Cuộc Lữ Hành Kỳ Diệu Của Nilx Holyerxon Qua Suốt Nước Thụy Điển - Chương IX - X

Chương IX: Cảng Karlsrôna

Thứ bảy, 2 tháng Tư

Ở Karlsrôna một tối có trăng. Đẹp trời và yên tĩnh, nhưng ban ngày một cơn bão đã nổi lên; trời có mưa, người trong thành phố nghĩ rằng chắc thời tiết vẫn còn xấu, vì chẳng có một ai đi ra ngoài phố cả.

Thành phố cảng tưởng chừng hoang vắng khi Akka và đàn ngỗng đến. Đã khuya rồi, và ngỗng đi tìm một chỗ trú chắc chắn trong các đảo. Chúng không dám ở lại trên đất liên, sợ Xmirrê, con cáo.

Đàn ngỗng bay rất cao, và Nilx ngắm biển và đảo bên dưới, thấy mọi thứ có vẻ hư ảo, huyễn hoặc. Trời xanh nữa, và như một cái chuông thủy tinh màu xanh lục úp lên mặt đất, mặt biển trắng như sữa. Nhìn xa tới đâu cũng thấy cuồn cuộn những sóng nhỏ ban đầu. Ở giữa tất cả màu trắng ấy, những hòn đảo rất đông, đứng trước bờ biển, tựa hồ màu đen.

Đêm đó Nilx đã tự hứa phải dũng cảm, nhưng bỗng chú trông thấy một vậy gì làm chú khiếp sợ. Đó là một hòn đảo đá cao, phủ những khối vuông to tướng; giữa những khối ấy có không biết bao nhiêu hạt vàng gieo rắc xuống. Chú liền nghĩ đến hòn đá của Maglê ở Trôllê-Lyungbuy mà thỉnh thoảng các yêu lùn giương lên trên những cột cao bằng vàng. Đây phải là một cái gì như loại ấy. Nhưng cái làm chú sợ hơn nhiều là trông thấy không biết bao nhiêu vật kỳ quái khác, nhưng chú bé hiểu rằng đó là những yêu lùn dưới biển đang tụ tập nhau để tấn công hòn đảo. Thật vậy, trên chóp đảo, một ông khổng lồ đang đứng thẳng dang hai cánh tay thất vọng lên trời.

Nilx lại càng sợ hơn nữa khi thấy đàn ngỗng bắt đầu hạ xuống. "Không, không, đừng xuống đấy! Đừng xuống đấy!", chú kêu lên.

Nhưng đàn ngỗng không hề để ý đến tiếng kêu của chú, và chẳng mấy chốc chú bé đã rất ngạc nhiên và hổ thẹn vì đã nhìn lầm cái kiểu ấy. Các khối đá lớn kia chỉ là những cái nhà; những hạt vàng rực rỡ chỉ là những đèn lồng thắp ngoài phố và những cửa sổ được chiếu sáng. Ông khổng lồ dang hai tay là một ngôi nhà thờ có những ngọn tháp vuông, và các quái vật và các yêu lùn dưới biển là những tàu và những thuyền đủ loại, thả neo và buộc chặt quanh đảo. Về phía đất liền thì nhiều nhất là những chiếc thuyền có chèo, những chiếc mành thon dài có một cột buồm, những tàu chạy hơi nước để đi lại dọc bờ biển; nhưng phía bên kia thì có những chiến hạm thiết giáp, chiếc thì rộng, ống khói to tướng nghiêng về phía sau; chiếc thì thon dài và đóng theo kiểu có thể đi xuyên qua nước như những con cá.

Thành phố nào đây? Nilx tìm ra câu trả lời khi trông thấy các tàu chiến. Suốt đời chú vẫn thích các thứ tàu, nhưng chưa bao giở chú được trông thấy các thứ nào khác ngoài những chiếc thuyền con nhẹ, thon thon mà chú cho bơi trên mặt nước các con hào bên cạnh đường cái; tuy vậy chú hiểu ngay rằng một thành phố mà có nhiều tàu chiến đến thế thì chỉ có thể là Karlsrôna mà thôi.

