ làm tôi tốt đẹp hơn lên. Traft nhún vai:
- Tôi không muốn làm cô bực
bội. Sở dĩ tôi nói ra chuyện ấy vì nghĩ chắc cô cũng muốn biết. Có thể bọn trẻ
con chơi khăm cô đó. Ý tôi là tờ thông báo ấy mà.
Nếu anh ta định nói lảng sang
chuyện khác, mẹo ấy không đi đến đâu.
- Anh Traft, Karl là bạn tôi.
Traft gật đầu:
- Tôi biết. Về điểm ấy, anh
ấy quả thật may mắn.
Anh ta lấy mũ trên yên cương,
đội thật ngay ngắn trên đầu:
- Về chuyện vũ hội, tôi không
nói đùa đâu. Nó được tổ chức vì sự nghiệp lớn đấy. Nếu cô đi, tôi hy vọng cô sẽ
cho phép tôi khiêu vũ với cô một bài.
Nói đến đây, Traft mỉm cười,
nụ cười ấm áp, chân thật đến nỗi tôi phải nghĩ rằng vừa nãy tôi chỉ cáu bẳn vô
cớ. Tôi cũng mỉm cười đáp lễ:
- Mấy ngón chân anh sẽ phải
hối tiếc đấy. Để được gọi là biết nhảy, tôi còn phải học nhiều.
- Nhưng tôi là thầy giáo
giỏi.
- Thôi, tôi làm tiếp đây.
Muốn giấu hai má đỏ bừng, tôi
quay nhanh sang hàng rào.
- Gặp lại anh ở vũ hội nhé.
Chỉ bằng một động tác thành
thạo, Traft đã ngay ngắn trên lưng con Rắc Rối. Cả hai quay đầu đi thẳng.
Tim tôi đập thình thịch theo
nhịp phi nước kiệu của con tuấn mã. Choáng váng, tôi sờ soạng sau lưng tìm chỗ
dựa. Thấy hòn đá bằng phẳng làm thuyền, tôi ngồi bệt ngay xuống. Đứng bên người
ấy như chơi trò thăng bằng trên dây trong rạp xiếc. Tôi hít thở sâu vài lần để
nhịp tim chậm lại. Tất nhiên, anh ta nói không sai về tờ truyền đơn. Đúng là
trò chơi khăm của con nít. Và thực tế, tôi phải biết ơn anh ta vì đã kể chuyện
Karl. Giờ tôi có thể gặp Karl nói chuyện, nhắc anh ăn nói cẩn thận hơn khi lên
thị trấn. Biết đâu, Traft và tôi giống nhau nhiều hơn tôi tưởng. Những việc gì
Traft cho là quan trọng, anh ta cũng làm tới cùng, chẳng hạn như trang trại nhà
anh và chuyện quốc gia đại sự. Còn tôi, dù mợ Ivy đã nhiều lần cố trị cho tiệt
nọc cũng vẫn khăng khăng giữ cái nết khó bảo.
Tôi mơ mình đang trong vũ
hội, cố hết sức để không dẫm lên chân Traft. Đảm bảo chỉ sau đúng một bài, anh
ta sẽ phải tìm bạn nhảy khác. Nếu thấy tôi trong tay anh chàng quyến rũ này
cùng theo điệu nhạc du dương, Mildred Powell sẽ ra sao? Chị ấy sẽ đứng ngồi
không yên chăng? Nhớ buổi vũ hội sau lễ tố nghiệp phổ thông cơ sở ngày ấy,
Mildred Powell bảo tôi: “Hattie này, em mặc giản dị đến vũ hội thế này lại hóa
khôn đấy”. Mấy người đứng vây quanh chị ta cười ồ lên đồng tình. Tôi đã về ngay
lúc đó nếu không có Charlie, người bạn thân thiết bấy lâu, bước lên mời tôi một
điệu van. Tôi chắc chắn hai bàn chân anh chỉ muốn rút lại lời mời, nhưng Charlie
không hé răng về sự vụng về của tôi. Anh chỉ bảo:
- Em mặc áo xanh trông xinh
lắm.
