Người đưa tin - Phần 3 - Chương 28 - 29
Chương 28
Tổng hành dinh CIA
Tin về tai họa ở
Saint-Barthélemy bay về phòng điều hành đặt tại đại lộ King Saul trong vòng 5
phút sau khi Gabriel quay trở về với chiếc du thuyền Sun Dancer. Amos Sharrett,
Tổng giám đốc, đang ngồi trong văn phòng trên lầu vào lúc đó và được báo cáo về
tiến trình của vụ việc. Mặc dầu lúc đó đã muộn rồi, nhưng ông vẫn gọi điện cho
Thủ tướng và kể cho ngài nghe vụ việc. Năm phút sau đó ông nhận được một cuộc
gọi mật từ chiếc du thuyền Sun Dancer. Cuộc gọi không đi vào trung tâm điều
hành mà vào đường dây riêng trong văn phòng của Adrian Carter ở tầng bảy.
Carter đón nhận tin tức một cách bình thản, y như các việc khác, anh nghịch với
cái kẹp giấy trên bàn khi Gabriel đưa ra lời yêu cầu của mình. “Chúng ta có máy
bay ở Miami ngay lúc này”, Carter bảo. “Máy bay có thể đáp ở Saint Maarten
trước bình minh”.
Carter gác máy và nhìn về
phía ti vi ở phía kia góc phòng. Tổng thống Mỹ đã đi châu u vài ngày để gặp tân
Thủ tướng Đức. Bên ngoài cảnh sát tiến hành những trận chiến đường phố xuyên
suốt thành phố Berlin để dập tắt những đám đông biểu tình chống Mỹ. Hai điểm
đến còn lại gồm Pari và Roma cũng thế thôi. Cảnh sát Pháp đang gắng sức kiềm chế
việc bạo động của những người theo đạo Hồi. Cảnh sát Ý đang ngăn chặn những
cuộc biểu tình trên diện rộng chưa từng thấy trong một thế hệ qua ở Rome. Xem
chừng khó mà đạt được sự hòa hợp về ý kiến và quyền lợi xuyên Đại Tây Dương mà
nhóm người tạo dựng bộ mặt của Nhà Trắng đã hi vọng.
Carter tắt ti vi và cất tài
liệu mật vào ngăn tủ, khóa lại rồi vớ lấy chiếc áo khoác mắc sau cửa và mặc
vào. Mấy người thư kí đã về nhà, tiền sảnh im lìm trong bóng tối ngoại trừ một
khe sáng từ căn phòng hé cửa ở phía đối diện. Cánh cửa dẫn vào văn phòng của
Shepard Cantwell, Phó chánh văn phòng cơ quan tình báo, chức vụ tương đương với
Carter trong bộ phận phân tích tình báo. Trong phòng vang lên tiếng lách cách
của bàn phím máy vi tính. Cantwell vẫn còn ở đó. Theo như những người có đầu óc
dí dỏm bên phân tích tình báo thì Cantwell chưa bao giờ rời khỏi phòng làm việc
của mình. Khi đêm xuống, ông ta nhốt mình vào cái tủ tường bằng sắt và tự thả
mình ra lúc bình minh để kịp có mặt ở bàn làm việc khi Chánh văn phòng đến.
“Phải anh không Adrian?”.
Cantwell hỏi bằng cái giọng lè nhè. Khi Carter đưa đầu vào cái ‘chuồng’,
Cantwell ngừng gõ và ngước mắt nhìn lên, trước mặt là một chồng hồ sơ. Trông
ông ta nghiêm nghị một mà láu lỉnh thì đến hai. “Lạy Chúa, Adrian, trông anh
như xác chết biết đi ấy. Anh buồn phiền vì việc gì vậy?”
Khi Carter lúng túng về sự
hỗn độn quanh chuyến công du đầy thiện chí của ngài Tổng thống, Cantwell bắt
đầu dài dòng văn tự về những nguy cơ giả tạo của chủ nghĩa chống Mỹ. Cantwell
chỉ phân tích, ông ta không giúp gì được.
“Adrian à, cái nhu cầu lố
bịch vừa muốn có quyền lực vừa được yêu thương của chúng ta luôn cuốn hút tôi.
