Cuộc Lữ Hành Kỳ Diệu Của Nilx Holyerxon Qua Suốt Nước Thụy Điển - Chương XXXI

Chương XXXI - Phần 1:
Đêm Lễ Nữ Thánh Valbuy

Thứ bảy 30 tháng Tư

Ngày hôm đó Nilx trông thấy miền Nam tỉnh Đalarne. Đàn
ngỗng bay trên vùng mỏ Grenyexbey rộng lớn, trên những xí nghiệp to lớn ở
Luđvika, Đalelven. Lúc đầu hễ còn thấy những ống khói nhà máy chĩa lên sau mỗi
sống núi có thể tưởng rằng mình còn ở tỉnh Vextmanland; nhưng khi đến gần dòng
sông lớn, thì một cảnh tượng mới hiện ra dưới mắt chú. Đó là con sông đầu tiên
đáng gọi là sông mà Nilx được gặp; chú ngạc nhiên khi trông thấy cái dòng nước
rộng ấy chảy chầm chậm qua đất này.

Đến cầu phao Torxang thì đàn ngỗng quay lại hướng Tây-Bắc, bay dọc sông, tựa hồ dòng nước hướng đạo cho chúng. Nilx
tha hồ ngắm hai bờ sông Đalelven, mà phần lớn quan sát nhà cửa trên những quãng
dài. Chú thấy các thác nước lớn Đômnarvet và Kvarnxveden, và các nhà máy rộng
lớn mà thác làm cho hoạt động. Chú thấy những cầu phao nổi trên mặt sông, những
chiếc phà mà sông đưa đi, những bè gỗ dài mà sông cuốn đi, những đường sắt chạy
theo và băng qua dòng sông, và chú biết rằng đó là một con sông lớn và tuyệt
diệu.

Có một đêm mà tất cả trẻ con tỉnh Đalarne trông đợi
đến sốt ruột gần như đêm Giáng Sinh, và đó là đêm lễ Nữ Thánh Valbuy mà chúng
có thể đốt lửa ở ngoài đồng.

Nhiều tuần trước đêm đó, con trai con gái chỉ nghĩ đến
việc cóp nhặt củi cho cuộc đốt lửa đêm lễ Nữ Thánh Valbuy. Chúng vào rừng nhặt nhạnh những bó cành khô và những quả thông, chúng đi kiếm vỏ bào
ở nhà ông thợ mộc, những mẩu vỏ cây và những đoạn củi khẳng khiu quá không thể
bổ được ở nhà các ông thợ rừng. Không ngày nào mà chúng không quấy rầy ông chủ
hiệu tạp hóa, hỏi mua hàng cũ; đứa nào mà có thể kiếm được một cái vỏ tô-nô
đựng hắc ín, thì giữ như một kho tàng bảo vật, và chỉ đem ra phô vào cái phút
được nhen đống lửa. Những cọc đỡ cho đậu Po-ti-poa và đậu cô-ve, cô-bơ leo, đều
làm nguy, cũng như những rào giậu bị gió thổi đổ, những dụng cụ hỏng gãy, và
những giàn phơi cỏ bỏ quên ngoài đồng.

Ngày long trọng đến, trẻ con mỗi làng dựng trên một
ngọn gò hay bên bờ một cái hồ, một dàn hỏa thực sự với những cây thông giáng
sinh cũ, những cành khô và đủ các thứ chất đốt. Có khi một làng đốt những hai,
ba đống lửa, vì trẻ con không thể đo đến chỗ đồng ý với
nhau được.

Các đống củi thường đã xếp sẵn rất sớm từ chiều; tất
cả trẻ con đều đi dạo chơi, bao diêm trong túi, chờ lúc tối trời. Cữ này trong
năm, ở Đalarne trời sáng lâu ghê gớm. Đến tám giờ, hoàng hôn mới hơi bắt đầu.
Đi dạo ngoài trời trong những ngày đầu xuân thế này, người rét cóng và rất khó
chịu. Tuyết đã tan ngoài đồng và ở những nơi đất quang, và lúc giữa ngày mặt
trời chiếu xuống thì người ta thấy gần như nóng; nhưng mà rừng còn giấu kín
những đống tuyết cao, băng còn phủ các mặt hồ và về đêm lạnh nhiều độ dưới không.
Bởi thế mà có thể nơi nọ nơi kia, một ngọn lửa đã đỏ lên trước giờ. Nhưng chỉ
có những trẻ bé nhất, và những trẻ thiếu kiên nhẫn nhất, mới vội vàng như thế.
Những trẻ khác đều chờ đêm tối để cho các đống lửa cháy đẹp.