Nhớ đến Charlie tốt bụng, tôi
thở dài. Quay sang nhìn dãy cọc chưa có dây kẽm, tôi thở dài lần nữa.
Tôi cầm búa làm tiếp cho đến
khi không thể giơ búa lên được nữa mới thôi. Sau đó, tôi mải mốt ăn trưa bằng
thức ăn mang theo trong giỏ, nhấp từng ngụm nước giếng trong lành đựng trong hũ
bằng thủy tinh. Chỉ cần tưởng tượng thêm một chút, tôi đã đắm mình trong giấc
mơ được uống soda dâu tây mua từ tiệm Chapman’s Drug ở Arlington, hay nước thổ
phục linh mát lạnh có bán ở tiệm cậu Holt. Chỉ cần tưởng tượng, ta cũng có thể
biến bữa trưa với bánh kếp nguội ngắt, một quả táo dập, và một nắm trái cây khô
thành bữa ăn đậm đà hương vị. Tôi phủi sạch tay trước khi giở gói thư. Tôi để
dành báo làm món tráng miệng sau khi ăn tối và làm xong việc nhà.
Thư của Charlie thật ngắn
ngủi. Cuối cùng, anh cũng báo có nhận được thư tôi. Anh còn kể đang làm ca hai
mươi bốn tiếng một ngày ở sân bay. Cuối thư, anh viết:
Quanh đây, người người thay
nhau ngã gục, nhưng vì bệnh tật thì nhiều, vì giao tranh thì ít. Trước nay, đơn
vị anh phòng bệnh rất hiệu quả, nhưng đến giờ phải thua bệnh cúm Tây Ban Nha
đang hoành hành. Dịch bệnh lợi hại không kém gì giặc Đức. Hôm qua, nhóm anh gặp
một đoàn thương binh bị mù vì khí độc ipêrít. Người này đặt tay lên vai người
kia, họ vừa đi vừa vấp ngã như đàn voi bị xiềng chân vậy.
Đoạn kế tiếp bị dao kéo của
đội kiểm duyệt cắt bỏ. Tôi đọc tiếp:
Anh gặp ba người quê Montana,
cụ thể là ở Great Falls. Nghe nói sẽ được tham gia trận bóng chày sẽ tổ chức
nay mai, họ háo hức lắm. Anh định đăng kí chơi để cho họ biết tài nghệ dân Iowa
mình!
Bạn thân (đang rất cô đơn)
Charlie
Tôi thoáng rùng mình khi gấp
lá thư trong tay. Tiết trời mùa xuân như vừa lạnh đi đến vài độ. Lúc nhập ngũ,
Charlie hăng hái biết bao. Anh sắp cứu cả nhân loại kia mà! Còn tôi, khi nhận
được thư cậu Chester cũng hăng hái không kém vì sắp bỏ được mợ Ivy mà đi. Theo
tôi, Charlie và tôi đều có cùng tâm trạng. Cả hai cùng đều quyết tâm làm thứ
mình cho là anh hùng, cao đẹp. Hùng dũng và cao đẹp chắc là có, nhưng trước hết
ta phải đào bới, khua khoắng, cào cấu trong bùn lầy, trong đau khổ, trong sầu
não mới tìm được. Hoặc cứ cho là mình sẽ tìm được.
Vừa với tay lấy thư cậu Holt,
tôi vừa lắc đầu cố xua đi suy nghĩ ấy. Thư khá dầy dặn. Cậu Holt có bao giờ
viết thư dài đâu. Chắc cậu gửi kèm một bài báo hay. Mấy thư trước, cậu cũng làm
thế.
Tôi xé phong bì. Một mẩu giấy
nhỏ rơi xuống đất. “Thù lao cho tin bài của cô Hattie Inez Brooks: 15 đô la”.
Ngân phiếu ư? Tôi cố nhìn cho kỹ. Tờ séc gửi từ tòa soạn báo Arlington News.
Tôi vội đọc thư cậu mong có lời giải thích:
Hattie yêu quí!