Ngài Tổng thống Mỹ đi nửa vòng trái đất và lật đổ tên chuyên quyền ở
Minipotamia chỉ trong một buổi chiều. Ngay cả Caesar cũng chẳng làm nổi việc
ấy. Bây giờ Tổng thống lại muốn được chính những kẻ chống đối ủng hộ mình. Càng
sớm thôi lo lắng về chuyện được yêu thích hay không thì chúng ta càng thấy hạnh
phúc và thỏa mãn hơn đấy”.
“Anh lại đọc Machiavelli nữa
hả Shep?”
“Tôi chưa bao giờ ngừng đọc”.
Ông đan các ngón tay lại để sau gáy rồi lại dang khủy tay ra để tránh Carter
nhìn thấy nách của mình. “Có một tin đồn ác ý đang lan truyền trong vùng đấy”.
“Thật à?”. Carter liếc nhìn
đồng hồ đeo tay, Cantwell có vẻ không để ý đến cử chỉ này lắm.
“Theo như tin đồn thì anh có
liên quan đến vài hoạt động đặc biệt nào đó chống lại một anh bạn giàu có người
Arập Xêút . Và đối tác của anh trong vụ này là, tôi chỉ nói điều tôi nghe thấy
thôi Adrian à, những người Do Thái”.
“Anh không nên nghe những tin
đồn đó. Thế nó đồn đi bao xa rồi?”. Carter hỏi.
“Xa hơn Langley”. Cantwell
trả lời. Có nghĩa là lời đồn đã đến tai các cơ quan khác và nhanh chóng xâm lấn
đến bề mặt của CIA, lần đầu tiên kể từ sự cải tổ đáng sợ của cộng đồng tình báo
Mỹ.
“Xa thế nào?”
“Đủ xa để vài người trong thị
trấn bắt đầu thấy bất an. Anh biết quy luật của cuộc chơi mà, Adrian. Có một
đường ống giữa Riyadh và Washington, và tiền mặt chảy đầy qua đó. Vùng này đang
bị cuốn đi bởi con sóng tiền của người Arập Xêút. Nó đổ vào cơ quan lập pháp và
các công ty luật. Mẹ kiếp, bọn vận động hành lang đi ăn tối bằng số tiền ấy
đấy. Người Arập Xêút thậm chí còn thành công trong việc tạo ra một hệ thống để
hối lộ chúng ta trong khi ta vẫn còn tại chức. Mọi người biết rằng nếu không
‘canh chừng’ bọn Arập Xêút ấy khi họ còn làm việc cho Cục Dự trữ Liên bang thì
chúng cũng sẽ ‘canh chừng’ họ khi họ làm ăn trong lĩnh vực tư nhân thôi. Có lẽ
là ở dạng hợp đồng tư vấn sinh lợi hay việc hợp pháp nào đó. Có lẽ là một cái
ghế ở viện nghiên cứu tẻ nhạt nào đó có liên quan đến băng đảng Arập Xêút. Và
vì thế khi tin đồn lan truyền rằng ‘một gã cao bồi’ ở Langley đang chạy theo
một hội những nhà hảo tâm rộng lượng thuộc hệ thống tội lỗi này, người ta dễ
bồn chồn lắm chứ”.
“Anh có nằm trong số đó không
Shep?”
“Tôi ấy à?”. Cantwell lắc
đầu. “Tôi sẽ trở lại Boston ngay khi tôi được ‘phóng thích’. Nhưng có những
người khác trong tòa nhà này đang dự định đi chơi vòng quanh phố xá và tiêu
tiền như nước đấy”.
“Nếu những nhà hảo tâm rộng
lượng trong hệ thống tội lỗi ấy cũng đang chất xác những tên lái máy bay đâm
thẳng vào các tòa cao ốc của chúng ta vào quan tài thì sao? Nếu như những người
bạn này của chúng ta chán khủng bố đến tận cổ thì sao? Nếu như chúng sẵn sàng
thỏa hiệp với quỷ dữ bằng bất cứ giá nào để bảo đảm sự sống còn của chúng, thậm
chí là xác chết của dân Mỹ thì sao?”
