Bắt Trẻ Đồng Xanh - Chương 04 - 05
4
Chẳng biết làm gì, tôi cũng đứng dậy, theo nó vào phòng
tắm., bốc phét dăm ba câu trong lúc nó cạo mặt. Hơn nữa, ngoài hai đứa, trên
này chẳng còn ai, bởi bọn kia đều đang ngồi ngoài sân bóng, chưa về. Nóng như điên,
cửa sổ phòng nào cũng hấp hơi. Dọc tường có lắp một dãy chừng mười cái bồn.
Stradlater đến bên cái bồn chính giữa, tôi ngồi phịch xuống ngay cái bồn bên
cạnh, bắt đầu vặn ra vặn vào cái vòi nước lạnh cho đỡ buồn tay. Tôi đang sốt
ruột kinh khủng. Thằng Stradlater vừa cạo râu, vừa dẩu môi huýt sáo Khúc
ca Ấn Độ. Nó huýt to kinh khủng và câu nào cũng lạc điệu, nhưng toàn
chọn những bài mà những tay chúa nhất cũng thấy khó nhá, chẳng hạn, bài Khúc
ca Ấn Độ hoặc Vụ án mạng trên đại lộ số Mười. Bài nào nó
cũng thừa sức huýt lạc điệu hết.
Tôi vừa mới kể là Ackley ở bẩn kinh người. Thằng Stradlater
cũng thế, nhưng bẩn theo kiểu khác. Bề ngoài thì chẳng có gì đáng chê. Lúc nào
cũng bảnh bao như một ông hoàng. Nhưng các bạn cứ xem nó cạo râu khắc biết.
Lưỡi dao thì gỉ ngoèn, trông đến phát tởm, lại đầy những lông với tóc và bê bết
bọt xà phòng dẻo quánh từ những lẫn cạo trước vì cấm chịu rửa. Cho nên, trông
thì bảnh đấy, nhất là khi nó chải chuốt, nhưng kỳ thực vẫn là đứa ở bẩn. Ai chứ
Stradlater thì tôi chẳng lạ. Nó thích chải chuốt, khoe mẽ, vì nó tự mê mình, tự
nghĩ mình đẹp trai nhất Tây bán cầu. Thực ra thì nó chỉ trông được thôi, -
khoản đó phải nói cho công minh. Nhưng đó chỉ là vẻ đẹp vừa đủ để các ông bố,
bà mẹ lật tập album trường ra phải tấm tắc khen: "con nhà ai thế?"
Một vẻ đẹp chỉ hiện rõ trong album thôi, các bạn hiểu chứ? Ở trường Pencey này
vô khối đứa, theo tôi, còn đẹp trai bằng vạn nó, nhưng trên ảnh trông lại chẳng
ra sao. Bọn đó, đứa thì mũi dường như dài quá, đứa thì tai vểnh lên. Khoản ấy
tôi biết rất rõ.
Tôi ngồi trên cái bồn rửa mặt, vặn ra vặn vào cái vòi nước,
trên đầu vẫn chiếc mũ săn đội ngược. Tôi khoái nó kinh khủng, cái mũ đi săn ấy.
- Này, - thằng bạn lên tiếng - Tao có chuyện này, mày giúp
tao được không?
- Chuyện gi? - Tôi hỏi, chẳng thích thú gì. Bởi tứ thời nó
toàn nhờ những
việc mệt kinh khủng. Bọn đẹp trai thằng nào vốn cũng tự coi
mình là cái rốn của vũ trụ, nên toàn bắt người khác phải hầu hạ chúng đủ điều.
Chúng tự mê mình như điếu đổ, thành thử cứ tưởng ai cũng mê chúng và chẳng ao
ước gì hơn là được phục dịch chúng đủ thứ. Một lũ dở hơi, thật đấy.
- Tối nay mày có đi đâu không? - Nó hỏi
- Có thể đi, và cũng có thể không. Thế mày cần gì?
- Tao phải học gần một trăm trang sử ký từ giờ tới thứ hai.
- Tao muốn mày làm giúp tao một bài luận. Thứ hai này mà chưa thuộc hết sử thì
nguy lắm, nên tao mới phải nhờ mày. Được chứ? Nực cười không các bạn? Chết
cười, thật đấy!
- Tao bị đuổi vì ngu như chó, thế mà mày còn đi nhờ?
- Tao biết, tao biết. Nhưng khổ nỗi tao sẽ nguy mất, nếu
không làm nổi bài sử. Thôi, chỗ anh em bạn giúp tao đi. Tôi không đáp ngay.
Hạch nó, càng bắt nó hồi hộp càng tốt.
- Đầu đề thế nào? - Tôi hỏi
- Tự chọn. Mày thích tả gì tuỳ ý. Tả căn phòng cũng tốt. Mà
ngôi nhà càng hay. Hoặc nơi nào mày từng trú ngụ trước kia tuỳ mày. Tả tự do,
mày hiểu chứ? Có điều phải ngoạn mục một chút, quỷ ạ. - Rồi nó ngoạc mồm ra
ngáp. Tôi rất lộn tiết vì nó dám thế! Các bạn biết đấy, - đi nhờ vả bạn, mà làm
vậy tức là chẳng còn coi bạn ra gì! - Có điều mày đừng làm hay quá. Ông
Hartzell trời đánh thừa biết tiếng Anh mày rất chúa. Ông ấy cũng chẳng lạ gì
chuyện tao với mày trọ cùng phòng. Cốt nhất là mày cố chấm phẩy đúng. Cả các
dấu câu khác nữa cũng thế.
Nghe nó phán thế, ruột gan tôi tức thì sôi lên. Dám lên lớp
tôi về cách dùng dấu câu, một người rất giỏi tiếng Anh. Nhưng dù có cố chứng
minh với tôi nó không giỏi văn lắm, chung qui chỉ vì nó không biết đặt dấu phẩy
ở đâu cho đúng. Thì ra nó cũng cùng một giuộc với Ackley. Có lần tôi đã ngồi cạnh
thằng này trong một trận đấu bóng rổ. Trong đội, có một đứa chơi rất chúa,
thằng Howie Coyle. Nó có thể dễ dàng ném bóng vào chính giữa rổ. Thậm chí chả
cần nhờ đến tấm bảng gỗ, cũng tung được bóng vào. Vậy mà một buổi, Ackley lại
dám lải nhải là thằng Coyle chỉ được cái cao to thế thôi, chứ tài cán thì cóc
hơn ai. Đấy, các bạn hiểu lý lẽ của bọn chúng rồi chứ? Tôi chúa ghét cái lối
bốc phét ấy!
Rốt cục, tôi chán cái trò ngồi bên mép bồn rửa mặt nên nhảy
xuống, đi mấy vòng clacket cho đỡ cuồng chân. Chỉ muốn giãn gân cốt, chứ điệu
nhảy đó tôi không thạo lắm. Có điều sàn phòng rửa mặt lát toàn gạch men bóng
lộn, nên nhảy clacket thì không gì tuyệt bằng. Tôi nhại lại dáng dấp một tài tử
trong phim bởi đã từng xem ông ta biểu diễn một vở hài kịch rất vui. Xi nê tôi
ghét thượng hạng, nhưng rất khoái bắt chước các ngôi sao điện ảnh. Thằng
Stradlater vừa cạo râu, vừa dõi mắt nhìn. Chẳng mong gì hơn là có khán giả
chiêm ngưỡng tài nghệ, nói chung tôi rất thích trình diễn các trò vui nhộn.
- Ta là quý nam của chính ngài thống đốc đây! - tôi nói,
đoạn này phải rất gắng sức. Tôi nhảy tới, nhảy lui khắp phòng rửa mặt - Cha ta
không cho ta làm vũ công. Người gửi ta sang Oxford ăn học. Nhưng điệu vũ clacket này đã
ngấm vào máu huyết ta, quỷ ạ! Stradlater phá lên cười ha hả. Dẫu sao nó cũng có
máu khôi hài.
- Đêm nay ta khai diễn cuộc đại vũ hội của ta - Đến đấy, tôi
bắt đầu thấy hụt hơi. Phổi tôi cóc ra gì - Than ôi! Ta không thể nhảy tiếp được
nữa! Ta đang say bí tỉ. Vậy ai là người thế chỗ ta đây? Chỗ của ta - đấng nam
tử khốn khổ, đói rách của ngài thống đốc giàu có?
- Mày vớ đâu cái mũ ngộ nghĩnh đó thế? - Stradlater hỏi. Mãi
bây giờ nó mới
để ý tới chiếc mũ. Tôi thở dốc, ngừng lại, bỏ mũ xuống, ngắm
nó đến lần thứ một trăm
- Tao vừa mua hồi sáng dưới New York. Giá một "đô". Trông được
chứ, hả?
Thằng Stradlater gật đầu
- Oách đấy - nó bảo. Nó chỉ nịnh chút đỉnh cho qua chuyện,
rồi hỏi ngay cái chuyện đang khiến nó hồi hộp.
- Sao, bài luận đó mày có giúp được tao không? Nói đi, để
tao còn liệu nào
- Rảnh thì tao giúp, còn bận thì thôi
Tôi lại ngồi phịch xuống mép bồn rửa mặt, cạnh thằng
Stradlater như trước.
- Mày hẹn hò với con bé nào đấy? Fitzerald hả?
- Quỷ sứ! Tao hất con lợn ỉ đó từ lâu rồi còn gì!
- Thật chứ? Thế nhường tao đi, người anh em! Nói tử tế đấy.
Con bé ấy tao thấy rất được mắt.
- Thì cứ rước đi, xin mời! Có điều nó nhiều tuổi hơn mày
đấy.
Thế là bất thình lình, chẳng có lý do gì chính đáng cả, tôi
bỗng muốn nhảy xuống, vặn ngoéo cái cổ thằng ngốc Stradlater ấy. Đó là một
miếng võ hiểm: chộp lấy cổ địch thủ, bẻ gục xuống cho tới lúc nó nghẹt thở, nếu
cần. Tôi nhảy phốc về phía thằng nỡm, nhanh như một con báo gấm!
- Buông ra, Holden, đồ ngu! - Thằng Stradlater hét. Nó không
thích bị khoá
cổ thế. Hơn nữa nó đang cạo mặt - Mày muốn tao thiến cả vào
cổ à? Nhưng tôi vẫn không buông, tay vẫn thít chặt lấy cổ nó.
- Mày giãy thử đi, - Tôi bảo, - xem có gỡ nổi hai cánh tay
sắt của tao không?
- Đồ quỷ! - Nó đặt con dao cạo xuống, rồi thình lình giơ cao
tay, giẫy mạnh, vùng ra khỏi hai cánh tay đang khoá chặt. Nó khỏe thật. Sức tôi
thì chẳng được mấy cả. - Dẹp cái trò ấy đi! - nó nói. Rồi cạo thêm lần nữa. Bao
giờ nó cũng cạo hai lần, cho mày râu thật nhẵn nhụi. Vả lại, con dao của nó bẩn
quá.
- Thế bỏ rơi Fitzgerald thì đi với con bé nào? - Tôi hỏi,
lại gieo người xuống mép bồn rửa. Hay là với con Phyllis Schmitt?
- Không. Lẽ ra là với nó nhưng rồi mọi thứ đâm lộn tùng phèo
cả. Con bé đang chờ tao hôm nay là bạn của Bud Thaw. Chết, suýt nữa quên, nó
biết mày đấy.
- Ai mà còn biết cả tao nữa thế?
- Con bạn tao.
- Ra là thế! - tôi nói - thế nó tên là gì? - Tôi thấy hồi
hộp thực sự.
- Để tao nhớ đã... đúng rồi Jeanne Gallagher
Trời, tôi suýt ngất xỉu khi nghe cái tên ấy.
- Jane Gallagher! - tôi nói, thậm chí nhảy
phắt xuống đất khi nghe nhắc đến tên nàng. Tôi suýt ngất, thật đấy! - Tưởng ai
chứ con bé ấy thì tao có quen! Hè năm kia, nhà nó với nhà tao ở sát vách nhau.
Hồi đó, nhà nó có nuôi một con Debermanpinscher to kinh khủng. Chính vì con chó
ấy mà tụi tao quen nhau đấy. Chả là ông tướng mò sang vườn nhà tao đi ỉa.
- Mày chắn hết ánh đèn của tao rồi, Holden, - Stradlater
nói.
- Đứng dịch ra tí, hết chỗ rồi hả?
Chà, tôi hồi hộp lạ!
- Thế nó đâu rồi? Đứng dưới mái hiên, hả?
- Ừm.
- Sao nó lại nhắc tới tao? Hồi này, nghe đâu nó đang học bên
Brean Moore, đúng không? Nó bảo với tao chắc sẽ chuyển sang đó, hoặc là sang
Shipley. Sao nó lại nhắc tới tao, hả?
- Làm sao tao biết được, quỷ sứ! Dịch ra chỗ khác, nghe
chưa?
Tôi đang ngồi đè lên chiếc khăn tắm của nó.
- Jane Gallagher! - Tôi reo lên, không thể không nhớ tới
những kỷ niệm cũ -
Thật không thể ngờ! Thằng Stradlater bôi sáp thơm lên tóc.
