Bắt Trẻ Đồng Xanh - Chương 12

12

Tôi cuốc bộ về
tận ngôi khách sạn thổ tả đang trọ. Qua những bốn mốt dãy phố, chứ đâu phải
đùa! Tôi cuốc bộ, chẳng phải vì thích hóng mát, mà chỉ vì chán cái cảnh phải
ngồi taxi. Lắm lúc bạn chẳng thiết đi taxi, thậm chí cả đến thang máy cũng thế.
Bỗng dưng bạn muốn cuốc bộ hoặc leo thang gác, dù xa đến mấy hoặc cao đến mấy,
mặc lòng. Hồi nhỏ, tôi thường leo bộ lên tận phòng mình. Tít trên tầng mười
hai. Nhưng tôi thích thế. Tuồng như tuyết đã ngừng rơi từ lâu. Hè phố không còn
một bông tuyết nào. Nhưng rét như cắt, nên tôi đành phải lôi chiếc mũ săn trong
túi ra, chụp lên đầu, bất chấp diện mạo mình lúc ấy ra sao. Thậm chí tôi còn
phải kéo sụp cả hai cái tai che xuống. Chà, ước gì biết được thằng ôn nào đã
thó mất đôi găng của tôi trên Pencey! Hai tay tôi đang tê cóng trong túi áo
khoác. Nói thế chứ dẫu có biết đích xác đứa ăn cắp, tôi cũng chẳng biết dám làm
gì. Tôi vốn nhát gan lắm. Không dám để lộ ra, nhưng tôi non gan. Chẳng hạn, nếu
biết đích xác cái đứa thó đôi găng, tôi cũng chỉ dám đến bảo thằng bịp ấy câu
này là cùng: "Này, trả tao đi!". Và nếu thằng bịp ấy đáp: "Găng
nào?" bằng giọng bình thản, thì tôi cũng chỉ dám mở tủ, lục tìm đôi găng ấy.
Còn nếu nó giấu trong ủng đi tuyết, mà tôi moi ra được, thì tôi cũng chỉ dám
bảo: "Đôi này mà mày dám nói là của mày, hả?". Lúc đó,
chắc thằng vịt ấy sẽ làm ra vẻ như trẻ mới đẻ, đáp rằng: "Tao chưa từng
thấy đôi găng ấy bao giờ. Nếu đúng của mày, thì mày cứ việc lấy đi. Ngữ ấy, mày
tưởng báu lắm hả?".

Còn tôi, chắc sẽ đứng
đực trước mặt nó chừng năm phút. Giữ đôi găng trong tay, và cảm thấy phải quại
cho nó vỡ mõm ra và chừa cái thói đó đi. Nhưng tôi không có gan làm. Chỉ đành
đứng yên đó, cau mắt giận dữ. May lắm, tôi cũng chỉ dám mắng thẳng vào mặt nó
một câu thật cay độc thay vì nện nó vỡ mặt. Nhưng nếu bị tôi mắng, mà thằng ấy
lại đứng phắt dậy, tiến thẳng đến trước mặt tôi, quát to: "Này, Caulfield,
mày vừa bảo tao là thằng ăn cắp hả?", thì thay vì mắng tiếp: 'Đúng đấy,
tao bảo mày là thằng súc sinh đấy, thằng khốn!" - chắc tôi chỉ dám thốt
lên: "Thì tao vừa tìm thấy đôi găng phải gió của tao trong ủng đi tuyết
của mày là gì". Thằng bịp ấy lập tức hiểu ngay tôi không dám đánh nó, nên
sẽ gân cổ lên quát: "Này, nói thật đi, mày đổ thừa tao là đồ ăn cắp, đúng
không?". Lúc ấy, chắc tôi sẽ đấu dịu: "Chả ai gọi ai là đồ ăn cắp.
Tao chỉ bảo: đôi găng của tao nằm trong ủng đi tuyết của mày thế thôi". Và
cuộc đấu khẩu sẽ cứ thế mà tiếp diễn.

Rốt cục, chắc tôi
đành bước ra khỏi phòng thằng bịp ấy, mà chẳng dám làm gì, chứ đừng nói tới
chuyện quại nó vỡ quai hàm. Rồi chắc tôi sẽ lẻn vào phòng vệ sinh, hút vụng một
điếu thuốc, vừa soi gương, thử ngắm gương mặt giận dữ của mình ra sao. Đại để
tôi đã nghĩ thế suốt dọc đường về, cho tới lúc mò tới khách sạn mình trọ. Làm
kẻ nhút nhát, tôi chẳng thích gì lắm. Có lẽ, tôi chưa hẳn đã là đứa như thế.
Đúng sai thế nào, tôi chưa biết thật đích xác. Cũng có thể tôi chỉ nhát gan một
phần, còn một phần nữa, tôi nhổ toẹt vào chuyện đôi găng mất hay còn. Đó là tật
xấu nghiêm trọng nhất, tôi nhổ toẹt vào mọi thứ mình đã đánh mất. Tật ấy đã
khiến mẹ tôi rất điên tiết ngay từ hồi còn ở nhà. Bởi lẽ những đứa trẻ khác có
thể bỏ ra cả mấy ngày trời để tìm những thứ bị thất lạc. Còn tôi,
quả thật tôi chưa bao giờ có một thứ gì đáng gọi là quý giá để đến nỗi phải
tiếc rẻ, một khi đã đánh mất. Có lẽ vì thế nên tôi đâm ra non gan. Vả chăng,
cũng không thể gọi thế là non gan, nếu phải quại vào mõm đứa nào đó mà bạn thì
lại không muốn. Với tôi, thà cứ quẳng ai đó qua cửa sổ hoặc chém bay đầu hắn
bằng rìu còn hơn là đấm vào giữa mặt hắn. Tôi chúa ghét chuyện trừng trị nhau
bằng quả đấm, cho sướng tay. Thôi thì thà cứ để cho người ta đánh mình, tuy
rằng chuyện đó chẳng thích chút nào, như các bạn biết đấy, tôi rất ngại chuyện
đấm vào mặt kẻ khác, tôi sợ bộ mặt kẻ đó.

Tôi không thể
nhìn thẳng vào mặt kẻ đó, khốn khổ thế đấy. Vì khi đã chịu nhìn vào mắt nhau,
thì tức là đã chẳng ghét bỏ gì nhau nữa rồi. Một lối sợ đến là lạ đời, nếu ngẫm
cho cùng, nhưng đã sợ thì dẫu sao cũng tức là nhát gan. Gì chứ chuyện đó tôi
chẳng bao giờ nên dối mình, tôi biết.

Rồi càng nghĩ
nhiều về chuyện đôi găng và thói nhút nhát, tôi càng thấy ngao ngán thêm, nên
bụng bảo dạ phải ghé vào đâu đó tìm chút gì nhấm nháp cho khuây. Ở đằng Ernie
tôi chỉ mới uống ba cốc, và lại, cốc thứ ba tôi còn chưa kịp uống nốt. Có thể
nói chắc điều này, tửu lượng tôi rất khá. Tôi có thể uống suốt đêm mà đầu óc
vẫn tỉnh, nhất là đang phấn chấn. Hồi còn đi học dưới Whooton, tôi với một đứa
bạn, thằng Raymond Goldfarb, đã mua cả nửa lít Scotch, rồi lôi vào nhà nguyện
thù tạc suốt cả buổi tối thứ bảy mà chẳng bị ai bắt gặp hết. Nó thì say lử cò
bợ, nhưng tôi vẫn tỉnh như không. Chỉ thấy người lâng lâng và tay chân như nhẹ
hẳn đi. Tôi đã nôn thốc nôn tháo lúc lên giường đi nằm, nhưng đó là cố ý, chứ
kể cố nhịn, chắc cũng chẳng làm sao.