“Thì anh bắt tay và mỉm cười
chứ sao”. Cantwell trả lời. “Và anh coi chủ nghĩa khủng bố như thể loại thuế
phụ thu bất cập cho lần đổ xăng kế tiếp của anh. Anh vẫn lái chiếc Volvo cũ đấy
chứ?”
Cantwell biết rõ Carter lái
xe gì vì phần chỗ đậu xe của hai người kế bên nhau. “Tôi không đủ khả năng mua
xe mới. Làm sao dư tiền khi phải nuôi ba đứa con đang còn đi học cho được?”
“Có lẽ anh nên đăng kí cho kế
hoạch về hưu của bọn Arập Xêút. Tôi thấy một hợp đồng tư vấn sinh lợi trong
tương lai của anh đấy”.
“Đó không phải kiểu sống của
tôi Shep à”.
“Thế còn tin đồn thì sao? Có
tin nào là thật không?”
“Không có tin nào thật hết”.
“Rất vui khi nghe anh xác
nhận như thế. Tôi sẽ nhắn nhủ lại với mọi người. Chúc ngủ ngon, Adrian”.
“Ngủ ngon, Shep”.
Carter đi xuống lầu. Bãi giữ
xe gần như trống. Carter bước lên chiếc Volvo của mình và chạy thẳng đến khu
Tây Bắc Washington, theo đúng con đường ông ta và Gabriel đã đi tám tuần trước
đó. Khi chạy ngang qua khu bất động sản của Zizi al-Bakari, ông cho xe chạy
chậm lại và nhìn qua thanh chắn cổng lên vách núi, nơi điền trang toạ lạc với
mặt chính quay ra sông. Đừng có đụng đến cô ấy, Carter cáu kỉnh. Đụng đến một
sợi tóc trên đầu cô ấy thôi, tao sẽ tự tay giết mày. Chạy đến cầu Chain, ông
nhìn vạch xăng trên bảng điều khiển xe. Vạch đỏ. Thật đúng lúc, ông nghĩ. Bình
xăng gần như cạn hẳn.
***
Cùng lúc đó, chiếc du thuyền
Sun Dancer lượn quanh Grande Pointe và quay trở về nơi thả neo ở Gustavia.
Gabriel ngồi một mình trên thành tàu, cặp kính áp sát mắt, nhìn phía đuôi con
tàu Alexandra, nơi nhân viên đang vội vã chuẩn bị buổi ăn tối cho ba mươi
người. Gabriel thấy họ như những nhân vật trong một bức tranh. Anh ta bắt đầu
đặt tên. Bữa tiệc trên tàu hay Bữa tối cuối cùng nhỉ?
Kia là Zizi, ngồi như một vị
vua ở đầu bàn, như thể mọi sự kiện xảy ra trong buổi ăn tối chỉ là trò tiêu
khiển mở đầu cho một chuyến du hành, mà nếu không có trò tiêu khiển ấy thì
chuyến đi này sẽ đơn điệu nhàm chán làm sao. Bên trái hắn là cô con gái xinh
đẹp Nadia. Bên phải hắn là chỉ huy thứ hai Daoud Hamza đang ngồi chọc nĩa vào
thức ăn với dáng vẻ không ngon miệng cho lắm. Phía kia bàn là các luật sư,
Abdul & Abdul, và Herr Wehrli, người trông coi tài sản của Zizi. Kia là
Mansur, người sắp xếp các chuyến du lịch; Hassan, chuyên về truyền thông, bảo
mật và những việc khác đại loại như thế. Rồi đến Jean-Michel, người chăm sóc
thân thể cân đối của Zizi và cũng là một vệ sĩ bổ sung của ông trùm, kế bên là
Monique, cô vợ mặt sưng mày sỉa của hắn. Có Rahimah Hamza và người tình của
Hamid - ngôi sao điện ảnh Ai Cập xinh đẹp. Có nhóm tứ tấu gồm bốn gã vệ sĩ mặt
bồn chồn lo lắng và vài cô gái quyết rũ với vẻ mặt vô tội. Ngồi ở góc xa đằng
kia, rất xa so với tên trùm Zizi, là một người phụ nữ xinh đẹp trong bộ cánh
bằng lụa màu vàng nghệ. Cô tạo nên sự cân bằng trong bố cục của bức tranh. Cô
vô tội trước tội ác khủng khiếp của Zizi. Gabriel có thể thấy vẻ mặt sợ hãi đến
cực độ của cô. Gabriel biết mình đang chứng kiến một buổi trình diễn. Nhưng
buổi trình diễn này có lợi cho ai? Hắn ta hay Sarah?