Sáp thơm của chính tôi.
- Nó khiêu vũ khá lắm - Tôi nói, - Chả là nó có học balet.
Ngày nào cũng tập
hai giờ, cả những hôm trời nóng khủng khiếp nhất. Nó sợ càng
lớn, chân cẳng càng cứng. Vì nó đang phát phì, nên sợ đủ thứ. Tao với nó vẫn
chơi cờ nhảy suốt.
- Chơi trò gì-ì-ì?
- Cờ nhảy.
- Trời đất quỷ thần ơi, ai đời con gái lại đi chơi cờ
nha-aảy. Bỏ mẹ thật!
- Chứ sao. Nó chẳng đời nào chịu động đến mấy quân hậu. Quân
nào đổi được, nó đều đổi tất thành quân hậu, rồi cứ để yên đó, sau lúc đẩy
xuống hàng cuối cùng. Nó sắp các quân hậu ở vị trí đó thôi.
Stadlater làm thinh. Những điều tôi nói, của đáng tội,
thường chẳng khiến ai chú ý.
- Mẹ nó với mẹ tao cùng là hội viên một câu lạc bộ - tôi nói
- Hồi đó, tao có
lãnh thêm việc mang gậy đánh gôn tới, để kiếm thêm chút ít.
Tao có mang gậy cho mẹ nó mấy lần. Khiếp, có chín cái hố mà bà ta phải đánh tới
gần một trăm bảy chục lần, bóng mới xuống hết.
Stradlater hầu như bỏ ngoài tai câu chuyện. Nó cứ chải tới
chải lui bộ tóc lộng lẫy của mình.
- Phải xuống hỏi han dăm câu chứ nhỉ? - Tôi dò ý nó.
- Thì mày cứ việc, còn chần chừ gì?
- Được, tao đi ngay đây.
Nó lại rẽ lại đường ngôi. Trò đó xưa nay nó vẫn làm cả tiếng
đồng hồ.
- Bố mẹ nó bỏ nhau lâu rồi. Về sau, bà ấy lại vớ phải một gã
nghiện rượu, - lão gầy như quỷ đói. Chân cẳng thì toàn những lông là lông. Tao
còn nhớ lão như in. Tứ thời chỉ diện độc quần đùi. Nó kể, lão là văn sĩ, viết
kịch bản. kịch biếc gì đấy, nhưng tao thì tao thấy lão chỉ toàn uống rượu với
lại ngồi nghe đọc đủ thứ truyện trinh thám ngu ngốc bên radio. Thỉnh thoảng lão
còn ở truồng nồng nỗng chạy lung tung trước mặt cả nhà nó.
- Thật hả? - Stradlater hỏi. Nó hoạt bát hẳn, khi nghe tôi
kể về lão dượng ghẻ nghiện ngập của Jane.
- Tuổi nhỏ của nó kinh khủng lắm. Thật đấy.
Nhưng chuyện đó nó lại càng chẳng chút bận tâm, thằng dê già
Stradlater. Nó chỉ khoái những chuyện tục tĩu.
- Quỷ thật! Jane Gallagher! - Bao kỷ niệm cứ ập đến với tôi.
Không thể nào xua đuổi nổi. - Phải xuống gặp nó một lát mới được.
- Thì xuống đi, ai cấm? Sợ mày chỉ được cái bốc phét là
giỏi.
Tôi đến bên một khung cửa sổ. Nhưng chẳng trông thấy gì. -
kính cửa mù mịt mồ hôi.
- Tao chưa thấy hứng - tôi bảo. Tự nhiên tôi chẳng còn chút
hứng thú gặp nàng. - Tao tưởng nó đã chuyển sang Shipley. Thế là tao cứ đinh
ninh nó học bên Shipley. - Tôi đi tới đi lui trong phòng. - Nó thích bóng đá
chứ?
- Thích, hình như thế. Tao cũng chả rõ lắm.
- Nó có kể với mày chuyện nó với tao chơi cờ nhảy không? Hay
những chuyện đại để thế?
- Tao chả nhớ. Bọn tao mới quen nhau có mấy bữa. Thôi, đừng
ám tao! - Stradlater đã chải xong mái tóc lộng lẫy và đang thu dọn bộ dao cạo.
- Này, chuyển giúp tao lời chào nhé?
- Được, - thằng Stradlater nói, nhưng tôi biết tỏng là nó sẽ
cóc làm.
Hạng nó thì có bao giờ thèm chuyển lời chào hộ ai? Nó quay
về phòng, còn tôi vẫn quanh quẩn trong buồng rửa mặt, nhớ lại những kỷ niệm cũ
về Jane, cô bạn thời xưa, Được một lát, tôi cũng đành quay lại phòng ngủ. Tôi
bước vào đúng lúc thằng Stradlater đang đứng trước gương thắt cà vạt. Nó mất
đứt cả nửa cuộc đời để soi gương. Tôi gieo người xuống chiếc salon của mình,
ngồi ngắm.
- Này - tôi bảo, - có điều đừng nói với nó là tao bị đuổi
đấy
- Được, tao sẽ không kể đâu.
Stradlater còn được một cái nết nữa: nó không hay căn vặn
những chuyện vặt vãnh như thằng Ackley. Chắc vì mọi thứ nó đều bất cần. Còn
thằng Ackley thì khác hẳn. Bạ gì cũng thọc mũi vào tất. Thằng bạn choàng lên
người chiếc blouson mượn của tôi.
- Đừng xài ẩu quá, nhớ không? - Tôi nói, - Tao mới xỏ tay có
đúng hai lần đấy.
- Đừng lo, tao sẽ nương nhẹ. Thuốc lá, tao vất đâu rồi ấy
nhỉ?
- Trên bàn kia kìa!...- Chẳng bao giờ nó nhớ thứ gì vứt ở đâu.-
Dưới cái khăn phula của mày ấy. - Nó cho bao thuốc vào túi áo - chiếc áo mượn
của tôi.
Thình lình, tôi quay ngược chiếc mũ đỏ lại, đội xuôi chĩa
cái lưỡi trai ra đằng trước, bắt đầu thấy bứt rứt vô cớ. Thần kinh tôi, nói
chung, chẳng ra gì.
- Này, thế mày định dẫn nó đi đâu tối nay? - Tôi hỏi.- Mày
định sẵn cả rồi chứ?
- Tao cũng chưa biết nữa. Nếu có thời giờ, bọn tao sẽ xuống New York một
lúc. Nó ngốc quá, chỉ xin phép đi đến chín rưỡi tối. Tôi
không thích điều nó vừa thổ lộ, nên cay độc:
- Nó chỉ xin phép đến chín rưỡi, vì nó có ngờ đâu gặp được
một gã bảnh bao, trai lơ như mày, chó đẻ như mày. Giá biết trước thế,
chắc nó sẽ xin phép đi đến tận chín rưỡi sáng mai là ít
- Đúng! - Stradlater nói. Không gì có thể khiến nó bối rối.
Mặt nó trơ quá mặt thớt.- Đừng lảm nhảm nữa đi, - nó nói tiếp, - có làm giúp
tao bài luận không, bảo đi! - Nó đã choàng cái áo khoác lên người, tính bước ra
ngoài. - Đừng hay quá, miễn cứ lưu loát là ổn, hiểu chứ? Có làm không thì bảo?
Tôi nín thinh. Tôi không còn bụng dạ nào để trả lời Stradlater nên chỉ lí nhí:
- Hỏi nó xem hồi này nó có còn cho hậu đứng hàng chót nữa
không nhé!
- Được, - Stradlater đáp, nhưng tôi thừa biết nó sẽ không
hỏi. - Tạm biệt! -
Nó đập mạnh cửa, rồi chuồn thẳng. Tôi cứ ngồi thừ ra đó nửa
tiếng nữa. Chỉ ngồi trong salon, chẳng làm gì. Tâm trí cứ vương vấn mãi về Jane
và cuộc hò hẹn giữa nó với thằng Stradlater. Tôi bồn chồn đến mức suýt phát
điên. Tôi đã kể rồi đấy - nó là thằng tục tĩu, đốn mạt về khoản gái gủng.
Thình lình thằng Ackley từ nhà tắm mò sang. Lần đầu tiên
trong suốt quãng đời trọ học tại đây, tôi mừng rỡ khi thấy nó. Xua đuổi giúp
tôi mọi ý nghĩ rối bời trong óc.
Nó ngồi lỳ bên phòng tôi cho đến lúc đi ăn tối, lảm nhảm về
những đứa nó ghét, nặn ra cả một đống tướng mụn trứng cá ở dưới cằm mà cóc thèm
dùng khăn tay. Tôi chưa thấy nó dùng khăn tay bao giờ, thật đấy.
