Thuyền trưởng tuổi 15 - Phần 2 - Chương 12 - 13 - 14 - 15

Chương 12

TIN TỨC VỀ BÁC SĨ LIVINHXTƠN

Bà Uynxton ngồi một mình, nghĩ ngợi,
lo âu.

“Tám ngày nữa, Nego sẽ đến lấy bức
thư. Viết hay không nên viết? Còn tám ngày nữa, mình còn thì giờ để suy nghĩ và
quyết định xem có thực Nego định bắt Giắc không?...”

Ngay lúc đó Giắc chạy vào trong lều.
Bà hốt hoảng ôm chặt lấy Giắc tưởng chừng như Nego đang rình cướp con bà.

Giắc hỏi mẹ:

- Mẹ buồn lắm à?

Bà xoa đầu con đáp:

- Không con ạ. Mẹ đang nghĩ đến cha
con. Con có thích được gặp cha con không?

- Ồ, mẹ ơi, có chứ! Cha con
sắp đến đây à?

- Không… không.
Cha con chả nên đến đây.

- Thế mẹ và con
tìm cha vậy.

- Ừ!

- Cả Đíchsơn, Ecquyn
và cả già Tôm cũng đi nữa chứ mẹ?

Bà Uynxton cúi
đầu xuống để giấu những giọt nước mắt muốn trào ra. Bà nói nhỏ:

- Phải đấy, con
ạ.

- Thế cha có
viết thư cho mẹ không?

- Không, con ạ.

- Thế bây giờ mẹ
viết cho cha đi!

- Có… có lẽ…

Vô tình Giắc nói
trúng vào tâm trạng bà nên bà trả lời lúng túng và ôm lấy cậu bé hôn để nó đừng
hỏi nữa.

Ngoài những lý
do nói tên khiến bà cự tuyệt đề nghị của Nego, còn một lý do nữa không kém phần
quan trọng. Biết đâu một vận may bất ngờ sẽ đến giải phóng cho mẹ con bà mà
không cần tới sự can thiệp của chồng và bất chấp tất cả những sự đe dọa của
Nego. Đó chỉ là một tia hy vọng tuy còn mơ hồ, nhưng dù sao cũng là một tia hy
vọng. Thực vậy, trước đó mấy hôm, thình lình bà nghe được câu chuyện người ta
nói với nhau:

- Bác sĩ
Livingxtơn sắp đến Cadôngđê.

Bác sĩ với một
đoàn tùy tùng khá đông, hoàn thành cuộc thám hiểm miền Trung bộ châu Phi. Theo
hành trình thì Cadôngđê là địa điểm cuối cùng trong cuộc thám hiểm đó. Nếu đoàn
Livingxton đến khảo sát vùng này thì việc bắt cóc bà Uynxton không thể che giấu
được và thế nào bà cũng được giải thoát. Bà hy vọng, bà mong mỏi từng ngày,
từng giờ. Bỗng ngày mười ba tháng sáu, trước hạn Nego đến lấy thư của bà một
ngày thì một tin buồn lan đến. Tin này làm cho bà thất vọng bao nhiêu thì lại
làm cho bọn Angve vui sướng bấy nhiêu. Ngày mồng một tháng năm năm 1873, vào
lúc rạng đông, bác sĩ Linvinxton đã từ trần.

Chín tháng sau,
thi hài nhà thám hiểm bác học mới được các đồ đệ đưa về thị trấn Dăngdiba với
bao vất vả khó khăn. Rồi đến ngày 12 tháng tư năm 1874, thi hài bác sĩ được an
táng tại Westminter giữa đám mộ phần của các vị danh nhân Anh quốc, ngang hàng
với các bậc đế vương.

Chương 13

RƯỢT THEO MỘT CON SÂU

Mười bốn tháng
sáu là ngày hẹn cuối cùng, Nego đến lều bà Uynxton, hắn hỏi:

- Bà đã quyết
định rồi chứ?

- Quyết định hay
không là do ông. Ông muốn được việc mà ông đặt những điều kiện không thực hiện
được.

- Nghĩa là?…

- Nghĩa là bất
cứ giá nào tôi cũng không chịu để cho chồng tôi đến một nơi mà người ta có thể
làm “không từ một điều gì” đối với người da trắng.

- Bà không muốn
chồng bà nộp số tiền đó à?

- Không phải
thế. Tôi muốn chồng tôi không phải đến tận nơi này để trao số tiền đó cho ông.

Nego suy nghĩ
một lúc rồi đành chịu theo ý bà. Hắn đề nghị như sau:

Địa điểm gặp gỡ
sẽ không phải là Codôngđê mà là bến Môsa, một bến nhỏ thuộc bờ biển cực nam xứ
Angola. Nơi đây hẻo lánh, xa con mắt các nhà cầm quyền, thường là nơi giao dịch
của bọn buôn người mà Nego là một tay rất quen thuộc ở đó. Nego sẽ đưa ông
Uynxton đến bến Môsa. Đúng kỳ hẹn, mấy tên thủ hạ sẽ dẫn bà Uynxton, Giắc và
Banđác đến đó trao cho ông Uynxton để lãnh số tiền đã ấn định. Trong khi đó
Nego vẫn đóng vai một người lương thiện. Khi tàu cập bến, hắn sẽ cáo biệt ngay
và không can dự gì vào chuyện tiền bạc cả.

Bà Uynxton ưng
thuận đề nghị đó, viết thư cho chồng rồi trao thư cho Nego. Y cầm thư, chào bà
Uynxton rồi đi ra.

Sáng sớm hôm
sau, Nego cùng đi với hai mươi người da đen. Hắn đi ngược lên phía Bắc, đến cửa
sông Conggo rồi xuống tàu đi chứ không đi về phía nam để tránh những đồn kiểm
soát và cũng để tránh những nhà giam mà trước đây hắn đã từng là khách trọ.

Sau khi Nego đi
rồi, bà Uynxton chuẩn bị để đợi ngày hồi hương. Thời gian chờ đợi ít nhất cũng
phải vài ba tháng nếu mọi việc được trôi chảy. Bây giờ bà không phải thấp thỏm
lo âu như trước, nhưng những ngày sống ở trong trại thực là buồn tẻ. Ngồi trong
lều chán, bà lại dắt con đi quanh vườn. Cây cối mùa này nảy nở xanh tươi, nhưng
nào bà có để ý, óc bà lúc nào cũng hướng về chồng, về mái nhà thân yêu. Còn ông
Binđác lúc nào cũng tươi tắn vui vẻ, miễn là có đủ sâu bọ để ông nghiên cứu. Ở
trong trại, mặc dù không có kính đeo mắt, không kính lúp, ông đã khám phá ra
một loài ong nhỏ xây tổ trong những lỗ mọt ở các thân cây. Rồi lại có những con
sâu “sét” chuyên tìm những ổ đắp sẵn của những con sâu khác để đẻ, giống như
những con tu hú chuyên đẻ vào các tổ giống chim khác để các giống chim này ấp
giùm và nuôi giùm luôn.

Sau cùng là ngày
mười bảy tháng sáu, một dịp may hiếm có đã đến với Binđác nhưng ông nắm hụt,
thành ra có những kết quả rất bất ngờ. Lúc đó vào khoảng 11 giờ sáng, trời nóng
kinh khủng, mọi người buộc phải ở trong nhà. Binđác cũng nằm nhà, rất tiếc là
không được ra ngoài săn sâu bọ. Ông nằm mãi rồi thiu thiu ngủ lúc nào không
biết. Chợt có tiếng vù vù bên tai. Ông ngồi nhổm dậy và kêu:

- Đúng là một
con “tiết chi”.

Ông ngồi im như
tượng gỗ, lắng tai nghe, một con sâu ở xa bay đến lượn quanh Binđác nhiều vòng
rồi bỗng dưng đậu vào đỉnh đầu ông. Trong đời, Binđác chưa từng có những giây
phút hồi hộp như thế bao giờ. Một giống “tiết chi” mới lạ của châu Phi đang ở
trên đầu ông! Nhưng ông không sao quan sát nó được, ước gì nó đứng cạnh mắt ông
độ một đốt tay để ông ngắm thì thú biết chừng nào. Điều ước muốn đó được thực
hiện ngay. Con sâu bò trên đầu đến hai mươi vòng rồi tụt xuống trán, đến giữa
hai hàng lông mi, trên đỉnh mũi của ông và ngập ngừng không tiến nữa. Lúc đó
trái tim ông đập dồn dập. Không biết con sâu quý này sẽ tiếp tục bò xuống cho
ông nhìn thấy hay lại bò trở lên. May sao nó lại bò xuống! Ông cảm thấy những
bàn chân lông lá của nó từ từ di chuyển xuống đầu mũi ông, trên đường sống mũi
hơi gồ của của nhà thông thái, nơi trời sinh ra cốt để đeo kính. Sau cùng, nó
tiến thẳng ra đầu mũi ông. Con sâu đã khéo chọn một điểm đắc địa nhất cho nó
hay nói đúng là cho nhà côn trùng học. Binđác sung sướng quá kêu thầm:

- A! Con “sâu
măng”!...

Không may lúc
đó, do nín thở mãi nên ông muốn hắt hơi. Con sâu thấy chỗ đâu “lung lay” liền
đạp chân mở cánh và bay vù. Binđác vừa phát ra một tiếng hắt hơi lớn vừa đưa
tay lên mũi vồ. Nhưng ông không tóm được con sâu mà chỉ tóm được đúng mũi mình.
Binđác kêu lên:

- Con quái này
hóm thật!

Tuy nhiên, ông
vẫn bình tĩnh, vì ông biết giống sâu này nếu không ai đuổi bắt nó thì nói bò
hoặc bay la cà từng quãng ngắn một. Ông liền quỳ xuống đất và cúi đầu tìm. Quả
nhiên, ông nhìn thấy một điểm đen cách mắt ông chừng hai gang tay đang di
chuyển trong một vệt nắng từ khe cửa rọi vào. “Cứ để thế này mà quan sát thì
hay hơn, miễn là đừng để nó biến mất. Ta có dư thì giờ, lúc nào ta bắt nó mà
chẳng được”.

Binđác tự nhủ
một mình và cứ bò theo con sâu. Một lát sau, ông đã bò ra khỏi lều, dưới ánh
nắng chang chang, nửa giờ sau ông đã tới chân hàng rào bao quanh trại. Con sâu
bò đến một lỗ hổng liền chui tọt qua. Đó là một hang thòng ra ngoài hàng rào.
Binđác thất vọng, nhưng thấy cái hang khá rộng liền lách mình chui theo, không
biết rằng mình đang bò dưới hàng rào để ra ngoài.

Rủi cho nhà
thông thái, hàng rào đó lại tiếp giáp với một khu rừng rậm phía bắc địa thị
trấn Cadôngđê, trên một diện tích rộng mấy dặm vuông. Con sâu bắt đầu bò nhanh
và nhảy từng quãng ngắn. Binđác cũng bò theo và nhảy theo, nhưng cứ vồ hụt
hoài. Đá, đất lởm chởm, hai đầu gối và hai bàn tay ông đều sây sát và rướm máu.
Con sâu cứ như “trêu” nhà thông thái. Nó nhảy thẳng, nó nhảy ngang rồi nó lại
nhảy ngược trở lại. Binđác hoa cả mắt vồ lung tung, chẳng ăn thua gì. Cuối cùng
đến gần một đám cây xanh, nó vỗ cánh bay qua tai Binđác, phát ra những tiếng vo
vo như để chào tạm biệt nhà thông thái rồi đáp vào đám cây gần đó.

- À à, mày định
trốn hả? Có đi đằng trời! Tao đuổi đến cùng! Mày không thoát khỏi tay tao đâu.

Binđác tưởng thế
lại quên hẳn rằng mắt ông cận thị không có kính thì làm sao nhìn được một con
sâu nhỏ xíu nhảy trong đám lá xanh rậm rạp! Tức quá, ông mất bình tĩnh và phát
điên lên. Ông không biết rằng đứng ở chỗ này ông đã vượt khỏi trại Angve, ông
đã thoát khỏi vòng nô lệ. Tất cả tâm trí ông chỉ để vào con sâu, một con sâu sẽ
làm vinh dự cho cái hộp sắt của ông.

Thế rồi ông rượt
theo con sâu, lúc vồ, lúc đập, hai cánh tay giơ lên hạ xuống như mây, trông xa
chẳng khác gì người đang vội vã bổ củi hoặc cuốc nương. Trong khi ông hăng say
rượt sâu đến đám cây um tùm, chợt có một bóng đen to lớn nhảy xổ ra vồ lấy ông
và mang vào rừng sâu mất tích…

Chương 14

MỘT THẦY PHÁP CAO TAY

Hôm đó là mười
bảy tháng sáu. Khi bà Uynxton không thấy Binđác về ăn cơm chiều như thường lệ,
bà hoảng hốt chờ đợi. Rồi bà đi quanh vườn nhưng chẳng thấy tăm hơi. Bà đoán có
lẽ Angve đã bắt Binđác rồi. Nhưng bà thấy Angve rất tức giận khi được tin
Binđác mất tích nên bà biết ngay là bà đã nghĩ sai. Thế thì ông đã tự thoát
thân. Nhưng sao ông lại không nói riêng cho bà biết.

Angve lập tức
sai giai nhân tìm Binđác, chúng khám phá ra chỗ thông với khu rừng. Angve biết anh
chàng bắt sâu bọ đã vượt qua lối đó. Y buồn quá, vì mất Binđác thì số tiền
chuộc sẽ giảm đi. Ngay hôm đó, Angve ra lệnh cho gia nhân canh phòng cẩn mật cả
trong lẫn ngoài trại. Thế là bà Uynxton cùng con không còn tự do dạo vườn như
trước.

Sau đó, một tai
biến bất thường xảy ra trong hạt. Từ ngày mười chín, những trận mưa như thác
bắt đầu trút xuống và làm ngập lụt cả miền Cadôngđê. Trong trại, bà Uynxton chỉ
thấy khó chịu chứ ở bên ngoài dân rất cực khổ. Những cánh đồng lúa chín, những
mảng rau xanh tốt đều bị nước mưa bao phủ hoặc cuốn hết. Nhân dân mất mùa, sự
đói kém bày ra trước mắt. Nữ hoàng Môna và các triều thần ngơ ngác không biết
làm cách gì để chống thủy tai.

Người ta liều
cầu cứu thầy bùa. Không phải là các thầy bùa tầm thường chuyên lên đồng chữa
bệnh hay chuyên nghề bói toán kiếm ăn, mà là những thầy phù thủy cao tay có
phép hô phong hoán vũ.

Vì thế, các danh
sư xa gần đều được mời đến. Có thầy đọc kinh đọc kệ, trống phách inh ỏi; có
thầy luyện bùa và các thứ vỏ cây “bí truyền” cho vào một cái sừng trâu có ba lỗ
nhỏ ở đầu, rồi phùng má trợn mắt thổi vọt ra những viên đạn nhão để bắn tà ma;
có thầy lại niệm thần chút khạc nhổ vào mặt các quan to nhất trong triều, cho
rằng sự hiện diện của các vị này đã là “xui” cho xứ sở. Nhưng tất cả công sức,
tất cả phù phép đó đều vô hiệu. Mưa vẫn hoàn mưa.

May sao có người
mách nữ hoàng: ở miền núi phía Bắc Angola có một pháp sư danh tiếng có phép
thần thông biến hóa và đã từng dùng âm binh đẩy lui các giống hùm, beo, sư tử
tác hại. Nữ hoàng cả mừng, liền sai người thỉnh cầu pháp sư.

Sáng ngày hai
mươi lăm tháng sáu, dân chúng xôn xao được tin pháp sư đã đến Cadôngđê. Pháp sư
tiến thẳng vào kinh thành, dân chúng lũ lượt đổ ra xem. Lúc đó, trời bỗng ngớt
mưa, gió như sắp đổi chiều. Sự thay đổi bất thần đó phù hợp với việc giáng lâm
của pháp sư như báo một điềm lành làm cho muôn người xúc động.

Mỗi khi thầy phù
thủy về các làng trừ tà chữa bệnh thì thường đi từng bọn từ ba đến năm người,
nhưng lần này pháp sư có một mình. Pháp sư người da đen, thân hình cao lớn vạm
vỡ, mình trần, trên ngực vạch những vạch trắng bằng đất cao lanh, ngang lưng
mặc một tấm xiêm kết bằng cỏ, cổ đeo một chuỗi sọ chim khô. Đầu ông đội một thứ
mụ dạ nạm hạt trai, chung quanh cắm những chiếc lông dài màu xanh biếc đốm
trắng. Lưng gông thắt một dải băng đồng sáng loáng, chung quanh đeo hàng trăm
cái chuông nhỏ kêu leng keng, vang hơn tiếng nhạc của những con lừa Tây Ban
Nha. Đó là kiểu ăn mặc trang trọng nhất của các thầy pháp Trung Phi.

Pháp sư chỉ ra
hiệu và không nói năng gì. Người ta khám phá ra là pháp sư câm. Nhưng quý tướng
đó càng làm tăng phần trọng vọng của đám người mê tín. Trước hết, pháp sư đi
vòng quanh khu đất rộng, khoa tay giậm chân hình như ra hiệu với trời. Dân
chúng nối đuôi theo sau, bắt chước hệt cử chỉ của pháp sư khiến người ta có cảm
tưởng là một đoàn khỉ con đang theo sau một con khỉ lớn diễn trò. Thình lình,
pháp sư rẽ vào phố chính, đến thẳng dinh nữ hoàng.

Được báo trước,
nữ hoàng Môna cùng các quan tùy tùng đã ra trước dinh đón tiếp. Pháp sư uốn
lưng cúi rạp xuống tận đất và ngẩng đầu lên một cách nghiêm trang cung kính.
Thi lệ xong, pháp sư giơ tay trỏ những đám mây đen kéo ngang trời, đưa tay từ
đông sang tây, xong từ tây sang đông và quay tít mấy vòng. Đoạn ông úp hai bàn
tay như ấn xuống đất và ra chiều thất vọng. Lớp kịch câm đó ngụ ý rằng những
đám mây đen kia sẽ từ đông sang tây ùn ùn kéo đến vô tận, khó trấn áp nổi. Nữ
hoàng thấy thế mất cả hồn vía, bất giác giơ tay lặp đi lặp lại những cử chỉ của
pháp sư. Đình thần thấy vậy cũng bắt chước khoắng tay lên trời múa may bắt
quyết. Dân chúng hồi hộp chờ đợi phép mầu. Bỗng mưa lại đổ xuống dữ dội hơn
trước. Dân chúng la ó ầm ĩ, cho rằng thầy bùa này cũng chẳng hay ho gì hơn các
thầy bùa trước. Họ chạy ra vây chặt lấy thầy phù thủy câm, miệng rủa, tay giơ
nấm đấm tua tủa.

Pháp sư bình
tĩnh nhìn quanh bãi rộng một lượt. Thốt nhiên, pháp sư giơ tay từ từ trỏ về một
góc làm cho mọi người im bặt. Họ quay cả nhìn về phía đó: có hai mẹ con người
da trắng đứng xem. Đó là bà Uynxton và Giắc, nghe có pháp sư làm lễ liền theo
người gác trại đến xem. Pháp sư trỏ vào chỗ người da trắng rồi trỏ lên trời.
Thôi đúng rồi! Chính vì họ mà sinh ra nạn mưa lụt này!

Nữ hoàng tức
giận trợn mắt giơ tay dọa dân bản xứ vừa nguyền rủa, vừa xông vào chỗ bà
Uynxton. Bà hết hồn, ôm chặt lấy con, luống cuống không biết chạy đi đâu. Pháp
sư cũng sấn lại chỗ đó. Mọi người dạt ra hai bên đường, nhường lối cho pháp sư
có cách trừng trị. Angve cũng có mặt ở đó, hắn xám mặt lo sợ cho số phận nhưng
“con tin” rất quý giá đối với hắn, nhưng không biết là thế nào. Pháp sư hùng hổ
giật lấy đứa bé trong cánh tay người mẹ ra rồi cầm giơ cao lên trời như sắp
quật xuống đất để làm hả lòng hả dạ những hung thần ác quỷ. Bà Uynxton rú lên
một tiếng và lăn ra đất, bất tỉnh nhân sự. Trong khi đó, pháp sư quay lại ra
hiệu cho nữ hoàng yên trí để mình ra tay giải độc, rồi một tay siết chặt đứa
bé, một tay xốc người mẹ lên vai, chạy quanh bãi rộng khác nào như con cọp đang
cõng hai con nai tha đi. Pháp sư chạy đều đều, lúc ngửa mặt lên trời, lúc đá
chân về phía trước, có vẻ giận dữ muốn quật hai nạn nhân xuống đất. Công chúng
rầm rập chạy theo sau, tiếng hò hét chấn động cả kinh thành.

Pháp sư chạy mỗi
lúc một nhanh. Công chúng theo sau đã thấy mệt, chợt pháp sư ra thẳng đường
cái, vào một cánh rừng rậm, đường dài hơn ba dặm mà không tỏ ra mỏi mệt. Dân
chúng chạy sau cứ ít dần đi và không theo kịp. Cuối cùng, nghoảnh lại chẳng còn
ai cả. Pháp sư vác hai nạn nhân đến bờ một con sông, dòng nước chảy cuồn cuộn
về phía bắc. Ở đây, sau một bụi cây um tùm, một chiếc thuyền gỗ phủ đầy cỏ
tranh đã neo tại đó. Pháp sư vác vật nặng bước xuống thuyền, lấy chân đẩy
thuyền theo dòng nước trôi đi vùn vụt.

Sau đó, pháp sư
câm lên tiếng:

- Thưa thuyền
trưởng, xin trình thuyền trưởng, tôi đã đưa bà Uynxton và em Giắc về đây! Chúng
ta khởi hành! Bây giờ tha hồ cho mưa dội xuống đầu bọn khờ dại thành Cadôngđê.

Chương 15

TRÔI THEO DÒNG NƯỚC

Vị pháp sư câm
đó chính là Ecquyn và người mà anh gọi là thuyền trưởng chính là Đíchsơn.

Bà Uynxton hồi
tỉnh. Bà mở mắt kinh ngạc, không biết thực hay mơ?

- Ô kìa,
Đíchsơn, con?!

- Dạ, chính con
đây!

Đíchsơn vừa nói
vừa chạy lại. Bà ôm lấy chú, mừng mừng tủi tủi, nước mắt trào ra.

Em Giắc cũng reo lên:

- A! Anh Đích! Anh Đích!

Rồi em quay nhìn người đội mũ pháp sư
lông ngựa vằn và nói:

- Ai! Em không biết!

Ecquyn liền bỏ mũ lông chim ra, xoa
hết phấn trắng ở ngực và cười.

Bà Uynxton kêu lên:

- Ủa, Ecquyn!

Rồi bà nắm tay Ecquyn và nói:

- Anh làm tôi hết hồn!... Bây giờ đã
thoát trại giam rồi!... Cám ơn anh!

Em Giắc ôm chầm lấy Ecquyn kêu lên:

- Ecquyn! Ecquyn!

Đíchsơn nói với Giắc:

- Chính Ecquyn đã cứu mẹ và em, cũng
như đã cải tử hoàn sinh cho Đíchsơn đấy!

Binđác đang hỏi chuyện bà Uynxton
cũng quay ra nói:

- Cứu cả tôi nữa chứ!

Ecquyn đáp lời Binđác:

- Không phải! Chính ông đã cứu bà
Uynxton và em Giắc!

Binđác nói:

- Sao lạ vậy?

Ecquyn đáp:

- Vì nếu không có ông cho biết bà
Uynxton và em Giắc ở đâu thì tôi cũng đến chịu.

Thực vậy, năm hôm trước, Ecquyn đã ở
trong bụi nhảy ra bắt Binđác khi đang mải đuổi sâu trong rừng. Ông cho biết nơi
đó cách trại Angve chừng hai dặm.

Trong khi thuyền xuôi dòng. Ecquyn kể
lại cho mọi người nghe những chuyện xảy ra sau khi Ecquyn trốn thoát khỏi đồn
Quanđa, chuyện Ecquyn lén lút theo dõi đòn phu cáng bà Uynxton và em Giắc,
chuyện Ecquyn tìm thấy con Đinhgô bị thương rồi cả hai đều đến ẩn nấp ở ngoại
thành Cadôngđê; chuyện con Đinhgô đem thư báo cho Đíchsơn biết bà Uynxton và em
Giắc đang bị giam lỏng ở trại Angve. Cuối cùng là tấn bi kịch hạ màn vào chính
hôm nay… Nguyên là được tin một pháp sư danh tiếng xuống cứu nạn lụt, Ecquyn
đón đường bắt pháp sư đó lấy dây bìm trói chặt vào một gốc cây, lột hết y phục,
mũ mão và đồ nghề. Anh mặc các thứ đó lại theo kiểu mẫu và vẽ thêm những đường
vằn trên ngực bằng đất sét trắng giả làm pháp sư. Rồi Ecquyn về thẳng kinh
thành Cadôngđê giả câm và lập mưu cướp bà Uynxton và em Giắc.

Trong các chuyện thuật lại, không
thấy ai nói đến Đíchsơn, bà Uynxton liền hỏi.

- Thế còn Đíchsơn, làm sao mà thoát
nạn?

Đíchsơn đáp:

- Lúc đầu con cũng không biết làm sao
mà thoát nạn được. Trước giờ bị hành hình, con phẫn uất, vùng vẫy muốn đứt tung
dây trói. Nước ầm ầm chảy đến, rồi dâng lên, con lịm dần… Khi con hồi tỉnh, con
thấy mình nằm trên ổ cỏ, dưới lùm cây ven bờ sông này. Ecquyn đang qùy bên cạnh
chăm sóc con…

Bà Uynxton hỏi Ecquyn:

- Anh cứu Đích thế nào? Kể lại cho
tôi nghe.

Ecquyn cười đáp:

- Thưa bà, đâu cần phải tôi cứu!
Chính dòng nước mạnh đã nhổ cây cột trói thuyền trưởng của ta rồi cuốn qua đây.
Tôi tình cờ vớt được Đíchsơn còn thoi thóp.

Uynxton thấy chuyện đơn giản quá,
hỏi:

- Làm gì có chuyện lạ thế?

Ecquyn đáp:

- Thưa bà, đêm hôm đó trời tối đen
như mực, tôi liền xuống dòng sông, ngồi lẫn với đám nạn nhân dùng làm vật hy
sinh đang gào khóc lăn lộn đợi chết. Chờ lúc họ phá đập cho nước dâng lên, tôi
lội ra. Chỉ cần khỏa cánh tay một cái là nhổ phăng được cây cột lẫn Đíchsơn.
Tôi ôm lấy và theo dòng nước bơi về đây. Thưa bà, việc đó không có gì là khó
cả.

Bà Uynxton nói:

- Không, anh đã làm một việc phi
thường.

Xong bà kể lại từ chuyện hôm bị giam
trong trại Angve đến hôm Nego bắt bà viết thư nhắn chồng phải đem tiến đến chuộc.
Bà đã đưa thư cho Nego, hắn đang khởi hành đi tìm chồng bà rồi.

Nghe đến đây, Ecquyn bỗng kêu lên:

- Thôi chết rồi! Tôi đã làm hỏng việc
của bà!

Bà Uynxton nói:

- