Đôn Kihôtê (Tập 1) - Chương 41 phần 2

Đi được ba
chục hải lý thì trời sáng và thuyền chúng tôi chỉ cách đất liền có ba tầm súng
hỏa mai, trên bờ vắng vẻ, không sợ bị ai phát hiện. Lúc này biển đã lặng, chúng
tôi cố bơi thuyền ra ngoài khơi; khi đã cách bờ được gần hai dặm, chúng tôi bảo
các tay chèo thay phiên nhau nghỉ để ăn uống vì trong thuyền có mang theo đầy
đủ lương thực, nhưng họ đáp là chưa phải lúc nghỉ tay, người nào không phải
chèo cứ việc ăn trước, còn họ không muốn buông mái chèo; chúng tôi đồng ý. Bỗng
có gió to nổi lên buộc chúng tôi phải hạ chèo để giương buồm đi về phía Ôran vì
không thể bơi theo hướng nào khác được. Chúng tôi nhanh chóng kéo buồm lên và
thuyền đi được trên tám hải lý một giờ. Lúc này chỉ còn một nỗi lo là gặp phải
tàu vũ trang đi biển. Chúng tôi cho những người Môrô ăn; Người chối Chúa an ủi
họ, bảo họ không phải là những người tù, khi nào có điều kiện sẽ thả ngay. Anh
cũng nói như vậy với cha Dôraiđa nhưng ông này đáp:

- Hỡi những
người Kitô giáo kia! Ta trông chờ gì vào sự độ lượng và thiện chí của các người!
Chớ cho ta là một kẻ quá khờ dại nghĩ rằng các người sẽ trả lại tự do cho. Các
người đã phải liều mạng bắt ta đi thì các người sẽ không thả ta ra một cách dễ
dàng đâu, nhất là các người lại biết ta là ai và thấy rằng có thể kiếm được một
món lời. Nếu các người định đặt giá, ta xin nộp tất cả những gì các người muốn
để chuộc lại tự do cho ta và cho đứa con gái bất hạnh của ta hoặc nếu không
được thì chỉ cần cho đứa con gái này thôi vì nó là phần to lớn và tốt đẹp nhất
của linh hồn ta.

Nói rồi, ông
khóc lóc thảm thiết khiến tất cả chúng tôi đều mủi lòng; Dôraiđa cũng phải
ngửng mặt lên nhìn. Khi thấy cha khóc lóc như vậy, nàng cầm lòng không đậu,
đứng lên và tới ôm Ahi Môratô, áp mặt mình vào mặt cha, rồi cả hai cha con cùng
nức nở khóc khiến trong bọn chúng tôi có nhiều người cũng khóc theo. Khi nhìn
thấy con gái mình ăn mặc sang trọng, nữ trang đầy người, ông ta hỏi:

- Sao lại thế
này, con gái ta? Tối qua, trước khi xảy ra nỗi bất hạnh khủng khiếp cho cha con
ta, ta thấy con vẫn áo quần bình thường, vậy mà lúc này, mặc dù con không có đủ
thời giờ để trang điểm và ta cũng không mang lại cho con một tin gì đáng phải
ăn mừng, cớ sao ta thấy con khoác trên người những áo quần đẹp nhất mà ta đã
sắm cho con khi cha con ta còn sống những ngày tươi đẹp yên lành? Hãy trả lời
ta đi vì việc này còn làm ta kinh ngạc, hãi hùng hơn cả tai họa mà ta đang gặp
phải.