5
Thứ bảy nào, bọn tôi cũng được cho ăn cùng một thực đơn hết
như ngày vừa đặt chân tới Pencey. Khéo ai cũng tưởng đó là bữa cơm thịnh soạn
lắm, bởi có món bíttết.
Tôi dám cuộc một ngàn đôla, ăn một: sở dĩ bọn tôi được ăn
món đó chẳng qua vì chủ nhật nào cũng có phụ huynh đến thăm trường. Và lão
Thurmer chắc cũng nghĩ bụng, thế nào cũng sẽ có một bà mẹ gạn hỏi cậu quý tử
tối qua trường cho ăn gì, và thằng con sẽ trả lời chẳng kịp ngẫm nghĩ, bittết.
Kỳ tình, đó là một trò bịp, y hệt như mọi trò bịp khác của lão ta. Thì các bạn
thử ngắm những miếng bíttết kia xem? Rắn như đế giày, đến mức dao cắt cũng
không đứt. Ăn kèm với món bíttết đó tứ thời là một bát súp thịt nấu nhuyễn với
khoai tây cắt quân cờ. Còn đồ tráng miệng dọn ra luôn là bánh Brown Betty, bánh
pudding rưới mật. Trừ tụi nhóc mới vào học, với những đứa như thằng
Ackley thì bạ gì cũng tọng.
Ăn xong, bọn tôi ra ngoài đi dạo. Tiết trời tuyệt đẹp, trên
mặt đất là một lớp tuyết mỏng chừng ba đium. Và tuyết vẫn tiếp tục rơi, như thể
đang vui. Đẹp kinh khủng. Bọn tôi bắt đầu vo tròn tuyết lại thành từng nắm nhỏ,
rồi ném nhau. Những trò trẻ nít, cố nhiên, nhưng đứa nào cũng thấy thích.
Tôi chẳng biết làm gì nên rủ thằng bạn trong đội đấu kiếm là
Mal Brossard đáp xe buýt xuống Agerstown, ăn một đĩa thịt băm viên cho đỡ đói,
rồi nếu thích, ghé luôn vào rạp chiếu bóng, xem một cuốn phim ngớ ngẩn gì đó
cho đỡ buồn. Hai đứa đều không muốn ru rú suốt cả tối thứ bảy ở nhà. Tôi hỏi
Mal - có sao không nếu rủ cả thằng Ackley đi? Tôi định bụng rủ nó, vì nó chẳng
bao giờ chịu đi đâu ngay cả tối cuối tuần, - mà cứ ngồi lỳ ở nhà nặn
mụn trứng cá. Thằng Mal bảo - chả sao cả, dĩ nhiên - tuy rằng nó chẳng thích
lắm vì không ưa thằng Ackley. Thế là hai đứa liền kéo về phòng, thay áo quần,
rồi vừa xỏ chân vào ủng đi tuyết, tôi vừa gọi thằng Ackley, hỏi nó có thích xem
chiếu bóng thì đi cùng. Tôi biết tiếng tôi vọng qua nhà tắm sang tận bên phòng
nó, nhưng nó vẫn chưa vội lên tiếng. Loại người như nó thì chẳng bao giờ chịu
đáp ngay những câu người ta hỏi mình. Nhưng cuối cùng, nó cũng ló mặt sang. Nó
vén tấm rèm che cửa phòng tắm, rồi vẫn đứng nguyên đó, hỏi có những đứa nào đi
cùng? Tứ thời, bao giờ nó cũng phải hỏi rõ, cùng đi có những đứa nào? Nói thật
chứ nó mà có bị đắm tàu và được thuyền cấp cứu tới vớt, thì chắc nó cũng phải
vặn vẹo chán - đã có những ai ngồi bên trên - rồi mới chịu để người ta vớt lên.
Tôi bảo, có thằng Mal Brossard. Nó nói:
- Xì, thứ vứt đi...Nhưng thôi được. Chờ tao một lát.
