Người đưa tin - Phần 1 - Chương 03 - 04
Chương 3
Jerusalem
Đức ông Louigi Donati, thư ký
riêng của Đức Giáo hoàng Paul VII đang chờ Gabriel trong sảnh khách sạn King
David lúc mười một giờ sáng ngày hôm sau. Ông cao và gầy, đẹp trai như minh
tinh màn bạc Italia. Bộ y phục áo choàng La Mã, đồng hồ Thụy Sĩ đắt tiền trên
cổ tay, cộng với chiếc bút mực bằng vàng đính ở túi áo ngực cho thấy Đức ông,
mặc dù có vẻ giản dị, nhưng thật ra lại là một người khá tinh tế. Đôi mắt đen
toát lên sự thông minh xuất chúng và cương quyết, đường nét ngang ngạnh của cằm
cho thấy ông không bao giờ chùn bước kể cả khi gặp nguy hiểm. Báo chí Vatican mô tả ông như một Rasputin về mặt giấy tờ, một
quyền lực đằng sau ngai vàng Giáo hoàng. Kẻ thù của Donati trong Hội đồng Hồng
y thường nhắc đến ông bằng hỗn danh “Giáo hoàng Đen”, một cách gọi khơi gợi
trung thực, xuất thân thầy tu Dòng tên của ông.
Họ băng qua thung lũng Hinnom
và trèo lên sườn đồi tới bức tường phía đông Thành Cổ. Con đường mòn dọc chân
tường đang nằm trong bóng râm. Họ đi trên con đường đó về hướng nam, sau đó
vòng qua góc và đi qua cổng Zion.
Trên phố Do Thái, Donati lấy một mẩu giấy từ túi áo. “Đức Thánh Cha muốn tôi
đặt miếng giấy này ở tường phía Tây”.
Họ theo một nhóm người
haredim (những người theo đạo Do Thái chính thống) xuống Tif’eret Yisra’el.
Donati trong bộ đồ đen trông như cùng một nhóm với họ. Tới cuối đường, họ bước
xuống những bậc thang rộng bằng đá dẫn tới quảng trường trước bức tường. Một
hàng người dài xếp hàng từ quầy an ninh. Gabriel, sau khi nói nhỏ câu gì đó với
người nữ cảnh sát biên giới, dẫn Donati đi vòng qua máy dò kim loại vào quảng
trường.
“Sao anh không làm giống
những người bình thường?”
“Cha vào đi”, Gabriel nói.
“Tôi sẽ chờ ở đây”.
Donati quay người và vô tình
đi về phía tường dành cho phụ nữ. Gabriel kín đáo chắt lưỡi và hướng dẫn ông đi
về phía tường dành cho nam giới. Donati chọn một chiếc kippah (mũ trùm đầu của
người Do Thái) từ chiếc giỏ công cộng và đội một cách cẩu thả trên đầu. Ông
đứng trước bức tường một lúc và yên lặng cầu nguyện, sau đó ông nhét cuộn giấy
nhỏ vào chỗ nứt trên viên đá Herodian màu nâu.
“Tờ giấy đó viết gì?”.
Gabriel hỏi khi Donati quay trở lại.
“Trên đó ghi lời cầu xin hòa
bình”.
“Cha nên để tờ giấy ở trên
đó”, Gabriel nói, chỉ về hướng nhà thờ Hồi giáo Al-Aqsa.
“Anh thay đổi rồi”, Donati
nói. “Người tôi gặp cách đây ba năm không bao giờ nói câu này”.
“Tất cả chúng ta đều thay
đổi, Luigi. Không còn phe hòa bình ở đất nước này nữa, chỉ còn phe an ninh.
A’one không tính đến việc này khi ông ta dùng những kẻ đánh bom tự sát”.
“A’one đâu còn nữa”.
“Đúng vậy, nhưng những tổn
thất ông ta để lại phải mất cả thế hệ mới có thể phục hồi“. Anh nhún vai. “Ai
biết được? Có lẽ những vết thương của cuộc nổi dậy lần hai sẽ không bao giờ
lành”.
“Chẳng lẽ việc giết người cứ
tiếp diễn mãi? Chắc chắn các anh không mong chờ một việc như thế”.
“Dĩ nhiên chúng tôi phải sẵn
sàng, Luigi. Đó chính là thực trạng của nơi này”.
Họ rời phố Do Thái và đi bộ
tới nhà thờ Thánh Sepulcher. Gabriel chờ trong sân trong khi Donati, sau khi từ
chối lời mời mọc của những hướng dẫn viên du lịch tự do, bước vào trong nhà
thờ. Ông quay trở ra mười phút sau. “Bên trong tối tăm quá”, ông nói. “Nói thật
với anh tôi thấy hơi thất vọng”.
“Tôi e rằng tất cả mọi người
đều nhận xét giống Cha”.
Họ rời sân nhà thờ và đến Via
Dolorosa. Một nhóm hành hương người Mỹ, do vị linh mục mặc áo dài màu nâu tay
cầm bong bóng khí helium màu đỏ dẫn đầu, đi ngược về phía họ. Donati nhìn cảnh
tượng đó với niềm vui hiện rõ trên gương mặt.
“Cha còn niềm tin không?”.
Gabriel đột nhiên hỏi.
Donati suy nghĩ rồi mới trả
lời. “Tôi chắc anh đoán được rằng niềm tin cá nhân tôi là một thứ rất phức tạp.
Nhưng tôi tin vào sức mạnh của nhà thờ Thiên Chúa La Mã. Tôi tin nó sẽ mang lại
những điều tốt đẹp cho thế giới đầy tội lỗi này. Và tôi tin vào Giáo hoàng”.
“Vậy có thể Cha là người
không có đức tin nếu so với những người có niềm tin lớn lao”.
“Nói rất hay”, Donati đáp.
“Vậy còn anh? Anh vẫn còn tin chứ? Hay anh đã từng bao giờ có niềm tin chưa?”
Gariel dừng bước. “Người
Canaanites, người Hittites, Amalekites, người Moabites - họ không còn nữa.
Nhưng vì một lí do nào đấy chúng ta vẫn còn ở đây. Có lẽ bởi vì cách đây 4000
năm Chúa trời đã kí giao kèo với Abraham. Ai biết được?”
“Ta sẽ thi án giáng phúc cho
ngươi, sẽ làm cho dòng dõi ngươi nên đông, nên nhiều như sao trên bầu trời, như
cát ngoài bãi biển”. Donati trích dẫn chương 22 của quyển “Sáng thế ký” (quyển
đầu kinh Cựu Ước).
“Dòng dõi ngươi sẽ chiếm được
thành trì của địch”, Gabriel hoàn tất phần còn lại trong đoạn cho Donati. “Bây
giờ kẻ thù của tôi muốn đòi lại thành trì của mình. Hắn sẵn sàng làm bất cứ
điều gì, kể cả hi sinh con trai mình để đạt được điều này”.
Donati mỉm cười trước sự diễn
giải thông minh lời trong Kinh thánh của Gabriel. “Chúng ta không khác nhau
mấy, anh và tôi. Chúng ta đều hiến dâng mạng sống mình cho những thế lực cao cả
hơn. Đối với tôi là cho nhà thờ, còn anh là cho nhân dân”. Ông dừng lại và nói
thêm. “Cho đất nước”.
Họ đi dọc Via Dolorosa vào
phố Hồi giáo. Khi đường phố được bóng râm phủ mát, Gariel đẩy kính râm lên
trán. Những người bán hàng người Palestine
nhìn anh tò mò từ quầy hàng đông đúc của họ.
“Anh ở đây có sao không?”
“Chúng ta sẽ ổn thôi”.
“Tôi đồ rằng anh có mang theo
vũ khí”.
Gabriel trả lời bằng sự im
lặng. Khi họ tiếp tục rảo bước, ánh mắt Donati chăm chú nhìn vào những cục sỏi
trên đường, cặp lông mày đen rậm nhíu lại suy nghĩ.
“Nếu tôi biết Ali Massoudi đã
chết, như vậy rất có khả năng đồng đảng của hắn cũng biết điều này?”
“Dĩ nhiên”.
“Chúng cũng biết rằng máy
tính của hắn có những tấm hình? Và máy tính thì đã rơi vào tay anh?”
“Có thể”.
“Có thể điều này khiến chúng
thúc đẩy kế hoạch nhanh hơn không?”
“Hoặc có thể chúng sẽ trì
hoãn kế hoạch cho đến khi ông và người Ý lơi lỏng sự canh phòng”.