Ông ngoại Nilx nguyên là một thủy thủ hải quân, thuở còn sống ngày nào cũng đến Karlsrôna, đến công trường đóng tàu lớn của hải quân và đến tất cả những gì có thể trông thấy ở đấy. Nilx chỉ vừa đủ thì giờ nhìn quanh các ngọn tháp và các công trình phòng ngự chắn ngang lối vào cảng, thì Akka với đàn ngỗng đã đỗ xuống nóc của một trong các ngôi nhà thờ. Rõ ràng đây là một chỗ chắc chắn để tránh thoát một con cáo, và chú bé nghĩ rằng đêm nay chú có thể dám chui vào dưới cánh con ngỗng đực. Được ngủ thích lắm chứ. Rồi sau chú sẽ cố đi xem công trường và những chiếc tàu, khi trời đã sáng.

Nhưng chính Nilx cũng không hiểu nữa là tại làm sao mà chú lại không thể nằm yên, chờ đến sáng để đi xem tàu. Chưa chợp mắt được ngoài năm phút là chú đã gỡ mình ra khỏi cánh ngỗng đực và tụt xuống đất dọc theo cột thu lôi và các ống máng.

Một lát sau chú đã ở giữa một quảng trường, trước mặt nhà thờ. Những ai đã quen với chỗ hoang vắng hay đã ở một xó xỉnh xa xôi nào thì bao giờ cũng cảm thấy lo lo khi đến một thành phố mà nhà cửa dựng lên thẳng tắp và phố xá mở rộng thênh thang, chẳng có lấy một chỗ trú ẩn. Vì thế, chẳng mấy chốc, Nilx đã mong được cứ ở lại trên kia, trên ngọn tháp với đàn ngỗng. Cũng may là chẳng có bóng người nào trên quảng trường; chỉ có một người bằng đồng đen đứng sừng sững trên bệ cao. Đó là một người đàn ông cao lớn, khỏe mạnh, đội mũ ba góc, mặc cái áo chẽn dài, cái quần chẽn ngắn và đi đôi giày to. Ông ta cầm một cái gậy và có vẻ biết dùng đến nếu cần, vì ông ta có bộ mặt nghiêm khắc ghê gớm với cái mũi khoằm dài và cái miệng rất xấu.

"Đứng mà làm gì đây, cái ông này, cái môi dày chảy thõng xuống thế kia?" - Chú bé nói. Chưa bao giờ chú tự thấy bé nhỏ hơn, khốn khổ hơn tối hôm nay. Chú cố tự đem đến cho mình chút ít can đảm bằng cách làm ra vẻ bạo dạn. Rồi chú không nghĩ gì đến pho tượng nữa, và đi vào một đường phố rộng, xuống bờ phía trước.

Mới đi có vài bước thì nghe tiếng ai đi đằng sau mình. Những bàn chân nặng nề nện xuống đá lát đường, và một cái gậy đập xuống đất. Có thể nói là chính con người bằng đồng đen đã xuống đường.

Nilx nghe trộm các bước đi, rồi liền chạy trốn, chỉ một lát chú đã tin chắc rằng đó chính là con người bằng đồng đen. Mặt đất rung chuyển, và các nhà đều bị lung lay theo. Chỉ có người ấy mới có thể đi đứng nặng nề đến thế, và Nilx đâm ra sợ vì câu nói của chú lúc nãy. Chú không dám quay đầu lại.

"Có lẽ ông ta đi dạo chơi cho vui thôi, chú nghĩ. Ông ta không thể trù mình vì điều mình đã nói được. Mình nói không ác ý gì".

Đáng lẽ tiếp tục đi thẳng thì Nilxsang một đường ngang. Như thế chú hy vọng thoát được ông bạn đường.

Nhưng một lát sau là chú nghe tiếng người đồng đen cũng đi vào con đường ấy, và chú sợ quá sức. Làm sao tìm được một chỗ ẩn nấp trong thành phố mà tất cả mọi nhà đều đóng cửa? Chú trông thấy bên phải một ngôi nhà thờ cổ bằng gỗ, có một công viên rộng bao quanh. Không do dự, chú chạy bổ vào đấy. "Chỉ cần đến được đấy là mình sẽ được che chở".