Nó làm như thể đang ban cho bạn một đặc ân to tát không
bằng. Nó sửa soạn chừng năm phút. Trong khi chờ nó, tôi đến bên cửa sổ, mở
toang hai cánh, lấy tay vo tròn một nắm tuyết. Tuyết dẻo lạ. Nhưng làm xong,
tôi lại chẳng biết vất đi đâu, tuy rằng định vo nó để ném chơi cho khoái. Lúc
đầu, tôi định ném xuống chiếc xe đang đỗ phía bên kia đường, nghĩ lại thấy nó
sạch bong, trắng toát, nên không nỡ. Tiếp đến, tôi tính vất vào cái ống dẫn
nước ở rìa tường, nhưng cái ống dẫn đó cũng sạch sẽ, trắng muốt, y hệt chiếc xe
kia. Thế là tôi thôi, chẳng ném cục tuyết nữa. Tôi đóng cửa lại, rồi bắt đầu vê
tròn cục tuyết trên tay cho nó rắn thêm chút nữa. Tôi cứ giữ nó trong tay thế
cho tới lúc cả bọn lên xe. Người bán vé mở cửa xe, bảo tôi vất nó đi. Tôi bảo
không định ném ai, nhưng ông ta không chịu tin. Người lớn họ chẳng bao giờ chịu
tin bạn, thật đấy.
Cả Brossard
lẫn Ackley đều đã xem cuốn phim ấy, nên chén xong ba đĩa thịt băm viên nóng
sốt, bọn tôi đưa nhau vào chơi mấy ván rulét trên máy tự động, rồi quay về. Tôi
chẳng tiếc là không được xem phim. Vì chắc đó chỉ là cuốn phim quay lại từ một
vở hài kịch vớ vẩn gì đó thôi, do Cary Grant đóng. Vả lại, có lần tôi đã cùng
Ackley và Brossard
đi xem phim rồi. Hai đứa cứ nhe răng ra cười, ngay cả những đoạn chẳng có gì
đáng. Ngồi bên chúng, tôi chán kinh khủng.
Chưa đầy mười lăm phút sau, bọn tôi đã về tới ký túc. Brossard thích đánh bridge,
nên chạy đi tìm bạn chơi. Thằng Ackley thì mò sang phòng tôi, cố nhiên. Có điều
bây giờ nó không ngồi lên tay vịn chiếc salon của thằng Stradlater, mà nằm sấp
trên giường tôi, dụi mặt xuống gối. Vừa nằm xuống, nó đã lên ngay dây cót, cất
giọng đều đều tẻ ngắt lải nhải khoe về một con bé mà nó nhăng nhít từ hè năm
ngoái, trong khi hai tay vẫn nặn mụn trứng cá liên hồi. Tôi nói xa nói gần đến
cả trăm lần với nó, nhưng vẫn chẳng ăn thua. Nó cứ lè nhè suốt về con bé ấy
bằng cái giọng tẻ ngắt, mà tôi đã nghe đến cả trăm lượt, mỗi lần nó kể một
khác. Lần thì nó quần con bé ấy trong
thùng chiếc xe tải nhỏ của ông anh họ. Lần thì kể là dưới gậm cầu thang. Cố
nhiên, đều bốc phét tất. Tôi độp thẳng vào mặt nó rằng nó chưa bao giờ động
được đến đứa nào. Rồi tôi đành phải nói toẹt vào mặt nó, là muốn làm giúp thằng
Stradlater bài luận, để nó cuốn xéo đi cho tôi nhờ, kẻo tôi không thể dồn hết
tâm trí lúc đang viết. Rốt cục, nó đành phải chuồn về phòng, dĩ nhiên, phải mất
một lúc khá lâu. Khiếp, tôi chưa thấy ai lề mề như nó. Nó vừa đi khỏi là tôi
choàng cả véttông lẫn áo ngủ vào cho ấm, chụp chiếc mũ đi săn ngộ nghĩnh lên
đầu, và ngồi vào bàn, làm bài luận cho Strađlater.
Khốn nỗi, tôi không tài nào bịa ra được một căn phòng hoặc
một nếp nhà, rồi ba hoa đủ thứ như thằng Stradlater dặn. Nói chung, tôi chẳng
mấy thích thú với chuyện tả mấy thứ vớ vẩn đó. Vì thế, tôi đành miêu tả lại
chiếc găng chơi bóng chày của thằng Allie, em trai tôi. Chiếc găng đẹp kinh
khủng. Thằng em tôi vốn thuận tay trái, nên đó là găng bên trái. Nó đẹp vì trên
chiếc găng ấy, Allie chép đầy thơ. Cả mặt bên này, lẫn mặt bên kia bằng mực
xanh lục. Nó chép thế để ngâm nga những lúc không phải bắt bóng và những lúc
chẳng biết làm gì trên bãi. Nó chết lâu rồi, bị bệnh máu trắng hôm 18 tháng Bảy
năm 1946, hồi cả nhà còn ở dưới bang Maine.