Tóm lại, trên
đường về khách sạn, tôi đã toan ghé vào một cái bar nào đó làm thêm vài ly,
nhưng bỗng gặp hai người say bí tỉ từ trong đó bước ra, hỏi tôi ga tàu điện
ngầm ở ngả nào. Một người, trông thì đích thị là dân Tây Ban Nha, cứ phả vào
mặt tôi hơi rượu chua lòm trong lúc tôi chỉ đường cho ông ta. Thành thử tôi
chẳng thèm ghé vào cái bar trời đánh đó nữa, mà cứ xăm xăm cuốc bộ về khách
sạn.

Dưới đại sảnh
không còn một bóng người. Ngự trị trong phòng chỉ có cái mùi tởm lợm của hơn
năm chục triệu đầu thuốc xì gà hạng bét vứt đi. Khó ngửi kinh khủng. Tôi vẫn
chưa thấy buồn ngủ nhưng mệt bã người. Tâm trạng chán ngán không biết để đâu
cho hết. Chẳng thiết sống nữa. Đúng lúc ấy, tôi bỗng vướng phải một chuyện khó
chịu kinh khủng. Tôi chưa kịp lách người vào thang máy, thì lão gác thang máy
đã gọi giật lại:

- Này, muốn giải
buồn chút không, anh bạn trẻ? Hẳn anh bạn tưởng khuya quá rồi chứ gì?

- Ông định nói
gì? - Tôi hỏi lão, chẳng hiểu chút gì điều lão ám chỉ.

- Có thích được
một thiếu nữ đầu ấp tay gối qua đêm không?

- Tôi ấy à? - Câu
hỏi thật ngốc nghếch. Nhưng ai mà chẳng ngớ người ra thế, khi bị hỏi thẳng cái
chuyện vớ vẩn ấy, như chuyện lão hỏi tôi.

- Cậu bao nhiêu
tuổi rồi, cậu cả? - Lão bất chợt hỏi.

- Gì kia? - Tôi
nói. - Hăm hai.

- Thế rồi kia à?
Gật chứ? Chỉ chốc lát thôi, 5 "đô". Còn 15 "đô" thì suốt từ
giờ tới sáng. 5 tờ - chốc lát - 15 tờ - suốt đêm. Lão nhắc lại.

- Được thôi. Về
nguyên tắc, tôi chống lại những trò bẩn thỉu kiểu ấy. Nhưng tôi đang chán tới
mức chẳng còn thiết để đầu óc phải bận tâm tới chuyện đó. Tai họa là ở chỗ: khi
đã ngao ngán, thì đến nghĩ ngợi, bạn cũng chả muốn chút nào.

- Được là thế
nào? Chốc lát hay suốt đêm?

- Chốc lát thôi.

- Xong ngay. Anh
bạn trọ phòng nào đấy?

Tôi nhìn hàng chữ
số đỏ chót chạm trên chuôi chìa khóa:

- Mười hai - hăm
hai - Nói xong, tôi đâm ân hận ngay, vì đã để cho cơ sự xoay chuyển ra thế này.
Nhưng hối thì đã muộn.

- Được, mười lăm
phút nữa, cô ấy sẽ có mặt trên phòng anh. - Lão mở cửa thang máy cho tôi bước
vào trong. Nhưng tôi gọi giật lão lại liền.

- Này, khoan đã, cô ấy mặt mũi có kháu không hả? Tôi không
cần bà già đâu đấy, hiểu chưa!

- Già là thế nào! Đừng lo, anh bạn trẻ!

- Thế tiền thì trả cho ai?

- Cô ấy, - lão đáp. - Thôi, lên phòng đi, cậu cả! - Rồi lão
đập mạnh cửa thang máy ngay trước mũi tôi.