Họ đi qua cổng Damascus. Gabriel hạ kính
râm xuống khi họ bước vào khu chợ đông đúc ồn ào phía sau những bức tường.
“Có một điều anh cần biết về
những tấm ảnh này”, Donati nói. “Chúng được chụp trong buổi nói chuyện trước
công chúng của Đức Thánh Cha khi ông chào đón người hành hương trên khắp thế
giới tại quảng trường Thánh Peter”.
Gabriel dừng bước nhìn vòm đá
màu vàng ở trên những bức tường đá. “Buổi nói chuyện đại chúng thường được tổ
chức vào thứ tư hàng tuần đúng không?”
“Đúng vậy”.
Gabriel nhìn Donati nói. “Hôm
nay là thứ ba”.
Donati xem đồng hồ đeo tay.
“Anh cho tôi đi nhờ đến sân bay nhé? Nếu đi nhanh chúng ta có thể kịp đến Rome ăn khuya”.
“Chúng ta?”
“Trên đường ra ngoại ô, chúng
ta sẽ ghé qua căn hộ của anh để anh có thể gói ghém đồ đạc”, Donati nói. “Rome mấy bữa nay nhiều
bão. Anh nhớ mang theo áo mưa”.
Mình sẽ phải mang nhiều thứ
chứ không phải chỉ áo mưa, Gabriel thầm nghĩ khi dẫn Donati băng qua chợ. Anh
cũng sẽ cần đến hộ chiếu giả.
Chương 4
Thành phố Vatican
Đó là một văn phòng khá bình
dị đối với một người đầy quyền lực. Tấm thảm phương Đông phai màu do thời gian,
còn rèm cửa trông nặng nề và buồn tẻ. Khi Gabriel và Donati bước vào phòng, một
người nhỏ thó mặc đồ trắng ngồi đằng sau chiếc bàn lớn thô sơ đang chăm chú
nhìn màn hình truyền hình. Trên đó đang chiếu cảnh bạo lực: khói lửa, những
người sống sót bê bết máu đang bứt tóc khóc thương những thân thể không lành
lặn của người đã chết. Giáo hoàng Paul VII, Giám mục thành Rome, Đại giáo chủ nhấn nút Dừng trên chiếc
điều khiển từ xa, và hình ảnh chuyển sang màu đen. “Gabriel”, ông nói. “Rất vui
được gặp lại cậu”.
Giáo hoàng chậm rãi đứng lên
chìa bàn tay nhỏ - không phải là đưa mặt chiếc nhẫn lên như đối với nhiều
người, mà ông lật nghiêng lòng bàn tay. Cái bắt tay vẫn chặt, và đôi mắt nhìn
Gariel trìu mến vẫn trong sáng và đầy khí lực. Gariel đã quên mất Pietro
Lucchesi vốn có dáng dấp nhỏ bé như thế nào. Anh nhớ lại buổi chiều hôm
Lucchesi xuất hiện sau buổi họp kín bầu Giáo hoàng. Khi đó ông di chuyển trong
chiếc áo lễ rộng thùng thình được chuẩn bị vội vã và hầu như không ai có thể
nhìn thấy được ông từ những hàng cột bên ngoài Đại thánh đường. Một nhà bình
luận trên truyền hình Ý đã gọi ông là Pietro Bất khả tư nghị. Hồng y Marco
Brindini, Ngoại trưởng bảo thủ cực đoan, kẻ luôn cho rằng mình sẽ là người bước
ra khỏi cuộc họp kín với bộ bạch y, đã cay đắng gọi Lucchesi là “Giáo hoàng Bất
Ngờ I”.
Tuy nhiên Gabriel luôn nghĩ
về hình ảnh khác của Pietro Lucchesi, hình ảnh ông đứng trên bục đại giáo đường
Do Thái ở Rome phát biểu những điều mà chưa vị Giáo hoàng nào từng nói. “Chúng
tôi xin thú tội và xin các bạn tha thứ cho những tội ác này cũng như những tội
ác sắp bị vạch trần. Không lời nào diễn tả nổi nỗi buồn sâu sắc của chúng tôi.