Cuối cùng rồi cũng đến lúc bất cứ người nào đã mang
đến một cành củi trong đống củi, cũng đều có mặt; và chú con trai lớn nhất đám
đốt lên một cây đuốc rơm, đem đút vào dưới đống củi. Những ngọn lửa phụt lên,
những cành cây nổ lốp bốp và kêu răng rắc; những cành mảnh mai cũng đỏ rực lên,
trông như là trong suốt; khói tràn ra và tỏa ra cuồn cuộn thành những vòng đen
rộng. Sau cùng, lửa từ ngọn đống củi cao vút lên, cao và sáng; lửa vọt cao lên
trên không; khắp nơi trong vùng đều trông thấy.

Chỉ đến lúc ấy đám trẻ con mới có thì giờ nhìn ra chung
quanh. Kia một ngọn lửa! Lại kia một ngọn! Người ta đốt một ngọn trên đồi đằng
kia, và một ngọn tận trên đỉnh núi! Tất cả đám trẻ đều mong rằng lửa của mình
to nhất và đẹp nhất; chúng cứ sợ lửa của mình không hơn được tất cả các lửa
khác, và đến phút cuối cùng vẫn chạy về nhà, khẩn khoản xin thêm vài
bó củi hay gỗ vụn nữa.

Khi lửa đã cháy to, người lớn và cả người già, đều đến
xem lửa không phải chỉ nhìn đẹp, mà còn tỏa nhiều hơi ấm trong buổi tối trời
lạnh, và người ta ngồi khắp chung quanh lửa, trên những tảng đá. Người ta ngồi
đấy, mắt nhìn vào lửa, cho đến khi một người nào đó có ý kiến pha một tí cà
phê, vì người ta có một ngọn lửa đẹp như thế. Và thường thì trong khi nước cà
phê đang sôi, một người nào đó kể một chuyện; xong là người khác kể tiếp.

Người lớn nghĩ đến cà phê và truyện nhiều hơn, còn trẻ
con thì chỉ nghĩ đến việc làm cho ngọn lửa bốc lên thật cao và cháy thật lâu.
Mùa xuân với băng lở và tuyết tan đến muộn thế cơ mà! Đám trẻ muốn giúp sức mùa
xuân bằng ngọn lửa của mình. Nếu không, hình như xuân không tài nào đâm
chồi và nẩy lộc được.

Đàn ngỗng trời đã đổ xuống mặt băng của hồ Xilyan để
ngủ, và vì gió bắc thổi dọc theo hồ, lạnh như băng, Nilx đã chui ngay xuống
dưới cánh con ngỗng đực. Vừa mới thiu thiu ngủ, chú đã bị một tiếng súng nổ đánh
thức dậy. Từ dưới cánh ngỗng chú vội vàng chui ra và nhìn chung quanh rất lo
sợ.

Trên mặt băng tất cả đều im lặng. Rình mãi nhưng vô
hiệu, chú chẳng trông thấy kẻ đi săn đâu cả. Nhưng, phóng mắt nhìn lên các bờ
hồ, chú sửng sốt và tưởng đến một ảo cảnh quái dị như ở Vineta vậy.

Chiều hôm ấy, đàn ngỗng đã bay qua bay lại nhiều lần
trên hồ trước khi đỗ xuống. Dọc đường bay, ngỗng đã chỉ cho chú những nhà
thờ to lớn và những làng mạc ở trên bờ hồ Xilyan. Chú đã trông thấy Lekxanđ,

Rettvik, Môra, đảo Xôllêro. Toàn thể vùng này xem ra
bình yên và vui tươi hơn chú đã tưởng nhiều. Chú chẳng thấy có chút gì là hung
gở và khủng khiếp cả.

Thế mà, đang đêm thế này, cũng trên những bờ hồ ấy lại
rực sáng lên một vòng lửa. Chú thấy lửa cháy ở Mora phía Bắc hồ, trên các bờ
của đảo Xôllêro, ở trong Vikarbuyn, ở những ngọn núi Lerdalen, trên tất cả các
đồi và mũi đất cho đến tận Lekxand. Chú đếm được hơn trăm đống lửa, và chúng
không hiểu như thế là nghĩa thế nào.