Tôi trở lên phòng, dấp nước lên tóc, nhưng tóc tôi cứng quá
lông nhím, nên có chải mấy cũng chẳng chịu mượt cho. Rồi tôi thử hà hơi, xem
mồm miệng có còn mùi thuốc lá với Whitsky pha soda đằng Ernie không. Tôi áp tay
vào miệng, cho hơi thở bay lên mũi. Mùi rượu với thuốc lá chẳng còn mấy nữa,
nhưng tôi vẫn cứ đánh răng. Rồi thay sơmi sạch vào cho tươm tất.

Tôi chẳng biết có cần phải sửa soạn mẽ ngoài không, mỗi khi
đi chơi gái, nhưng dẫu sao cũng lăng xăng thế cho đỡ bồn chồn. Của đáng tội,
tôi không hồi hộp lắm, nhưng dẫu sao vẫn cứ lo lo. Chẳng giấu gì các bạn, tôi đã
mười sáu, nhưng vẫn trong trắng. Thật đấy. Đã bao lần, tôi cố tìm cơ hội để đánh
mất sự trong trắng đó, nhưng chẳng ăn thua. Chẳng hạn, sợ bố mẹ con bé ấy về
không đúng lúc, đúng hơn là sợ họ về đúng lúc. Còn nếu đang ngồi với một đứa
khác đằng ghế sau xe hơi, thì ghế trước lại có một đứa khác, chốc chốc cứ ngoái
lại xem hai đứa đằng sau đang làm gì. Tóm lại, cứ trắc trở hoài, không thế này
thì thế nọ. Dẫu sao tôi cũng đã gặp hai dịp khá may mắn, suýt nữa thì đã thành
công, nhất là cái lần mà tôi còn nhớ như in sau đây. Vẫn bị trắc trở, có điều
tôi quên biến đi là bị cái gì cản mũi. Cái chính là khi sắp sửa hành sự, thì
con bé thế nào cũng bảo bạn: "Đừng, anh", - nếu nó không phải là đứa
đĩ tính hoặc phường bán phấn buôn hương. Và khốn khổ cho tôi là bao giờ tôi
cũng lập tức chấp thuận lời cầu xin đó. Với bọn con trai khác thì đừng hòng nhé,
chúng cứ mặc tất! Nhưng tôi không nỡ lòng nào. Tôi đã ngoan ngoãn vâng theo. Và
chẳng bao giờ biết rõ - con bé ấy không thích thực, hay nó chỉ sợ thế thôi,
hoặc cố ý bảo "đừng" để nếu cơ sự xảy đến thì người có lỗi là tôi,
chứ chẳng phải nó. Tóm lại, tôi ngoan ngoãn vâng theo tức khắc, khi nó vừa mở
miệng cầu khẩn. Cái chính là bao giờ tôi cũng thấy thương hại bọn con gái. Bọn
chúng vốn rất ngốc nghếch, khổ thế đấy, chuyện đó chắc các bạn chẳng lạ. Hễ được
hôn một cái là mụ đầu mụ óc đi ngay. Thì bạn cứ thử âu yếm một đứa mà xem thì
khắc biết chúng ngốc đến mức nào: hễ được vuốt ve chút đỉnh là đã phát cuống
phát cuồng, y như một con mụ dại! Tôi không biết chúng bảo "đừng" là
vờ hay thực, nhưng bao giờ tôi cũng thôi ngay.

Rồi tiếc ngẩn tiếc ngơ, sau khi tiễn chúng về nhà, nhưng dẫu
sao vẫn tiếp tục ngoan ngoãn nghe theo lời bọn chúng.