Nửa đêm, các nhân vật trong
bức tranh đứng dậy và chúc nhau ngủ ngon. Sarah biến mất qua hành lang và
Grabiel mất dấu cô một lần nữa. Zizi, Daoud Hamza, và Wazir bin Talal đi vào
phòng Zizi. Gabriel nghĩ ra một bức tranh mới: Cuộc hẹn của ba con quỷ, không
biết họa sĩ là ai.
Năm phút sau Hassan chạy vào
văn phòng và đưa cho Zizi chiếc điện thoại di động. Ai đang gọi hắn? Có phải là
một trong những tên môi giới của Zizi xin hướng dẫn nên chọn vị trí nào cho
buổi khai trương thương mại ở Luân Đôn không? Hay là Ahmed in Shafiq, kẻ sát
nhân những người vô tội, nói cho Zizi biết nên xử cô gái của Gabriel như thế
nào?
Zizi nhận điện thoại và vẫy
tay gọi Hassan đi ra ngoài. Wazir bin Talal, tên phụ trách an ninh, đi đến cửa
sổ và hạ tất cả màn xuống.
Sarah nhìn qua cửa cái và bật
tất cả đèn sáng trong phòng. Cô bật truyền hình vệ tinh lên và chuyển ngay sang
kênh CNN. Cảnh sát Đức xô xát với những người phản đối Mỹ trên phố. Thêm chứng
cứ về thất bại của Mỹ ở Irắc, theo lời người phóng viên hụt hơi trên đài.
Cô đi ra boong tàu và ngồi
xuống. Chiếc thuyền buồm nhẹ cô quan sát kể từ khi rời bến cảng trưa hôm nay đã
quay trở lại. Có phải là thuyền của Gabriel không nhỉ? Bin Shafiq còn sống hay
chết? Cô chỉ biết rằng có chuyện gì đó tồi tệ đã xảy ra. Những chuyện như thế
này thỉnh thoảng cũng xảy ra, Zizi đã từng nói. Đó là lí do tại sao chúng ta
phải coi trọng vấn đề an ninh.
Sarah cứ nhìn chiếc thuyền
buồm chằm chằm, tìm kiếm bất cứ dấu hiệu nào của sự chuyển động trên boong tàu
ấy, nhưng nó ở quá xa đến nỗi cô chẳng thấy gì. Chúng tôi ở ngay đây với cô
Sarah à. Tất cả chúng tôi. Gió thốc lên. Cô vòng tay ôm đầu gối vào sát người
mình, ngồi co ro.
Tôi hi vọng tất cả các bạn
vẫn còn ở đó, cô nghĩ. Và làm ơn, hãy cứu tôi khỏi chiếc tàu này trước khi họ
giết tôi.
Một lúc sau, cái lạnh làm cô
muốn đi ngủ. Cô thức dậy vào một buổi bình minh xam xám và mưa nhẹ hạt trên nóc
boong tàu. Ti vi vẫn bật; ngài Tổng thống đã đến Pari. Place de la Concorde trở
thành một biển người biểu tình phản đối. Sarah bốc điện thoại lên và gọi cà
phê. Đúng năm phút sau có người đem cà phê tới. Mọi thứ đều nguyên vẹn như cũ,
ngoại trừ tấm giấy viết tay nhỏ được gấp làm đôi và đặt kế bên rổ bánh mì ngọt
của cô. Tin nhắn từ Zizi. Tôi có công việc cho cô đây Sarah. Dọn đồ đạc và sẵn
sàng rời khỏi đây lúc 9 giờ nhé. Chúng ta sẽ nói chuyện trước khi cô rời tàu.
Sarah rót một cốc cà phê và đứng uống ngoài ban công. Lúc đó cô mới để ý rằng
chiếc Alexandra đã rời Saint Bart và đang lướt trên biển. Cô nhìn tờ giấy của
tên trùm một lần nữa. Nó không cho biết cô sẽ đi đâu.