Bỗng chú trông thấy ô giữa lối đi vào nhà thờ một người đàn ông đang ra hiệu cho chú. Sung sướng quá, chú vội vàng đến gần. Tim chú đập dữ dội.

Nhưng khi đến cạnh con người đứng trên một chiếc ghế đẩu nhỏ, ở lối đi ấy, chú bỗng dừng lại, chẳng biết nói năng gì, chú nghĩ bụng: "Chắc không thể là cái người này đã ra hiệu cho mình được, vì ông ta bằng gỗ kia mà".

Chú lặng nhìn người ấy một hồi. Đó là một người hiền hậu, thấp lùn, khỏe mạnh, mặt rộng, hồng hào và tươi tắn, tóc đen và bóng có bộ râu đen dài. Trên đầu, ông ta đội một cái mũ bằng gỗ đen, mình mặc chiếc áp le dài bằng gỗ màu nâu sẫm quanh mình đeo một dây thắt lưng bằng gỗ đen, mặc cái quần rộng bằng gỗ màu xám và đi đôi tất bằng gỗ, chân đi đôi giày cao cổ bằng gỗ màu đen. Ông ta vừa mới được sơn, vừa mới được đánh bóng; ông ta sáng lên và rực lên dưới ánh trăng, việc đó làm tăng thêm vẻ phúc hậu của ông ta, làm cho chú bé tin cậy.

Tay trái ông ta cầm một tấm bảng gỗ Nilx đọc ở đấy:

Kính cẩn van xin Dịu dàng cầu xin Một đồng bạc mọn

Một chút nghĩa quyên

Giở mũ tôi lên

Đúng rồi, Nilx hiểu: con người này chỉ là một cái cây để quyền tiền giúp kẻ khó. Chú thất vọng. Chú đã mong chờ gì nhiều hơn thế. Chú nhớ lại là ông ngoại chú đã nói đến con người gỗ phúc hậu này, nói rằng trẻ con ở Karlsrôna đều yêu mến ông ta. Nilx hiểu rõ điều đó lắm. Người ấy có cái vẻ phúc hậu ngày xưa, đến mức người ta có thể cho rằng ông ta đã mấy trăm tuổi rồi. Đồng thời ông ta có vẻ khỏe mạnh, tự hào, cương quyết và vui vẻ như người ta thường tưởng tượng ra những người ngày xưa.

Cứ nhìn ông người gỗ, Nilx gần như quên mất cái ông đang đuổi mình. Nhưng mà kia, chú bỗng nghe tiếng của ông ấy đến. Ông ấy tới gần. Nấp ở đâu bây giờ được?

Đúng lúc đó, Nilx thấy ông người gỗ cuối xuống và chìa cho chú bàn tay của ông. Không thể nào mà không tin ông ta được: Nilx liền nhảy vào bàn tay người ta dang ra giúp chú. Và người gỗ đưa chú lên cao, đến tận cái mũ của mình và chuồi chú vào trong mũ.

Chú bé vừa ẩn xong, người gỗ vừa đủ thì giờ hạ cánh tay xuống và trở lại thế đứng như trước, là người đồng đen đã đứng trước mặt ông ta, lấy cây gậy đập đập xuống đất và thét lên, giọng to và vang xa: "Ngươi là ai?"

Cánh tay của người gỗ giơ lên với một độ chính xác làm cho cái sườn gỗ già của ông ta kêu răng rắc; các ngón tay của ông ta đặt vào mép mũ, và ông ta trả lời: "Rôxenbom, tâu Bệ hạ bỏ lỗi cho. Ngày trước, trung sĩ trên chiến hạm Táo Bạo; mãn hạn phục dịch chiến thời, về hưu giữ nhà thờ Bộ Tư Lệnh Hải quân; cuối cùng được tạc vào gỗ và đặt trong nghĩa trang làm cây nghĩa quyên giúp kẻ khó".