Đọc thư cháu thá thúvị, dí
dỏm quá, cậu bèn đưa ông George Miltenberger, tổng biên tập tờ thời báo
Arlongton cùng đọc. Ông cũng đồng ý với cậu rằng, những bài viết về cuộc sống
trang trại hay và sống động như thế sẽ khiến nhiều độc giả quan tâm. Trong thư
của tổng biên tập (cậu có gửi kèm), bày tỏ hy vọng cháu sẽ viết thêm nhiều bài
như thế cho báo. Mong cháu đáp ứng được nguyện vọng ấy của tòa soạn.
Thương cháu nhiều
Cậu Holt
Tôi mở nhanh lá thư của ông
Miltenberger. Ông đề nghị nếu tôi tiếp tục viết bài đăng báo, cho tới lúc chứng
minh được quyền sở hữu đất vào tháng Mười một, tòa soạn sẽ trả tôi 15 đô la mỗi
tháng.
- Plug ơi, hay quá!
Tôi làm con ngựa giật mình.
Lương ăn đã rơi từ bầu trời Montana xuống tay tôi, ít nhất là dưới hình thức
bài viết về cuộc sống dưới vòm trời ấy.
- Tiền mặt hẳn hoi nhé!
Tôi bấm đầu ngón tay tính
tháng:
- Tư, năm, sáu, bảy, tám,
chín, mười, mười một… Plug ơi, đúng tám tháng. Tám nhân mười lăm là… (tôi tính
thật nhanh) một trăm hai mươi đô la! (tôi vươn tay về phía bầu trời xanh bao la
vô tận) Tạ ơn Thượng Đế, đúng là không ai đoán trước được cách hành xử bí ẩn
của Ng
Tôi cẩn thận cất thư và tờ
séc vào giỏ thức ăn. Suốt chiều hôm ấy, với từng nhát búa đóng đinh, tôi lại
thêm câu chữ cho câu chuyện hàng tháng sắp gửi cho ông Miltenberger. Mười lăm
đô la một tháng! Cho tới hẹn tháng Mười một! Tôi sẽ để dành 37,75 đô la để trả
phí hoàn tất hồ sơ. Còn các chi phí khác, tôi sẽ chi trả bằng tiền tiết kiệm.
Còn bây giờ, có lẽ tôi nên mua đôi ủng mới, thật vừa chân, không giống ủng cũ
của cậu Holt. Và đặt mua báo Woft Point Herald dài hạn nữa. Cả báo lẫn ủng chỉ
tốn 7 đô la. Niềm vui quá lớn khiến tôi không sao kiềm chế nổi:
- Plug này, bọn mình chắc sẽ
thành công thôi.
Từ lúc ấy đến khi kết thúc
đoạn hàng rào phải hoàn tất trong ngày, cây búa trong tay tôi nhẹ tựa lông
hồng.
Khi đóng cây đinh cuối cùng,
tôi dọn dẹp dụng cụ, cảm giác đang được trôi bồng bềnh trên thảm hoa đồng nội:
- Plug này, lúc này các triệu
phú đang làm gì nhỉ?
Cảnh chị Perilee, tay chỉ
chiếc xích đu giá ba đô la trong catalog, miệng hỏi: “Cái này dùng cho em bé có
tiện không nhỉ?” vụt hiện trước mắt tôi. Anh chị đang tiết kiệm tiền mua máy
kéo mới, thế nên thể nào chị cũng gạt bỏ nhu cầu riêng.
Tối ấy, khi tôi vắt sữa cho
Violet, nó cáu kỉnh chưa từng thấy. Như thể nó biết bàn tay ích kỷ nào đó đang
lấy sữa của nó. Cáu tiết, tôi phát mạnh sườn Violet. Đúng là quỷ chứ chẳng phải
bò. Nó tưởng mình là thiên sứ mang thông điệp từ thiên đàng đến cho tôi chắc?
- Thôi được. Tao đành dùng
ủng cũ vậy. Tiền mua ủng, tao dành mua xích đu cho chị Perilee.
Violet giương cặp mắt nâu
tròn nhìn tôi… rồi giẫm mạnh vào bàn chân phải của tôi. Thượng đế ôi! Sao Người
phạt con nặng quá thể!