Các ngỗng trời cũng bị tiếng nổ làm cho tỉnh dậy,
nhưng tức khắc, trông thấy cái cảnh đang diễn ra, Akka kêu lên: “Đó là trẻ con
của loài người, chúng vui chơi”. Và tất cả đàn ngỗng lại đều ngủ ngay, đầu chui
xuống dưới cánh.

Nilx nhìn kỹ hồi lâu những đống lửa trang hoàng cho bờ
hồ như một chuỗi dài những đồ nữ trang bằng vàng. Chú bị ánh sáng và hơi ấm thu
hút như một con muỗi, và chú rất muốn đến gần các đống lửa. Chú nghe súng nổ
hết tiếng này đến tiếng khác, cái ấy cũng thu hút chú vì chú hiểu rằng chẳng có
chút nguy hiểm nào cả.

Những người ở đằng kia, chung quanh các đống lửa, hình
như vui thích quá chừng, đến mức hò hét, kêu gọi nhau chưa cho là đủ, lại còn
dùng đến cả súng nữa. Và kìa, quanh một đống lửa cháy rực tận trên đỉnh một
ngọn núi, người ta đang bắn pháo hoa. Người ta đã có một đống lửa to và đẹp,
bốc cháy rất cao, nhưng người ta còn muốn hơn thế nữa; niềm vui của người ta
còn cần bay bổng lên trời.

Dần dần Nilx đến gần bờ; bỗng những âm điệu của một bài hát lọt đến tai chú. Thế là chú liền chạy về phía đất
liền.

Ở bờ trong cùng của vũng Rettvik, có một cái đập dài
tiến ra phía trước; tận đằng mút đập, một nhóm người đứng hát; tiếng họ vang
lên trong cảnh đêm yên tĩnh của mặt hồ. Có thể nói là mùa xuân đối với họ dường
như đang ngủ như những con ngỗng trời trên mặt hồ Xilyan, và họ muốn đánh thức
mùa xuân dậy.

Họ đã mở đầu bằng câu: “Ta biết một xứ rất xa trên
phía Bắc, rồi khi mùa hè đẹp tuyệt và đất vui mừng, hai con sông lớn ở gần Đala
tiến bước về Tuna, cường tráng, can đảm và những con người dùng cảm” rồi họ kết
thúc bằng bài: “Ở Đalarne xưa đã sống nay vẫn sống”. Tất cả bài hát của họ đều
nói đến Đalarne. Trên đập chẳng có chút lửa nào và những người hát không thể
nhìn thấy xa nhưng cùng với những âm điệu đang hiện lên
trước mắt họ và trước tất cả mọi người, hình ảnh của đất nước họ, rực rỡ hơn và
dịu dàng hơn ngay trong ánh sáng của ban ngày. Dường như họ muốn làm cho mùa
xuân phải xiêu lòng! “Hãy nhìn đất nước đang chờ xuân! Xuân chẳng đến giúp
chúng ta sao? Xuân còn cứ để mùa đông áp bức một đất nước xinh đẹp đến thế này
sao?”

Còn tiếng hát là Nilx còn lắng tai nghe; sau đó chú
chạy vụt về phía đất liền. Một đống lửa cháy ngay trên bãi. Chú tiến đến gần,
đến mức có thể nhìn thấy những người ngồi hay đứng chung quanh đống lửa. Lại
lần nữa, chú tự hỏi đó có phải là một ảo ảnh không. Chú chưa bao giờ được thấy
những kẻ ăn mặc như thế. Đàn bà đội những mù đen, nhọn, mặc áo chẽn ngắn bằng
dạ trắng; quàng những khăn thêu hoa lá quanh cổ, diện những yếm bằng
lụa màu lục và những váy màu đen phía trước thêu những sọc trắng, đỏ, lục và
đen. Đàn ông đội mũ tròn và thấp, mặc áo ngoài màu xanh rất dài, các đường may
đều viền đỏ, những quần bằng da màu vàng, ở đầu gối buộc những ruy băng màu đỏ
trang trí những quả cầu bằng len lòng thòng. Có phải vì những bộ y phục ấy mà
Nilx dường như thấy những người đó không giống cư dân ở tỉnh khác; họ có vẻ cao
lớn hơn và cao quý hơn. Nilx nhớ lại những bộ quần áo cổ mẹ chú giữ tận đáy
chiếc hòm to của bà, và từ lâu rồi chẳng có ai ở tỉnh Xkônê còn mặc nữa. Vậy ra
chú được duyên may trông thấy những con người ngày xưa, đã sống cách ngày nay
trăm năm rồi sao?

Đó chỉ là một ý nghĩ thoáng hiện ra trong óc và chú
thấy rõ trước mặt là những người đàn ông và những người đàn bà đang sống thật và loại ý nghĩ như thế mà chú đã có là đơn thuần. Chỉ vì những người
dân ven hồ Xilyan đã giữ gìn những quần áo, tiếng nói địa phương và các tập
quán của quá khứ tốt hơn ai hết.

Chú cũng hiểu ngay rằng những người ngồi cạnh lửa kia
đang nói chuyện ngày xưa. Họ kể lại chuyện những năm tháng thanh xuân của họ,
chuyện của thời mà họ phải di cư đến các tỉnh khác để làm việc kiếm chút gì
nuôi sống gia đình. Chú nghe nhiều chuyện như thế, nhưng mà chú nhớ kỹ nhất là
chuyện kể lại những gì mà một bà lão đã phải trải qua.

Phần 2: Chuyện kể của Muyr–Kerxti

“Bố mẹ tôi có cái trại nhỏ ở Ơxybyơkar, nhưng nhà quá
đông con mà thời buổi lại khó khăn, đến nỗi mười sáu tuổi tôi đã phải ra đi. Độ
hai chục trai gái ra đi cùng một lúc với tôi. Và, ngày 14 tháng Tư năm 1845 tôi
đến Xtôckhôlm lần đầu.

Tất cả tiền bạc tôi có chỉ là hai mươi bốn shilling
còn thức ăn thì tôi đã mang theo mấy khoanh bánh mì, một súc thịt vai bê non và
ít phomai, phần lớn tôi để trong một cái túi da, gửi nhờ trên xe của một bác
nông dân cùng với áo quần lao động.

Với ba anh bạn đồng hành tôi lên đường cái đi Falun.
Chúng tôi đi ba chục, bốn chục kilomet. Cứ nghĩ đến việc đàn bà ngày nay
đi đoạn đường đó chỉ mất tám, chín giờ ngồi trên một chiếc xe lửa đủ tiện nghi.

Trong các phố Xtôckhôlm, thiên hạ cứ quay lại nhìn
chúng tôi và bảo nhau: “Kìa, trung đoàn tỉnh Đalarne đấy!”. Mà đúng thế, người
ta nói là một trung đoàn thật, không sai đâu vì chúng tôi đi qua phố xá với
những đôi giày gỗ mà ông thợ giày đã đóng gót vào ít ra mười lăm cái đinh
to tướng. Vì chúng tôi không quên đi trên những lòng đường vồng lên khum khum
nên có người trượt ngã.

Chúng tôi ở tại một nhà riêng cho người tỉnh Đalarne
trọ trên hiệu là Con ngựa trắng, ở phố Những nhà tắm lớn, trong khu phố Xơđơr.
Những người ở Mora thì trọ một cái nhà tương tự mà người ta đặt tên là Vương
miện lớn. Tôi phải tìm việc làm ngay vì hai mươi bốn shilling của tôi chỉ còn
mười tám. Một cô gái tỉnh Đalarne bảo tôi nên đến gặp một ông đại úy kỵ binh ở
Hornxtull mà xin việc làm. Tôi ở tại đó bốn ngày, trông nom vườn rau, mỗi ngày
được hai mươi lăm shilling và ăn uống thì tự túc. Tôi chẳng đủ tiền mua được
gì, nhưng các cô con gái bé của nhà chủ thấy tôi ăn uống ít ỏi quá chừng, cứ
chạy xuống bếp xin cái ăn cho tôi.

Sau đó tôi đến làm ở nhà một bà ở phố Norrland, cái
buồng tôi ngủ thật thảm hại, chuột cống vào cắn rách cả khăn quàng, cả mũ, cả
túi da, tôi phải vá lại với da ở ống một chiếc ủng cũ mà người ta cho tôi. Tôi
chỉ có thể ở đấy mười lăm hôm rồi lên đường về nhà để đem về hai rixdaler kiếm
được.

Tôi đi qua Lekxand và ở lại vài ngày trong cái làng tên là Rơnnex. Tôi nhớ là người ta nấu bột hương mạch tráng mỏng
dính trộn với cám và mày lúa. Cái thời đói kém ấy họ chẳng có gì khác mà ăn cả.

Ôi, cái năm ấy chẳng ra gì, rồi năm tiếp theo lại càng
tệ hơn. Lại một lần nữa tôi phải ra đi để cho gia đình có cái mà ăn. Cùng với
hai cô gái Đalarne tôi đi đến Huđikvall cách đây hai trăm bốn mươi kilomet. Và
suốt dọc đường phải đeo lấy các túi vì không có cách gì thuê chỗ cả. Chúng tôi
nghĩ là có thể tìm được việc làm vườn nhưng khi đến nơi thì tuyết vẫn chưa tan.
Thế là tôi phải đi khắp thônóm vào các trang trại nói năng dịu dàng hỏi xem họ
có công việc gì cho mình làm không. Lạy Chúa! Tôi đã kiệt sức và sắp chết đói
mới tìm được một cái trại mà người ta nhận cho tôi phải chải len, tiền công tám
shilling một ngày. Khi mùa xuân đến thì tôi kiếm được việc làm vườn ở thành
phố và ở đấy đến tháng bảy. Nhưng đến lúc ấy thì tôi nhớ bố mẹ và các em quá và
liền trở về Rettvik là vì tôi mới có mười bảy tuổi, đến nỗi phải đi chân đất
hai trăm bốn mươi kilomet. Nhưng dù vậy, tôi vẫn sung sướng vì đã dành dụm được
mười lăm đồng rixdaler và đã đem về cho các em tôi mấy cái bánh sữa và một gói
đường miếng mà tôi đã để dành được, mỗi lần uống café người ta dọn cho hai
miếng đường thì tôi cất lại một miếng.

Ngày nay các cô ngồi đây, các cô gái tỉnh Đalarne ạ,
mà các cô không viết là phải đội ơn Chúa đến mức nào vì Chúa đã cho các cô thời
buổi tốt hơn trước rất nhiều. Vì thuở ấy, những năm đói kém cứ tiếp theo nhau
mãi. Tất cả trai gái tỉnh Đalarne đều bắt buộc phải đi kiếm tiền. Năm sau là
năm 1847, tôi lại đi Xtôckhôlm lần nữa, và tìm được việc ở
vườn Xtôra Hornxbey. Chị em người Đalarne chúng tôi khá đông và được
trả công khá hơn một ít, nhưng dù sao cũng phải thắt lưng buộc bụng để dành dụm
đồng tiền chứ. Trên những bãi cỏ của khu vườn, chúng tôi nhặt những cái đinh cũ
và những mẩu xương đem bán lại cho người mua giẻ rách rồi lấy tiền mua cái thứ
bánh mì họ nung cho lính ăn, rắn như đá. Đến cuối tháng bảy, tôi lại về nhà để
giúp gia đình gặt hái. Lần ấy tôi để dành được ba chục rixlader.

Năm tiếp theo, tôi lại phải đi nữa. Tôi trọ ở
Xtallmextargorden, gần Xtôckhôlm, mùa hè ấy có tập trận gần Lagordxyerdet và
người chủ hiệu ăn cử tôi đi phục dịch ở một căng tin lưu động. Không, dù tôi có
sống đến trăm tuổi, cũng chẳng bao giờ tôi quên được cái ngày mà họ yêu cầu tôi
thổi tù và của dân chăn bò các bài của quê mình, và trước mặt quốc vương Oxcr I
ở Yerdet! Để thưởng nhà vua bảo cho tôi một đồng tiền hai rixdaler.

Sau đó tôi chèo thuyền trên hồ Brunnxviken, qua lại
giữa Albano và Haga nhiều năm liền. Đó là thời thích thú nhất. Có khi khách đi
thuyền biết là chúng tôi có mang theo tù và, bèn tự chèo lấy thuyền để chúng
tôi thổi tù và. Đến mùa thu, không ai sang ngang nữa, tôi lên các trại ở tỉnh
Uppland để đập lúa mì. Gần đến lễ Giáng Sinh thì về quê, thường có được khoảng
hai trăm rixdaler. Cũng được trả công đập thóc bằng lúa mì nữa, và trong mùa
đông, bố đem xe trượt lên tải về. Vâng, bà con thấy đấy, mấy anh chị em tôi mà
không đem tiền về góp cái phần chi tiêu của mình thì gia đình lấy gì mà sống
được. Là vì lúa mì chúng tôi trồng, thường đến Giáng Sinh là đã hết sạch, mà
thuở ấy người ta ít trồng khoai lắm. Thế là phải mua lúa mì ở hiệu buôn, mà hương mạch thì hai mươi bốn rixdaler, và lúa mạch bốn mươi rixdaler một
thùng, không tằn tiện làm sao được và cho tôi nói với bà con là cái bánh mì
trộn rơm thời đó nó khó nuốt lắm! Muốn nuốt cho trôi, là cứ mỗi miếng phải hớp
một hớp nước.