Nghe người gỗ "tâu Bệ hạ", chú bé giật nẩy mình. Nghĩ lại, chú hiểu ra rằng cái pho tượng đặt ở quảng trường lớn là tượng của người đã lập ra thành phố. Thì ra chú đã phải nói chuyện với vua Karl XI, đơn giản thế thôi.

Người đồng đen nói: "Ngươi nói năng rõ ràng đấy. Ngươi lại có thể nói cho ta biết là ngươi có trông thấy một đứa bé con chút xíu, chạy khắp thành phố đêm nay không? Đó là một thằng bé nghịch tính và một đứa xấc láo; ta mà bắt được thì sẽ dạy cho nó liệu mà hỗ láo".

- Tâu Bệ hạ, xin bỏ lỗi, thần có thấy nó, người gỗ nói. Nghe câu trả lời đó, chú bé ngồi co ro trong cái mũ và nhìn vị quốc vương qua một khe gỗ, phát sợ đến nỗi bắt đầu run. Nhưng chú yên tâm ngay khi nghe người gỗ nói tiếp: "Bệ hạ theo dõi dấu vết sai rồi. Thằng bé hình như có ý định trốn vào công trường để nấp trong ấy".

- Ngươi tin thế à, Rôxenbom? Vậy thì đừng đứng im trên ghế của ngươi nữa, mà đi theo ta giúp ta tìm nó! Bốn mắt nhìn rõ hơn hai mắt chứ Rôxenbom?

Nhưng người gỗ trả lời giọng than vãn, rên xiết:

"Thần kính cẩn cầu xin Bệ hạ để cho thần ở yên chỗ. Thần có vẻ tươi tắn và bóng lộn là nhờ nước sơn, chứ thần già nua và mục nát, cử động mạnh một cái cũng không chịu nổi".

Con người đồng đen dường như không thuộc những kẻ chịu để người khác trái ý mình.

"Chuyện nhảm gì thế? Đi Rôxenbom!". Nhà vua giơ cao cây gậy và nện vào người kia một phát trên vai, nghe vang lên và nói: "Ngươi thấy là ngươi còn vững chứ Rôxenbom!"

Nhà vua vừa dứt lời là họ đi ngay. Cao lớn, hùng dũng, họ đi qua các ngõ phố của Karlsrôna và sau cùng đến một cánh cổng nặng dẫn vào công trường. Một thủy thủ đang gác, nhưng người đồng đen không để ý chút nào. Ông lấy chân đẩy cổng, và hai người đi vào.

Trước mặt họ trải ra một cảng rộng có những cầu tàu đặt trên cọc, chia ra làn nhiều ngăn. Các bể đều có tàu chiến đậu.

- Bắt đầu tìm đâu trước thì hơn Rôxenbom?

- Người đồng đen hỏi

- Một người bé tí tẹo như nó chắc nấp trong phòng bày các vật mẫu.

Trên một lưỡi đất hẹp chạy phía bên phải, dọc theo suốt bề dài của cảng, có mấy ngôi nhà cũ kỹ. Người đồng đen đến gần một ngôi nhà có những cửa sổ nhỏ và mái rất cao. Ông ta lấy gậy đập vào cửa và cửa mở; rồi nặng nề leo lên một thang gác cũ kỹ mà các bậc thang đã mòn. Hai người đi vào một gian phòng rộng chứa toàn những chiếc tàu nhỏ, đầy đủ cột buồm, dây nhợ. Chú bé biết rằng đó là những hình mẫu của những chiếc tàu đã đóng cho hải quân Thụy Điển.

Có đủ tất cả các loại tàu: những chiến hạm cổ, sườn đầy ắp đại bác; đầu mũi, đầu lái đều có những công trình dựng lên cao, và các cột buồm cùng dây nhợ chằng chịt; những chiếc tàu canh phòng bờ biển nhỏ, có ghế băng cho các tay chèo ngồi suốt cả bề dài thân tàu, những pháo hạm không có boong và những tàu buồm cổ mạ vàng lộng lẫy, hình mẫu của những chiếc mà ngày xưa vua chúa dùng trong các cuộc lữ hành của họ. Sau cùng còn có những thiết giáp hạm dài và nặng, có nhiều tháp và đại bác trên boong mà ngày nay người ta thường dùng và những tàu phóng ngư lôi thon thả, mảnh mai, trông tựa những con cá dài.