Trong giờ phút các bạn cần giúp đỡ nhất, khi lực lượng Đức quốc xã kéo các bạn
ra khỏi nhà và lôi đi trên những đường phố xung quanh giáo đường này, các bạn
đã cầu xin giúp đỡ, nhưng lời cầu xin đó bị đáp lại bởi sự thinh lặng. Vì thế
ngày hôm nay, khi tôi cầu xin sự tha thứ, tôi sẽ làm theo cách này. Trong thinh
lặng…”
Giáo hoàng ngồi xuống nhìn
màn hình màu đen không tín hiệu tựa như nó vẫn truyền tới mắt ông những hình
ảnh, những thương vong ở nơi xa xôi. “Ta đã cảnh báo ông ta không được làm điều
này, nhưng ông ta không nghe. Bây giờ ông ta dự định đến châu u hòa giải với
những đồng minh cũ. Ta cầu chúc cho ông ta, nhưng ta nghĩ cơ hội thành công rất
mong manh”.
Gabriel nhìn Donati mong lời
giải thích.
“Nhà Trắng thông báo cho
chúng tôi tối hôm qua là Tổng thống sẽ đến đây vào đầu năm sau nhân chuyến công
du tại các thủ đô châu u. Tổng thống đang hi vọng tạo dựng được một hình ảnh
thân thiện và bớt hiếu chiến hơn nhằm sửa chữa một số tổn thất do quyết định
gây chiến với Irắc”.
“Cuộc chiến ta luôn phản
đối”, Giáo hoàng lên tiếng.
“Ông ấy có ghé thăm Vatican không?”. Gabriel hỏi.
“Ông ta sẽ đến Rome – đó là tất cả những
gì chúng tôi biết. Nhà Trắng vẫn chưa thông báo rằng liệu Tổng thống có muốn
hội kiến với Đức Thánh Cha không. Chúng tôi hi vọng lời yêu cầu sẽ được đưa ra
trong khoảng thời gian ngắn nữa”.
“Ông ta sẽ không bao giờ đến Rome mà không ghé thăm Vatican”, Giáo hoàng nói. “Tín đồ
Công giáo bảo thủ là một bộ phận cử tri quan trọng. Ông ta sẽ muốn một vài bức
ảnh đẹp và vài lời phát biểu thiện chí từ ta. Ông ta sẽ có ảnh chụp. Còn về
phần những lời nói thiện chí…”. Giọng Giáo hoàng nhỏ dần. “Ta e rằng ông ta sẽ
phải tìm điều này ở nơi khác”.
Donati ra dấu cho Gabriel
ngồi xuống. “Tổng thống là người thích nói chuyện thẳng thắn, theo như những
người bạn Mỹ của chúng ta cho biết. Ông ta sẽ lắng nghe những gì Ngài nói, thưa
Đức Thánh Cha”.
“Đáng lẽ ông ta phải lắng
nghe ngay từ đầu. Ngay từ khi ông ta đến Vatican
trước cuộc chiến, ta đã cảnh báo rằng ông ta đang đi trên con đường tai họa. Ta
bảo rằng cuộc chiến không có lí do chính đáng vì không có mối đe doạ thực sự
nào với nước Mỹ và đồng minh, rằng ông ta chưa lật tung mọi con đường tìm cách
đảo ngược mâu thuẫn, rằng Liên Hợp Quốc chứ không phải Mỹ mới có đủ thẩm quyền
thích hợp giải quyết việc này. Nhưng ta đã dành phần lớn vào việc giận dữ cho
đoạn tranh luận lúc cuối chống lại cuộc chiến. Ta nhận định Tổng thống Mỹ sẽ
mau chóng giành được thắng lợi trên chiến trường. ‘Các ngài rất mạnh,’ ta nói,
‘còn địch thủ của các ngài rất yếu’. Nhưng ta cũng tiên đoán những năm sau cuộc
chiến, nước Mỹ sẽ phải đối mặt với các cuộc nổi dậy bạo loạn. Ta cũng cảnh báo
ông ta nếu dùng vũ lực giải quyết khủng hoảng, ông ta sẽ chỉ tạo ra sự khủng
hoảng nặng nề hơn. Thế giới Hồi giáo sẽ nghĩ đó là cuộc Thập tự chinh mới của
những người Thiên Chúa giáo da trắng. Khủng bố không thể bị đánh bại bởi khủng
bố, mà phải do công bằng về kinh tế và xã hội đem lại”.
Giáo hoàng, sau khi kết thúc
bài thuyết pháp, nhìn hai thính giả để xem phản ứng. Mắt ông đảo qua đảo lại
vài lần trước khi lưu lại lên khuôn mặt Gabriel. “Hình như cậu muốn phản biện
lại những gì ta vừa nói”.