Người chối
Chúa dịch lại cho tôi nghe tất cả những lời Ahi Môratô nói với con gái, trong
khi đó Dôraiđa lặng yên không đáp. Khi nhìn thấy ở một góc chiếc hòm mà con gái
mình vẫn dùng để cất đồ nữ trang, lại biết rằng chiếc hòm đó xưa nay vẫn để ở
Arhêl chứ không mang đến khu vườn, ông ta càng sửng sốt vội hỏi Dôraiđa nguyên
nhân vì sao chiếc hòm lại lọt vào tay chúng tôi và ở trong đó có gì. Không chờ
Dôraiđa trả lời, Người chối Chúa đáp:

- Xin ngài chớ
mất công hỏi con gái mình ngần ấy câu vì chỉ cần tôi trả lời một câu, ngài sẽ
rõ hết chuyện. Xin thưa với ngài rằng cô ta đã là một người Ki-tô giáo và chính
cô ta đã phá tung xiềng xích mang lại tự do cho cuộc đời tù đày của chúng tôi.
Theo tôi hiểu, cô ta xuống thuyền này ra đi một cách tự nguyện, vui vẻ, cảm
thấy mình như một người đang từ trong bóng tối ra ngoài ánh sáng, từ cõi chết
trở về cuộc sống, từ tối tăm đến với vinh quang.

- Những điều
người này nói có đúng không, hả con gái ta? Ahi Môratô hỏi.

- Đúng ạ,
Dôraiđa đáp.

- Vậy ra con
đã là một người Kitô giáo và chính con đã nộp ta cho kẻ thù ư?

- Vâng, con là
một người Kitô giáo, nhưng con không phải là kẻ đẩy cha vào tình cảnh này vì
lòng dạ con không bao giờ muốn rời bỏ cha hoặc làm hại cha cả; con chỉ muốn làm
một điều tốt cho con thôi.

- Thế điều tốt
đó của con là gì?

- Xin cha hãy
hỏi Lêla Mariên, Người sẽ nói cho cha hiểu rõ hơn.

Vừa
nghe thấy vậy, nhanh như chớp, Ahi Môratô lao đầu xuống biển; may sao bộ áo
quần lụng thụng của ông làm cho người ông nổi lên mặt nước, nếu không, chắc ông
đã chết đuối rồi. Dôraiđa kêu ầm yêu cầu vớt cha mình lên. Chúng tôi xô tới,
túm lấy áo, kéo lên; Ahi Môratô bị sặc nước, bất tỉnh nhân sự. Xót xa trong
lòng, Dôraiđa khóc lóc thảm thiết như thể cha mình đã chết rồi vậy. Chúng tôi
dốc ngược ông ta xuống làm ông ta nôn ra rất nhiều nước và chừng hai tiếng sau
thì tỉnh. Trong thời gian đó, gió quay chiều buộc chúng tôi phải men theo bờ,
và chúng tôi phải ra sức chèo để thuyền khỏi giạt vào đất liền. May sao, thuyền
tới một chỗ đậu kề sát một mỏm đất nhỏ mà người dân Môrô gọi là mũi Cava Rumia,
có nghĩa là Người đàn bà Kitô giáo xấu xa. Dân Môrô kể lại rằng Cava, người đã
gây ra sự suy sụp của nước Tây Ban Nha, được chôn tại đây và, theo tiếng Arập,
cava có nghĩa là người đàn bà xấu xa, còn rumia nghĩa là Kitô giáo. Một khi bắt
buộc phải đậu thuyền tại đây, họ coi đó là một điểm gở, và chỉ khi nào thật cần
thiết họ mới chịu đỗ lại. Đối với chúng tôi, đây không phải là chỗ trú chân của
người đàn bà xấu xa mà là một bến đậu thuyền rất chắc chắn trong lúc sóng to
gió cả này. Chúng tôi cắt người canh gác trên bờ, và tay vẫn nắm mái chèo,
chúng tôi lấy lương thực do Người chối Chúa mua, mang ra ăn. Rồi với tất cả tấm
lòng thành kính, chúng tôi cầu Chúa và Đức Mẹ giúp đỡ phù hộ cho mọi người kết
thúc thắng lợi chuyến đi đã được mở đầu một cách may mắn này. Theo lời cầu khẩn
của Dôraiđa, chúng tôi chuẩn bị đưa cha nàng và những người Môrô bị trói lên
bờ, vì nàng không đủ can đảm và bụng dạ nào nhìn thấy cha mình bị trói và những
người đồng chủng bị bắt làm tù nhân. Chúng tôi hứa sẽ thi hành ngay trước khi
thuyền rời bến vì thả họ ra ở một nơi vắng vẻ như thế này không có gì nguy hiểm
nữa. Những lời cầu nguyện của chúng tôi không uổng và đã thấu tới trời. Mặt
biển lại êm ả, như khuyến khích chúng tôi hãy vui vẻ tiếp tục cuộc hành trình.
Chúng tôi cởi trói cho những người Môrô và thả từng người một lên bờ khiến họ
rất ngạc nhiên; khi đến lượt cha Dôraiđa, lúc này đã hoàn toàn trở lại tỉnh
táo, ông ta nói:

- Hỡi những
người Kitô giáo, tại sao các người lại nghĩ rằng đứa con gái xấu xa này vui
mừng vì các người trả lại tự do cho ta? Các người tưởng rằng nó hiếu thảo với
ta ư? Không đâu, nó muốn thế chỉ vì sự có mặt của ta ngăn trở không cho nó thực
hiện được những ý đồ xấu xa mà thôi. Các người đừng nghĩ rằng nó thay đổi tín
ngưỡng vì cho rằng tôn giáo của các người hay ho hơn tôn giáo của chúng ta mà
vì nó biết rằng trên đất nước của các người, những hành động bất nhân bạc ác
được dung túng hơn ở nước ta.

Trong lúc Ahi
Môratô nói, tôi và một người nữa phải giữ chặt hai cánh tay ông, sợ xảy ra
chuyện chẳng lành. Ông ta quay về phía Dôraiđa nói tiếp:

- Hỡi đứa con
gái xấu xa và dại dột kia! Mi mờ mắt và mất trí rồi sao mà đi theo lũ chó thù
địch của chúng ta? Ta nguyền rủa ngày giờ ta đã sinh ra mi, ta nguyền rủa công
lao chăm sóc nuôi nấng của ta đối với mi!

Thấy Ahi
Môratô còn muốn nói nữa, chưa chịu thôi, tôi vội đưa ông lên bờ. Thuyền đi rồi
nhưng ông vẫn tiếp tục nguyền rủa, than vãn, cầu Mahôma hãy kêu gọi thánh Ala hủy diệt chúng tôi
và làm cho chúng tôi nhục nhã khốn khổ. Thuyền giương buồm lên và dần dần xa
bờ; chúng tôi không nghe thấy lời nữa nhưng nhìn thấy ông ta bứt hết râu tóc và
lăn lộn ra đất; có một lúc ông ta gào to đến nỗi chúng tôi nghe được rất rõ ông
ta kêu:

- Hãy trở lại,
con gái yêu của ta, hãy trở lại đây, ta sẽ tha thứ hết! Hãy trao cho những
người đó tất cả của cải mà ta coi như đã thuộc về họ rồi. Hãy trở lại an ủi
người cha đau khổ của con. Nếu con bỏ ta thì ta cũng sẽ bỏ mạng trên bãi cát
hoang vắng này.

Nghe cha gọi,
Dôraiđa buồn rầu khóc lóc, nàng chỉ biết nói với cha:

- Cha ơi, cầu
thánh Ala
phái Lêla Mariên đến an ủi cha trong phút giây đau buồn này. Chính Lêla Mariên
đã bảo con theo đạo Ki-tô và chính Ala
biết rằng con không thể nào làm khác được. Những người Ki-tô giáo trên thuyền
này không hề ép buộc con. Dù con không chịu đi theo họ và cứ ở lại nhà thì điều
đó cũng không thể xảy ra được vì lòng con đã quyết thực hiện điều mong ước
chính đáng của con tuy cha thân yêu coi đó là xấu xa.

Dôraiđa nói
nhưng cha nàng đâu có nghe được vì chúng tôi không nhìn thấy bóng ông đâu nữa.
Trong lúc tôi an ủi vỗ về nàng, mọi người vẫn tiếp tục cuộc hành trình. Gió
thổi xuôi và chúng tôi đều tin là sáng hôm sau sẽ nhìn thấy bến bờ nước Tây Ban
Nha. Thế nhưng, xưa nay không bao giờ hoặc ít khi hạnh phúc đến với con người
ta một cách trót lọt dễ dàng mà thường kèm theo một trắc trở, tai họa gì đó. Có
lẽ số phận của chúng tôi muốn như vậy hoặc giả những lời nguyền rủa của Ahi
Môratô đã có hiệu lực chăng, vì những lời nguyền của bất cứ một người cha nào
đều đáng sợ cả. Vào khoảng ba giờ sáng, thuyền đang băng băng rẽ sóng, buồm
căng phồng, mái chèo gác lên không cần hoạt động vì gió thuận, bỗng đâu dưới
ánh trăng sáng tỏ hiện ra ở phía trước con thuyền của chúng tôi một chiếc tàu,
buồm hình vuông giương thẳng, thân tàu hơi nghiêng về một bên. Tàu đi rất gần
khiến chúng tôi phải vội cuốn buồm để khỏi va phải; con tàu cũng lái tránh ra
để nhường đường cho chúng tôi. Trên tàu có tiếng người hỏi chúng tôi là ai, đi
đâu và từ đâu tới; thấy hỏi bằng tiếng Pháp, Người chối Chúa bảo chúng tôi:

- Đừng ai trả
lời, bọn này đúng là bọn cướp biển Pháp, chúng không tha ai đâu.

Theo lời của
Người chối Chúa, không ai đáp cả. Thuyền chúng tôi tiến lên bỏ lại con tàu ở
phía sau. Bỗng dưng hai phát đại bác nổ, có lẽ bắn liên tiếp thành thử một phát
cắt ngang cột buồm thuyền chúng tôi, cả cột lẫn buồm văng xuống biển; phát thứ
hai trúng vào giữa thân thuyền, phá toác ra, may không ai việc gì. Thấy thuyền
sắp chìm, chúng tôi vội cầu cứu những người ở trên tàu vớt lên để khỏi chết
đuối. Họ dừng tàu lại, vứt xuống biển một chiếc xuồng, rồi có mười hai người
Pháp nhảy xuống mang theo cả súng hỏa mai và mồi lửa. Thấy chiếc thuyền chìm
xuống nước và chúng tôi chỉ có ít người, họ cho chúng tôi lên xuồng, bảo rằng
vì chúng tôi bất nhã không trả lời họ nên mới xảy ra chuyện thế này. Người chối
Chúa lẳng lặng cầm chiếc hòm của cải của Dôraiđa quẳng xuống biển, không để cho
ai nhìn thấy. Chúng tôi lên tàu. Bọn Pháp hỏi chúng tôi tất cả những điều chúng
muốn biết, rồi như những kẻ tử thù, chúng lột hết quần áo tiền nong của chúng
tôi, kể cả đôi vòng chân của Dôraiđa khiến nàng rất buồn phiền; riêng tôi không
buồn vì chuyện đó mà chỉ lo sau khi chúng đã lột hết những đồ trang sức quý giá
của nàng, chúng sẽ lột một vật quý nhất mà nàng vẫn nâng núi. Cũng may bọn này
chỉ biết đến tiền mà thôi, nhưng lòng tham lam của chúng thì thật vô độ vì
chúng có thể lột cả những bộ quần áo tù của chúng tôi nếu thấy có lợi. Một số
trong bọn chúng có ý kiến là nên quấn cả bọn tôi vào một tấm buồm rồi vứt xuống
biển cho mất tăm vì tàu của chúng đang trên đường tới một hải cảng Tây Ban Nha
để buôn bán dưới danh nghĩa là một tàu buôn Pháp; nếu chúng để bọn tôi sống thì
sẽ lộ và bị trừng trị. Nhưng tên thuyền trưởng - kẻ đã tước đoạt hết của cải
của nàng Dôraiđa yêu dấu của tôi - cho rằng làm một mẻ như thế cũng đủ rồi,
không cần tới một cảng nào ở Tây Ban Nha nữa mà có thể ngay trong đêm vượt eo
biển Hibraltar trở về bến xuất phát là La Rôchêla; tất cả tán thành. Ngày hôm
sau, chúng cấp cho bọn tôi một chiếc thuyền con có trang bị đủ để đi nốt quãng
đường ngắn ngủi còn lại vì lúc này, đất Tây Ban Nha đã hiện ra phía xa. Nỗi
mừng tìm thấy tự do làm chúng tôi quên hết mọi buồn phiền, như thể không có
chuyện gì xảy ra vậy.

Vào khoảng
giữa trưa, bọn Pháp thả chúng tôi xuống chiếc thuyền con, lại cấp cho hai thùng
nước ngọt và một ít bánh khô; riêng tên thuyền trưởng - chẳng hiểu có phải vì
nó ái ngại cho nàng Dôraiđa xinh đẹp hay không - đã tặng nàng tới bốn mươi đồng
tiền vàng khi nàng rời tàu Pháp; y còn cấm không cho lâu la lột bộ y phục nàng
đang mặc bây giờ. Chúng tôi cảm ơn lòng tốt của chúng, tỏ ra biết ơn hơn là oán
trách, rồi chúng tôi xuống thuyền. Chiếc tàu Pháp xa dần đi về phía eo biển,
còn bọn tôi cứ hướng theo phía đất liền trước mặt ra sức chèo. Lúc mặt trời sắp
lặn thì thuyền của chúng tôi đã gần bờ lắm rồi và mọi người đều tin là có thể
lên bờ trước đêm. Hôm đó không có trăng, trời lại tối mà chúng tôi thì chẳng
biết thuyền mình đang bơi ở chỗ nào, cho nên nếu cập bến e bất lợi. Tuy nhiên
đa số có ý kiến là cứ bơi vào dù trong bờ là vùng núi đá hay không có người
cũng không sao. Theo ý họ, làm như vậy sẽ không lo chạm trán bọn cướp biển ở
Têtuan, bọn này thường xuất phát từ Berbêria lúc đêm, tảng sáng tới bờ biển Tây
Ban Nha, cướp bóc xong xuôi lại quay trở về nhà nghỉ ngơi. Qua những ý kiến
trao đi đổi lại, chúng tôi quyết định cứ bơi vào từ từ, và nếu biển lặng, chúng
tôi sẽ tùy tình hình mà lên bờ. Mọi người đồng ý. Vào lúc gần nửa đêm, thuyền
của chúng tôi tới chân một quả núi cao chót vót, hình thù kỳ dị, ở cách mặt
biển một chút khiến chúng tôi có thể đổ bộ dễ dàng. Thuyền giạt vào bãi cát,
chúng tôi đặt chân lên bờ, quỳ xuống hôn mặt đất, mừng mừng tủi tủi cảm tạ
Thượng đế đã ban cho một niềm hạnh phúc không gì so sánh nổi. Chúng tôi lấy số
lương thực còn lại trong thuyền, kéo thuyền lên bờ rồi cả bọn rút lên núi; tới
giờ phút này, chúng tôi vẫn chưa yên lòng, không hiểu khoảng đất dưới chân mình
có thật là đất Ki-tô giáo hay không.

Tôi cảm thấy
trời sáng chậm hơn mọi ngày. Chúng tôi leo lên tận đỉnh núi để tìm xem có làng
xóm hay lều trú của những người chăn cừu không. Nhìn căng mắt vẫn chẳng thấy
làng mạc, bóng người hay đường đi lối lại đâu. Chúng tôi quyết định đi sâu vào
đất liền để có thể gặp người mà hỏi han tình hình. Điều làm tôi áy náy nhất là
thấy Dôraiđa phải đi bộ trên quãng đường gồ ghề này; có lúc tôi cõng nàng,
nhưng nhìn tôi vất vả, nàng cảm thấy còn mệt hơn đi bộ và vì thế nàng không
chịu cõng, cứ cắn răng nắm tay tôi mà đi một cách vui vẻ. Mới đi được một đoạn
đã nghe có tiếng chuông chứng tỏ đâu đấy có đàn cừu; chúng tôi chăm chú nhìn
thì thấy dưới chân một cây sồi điển điển có một chàng chăn cừu đang mải mê dùng
dao vót gậy. Chúng tôi gọi to; anh ta ngửng đầu và đứng dậy. Như về sau anh ta
kể lại, thoạt nhìn thấy Người chối Chúa và Dôraiđa ăn mặc theo kiểu Môrô, anh
ta ngỡ là bọn cướp ở Berbêria tới, vội chạy tuột vào khu rừng trước mặt hô hoán
ầm lên:

- Bọn Môrô,
bọn Môrô tới! Có bọn Môrô! Chiến đấu, chiến đấu!

Thấy anh ta
kêu, chúng tôi lúng túng không biết xử trí ra sao. Biết rằng những tiếng kêu sẽ
báo động mọi người và đội kỵ binh bờ biển sẽ kéo tới, chúng tôi bảo Người chối
Chúa cởi bộ y phục Môrô và hãy mặc chiếc áo tù của một người trong bọn, để anh
này mặc chiếc sơ-mi còn lại cũng được; rồi, vừa cầu Chúa phù hộ, chúng tôi lần
theo con đường của anh chàng chăn cừu vừa đi, chờ đội kỵ binh tới. Chúng tôi
đoán không sai. Đi được chừng hai tiếng đồng hồ, vừa ở trong rừng ra tới đồng
bằng thì thấy có năm chục kỵ binh đang phi nhanh tới. Nhìn thấy họ, chúng tôi
dừng lại chờ. Tới nơi, chẳng thấy bọn cướp Môrô đâu mà chỉ gặp một đám người
Ki-tô giáo quần áo tả tơi, một người trong đội kỵ binh bèn hỏi có phải vì chúng
tôi mà anh chăn cừu nọ đã kêu cứu ầm ĩ không. Tôi đáp: "Phải". Tôi
chưa kịp lên tiếng kể lại sự tình và giới thiệu bọn tôi là ai, từ đâu tới, thì
một người trong bọn tôi nhận ra người kỵ binh và nói:

- Cảm tạ
Thượng đế đã dẫn chúng ta tới nơi đất lành này! Nếu tôi không nhầm, mảnh đất
trên đó chúng ta đang đứng là miền Vêlêx Malaga, và nếu những năm tháng tù đày
chưa làm cho tôi quên con người đang nói chuyện với chúng tôi thì ngài chính là
Pêđrô đê Buxtamantê, chú ruột tôi.

Anh ta vừa dứt
lời, người kỵ binh vội nhảy xuống ngựa chạy lại ôm hôn và nói:

- Cháu yêu quý
của lòng ta và của cả đời ta, ta nhận ra cháu rồi; ta, chị ta tức là mẹ cháu,
và tất cả những người thân của cháu đều buồn phiền vì tưởng cháu đã qua đời.
Gia đình cháu còn cả và Chúa đã để cho họ làm người để ngày nay được hạnh phúc
gặp lại cháu. Gia đình được tin cháu ở Arhêl, nay nhìn áo quần của cháu cũng
như của tất cả mọi người ở đây, ta đoán rằng cả đoàn đã giành lại tự do một
cách kỳ diệu.

- Đúng như vậy
đấy ạ; chúng cháu sẽ có thời giờ kể đầu đuôi câu chuyện cho chú nghe.

Khi biết chúng
tôi là tù nhân Ki-tô giáo trở về, tất cả đội kỵ binh nhảy xuống đất và mời
chúng tôi lên ngựa để đưa về tỉnh Vêlêx Malaga ở cách đó một dặm rưỡi đường.
Theo lời chúng tôi chỉ dẫn, một số kỵ binh đi ra bờ biển khiêng chiếc thuyền
con về tỉnh, còn chúng tôi leo lên ngựa ngồi ghép đằng sau, riêng Dôraiđa được
ngồi con ngựa của ông chú người tù. Dân chúng trong tỉnh đã được một người kỵ
binh về trước báo tin, kéo ra đón chúng tôi. Họ không ngạc nhiên thấy có những
người Kitô giáo trở về hoặc có những người từ Môrô tới vì đã thường gặp những
cảnh tương tự ở vùng bờ biển này, nhưng họ rất ngạc nhiên trước nhan sắc của
Dôraiđa. Quả thật trông nàng lúc này đẹp tuyệt vời; nỗi nhọc nhằn dọc đường
cộng với niềm vui thấy mình đã chắc chắn đặt chân lên đất Kitô giáo làm cho
khuôn mặt nàng rực lên những ánh sắc tươi đẹp, và nếu như không phải do tình
yêu làm mù quáng, tôi dám nói là trên đời này không có ai đẹp hơn nàng, ít nhất
tôi cũng chưa gặp một người nào đẹp như vậy.

Chúng tôi đi
thẳng tới nhà thờ để tạ ơn Chúa. Vào trong nhà thờ, Dôraiđa nói là có nhiều
hình ảnh giống như Lêla Mariên. Chúng tôi bảo nàng rằng đó chính là hình ảnh
Lêla Mariên; Người chối Chúa cũng ra sức giải thích thêm để nàng hiểu rằng mỗi
hình ảnh đó đều tượng trưng cho Lêla Mariên mà nàng vẫn tôn thờ. Vốn dĩ thông
minh và nhận thức nhanh, Dôraiđa nghe ra ngay. Sau đó, chúng tôi được đưa về
nghỉ tại các nhà dân; người tù có ông chú trong đội kỵ binh đưa Người chối
Chúa, Dôraiđa và tôi về nhà bố mẹ anh ta là một gia đình khá giả, và chúng tôi
được tiếp đãi ân cần như con cái trong nhà.

Chúng tôi nghỉ
lại ở Vêlêx Malaga sáu ngày; Người chối Chúa, sau khi dò hỏi được tình hình, đi
Granađa và trở lại Thánh hội sau khi đã chịu sự thẩm sát của tôn giáo pháp
đình; những người khác cũng đi mỗi người mỗi phương tùy theo yêu cầu riêng từng
người. Còn lại Dôraiđa và tôi với trong túi bốn chục đồng tiền vàng mà viên
thuyền trưởng đã có nhã ý tặng cho Dôraiđa. Với số tiền đó, tôi mua con lừa mà
nàng vừa cưỡi tới đây; cho tới giờ, tôi đã chăm sóc nàng như một người cha và
một người giám mã, chưa dám nghĩ nàng đã là vợ tôi. Mục đích của tôi là đi tìm
xem cha tôi có còn sống không, các em tôi có gặp may hơn tôi không, mặc dù trời
kia đã đem lại cho tôi một người bạn đường như Dôraiđa khiến tôi không còn cầu
mong một số phận nào khác dù tốt đẹp đến mấy chăng nữa. Trên đường, Dôraiđa đã
nhẫn nại chịu đựng mọi gian lao thiếu thốn và tỏ vẻ tha thiết muốn sớm trở
thành một người Ki-tô giáo khiến tôi phải khâm phục và sẵn sàng phụng sự nàng
suốt đời. Tuy nhiên, trong lúc mừng vui thấy mình và Dôraiđa sẽ hưởng hạnh phúc
bên nhau, có một ý nghĩ khiến tôi không khỏi băn khoăn: một khi về tới quê nhà,
liệu tôi có tìm được một nơi cho Dôraiđa nương thân không? Liệu thời gian và sự
chết chóc có mang lại những biến cố gì ghê gớm cho nhà cửa, gia đình tôi không?
Và một khi cha tôi và các em tôi chết cả rồi, liệu có ai còn nhận ra tôi không?

Thưa các ngài,
tôi không còn điều gì kể nữa. Câu chuyện có ly kỳ lý thú hay không, dám mong
các ngài sáng suốt nhận xét cho; chỉ xin thưa rằng tôi còn muốn kể vắn tắt hơn
mặc dù tôi đã lược bớt nhiều chi tiết để khỏi rườm tai các ngài.

Báo cáo nội dung xấu