Chương 29
Rời Saint Maarten
Sarah trình diện ở đuôi sau
boong tàu đúng lúc 9 giờ. Trời bắt đầu mưa nặng hạt. Mây đen và gió mạnh mặc
nhiên đùa giỡn với biển. Zizi mặc áo mưa màu lam nhạt và đeo kính đen dù thời
tiết rõ ràng là rất u ám. Bin Talal đứng bên cạnh tên trùm.
“Không trễ một phút nào cả”.
Sarah nói chuyện một cách thân thiện. “Đầu tiên là dọa nổ bom, rồi một tờ ghi
chú nhỏ bảo dọn đồ đạc kẹp trong bữa ăn sáng của tôi”. Cô nhìn về phía khoảng
trống dành cho máy bay lên thẳng và thấy phi công của Zizi đang trèo lên buồng
lái chiếc Sikorsky. “Tôi phải đi đâu đây?”
“Tôi sẽ nói cho cô biết trên
đường đi”. Zizi trả lời, nắm lấy tay cô.
“Ông sẽ đến đó với tôi chứ?”
“Chỉ đến Saint Maarten thôi”.
Hắn kéo cô về phía cầu thang dẫn lên sân bay. “Có một chiếc phản lực dành riêng
cho cô ở đấy”.
“Chiếc phản lực ấy chở tôi đi
đâu?”
“Đến chỗ bức tranh. Tôi sẽ
nói cho cô rõ trên đường đến đó”.
“Bức tranh ở đâu, ông Zizi?”
Hắn dừng lại giữa đường đến
bậc thang và nhìn cô, đôi mắt giấu sau cặp kính đen.
“Việc đó có phiền cô lắm
không Sarah? Cô có vẻ căng thẳng quá”.
“Tôi chỉ không thích việc lên
máy bay mà chẳng biết mình sẽ được đưa tới đâu”.
Tên trùm mỉm cười và bắt đầu
nói với cô, nhưng lời hắn nói bị chìm lỉm bởi tiếng động cơ rú rít của chiếc
Sikorsky.
Lúc chiếc trực thăng cất
cánh, Gabriel đang đứng trên thành tàu Sun Dancer. Anh quan sát nó chốc lát rồi
chạy vội đến đài chỉ huy chỗ viên Đại úy hải quân đứng lái.
“Chúng chuyển cô ấy đến Saint
Maarten rồi. Chúng ta cách bờ bao xa vậy đại úy?”
“Khoảng năm dặm”.
“Mất bao nhiêu thời gian mới
tới được đó?”
“Thời tiết mà cứ như thế này,
tôi đoán khoảng 30 phút. Có thể ít hơn”.
“Còn mấy chiếc Zodiac thì
sao?”
“Anh sẽ không muốn thử chiếc
Zodiac nào đâu, nhất là với tiết trời này”.
“Vậy đưa chúng tôi gần đến
đó, càng nhanh càng tốt”.
Người Đại úy hải quân gật đầu
và chuyển hướng tàu. Gabriel đi đến trung tâm chỉ huy gọi điện cho Carter.
“Cô ấy đang bị dẫn đến sân
bay ở Saint Maarten”.
“Cô ấy đi một mình à?”
“Không, Zizi và tên đội
trưởng an ninh đi với cô ấy”.
“Anh mất bao nhiêu thời gian
để đến đó?”
“45 phút đến bờ. Thêm 15 phút
đến sân bay”.
“Tôi sẽ cho phi hành đoàn sẵn
sàng cùng với chiếc máy bay khi anh đến nơi”.
“Hiện thời tôi chỉ cần biết
Zizi đưa cô ấy đi đâu”.
“Nhờ bọn al-Qaeda mà giờ đây
chúng ta kiểm soát được tất cả các tháp điều khiển giao thông ở nửa bán cầu
này. Khi gã phi công của tên Zizi lên kế hoạch bay, chúng ta sẽ biết nơi cô ấy
tới”.
“Mất bao lâu?”
“Thường thì chỉ khoảng vài
phút”.
“Tôi chắc là mình không cần
phải nhắc lại với ông rằng càng nhanh càng tốt”.