“Ngài là người có tài hùng
biện tuyệt vời, thưa Đức Thánh Cha”.
“Cậu là người trong gia đình,
Gabriel. Cứ nói những gì mình nghĩ”.
“Lực lượng Hồi giáo cấp tiến
đã tuyên bố chiến tranh với chúng ta - Mỹ, phương Tây, Thiên Chúa giáo, Israel. Theo
luật của Chúa và luật của loài người, chúng ta có quyền, thật ra là có nghĩa vụ
phải kháng cự”.
“Kháng cự lại những tên khủng
bố bằng sự mềm mỏng và nhân đạo thì tốt hơn là bằng bạo lực và đổ máu. Khi các
chính trị gia dùng đến bạo lực, bao giờ dân chúng cũng là người gánh chịu trước
tiên”.
“Dường như Đức Thánh Cha tin
rằng vấn đề về khủng bố và Hồi giáo cấp tiến có thể được giải quyết nếu như làm
cho họ giống chúng ta hơn - rằng nếu nghèo đói, thất học, và chuyên chế không
phổ biến nhiều như thế ở thế giới Hồi giáo, thì sẽ không có những thanh niên
sẵn sàng hi sinh cuộc sống của mình để gây thương tật hay giết hại người khác.
Họ đã nhìn thấy lối sống của chúng ta nhưng họ không muốn sống như vậy. Họ đã
nhìn thấy chế độ dân chủ mà chúng ta có, nhưng lại chối bỏ. Họ xem dân chủ như
một tôn giáo chống lại những điều răn của Hồi giáo, vì thế họ sẽ chống cự lại
bằng cơn thịnh nộ mà họ cho là thiêng liêng. Làm sao chúng ta có thể mang đến
công bằng và thịnh vượng cho những người Hồi giáo chỉ tin vào cái chết?”
“Điều này chắc chắn không thể
áp đặt lên họ bằng nòng súng người da trắng”.
“Con đồng ý, thưa Đức Thánh
Cha. Chỉ khi Hồi giáo tự thay đổi thì mới có công bằng xã hội và thịnh vượng
đích thực trong thế giới Arập Xêút. Nhưng trong thời gian đó chúng ta không thể
chỉ ngồi nhìn những phần tử Hồi giáo cực đoan tìm cách hủy diệt chúng ta. Điều
đó, thưa Đức Thánh Cha, cũng là phi luân lý”.
Giáo hoàng nhỏm người dậy
khỏi bàn mở cửa sổ lớn nhìn ra quảng trường Thánh Peter. Màn đêm buông xuống. Rome đang chuyển mình
dưới chân ông.
“Ta đã đúng về chiến tranh,
Gabriel, và ta cũng đúng về tương lai đang chờ tất cả chúng ta - Hồi giáo,
Thiên Chúa giáo, và Do Thái giáo - nếu chúng ta không chọn con đường khác.
Nhưng ai sẽ lắng nghe ta? Ta chỉ là ông già trong bộ đồ tu hành sống trong lồng
dát vàng. Ở châu u chúng ta sống như thể Chúa không tồn tại. Chống thân Mỹ là
tôn giáo duy nhất của chúng ta bây giờ”. Ông quay người lại nhìn Gabriel. “Và
chống người Do Thái”.
Gabriel im lặng. Giáo hoàng
nói, “Luigi báo với ta rằng bên cậu vừa khám phá ta âm mưu ám sát ta. Lại một
âm mưu khác”, ông nói thêm với nụ cười buồn bã.
“Con e là như thế, thưa Đức
Thánh Cha”.
“Chuyện này khôi hài nhỉ? Ta
là người cố gắng ngăn chặn cuộc chiến ở Irắc. Ta là người cố bắc cầu giữa Hồi
giáo và Do Thái giáo. Vậy mà ta lại là người chúng muốn giết”. Giáo hoàng nhìn
ra ngoài cửa sổ. “Có lẽ ta đã sai lầm. Có lẽ rốt cuộc họ không muốn có một cầu
nối là ta”.
Hầu hết các buổi tối Giáo
hoàng Paul VII và Đức ông Donati thường dùng bữa cùng nhau trong khu riêng dành
cho Giáo hoàng với một hay hai khách mời. Donati thường cố gắng tạo không khí
nhẹ nhàng, thư giãn, và thỉnh thoảng có nhắc đến công việc thì cũng chỉ giới
hạn trong phạm vi những chuyện gẫu về Hội đồng Hồng y một cách kín đáo. Tuy
nhiên, tối hôm đó không khí trong phòng ăn của Giáo hoàng khác hẳn. Danh sách
khách mời được triệu tập một cách vội vã, không chỉ bao gồm những người bạn cũ
mà còn những người chịu trách nhiệm bảo vệ Giáo hoàng: Đại uý Karl Brunner, chỉ
huy Đội cận vệ Thụy Sĩ chuyên bảo vệ Giáo hoàng, Tướng Carlo Marchese bên Lực
lượng cảnh sát vũ trang Carabinieri, và Martino Berlano, Phó cục an ninh Ý.
Gabriel chuyền những bức ảnh
và tóm tắt thông tin cho họ bằng tiếng Ý theo giọng Áo. Bài thuyết trình của
anh súc tích hơn những gì anh đã nói với Donati ở Jerusalem sáng hôm đó, và anh không nhắc đến
tên Ali Massoudi. Tuy vậy, giọng điệu của anh đã khẳng định việc Tình báo Israel xem mối
đe dọa là có thực và cần phải thực hiện những biện pháp bảo vệ Giáo hoàng và
Toà thánh. Khi anh dứt lời, khuôn mặt những người của Lực lượng an ninh tỏ vẻ
nghiêm túc, nhưng không hoảng loạn. Họ đã trải qua những chuyện như thế này
nhiều lần, vì vậy, họ đã có kinh nghiệm trong việc lập nên những quy trình cần
thiết để tăng cường an ninh xung quanh Đức Thánh Cha và Toà thánh Vatican khi cần thiết. Gabriel lắng nghe họ điểm lại
những quy trình này. Khi họ tạm ngừng trao đổi, anh hắng giọng.
“Anh muốn đề nghị điều gì
à?”. Donati hỏi.
“Có lẽ chúng ta nên dời buổi
lễ ngày mai vào trong nhà - vào khán phòng Giáo hoàng”.
“Ngày mai Đức Thánh Cha sẽ
tuyên phúc cho một nữ tu sỹ người Bồ Đào Nha”, Donati nói. “Chúng tôi nghĩ có
thể có tới vài ngàn người hành hương Bồ Đào Nha, cộng thêm một đám đông khổng
lồ như mọi buổi lễ khác. Nếu chúng ta dời buổi lễ vào phòng, nhiều người sẽ
không được tham dự”.
“Thà để một vài người hành
hương ở ngoài còn hơn để Đức Thánh Cha bị nguy hiểm một cách không cần thiết”.
Giáo hoàng nhìn Gabriel. “Cậu
có bằng chứng cụ thể nào chứng tỏ bọn khủng bố sẽ tấn công ngày mai không?”
“Dạ không, thưa Đức Giáo
hoàng. Tin tức tình báo kiểu như vậy rất khó xác minh”.
“Nếu chúng ta dời những người
đi lễ vào khán phòng, và không cho những người xứng đáng tham dự buổi lễ, như
vậy cũng đồng nghĩa với việc bọn khủng bố đã chiến thắng, đúng không?”
“Đôi khi nên để cho bọn khủng
bố giành được chiến thắng nho nhỏ còn hơn là chúng ta phải chịu những thất bại
nặng nề”.
“Dân tộc cậu vốn nổi tiếng về
việc sống đối mặt với những đe dọa khủng bố mà”.
“Chúng tôi vẫn đang có những
biện pháp đề phòng”, Gabriel nói. “Ví dụ không ai có thể đến nơi công cộng mà
không bị lục soát”.
“Thế thì hãy lục soát những
người hành hương và tiến hành những biện pháp phòng ngừa cần thiết”, Giáo hoàng
đáp lại. “Nhưng ta sẽ có mặt tại quảng trường Thánh Peter chiều mai, nơi ta
thực thi bổn phận của mình. Trách nhiệm của các anh là phải đảm bảo không có
chuyện gì xảy ra”.
Đồng hồ mới hơn mười giờ khi
Donati đưa Gabriel xuống các bậc thang dẫn từ Cung điện Tòa thánh đến Via
Belverdere. Màn sương nhẹ đang buông xuống; Gabriel kéo khóa áo khoác và vắt
chiếc túi du lịch lên vai. Donati không mặc áo khoác, dường như ông không cảm
thấy lạnh. Mắt ông nhìn xuống đá lát đường khi họ đi ngang qua bưu điện trung
tâm Vatican về phía cổng Thánh Anne.
“Anh có chắc không cần ta cho
đi nhờ xe không?”
“Cho đến sáng nay tôi vẫn
nghĩ mình không bao giờ được đặt chân đến nơi này một lần nữa. Tôi muốn dùng cơ
hội này để đi dạo”.
“Nếu cảnh sát Ý bắt anh trước
khi về tới căn hộ, hãy nói họ gọi cho tôi. Đức Thánh Cha sẽ đảm bảo cho sự an
toàn của anh”. Họ rảo bước trong yên lặng một lát. “Tại sao anh không quay lại
đây luôn?”
“Quay lại Ý? Tôi e rằng
Shamron có những kế hoạch khác cho tôi”.
“Chúng tôi nhớ anh”, Donati
nói. “Tiepolo cũng vậy”.
Francesco Tiepolo, một người
bạn của Giáo hoàng và Donati, là chủ công ty phục chế tranh thành công nhất ở Veneto. Gabriel từng
phục chế hai bức họa sau bàn thờ nổi tiếng nhất của Bellini cho ông. Gần hai
bức thôi, anh nghĩ. Tiepolo phải tự hoàn tất bức San Giovanni Crisostomo sau khi
Gabriel phải rời bỏ Venice.
“Tôi biết Tiepolo sẽ sống mà
không cần tôi”.
“Thế còn Chiara thì sao?”
Gabriel, bằng sự im lặng đầy
tâm trạng của mình, thầm ngụ ý rằng không muốn thảo luận với thư ký riêng của
Giáo hoàng về chuyện tình cảm phức tạp của mình. Donati khôn khéo chuyển đề
tài.
“Ta rất tiếc nếu anh cảm thấy
Giáo hoàng gây khó xử cho anh. Ta e rằng ông không còn nhiều kiên nhẫn như ngày
xưa nữa. Tất cả các Giáo hoàng đều như thế sau vài năm nắm quyền. Khi một người
được bầu làm Giáo hoàng, thật khó mà không trở nên nóng nảy”.
“Đức Thánh Cha vẫn là người
có tâm hồn dịu dàng như tôi gặp cách đây ba năm, Luigi. Chỉ già hơn một chút”.
“Khi được bầu ông không còn
là một thanh niên nữa. Các Hồng y muốn bầu một Giáo hoàng cai quản Vatican, một
ai đó giữ ấm ngai vàng của Thánh Peter trong khi những người đổi mới và phe bảo
thủ cực đoan giải quyết những bất đồng. Giáo hoàng chưa bao giờ có ý định chỉ
làm người cai quản, anh cũng biết rồi đấy. Ông còn nhiều việc phải làm trước
khi nhắm mắt - những điều có thể không làm cho phe bảo thủ hài lòng. Rõ ràng ta
không muốn nhiệm kỳ của Giáo hoàng sớm kết thúc”.
“Tôi cũng vậy”.
“Đó chính là lí do tại sao ta
muốn anh là người đứng bên cạnh ông trong buổi lễ ngày mai”.
“Đội cận vệ Thụy Sĩ và Lực
lượng Carabinieri có khả năng bảo vệ Giáo hoàng tốt hơn”.
“Có thể, nhưng họ chưa bao
giờ trải qua một cuộc tấn công khủng bố thực sự”.
Gabriel nói. “Thường là không
ai còn sống để kể lại cuộc tấn công đã xảy ra như thế nào”.
Donati nhìn Gabriel. “Anh đã
từng trải qua”, ông nói. “Anh đã ở sát bên bọn khủng bố. Anh cũng nhìn thấy ánh
mắt kẻ lúc chuẩn bị bấm nút kích nổ”.
Họ dừng lại khi cách cổng
Thánh Anne vài thước. Bên trái là nhà thờ Thánh Anne tròn màu bơ, nhà thờ giáo
xứ của thành phố Vatican; ở bên phải họ là lối vào doanh trại Đội cận vệ Thụy
Sĩ. Một người lính cận vệ đứng gác ngay bên trong cổng, mặc bộ quân phục ban
đêm màu xanh giản dị.