Trông Allie chắc bạn phải mê ngay. Nó kém tôi hai tuổi, nhưng thông minh hơn
tôi gấp năm chục lần. Thông minh kinh khủng. Thầy cô nào của Allie cũng viết
thư khen mẹ, bảo là được dạy dỗ một học trò như nó thật chẳng gì thích bằng. Họ
không nói dối, nghĩ thế nào, viết thế ấy. Nhưng Allie không chỉ thông minh nhất
nhà. Nó còn là đứa ngoan nhất nhà, về mọi phương diện. Nó không bao giờ nổi
cáu, chẳng bao giờ phát khùng. Tóc nó màu hung. Theo lời thiên hạ, người tóc
hung thường cục tính, thế nhưng Allie lại không bao giờ nổi cáu. Tôi kể các bạn
nghe xem tóc Allie hung đến mức nào. Tôi bắt đầu học đánh golf lúc lên chín.
Một lần, vào mùa xuân, hồi đó tôi mười một, tôi đang mải mê đuổi theo quả bóng
nhưng lúc nào cũng có cảm giác ngoái cổ lại là nhìn thấy Allie. Tôi thử ngoảnh
lại, quả nhiên thấy nó đang ngồi trên chiếc xe đạp, bên kia là cái bờ rào quanh
sân golf, cách tôi một trăm năm chục bước, xem tôi đánh. Đấy, tóc nó hung đến
mức ấy đấy! Nó cũng nhộn kinh khủng. Thỉnh thoảng, đang ngồi bên bàn học, nó
vụt nảy ra một ý nghĩ gì đó và thế là thình lình phá lên cười, cười lăn cười
lóc đến mức suýt ngã xuống đất. Hồi tôi mười ba tuổi, bố mẹ đã tính cho tôi đến
khám nhà một ông bác sĩ tâm thần, vì tôi đã đạp vỡ hết sạch sành sanh tất cả
cửa kính trong nhà để xe, vào đêm Allie chết. Bằng tay không, cũng chẳng biết
làm thế để làm gì. Thậm chí tôi còn muốn đập cả cửa kính chiếc xe tải không mui
mà mùa hè năm đó nhà tôi vừa sắm. Nhưng vì tay đã bị mảnh kính cứa đứt mấy chỗ
nên tôi không thể đập tiếp. Tôi biết làm thế là ngốc nghếch nhưng tôi hoàn toàn
chẳng ý thức được mình đang làm gì. Ngay cả bây giờ, thỉnh thoảng tôi vẫn thấy
đau tay, nhất là những hôm trời chuyển mưa, đến nỗi không thể co duỗi mấy ngón
tay. Nhưng đó là chuyện vớ vẩn. Vì đằng nào thì tôi cũng chẳng định làm bác sĩ
phẫu thuật, nghệ sĩ vĩ cầm hoặc nói chung bất cứ một danh nhân nào.
Bài luận tôi làm giúp thằng Stradlater đại để là thế. Về
chiếc bao tay của bé Allie đang nằm dưới đáy chiếc vali tôi xách theo. Tôi lôi nó
ra, chép lại tất cả những câu thơ ghi trên đó vào bài luận. Tôi chỉ đổi họ của
bé đi chút ít, để không ai đoán ra nó là em tôi, thay vì em thằng Stradlater.
Tôi không thích thú gì chuyện đổi họ tên nhưng chẳng nghĩ được một cách nào cả.
Vả lại, tôi thích tả lại chuyện đó. Tôi ngồi đến cả tiếng đồng hồ bên máy đánh
chữ cũ rích của thằng Stradlater, nó cứ nuốt chữ suốt mỗi khi muốn đánh nhanh.
Còn chiếc máy của tôi, tôi lại cho một thằng ở đầu hồi đằng kia mượn mất.
Tôi kết thúc bài luận vào lúc gần mười rưỡi nhưng chẳng thấy
mệt gì lắm nên đến bên cửa sổ ngắm cảnh vật bên ngoài. Tuyết đã ngừng rơi, xa
xa vọng lại tiếng động cơ ọc ạch của một chiếc xe pan. Nghe rõ cả
tiếng ngáy của thằng Ackley thổ tả bên phòng nó. Khiếp, cửa phòng tắm đã đóng
kín mít thế mà vẫn nghe rõ mồn một những âm thanh khó chịu của nó. Thằng nỡm ấy
thôi thì đủ mọi chứng viêm xoang, mụn trứng cá, sâu răng, cả hơi, móng tay sứt
sẹo. Đến nỗi tôi phải mủi lòng thương hại nó, cái thằng ngốc khó xơi ấy.