“Cứ lên bờ đi. Tôi sẽ lo hết
mọi chuyện còn lại”.
“Đó là Manet”.
Zizi nói khi họ khi họ lướt
về phía đường bờ biển dưới những đám mây xám. “Tôi đã để ý đến nó nhiều năm
rồi. Tên chủ rất miễn cưỡng khi phải xa nó nhưng tối hôm qua hắn gọi điện cho
tôi từ Geneva và bảo rằng hắn muốn thỏa thuận”.
“Thế ông muốn tôi làm gì?”
“Xem xét bức tranh cho kĩ và
chắc chắn rằng nó vẫn còn ở trong tình trạng chấp nhận được. Rồi kiểm tra lai
lịch nguồn gốc của nó thật kỹ càng. Tôi chắc cô cũng biết về hàng ngàn bức
tranh theo trường phái Ấn tượng Pháp đã tuồn sang Thụy Sĩ trong thời chiến dưới
hình thức nhập lậu. Điều cuối cùng tôi không bao giờ muốn là một gia đình Do
Thái nào đó đập cửa nhà tôi đòi lấy lại bức tranh”.
Sarah cảm thấy nỗi sợ đang gõ
nhịp trong ngực mình. Cô quay đi và nhìn ra cửa sổ.
“Nếu việc kiểm tra diễn ra
thuận lợi?”
“Chọn một cái giá cho phù
hợp. Tôi sẽ sẵn sàng cho 30 triệu, nhưng lạy Chúa, đừng ra giá đó nhé”. Hắn đưa
cô một cái danh thiếp có viết số bằng tay ở phía sau. “Khi cô đàm phán được giá
cuối cùng, gọi cho tôi trước khi cô đồng ý với giá đó”.
“Tôi gặp hắn lúc mấy giờ?”
“Mười giờ sáng mai. Một tên
tài xế của tôi sẽ đón cô ở sân bay tối nay và đưa cô đến khách sạn. Cô có thể
ngủ một giấc thật ngon trước khi đi xem bức tranh”.
“Tôi có cần phải biết tên
người chủ của bức tranh không?”
“Hermann Klarsfeld. Hắn là
một trong những người giàu nhất ở Thụy Sĩ, điều đó cũng nói lên được chút gì về
hắn đấy. Tôi đã cảnh báo hắn rằng cô rất đẹp và hắn rất trông đợi được gặp mặt
cô”.
“Tuyệt”. Sarah vẫn nhìn qua
cửa sổ khi sắp tới bờ biển.
“Herr Klarsfeld là một lão
già tám mươi. Cô không cần phải lo lắng về bất cứ hành vi sàm sỡ nào đâu”.
Zizi nhìn bin Talal. Tên đội
trưởng an ninh vớ tay xuống phía dưới ghế của mình và lôi ra cái giỏ Gucci mới.
“Đồ đạc của cô đây, cô Sarah”. Giọng hắn có vẻ hối lỗi. Sarah nhận cái giỏ và
mở ra. Trong giỏ là những vật dụng điện tử từ hôm cô đến, gồm chiếc điện thoại
di động, PDA, iPod và máy sấy tóc; thậm chí cả đồng hồ báo thức. Không gì còn
để lại trên Alexandra cho thấy cô đã từng ở đó.
Chiếc trực thăng bắt đầu hạ
cánh. Sarah nhìn ra ngoài của sổ thêm một lần nữa và thấy rằng họ đang đáp
xuống sân bay. Ở cuối đường băng là một loạt các máy bay phản lực cá nhân. Một
chiếc đang được nạp nhiên liệu chuẩn bị cất cánh. Zizi lại ca tụng sự giàu có
của Herr Klarsfeld, nhưng Sarah không để tai bất cứ lời nào. Cô bị ép lên chiếc
trực thăng để rồi bị quên lãng. Giờ cô chỉ nghĩ đến chạy trốn. Chẳng có Herr
Klasfeld nào hết, cô tự nhủ. Cũng không có Manet nào hết. Cô nhớ Zizi đọc kinh
tạ ơn vào buổi trưa cô nhận làm việc cho chúng. Như cô thấy, tôi rất rộng lượng
với những người làm việc cho mình, nhưng tôi rất giận những người phản bội
mình. Cô đã phản bội hắn. Cô phản bội hắn vì Gabriel. Giờ cô phải trả giá bằng
chính mạng sống của mình. Đó là luật của Zizi.
Sarah nhìn xuống sân bay, tự
hỏi có khi nào Zizi để một khe hở cho cô trốn thoát không. Chắc rằng sẽ có nhân
viên hải quan kiểm tra hộ chiếu của cô. Cũng có thể có một nhân viên sân bay
hoặc một hai cảnh sát. Cô ôn lại những điều sẽ nói với họ. Tên tôi là Sarah
Bancroft. Tôi là công dân Mỹ. Những người đàn ông này đang cố gắng đưa tôi đến
Thụy Sĩ trái với ý nguyện của tôi. Rồi cô nhìn Zizi và tên trưởng an ninh của
hắn. Ông đã tính toán đến viễn cảnh ấy chứ gì. Ông đã mua chuộc hết các nhân
viên hải quan và hối lộ bọn cảnh sát. Zizi không thích trì hoãn điều gì, đặc
biệt là đối với một phụ nữ không theo đạo Hồi.
Bánh xe trực thăng của chiếc
Sikorsky cán trên nên đường nhựa lổn nhổn đá. Bin Talal mở cửa buồng trực thăng
và trèo xuống, rồi đưa tay đón Sarah. Cô nắm tay hắn và bước xuống cầu thang
trong cơn gió xoáy cuộn. Cách trực thăng khoảng 5 mét có một chiếc Falcon 2000
đang đợi, tiếng máy gào thét chuẩn bị cất cánh. Sarah nhìn quanh: không có nhân
viên hải quan, không có cảnh sát. Zizi đã chặn ngay con đường duy nhất của cô.
Sarah nhìn vào cabin của chiếc Sikorsky và nhìn Zizi lần cuối. Tên trùm vẫy tay
thân ái với cô rồi đưa mắt xuống chiếc đồng hồ Rolex bằng vàng như nhà vật lí
học đang định thời gian chết.
Bin Talal tóm lấy đống túi
xách của Sarah rồi kéo tay cô đến thẳng chiếc Falcon. Khi bước trên bậc thang
lên máy bay, cô cố dằn tay ra khỏi hắn nhưng hắn nắm cứng bắp tay cô và kéo cô
lên các bậc thang. Sarah la hét kêu cứu nhưng tiếng kêu của cô lọt thỏm trong
tiếng động cơ máy bay và tiếng đập phành phạch của cánh quạt.
Sarah cố gắng phản kháng thêm
một lần nữa khi đã ở trên bậc thang cuối cùng, bin Talal đẩy vai cô một cách
thô bạo vào trong cabin. Cô ngã dúi dụi vào cái cabin sang trọng được trang trí
bằng gỗ đánh bóng và da thuộc mềm màu vàng nâu. Nó nhắc cô nhớ đến cỗ quan tài.
Ít nhất chuyến đi đến lãng quên này sẽ khá là thoải mái. Cô gom chút sức lực
còn lại húc vào người gã Arập Xêút như thể cô sắp nổi khùng lên. Lúc này, không
còn thấy khung cảnh phía bên ngoài nữa, không còn phải thận trọng trong phản
ứng nữa. Hắn tát cô một cái nảy lửa vào má phải, cô té lăn trên sàn cabin. Bọn
Arập Xêút rất biết cách cư xử với phụ nữ nổi loạn.
Sarah nghe thấy tiếng vang
vọng trong tai và một khắc sau mắt cô nổ đom đóm. Khi thị lực đã rõ hơn, cô
thấy Jean-Michel đang đứng trước mặt mình, chùi tay vào cái khăn linen. Gã
người Pháp ngồi trên chân cô và chờ cho đến khi bin Talal trói chặt hay hai cô
xuống sàn trước khi chuẩn bị ống tiêm dưới da cho cô. Sarah cảm thấy vết chích
đau nhói, kim loại hoá lỏng chảy vào tĩnh mạch cô. Da mặt của Jean-Michel bắt
đầu tuột xuống khỏi hộp sọ của hắn, rồi Sarah trượt xuống phía dưới bề mặt của
một vùng nước đen và lạnh.