“Cha muốn tôi làm gì, Luigi?”
“Ta gửi gắm mọi việc vào đôi
tay tài năng của anh. Hãy tự tìm ra vấn đề. Khi thấy điều gì không ổn, hãy tự giải
quyết”.
“Dựa vào quyền gì?”
“Quyền của ta”, Donati nói
quả quyết. Ông thò tay vào túi lấy một tấm thẻ mỏng ra trao cho Gabriel. Đây là
thẻ căn cước trong Vatican có đóng dấu của văn
phòng an ninh. “Tấm thẻ này sẽ cho phép anh vào bất cứ nơi đâu trong Vatican - dĩ
nhiên ngoại trừ phòng Tàng thư. Ta e rằng không thể cho phép anh lục lọi ở
trong đó”.
“Tôi đã làm thế rồi”, Gabriel
nói, sau đó thả tấm thẻ vào túi áo khoác và bước ra phố. Donati chờ tại cổng
Thánh Anne cho đến khi Gabriel khuất bóng trong màn đêm mới quay người lại trở
về Toà thánh. Ông tự cảm thấy ngạc nhiên khi thấy mình vừa đi vừa lẩm nhẩm lời
bài Hail Mary.
Gabriel băng qua sông Tiber trên cầu Umberto. Sang bờ bên kia anh quẹo trái đi
về phía quảng trường Piaaza de Spagna. Quảng trường lúc đó vắng vẻ, và những
bậc thang Tây Ban Nha sáng lên dưới ánh đèn trông như gỗ bóng loáng. Trên bậc
thứ hai mươi tám có một cô gái đang ngồi. Tóc cô giống tóc của Chiara, và trong
một thoáng Gabriel nghĩ đó thực sự là cô. Nhưng khi trèo lên cao hơn anh nhận
ra đó chỉ là Nurit, người đưa thư cáu kỉnh thuộc trạm Rome. Cô ta đưa anh chìa khóa của căn hộ an
toàn, và bằng tiếng Do Thái cổ, bảo rằng đằng sau những hộp thiếc trong chạn
anh sẽ thấy khẩu Beretta đã lên đạn và một băng đạn dự trữ.
Anh đi nốt những bậc thang
còn lại lên nhà thờ Trinità dei Monti. Căn hộ cách nhà thờ khoảng 50 thước,
trên Via Gregoriana. Căn hộ có hai phòng ngủ và một sân thượng nhỏ. Gabriel lấy
khẩu súng khỏi hông và vào phòng ngủ lớn hơn. Điện thoại, giống như điện thoại
trong những căn hộ an toàn khác, không có chuông mà chỉ có đèn đỏ nhấp nháy cho
biết đang có cuộc gọi đến. Gabriel nằm trên giường trong bộ đồ mặc đi gặp Thủ
tướng, nhấc tai nghe lên bấm một số điện thoại ở Venice. Giọng phụ nữ trả lời. “Có chuyện
gì?”, cô ta hỏi bằng tiếng Ý. Sau đó, khi không ai trả lời, cô ta chửi thề và
dập điện thoại xuống - mạnh đến nỗi khiến Gabriel giật ống nghe khỏi tai trước
khi nhẹ nhàng đặt lại xuống máy.
Anh cởi đồ và để gối dưới
đầu. Khi đang thiu thiu ngủ căn phòng bỗng nhiên sáng lên bởi tia chớp. Theo
bản năng anh đếm để tính toán thời gian giữa mỗi lần chớp. Anh nhìn thấy một
cậu bé gầy gò có đôi mắt xanh như ngọc lục bảo đuổi theo chớp trên đồi ở Nazareth. Sấm nổ trước
khi đếm đến lần thứ tư, làm rung chuyển cả tòa nhà.
Thêm nhiều tia chớp nhanh
chóng theo sau, và mưa đập vào cửa phòng ngủ. Gabriel cố gắng chợp mắt nhưng vô
ích. Anh bật đèn bên giường ngủ lên, mở tập hồ sơ có những tấm ảnh lấy từ máy
tính của Massoudi, chầm chậm giở từ tấm này sang tấm khác, ghi nhớ chúng. Một
tiếng sau anh tắt đèn và hình dung lại những bức ảnh. Chớp nhá trên đỉnh tháp
chuông nhà thờ. Gabriel nhắm mắt lại nhẩm đếm.