Tôi cứ tiếp tục đi con đường như thế cho đến cái năm
lấy chồng, đó là năm 1856. Là vì Yôn và tôi biết nhau tại Xtôckhôlm, rồi thân
nhau. Và khi trở về đây tôi cứ sợ là bọn con gái Xtôckhôlm làm cho anh ta mất
trí. Họ cứ gọi anh ta là “Muyryon xinh trai”, là anh chàng “Đalarne đẹp trai”,
tôi biết mà. Nhưng anh ta có tấm lòng thành thật và khi anh ta đã dành dụm đủ
tiền là chúng tôi làm lễ thành hôn.

Tiếp theo là niềm vui không chút bóng tối trong mấy
năm, nhưng như thế có được lâu đâu. Năm 1863, Yôn chết và tôi lại lẻ loi một mình với năm đứa con nhỏ. Chúng tôi cũng vẫn qua được, không đến nỗi
nào, vì từ đấy mọi việc đều khá hơn ở Đalarne này. Các loại lúa mì và khoai đều
phong túc và khác hẳn ngày xưa. Tôi tự mình trông nom lấy mảnh đất được hưởng
gia tài, và tôi có một ngôi nhà của riêng mình. Thế rồi năm tháng trôi qua và
trẻ con trưởng thành, mấy đứa đội ơn Chúa hiện còn sống đều có tiền của chúng,
thật khó mà tưởng tượng ra được là bánh ăn thiếu đến mức nào ở tỉnh Đalarne,
thời mà mẹ chúng còn trẻ”.

Bà lão ngừng lời, và khi bà vừa kể hết chuyện thì lửa
đã tàn hết và thế là mọi người đứng dậy, nói rằng đã đến lúc về nhà rồi. Và chú
bé lại quay về, tìm các bạn đồng hành trên mặt băng. Nhưng đang chạy một mình
trong đêm tối thì một khúc hát mà lúc nãy được nghe trên đập cứ như vang bên
tai: “Ở Đalarne đã sống và còn sống lòng chung thủy và niềm vinh quanh dù có gian
khổ...” Rồi chú không nhớ nữa những lời bài hát tiếp theo chỉ nhớ khúc kết:
“Lắm lúc họ đã độn vỏ cây vào bánh mì của họ, nhưng mà bao giờ các lãnh chúa và
các quốc vương cũng có thể trông cậy những người nghèo ở tỉnh Đalarne”

Chú bé chưa quên hết những gì người ta đã dạy cho chú
về dòng họ Xture và về Guxtav Vaza và bao giờ chú cũng tự hỏi tại sao họ lại
phải đòi hỏi sự ủng hộ của chính những người dân xứ Đalarne ấy, nhưng bây giờ
thì chú bắt đầu hiểu. Trong một xứ mà có những người đàn bà như bà lão bên
cạnh đống lửa kia thì những người đàn ông không phải dễ gì mà chịu khuất phục
được.

Ở Gagnep hôm đó người ta đi chôn một người chết trước
khi làm lễ. Đám tang đến nhà thờ muộn và việc chôn cất kéo dài. Khi đàn ngỗng bay đến thì mọi người chưa vào nhà thờ và những người đàn bà ở
mãi ngoài nghĩa trang trước mộ của thân nhân mình. Họ mặc áo màu lục cánh tay
màu đỏ, đầu quàng khăn màu có tua sặc sỡ.

Chú bé nói: “Mẹ Akka rất thân yêu, bay chậm lại cho
tôi có thể nhìn xem các bà nông dân”. Và ngỗng cho rằng yêu cầu của chú là phải
chăng, nên hạ thấp xuống đến mức có thể chẳng sợ gò và bay ngang, bay dọc trên
nghĩa trang những ba lần. Chú không thấy rõ mọi chi tiết, nhưng từ trên cao mà
ngắm những người đàn bà ấy ở giữa cây cối của nghĩa trang, chú thấy họ duyên
dáng chẳng kém gì các đóa hoa. Chú nghĩ: “Họ cũng đẹp như hoa nở trong các bồn
hoa của vườn nhà vua vậy”.

Nhưng mà ở Gagnep cũng chẳng có cánh đồng nào đã tan
băng, thế là đàn ngỗng chẳng có cách nào khác là bay tiếp về phía Nam và Floda.

Báo cáo nội dung xấu