Nilx hết sức ngạc nhiên và khâm phục. "Ra người ta đã đóng những chiếc tàu to đến thế, đẹp đến thế ở đây, trên đất Thụy Điển này!"

Chú tha hồ ngắm nghía và khâm phục các kiểu tàu, vì cái người đồng đen cứ thoạt nhìn thấy các hình mẫu là quên hết mọi thé khác. Ông ta đi duyệt qua tất cả. Và Rôxenbom, trước kia trung sĩ trên chiến hạm Táo Bạo phải kể lại tất cả những gì đã biết về những người đã đóng các tàu và những người đã chỉ huy các tàu, và số phận mà họ đã phải chịu. Ông ta nói đến Sapman, Pukê và đến Trôllê; đến những trận Hôglanđ và Xvensxunđ cho đến năm 1809, thời kỳ mà sau đó ông ta không còn nữa. Ông ta cùng người bạn đường nói chuyện với nhau nhiều nhất là về những chiếc tàu cổ bằng gỗ trang trí thật đẹp. Họ hình như không hiểu các thiết giáp hạm mới.

"Rôxenbom ta thấy rằng ngươi chẳng biết chút gì về những chiếc tàu hiện đại ấy, nhà vua nói. Đi xem cái khác đi. Vì tất cả những thứ ở đây đều làm ta ưa thích, Rôxenbom à?"

Họ đã thôi tìm chú bé, và chú bé thấy yên tâm, thoải mái hơn trong chiếc mũ gỗ. Họ đi qua những cơ sở lớn của công trường, những xưởng may buồm, lò luyện sắt, những xưởng chế tạo máy và những xưởng mộc. Họ thăm những cần trục dùng để tán các kim loại, và những bến tàu, những kho vật phẩm dự trữ, xưởng chữa tàu to rộng, đào trong đá núi đã bỏ hoang. Họ đi ra những đập dài, nơi buộc các tàu trận; họ xuống các tàu, xem xét mọi thứ như hai thủy thủ già; họ ngập ngừng tuyên án, tán thành và giận dỗi.

Nấp trong cái mũ gỗ, Nilx nghe họ nói chuyện. Như vậy, chú biết được rằng người ta đã phải phấn đấu và lao động biết bao ở chốn này để có thể vũ trang cho tất cả mọi hạm đội mà người ta phái từ quân cảng ra đi. Chú biết rằng người ta đã không quản xương máu và tính mạng, rằng người ta đã hi sinh đến đồng tiền cuối cùng để đóng ra những tàu chiến này, rằng những người tài giỏi đã đem hết cố gắng của họ ra dùng vào việc cải tiến và hoàn thiện các chiếc tàu đã bảo vệ tổ quốc này. Nghe nói đến tất cả những điều đó, chú bé rơm rớm nước mắt và cảm thấy sung sướng đã được người ta cho biết kỹ càng đến thế về tất cả mọi điều ấy.

Sau cùng họ đi vào một cái sân mở rộng, ở đó dưới một hành lang đã xếp hàng những hình mũi các tàu chiến xưa. Nilx chưa bao giờ được thấy cái cảnh lạ lùng hơn thế, vì tất cả những hình ấy đều có những mặt người hùng tráng và khủng khiếp, không thể tưởng tượng được. Các hình ấy đều to lớn, dũng cảm và hoang dã, bắt nguồn cảm hứng từ chính cái tinh thần tự hào vũ trang cho các tàu lớn ấy. Nilx tự thấy mình bé nhỏ hơn bao giờ hết.