Như vậy là vừa thay áo, tôi vừa nghĩ: rốt cục, cơ hội rồi
cũng đã tới tìm tôi. Tôi nghĩ, dẫu ả là gái giang hồ thì cũng chẳng sao vì đằng
nào mình cũng phải học ít nhiều, biết đâu mai mốt mình lại chẳng lấy vợ? Chuyện
đó lắm lúc khiến tôi thấy băn khoăn. Hồi còn học dưới Whooton, tôi có vớ được
một cuốn sách mỏng nói về một gã rất trác táng nhưng rất sành điệu về khoản làm
tình. Tên gã là Monsieur Blanchard,
bây giờ tôi vẫn nhớ rất rõ. Cuốn sách rất đáng tởm, nhưng lão Blanchard ấy thì
không sao cả. Lão có một lâu đài khá bề thế ở Rivera, bên châu Âu, và những lúc
rảnh rỗi lão chẳng còn biết làm gì ngoài chuyện dùng ba toong nện hết bà này
tới bà khác. Nhìn đại thể, lão rất can đảm này nọ, nhưng cũng rất hay đánh đàn
bà, con gái đến quẫn trí. Trong sách có một đoạn lão nói về đàn bà. Thân thể đàn
bà, theo lời lão cũng như một chiếc violon, phải vào tay một nhạc sĩ điêu luyện
mới khiến được nó réo rắt. Cuốn sách thổ tả đó nói chung rất dở, tôi biết,
nhưng hình ảnh chiếc violon ấy thì chẳng lúc nào rời khỏi tâm trí tôi. Vì thế,
tôi muốn tập sự chút đỉnh, để phòng ít nữa còn có cái đem ra thi thố lúc lập
gia đình. Caulfield và chiếc violon thần kỳ, trời ạ! Đại để, tôi cũng là đứa
rất lớ ngớ, nhưng chắc cũng chưa đến nỗi vứt đi. Thành ra tôi muốn mình thật
sành sỏi trong bất cứ thứ gì động vào. Bằng không, khi gặp một đứa con gái,
thực tình tôi vẫn chưa biết phải xoay sở thế nào với nó. Chẳng hạn, tôi đã phải
chật vật cả tiếng đồng hồ với cô ả mà tôi sắp kể, cô ả tôi sắp ăn nằm tại khách
sạn, mà vẫn chẳng đi đến đâu, cho tới lúc lão gác thang máy chết rấp ấy mò tới
lôi ả đi. Cuối cùng, trước khi cuốn xéo đi, ả ta thiếu đường muốn nhổ toẹt nước
bọt vào mặt tôi cho hả giận.

Trở lại chuyện
tôi thay xong chiếc áo rồi đi đi lại lại trong phòng chờ cô gái giang hồ nọ mò
lên. Tôi cứ khấn thầm suốt, cầu mong sao cho ả thật kháu khỉnh. Nhưng rồi lại
bất chấp tuốt. Chỉ mong sao mọi chuyện sớm kết liễu cho rảnh nợ đi. Rốt cục rồi
cũng có tiếng gõ cửa phòng. Tôi tiến vội ra mở cửa nhưng lại vấp phải chiếc
vali nằm ngay giữa đường, suýt nữa thì gãy đời nó một cẳng. Số tôi thật hẩm,
toàn chọn những lúc như thế để vấp ngã!

Tôi mở cửa thì
thấy ả giang hồ nọ đã đứng đấy rồi. Đầu không mũ, người choàng một chiếc áo măng-tô
thể thao, tóc sáng màu, nhưng chắc đó là tóc nhuộm. Và chẳng già lão chút nào
hết.

- Xin chào! - Tôi
dùng cái giọng đài các nhất mà mình có được chào ả ta.

- Anh là người
Moris bảo tôi lên gặp? - Ả hỏi, chẳng lấy gì làm niềm nở.

- Ông giữ thang
máy?

- Đúng, - ả đáp.

- Phải, chính
tôi. Cô vào đi! - Giọng tôi rất ỡm ờ, nói có trời chứng giám!

Càng nói, càng ỡm
ờ kinh khủng.

Ả tiến vào, cởi
phăng áo măng tô, vất lên giường. Trên người chỉ còn độc chiếc áo dài xanh. Ả
gieo người đánh phịch xuống chiếc xalông kê sát bên bàn viết, và bắt đầu đung
đưa một bên chân, lúc xuống, lúc lên. Có vẻ hồi hộp, chẳng giống chút nào với
gái bán hoa. Chắc vì ả chỉ là gái mới lớn, quỷ thần ạ. Tuồng như còn ít tuổi
hơn cả tôi. Tôi bèn ngồi xuống chiếc ghế lớn kế bên và, rút thuốc mời ả.

- Tôi không biết
hút, - ả nói, giọng thanh kinh khủng. Nói khẽ nghe cũng rõ ràng. Ả thậm chí
cũng chẳng thèm cảm ơn, khi tôi rộng rãi mời điếu thuốc thơm. Hẳn ả chưa được
ai dạy về chuyện đó.

- Cho phép giới
thiệu, - tôi nói, - tôi là Jim Stale.

- Anh hẳn có đồng
hồ đấy chứ? - Ả nhổ toẹt vào chuyện tôi là Jim hay John - Anh bao tuổi, anh
bạn?

- Tôi ấy à? Hăm
hai.

- Nói dối nhé!

Câu ả nói khiến
tôi sững sờ. Nghe như từ miệng một nữ sinh chính tông chứ chẳng phải từ miệng
đám gái làm tiền trơ tráo: "Bịp đời, đồ quỷ đói!" hoặc: "Thôi
đi, đừng phịa, ranh con!"

- Thế thì cô bao
nhiêu? - Tôi hỏi.

- Anh muốn chừng
nào, được chừng nấy! - ả đáp. Thậm chí mồm mép nữa là khác! - Anh có đồng hồ đấy
không? - Ả hỏi, rồi đứng bật dậy, cởi nốt chiếc áo màu xanh nọ qua đầu, vứt bừa
bên cạnh chiếc áo khoác.

Tôi phát hoảng
khi thấy ả cởi nốt chiếc áo cuối cùng. Tôi biết con trai đứa nào cũng phải thấy
thèm muốn, nhột nhạt hoặc một cảm xúc gì đại để thế, khi được chứng kiến một
thiếu nữ tốc áo, kéo ngược vạt qua đầu. Thế nhưng tôi chẳng hề có một cảm xúc
nào loại đó trước cảnh tượng xảy ra kia. Trái lại tôi chỉ thấy bối rối và cụt
hứng.

- Anh có đồng hồ đấy
chứ?

- Không, không,
tôi không mang theo. - Tôi đáp ngay. Trời, tôi thấy lúng túng kinh khủng! - Cô
tên gì? - Tôi hỏi. Trên thân thể ả chỉ còn trơ một chiếc áo lót cánh sen. Lúng
túng kinh khủng.

- Sunny, - ả đáp
nhanh. - Thôi, mau lên nào, để người ta còn đi làm ăn nữa…

- Thế cô không
muốn trò truyện chút đỉnh trước khi vào cuộc? - Đến là trẻ nít, dĩ nhiên. Nhưng
khốn nỗi tôi cứ rối tung cả đầu. - Việc gì cô lại phải hấp tấp vậy? Ả nhìn tôi,
như nhìn một gã hoá rồ.

- Nhưng biết nói
chuyện gì bây giờ? - Ả hỏi.

- Tôi cũng chẳng
biết nữa. Chỉ muốn trò chuyện chốc lát. Tôi nghĩ, chắc cô cũng thích vậy.

Ả lại gieo người
xuống chiếc ghế bên bàn. Nhưng trông cũng biết ả chẳng thích thế. Lại đung đưa
chân, đích thị là một cô ả nóng nảy.

- Chắc cô thích
hút thuốc? - Tôi hỏi. Quên biến là ả vừa bảo không biết hút.

- Tôi có biết hút
đâu. Này, nếu anh có chuyện cần nói, thì nói nhanh đi, tôi nghe đây. Chứ tôi ít
thì giờ lắm.

Nhưng khốn nỗi
tôi không còn biết nói gì hơn với ả. Tính tôi hỏi ả sao lại đi làm gái giang
hồ; nhưng lại sợ ả khùng lên. Mà dù không nổi khùng, thì chắc gì ả đã chịu tâm
sự.

- Cô hình như
chẳng phải người New York? - Tôi chẳng còn nghĩ được chuyện gì thú vị hơn.

- Đúng, tôi quê
tận Hollywood kia, ả nói. Rồi đứng dậy, bước lại giường cạnh chỗ chiếc áo dài
đang vứt chơ chỏng. - Anh còn chiếc mắc áo nào rảnh rỗi không nhỉ? Kẻo áo tôi
lại nhàu nát mất bây giờ. Tôi vừa lấy đằng hiệu giặt là về xong.

- Có chứ, dĩ
nhiên.

Tôi mừng quýnh
bởi có việc để làm. Tôi cầm ngay chiếc áo lên lồng vào một cái mắc trong tủ. Kể
cũng lạ, nhưng chẳng hiểu sao tôi bỗng thấy buồn quá khi treo giúp ả chiếc áo
dài. Tôi hình dung cảnh ả ghé vào đó là gái ăn sương. Người bán áo chắc nghi ả
là con gái nhà lành, đi mua sắm. Buồn kinh khủng, mà chẳng hiểu tại sao.

Rồi tôi lại ngồi
xuống ghế, cố khơi chuyện. Nhưng gặp một cô gái như ả, mời các bạn cứ thử trò
chuyện?

- Tối nào cô cũng
phải đi làm cả sao? - tôi hỏi tiếp, và thấy ngay câu vừa hỏi là thất sách.

- Ừ - m, - ả đáp
giữa lúc đang đi tới đi lui trong phòng. Rồi ả cầm tờ thực đơn lên lẩm nhẩm đọc
chơi.

- Thế ban ngày
thì cô làm gì?

Ả nhún vai. Đôi
vai gầy, ngọn hoắt.

- Ngủ. Đi xem
chiếu bóng. - Ả đặt tờ thực đơn xuống, rồi ngước nhìn tôi -

Này, sao anh cứ đà
đận mãi vậy? Tôi chẳng có nhiều thời giờ để mà cà kê dê ngỗng với anh…

- Mong cô hiểu
cho… Tôi cảm thấy hơi khó ở trong người. Suốt ngày hôm nay, tôi toàn vướng phải
chuyện rất dở. Nói có trời làm chứng. Nhưng tôi sẽ trang trải mọi thứ cho cô.
Chỉ xin cô đừng bực mình, nếu ta không làm chuyện đó. Cô không bực mình chứ?

Khốn khổ cho tôi
là tôi chẳng thấy tí chút hứng thú nào. Thực thà mà nói, tôi đang bị xâm chiếm
bởi nỗi buồn bã, chứ chẳng phải sự thèm muốn. Ả khiến tôi buồn rầu rĩ. Nhất là
lúc nhìn thấy chiếc áo dài màu xanh lục treo trong tủ. Vả lại, làm sao vui thú
nổi với một kẻ suốt từ sáng tới tối cứ ngồi lì trong các rạp chiếu bóng ngu
xuẩn và mê mải xem phim? Ai chẳng biết, chứ phải thú thực tôi là xin hàng đấy.

Ả bước tới và
ngước nhìn tôi với ánh mắt kỳ dị, như thể không còn tin nổi mắt mình.

- Sao vậy, anh
bạn? - Ả hỏi.

- Chả sao cả, -
tôi đáp. Và tới lượt tôi phát hoảng. - Nhưng của đáng tội, tôi vừa mới mổ xong.

- Thế à? Thế anh
có bị cắt mất thứ gì không, hả?

- Chính thế đấy -
bị cắt mất một thứ gọi là clavicorde!

- Thật chứ? Thế
thứ đó nó nằm ở đâu trong người?

- Cái clavicorde
ấy à? Ồ, cô biết đấy, thứ ấy vốn nằm rất sâu, tận đáy tuỷ sống kia. Sâu lắm, cô
biết đấy, tít trong tiểu não.

- Thế hả? Thế thì
phiền thật! - Rồi thình lình ả ngả người, sà vào tôi. - Kể ra anh ngộ thật đấy!
Tôi phát hoảng. Nên lại nói dối tràn lan.

- Tôi vẫn chưa
bình phục hẳn, - tôi bảo.

- Anh trông giống
một diễn viên điện ảnh quá đi mất. Anh biết chứ? Sao không nhớ à? Anh phải biết
chứ, tên anh ta là gì ấy nhỉ anh chàng tài tử ấy mới phải chứ nhỉ.

- Chịu, tôi không
tài nào nhớ nổi. Thực tình, tôi gần như chẳng đi xem phim bao giờ… Nghe câu ấy,
ả lập tức phá lên cười. Dáng điệu trông sỗ sàng hết chỗ nói.

- Thôi đi, tôi
van cô. Tôi đang thấy mệt trong người. Tôi vừa bảo cô ấy: Tôi mới bị mổ.

Thế nhưng ả vẫn chẳng chịu đứng dậy, mà còn lườm tôi, hai
mắt long lên sòng sọc.

- Này, nghe tôi bảo đây: tôi đã ngủ rồi, nhưng lão Moris quỷ
sứ cứ một hai lôi

tôi dậy, bắt đi. Nếu anh mà giở…

- Thì tôi đã bảo sẽ trả tiền sòng phẳng rồi còn gì! Tiền,
tôi hiện còn cả đống,

chứ có nghèo túng gì cho cam. Ác cái tôi vừa bị mổ, nên chưa
lại sức hẳn.

- Đã thế sao còn mở mồm bảo lão Moris ngu ngốc là đang cần
gái, hả? Nếu đã bị cắt mất cái của nọ gì đó… trong tuỷ sống… thì còn sai hắn đi
kiếm làm gì?

- Tôi tưởng sức khỏe sẽ khấm khá lên. Nào ngờ chỉ hy vọng
hão huyền. Tôi nói tử tế đấy. Cô đừng giận. Bây giờ, cô làm ơn đứng dậy một
phút! Nào…

Ả lồng lộn như con quỷ cái, nhưng rồi vẫn đứng dậy, để tôi
chạy đi lấy chiếc ví, vất trong cái tủ đứng đằng góc phòng. Rồi tôi rút ví, lôi
ra năm tờ, trao tận tay.

- Cảm ơn - tôi nói - Đa tạ, cô bạn.

- Sao đây có 5? Giá những 10 "đô" kia mà.

Trông cũng biết ả đang tính giở quẻ. Tôi đã lo từ ban nãy,
biết tỏng thế nào rồi cũng gặp chuyện tương tự.

- Lão Moris bảo: chỉ 5 "đô" thôi. Lão nói: 15 -
thì suốt đêm, còn chốc lát - chỉ

5 "đô" là cùng.

- Không, giá cả xưa nay vẫn là 10.

- Lão chỉ bảo 5 thôi. Nói cô bỏ quá, chứ tôi không thể nào đưa
hơn cái mức đó. Ả lại nhún vai, nhưng lần này đầy vẻ khinh bỉ.

- Làm ơn lấy giúp tôi cái áo. Nếu anh không thấy quá vất vả,
dĩ nhiên!

Một cô ả thật xấu. Nói năng thì thánh thót, mà hay cáu gắt
kinh khủng. Giá là một mụ già phì nộn, mặt trát bự phấn, chắc ả chẳng đến nỗi
bẳn tính thế! Tôi lôi chiếc áo dài lụa ra. Ả thong thả mặc vào, rồi cầm nốt
chiếc măngtô trên giường.

- Thôi, anh bạn ngốc, tôi chuồn nhé!

- Đi nhé! - tôi nói. Tôi cũng chẳng buồn cảm ơn. Cũng may là
tôi đã chẳng cảm ơn…

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.