Nhưng lúc ấy, người đồng đen bảo người gỗ: "Cất mũ ra, Rôxenbom, chào các mũi tàu kia đi. Tất cả đều đã ra trận vì tổ quốc!". Rôxenbom cũng như người bằng đồng đen đã quên hẳn họ đến đây làm gì. Chẳng suy nghĩ gì, ông ta giơ cao chiếc mũ gỗ lên và hô: "Xin cất mũ chào, vinh dự thay người đã chọn vị trí cảng này, đã lập ra công trường này và đã tái tạo ra hải quân của ta; vinh dự thay nhà vua đã hiến cả cuộc đời cho tất cả những thứ này".

- Cám ơn Rôxenbom. Ngươi nói phải, ngươi là một người chính trực.... Nhưng cái gì thế này, Rôxenbom?

Ông ta chỉ Nilx Hôlyerxôn đang đứng trên cái sọ trần của Rôxenbom. Nhưng mà Nilx không sợ nữa. Chú vẫy mũ và hô to: "Hua ra! Hua ra! con người có môi dày!".

Người đồng đen lấy gậy đập xuống đất, nhưng chú bé không bao giờ biết được là ông ta đã định làm gì, vì đúng lúc ấy mặt trời mọc lên; tức khắc người đồng đen và người gỗ đều biến mắt tự hồ họ được làm từ sương mù. Trong lúc chú đứng dậy, đảo mắt tìm họ thì đàn ngỗng trời đã bay lên từ nóc nhà thờ và bắt đầu lượn quanh thành phố. Bỗng chúng trông thấy Nilx Hôlyerxôn và con ngỗng đực trắng liền rẽ không khí xuống đón chú.

Chương X: Chuyến Đi
Ơlanđ

Chúa nhật, 3 tháng Tư

Đàn ngỗng trời đến ăn cỏ trên một hòn đảo nhỏ bên bờ
biển, và ở đấy gặp những con ngỗng xám; bọn này rất ngạc nhiên khi trông thấy
đàn, vì biết rằng những bà con hoang dã ấy của chúng thường không đến gần bờ.
Bọn ngỗng xám tò mò và tọc mạch, và mãi đến lúc những ngỗng mới đến kể xong câu
chuyện bị cáo rượt mới chịu thôi. Nói xong, con ngỗng xám hình như ngang hàng
với Akka về tuổi tác và kinh nghiệm, bảo các ngỗng trời:

- Con cáo bị đầy đi khỏi xứ xở của nó, là một tai họa
lớn cho các bạn. Nó sẽ giữ lời hứa và sẽ theo các bạn đến tận Lapplanđ.

Nếu ta là các bạn thì ta sẽ không bay qua đảo Ơlanđ.
Con cáo sẽ mất hút dấu vế các bạn. Và để đánh lạc nó hơn nữa, các bạn nên nghỉ
lại hai hay ba ngày ở mỏm núi phía Nam của đảo thì hơn. Cái ăn ở đó nhiều lắm,
và bầu bạn cũng vậy. Tôi tin là các bạn sẽ không ân hận về chuyến đi của mình.

Lời khuyên rất đúng và đàn ngỗng trời quyết nghe theo.
Ăn no rồi, chúng liền lên đường đi Ơlanđ. Chưa một con ngỗng nào trong đàn đã
đến đó, nhưng ngỗng xám đã chỉ cho chúng những điểm mốc rõ ràng. Chỉ việc bay
thẳng về phía Nam cho đến lúc gặp đường lớn của các loài chim di cư thường bay
qua, ở ngoài khơi, dọc bờ biển tỉnh Blêkinyê. Tất cả các giống chim có trú đông
trên biển Tây và xuân đến thì bay sang Phần Lan hay sang Nga, đều theo đường
ấy; dọc đường, chúng đỗ lại nghỉ ở Ơlanđ.

Đàn ngỗng sẽ chẳng thiếu kẻ dẫn.

Hôm ấy là một ngày yên tĩnh và nóng như ngày hè, thời
tiết lý tưởng cho một chuyến bay trên mặt biển, chỉ có điều là bầu trời không
hoàn toàn quang đãng mà u ám và hơi bị mây che. Lác đác, những đám mây tụ lại,
xuống thấp sát mặt nước và ngăn tầm mắt người ta.

Khi các du khách đã bay qua hết quần đảo, thì mặt biển
trải ra xinh đẹp và lóng lánh đến mức Nilx nhìn xuống tưởng như trái đất đã
biến đi đâu mất. Chỉ còn có mây và trời chung quanh. Chú bỗng thấy chóng mặt và
cuống cuồng bám chặt lấy lưng ngỗng đực hơn cả hôm bay đầu tiên.

Khi đến đường lớn mà ngỗng xám đã chỉ cho, lại càng sợ
hơn nữa. Hàng đàn chim nối đuôi nhau, tất cả đều bay cùng một hướng. Hình như
chúng theo một đường đã vạch sẵn. Đó là những con vịt trời và
những con ngỗng xám, những con vịt trời Bắc cực, những con cốc phương Bắc,
những con cốc bắt cá, những con cốc trắng có mào, những con ác là biển. Lúc cúi
về phía trước Nilx trông thấy bóng tất cả dãy chim dài ấy do mặt nước phản
chiếu lại. Đầu óc chú quay cuồng; có thể nói là tất cả các đàn chim đang bay,
bụng ngửa lên trời. Vả lại cái gì đang ở trên cao và cái gì đang ở dưới thấp?
Chú chẳng biết gì nữa.

Chim đã mệt và mong chóng đến. Chẳng một con nào kêu
la hay đùa cợt; cảnh im lặng ấy làm cho mọi thứ thành hư ảo lạ lùng. "Có
kẽ bọn mình đã rời khỏi trái đất rồi! Nilx nghĩ bụng. Có lẽ bọn mình đang lên
trời".

Cũng lúc đó, chú nghe hai tiếng súng và thấy hai cột
khói nhỏ bay lên.

Đàn chim xôn xao, sợ hãi. "Có người bắn! Có người
bắn! Có người bắn ở dưới tàu! Chúng kêu lên. Bay cao lên! Cao lên nữa!".

Bây giờ Nilx mới thấy mình vẫn bay trên mặt biển, chứ
không phải đã lên trời chút nào cả. Trên mặt nước có những chiếc tàu nhỏ đi
thành hàng dài, chở đầy người đi săn, họ bắn hết phát này đến phát khác. Những
đàn chim bay đến đầu tiên, không kịp trông thấy họ, và đã bay quá thấp. Nhiều
tấm thân màu sẫm rơi nhào xuống; mỗi con rơi là những con sống sót kêu lên những
tiếng đau đớn.

Sự khiếp sợ và những tiếng kêu rên ấy chẳng có gì đáng
lạ đối với kẻ mới một lát trước đây còn tưởng mình đang ở trên trời. Akka vút
nhanh lên cao và cả đàn bay theo hết sức nhanh? Đàn ngỗng trời thoát khỏi vòng
nguy hiểm, nhưng Nilx vẫn chưa hoàn hồn. Sao lại có thể như thế! Lại có những
người đi bắn vào những vật như Akka và Uykxi và Kakxi, và ngỗng đực, và các bạn
đồng hành của chúng? Người ta chẳng hiểu gì về việc người ta làm cả.

Hàng ngũ đàn chim đã sát lại với nhau và cuộc lữ hành
qua bầu không khí bất động cứ tiếp tục. Cảnh im lặng đã trở lại: thỉnh thoảng
một con chim đã kiệt sức kêu lên: "Đã sắp đến nơi chưa? Các bạn có chắc là
chúng ta bay đúng đường không?". Thế là những con bay hàng đầu đáp:
"Chúng ta bay thẳng đến Ơlanđ, thẳng đến Ơlanđ".

Đàn vịt trời đã mệt, những con cốc đã vượt chúng.
"Đừng vội quá thế, đàn vịt kêu. Các bạn định ăn hết đấy à? Sẽ có đủ cho
các bạn và chúng tôi", đàn chim cốc đáp.

Chưa trông thấy đảo chút nào, chúng ta đã gặp một làn
gió nhẹ mang đầy những đám khói trắng đặc, như có một đám cháy đâu đây.

Lúc đàn chim trông thấy những cơn lốc trắng đầu tiên,
chúng lo lắng và bay nhanh lên. Nhưng những làn khói cuồn cuộn vẫn tỏa ra mỗi
lúc một dày đặc, và cuối cùng vây lấy chúng. Không ngửi thấy mùi gì cả, và khói
không đen cũng không khô chút nào mà trắng và ẩm. Nilx hiểu ngay rằng đó chỉ có
thể là sương mù.

Khi sương mù đã dày đến mực ở ngay trước mặt, cách một
thân ngỗng, cũng không trông thấy gì nữa, thì những đàn chim đâm ra hoảng hốt.
Cho đến lúc ấy, chúng bay rất trật tự; giờ chúng bắt đầu bay lung tung trong
sương mù. Chúng bay về đủ mọi hướng và làm lạc đường nhau. "Coi chừng,
chúng kêu. Các bạn đang bay quanh quẩn đây. Quay lại thôi! Sẽ không bao giờ đến được Ơlanđ đâu".

Tất cả đều biết rất rõ hòn đảo ở nơi nào, nhưng chúng
ra sức làm cho nhau hoảng hốt lên:

- Kìa trông những con vịt phương Bắc kia, một tiếng
kêu lên trong sương mù. chúng quay trở lại phía biển Tây đấy.

- Coi chừng, ngỗng xám ạ, một tiếng khác kêu. Cứ bay
theo hướng đó, các bạn sẽ bay đến đảo Ruyghen đấy.

Đối với những loài chim quen bay qua biển thì chẳng sợ
lạc hướng, nhưng đối với những đám ngỗng trời thì thật là gian khổ. Bọn hay bày
trò chẳng lâu la gì mà không nhận thấy rằng chúng không chắc hướng đi lắm.

- Đi đâu đấy, những kẻ cả tin kia? Một con thiên nga
hỏi và bay thẳng tới chỗ Akka, vẻ thương hại và nghiêm trang.

- Chúng tôi đi Ơlanđ, nhưng chúng tôi chưa bao giờ đến
đó cả. Akka đáp, tưởng là có thể tin cậy được con chim ấy.

- Khổ chưa, thiên nga nói. Người ta làm các bạn lạc đường
rồi. Các bạn đang bay về phía Blêkinyê đấy. Đi theo tôi, tôi sẽ chỉ đường cho.

Nó lại bay đi, và đàn ngỗng bay theo. Khi đã dẫn đàn
ngỗng ra khá xa đường lớn, để không còn nghe thấy tiếng kêu nữa thì nó biến
ngay vào sương mù.

Đàn ngỗng bay loanh quanh hú họa một hồi. Vừa tìm lại
được những đàn chim khác thì một con vịt bay tới. "Tốt hơn các bạn đậu
xuống nước cho đến lúc sương tan, vịt nói. Rõ ràng là các bạn không quen bay xa
rồi."

Những giống chim khốn nạn ấy đã làm cho Akka mất bình
tĩnh. Cứ theo sự xét đoán của Nilx thì đàn ngỗng bay loanh quanh một hồi lâu
rồi.

Một con cốc bay lướt nhanh bên cạnh kêu: "Coi
chừng đấy! Các bạn không biết là mình cứ bay lên rồi lại bay xuống à?"

Nilx bám chặt lấy cổ ngỗng đực. Đó đúng là cái điều mà
nó sợ từ lúc này.

Chẳng một ai biết được bao giờ thì đến nơi, nếu bỗng
nhiên không nghe một tiếng nổ vang rền rền.

Akka vươn cổ ra, đập đôi cánh và lao hết tốc lực. Cuối
cùng nó đã có một cái gì để tự định hướng. Con ngỗng xám đã bảo nó đừng bay
xuống mỏm cực Nam của đảo Ơlanđ vì ở đó người ta đã đặt một khẩu đại bác để bắn
vào sương mù. Cuối cùng, nó đã biết hướng đi, và từ nay thì không một ai trên
đời còn có thể làm cho nó lạc đường được nữa.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.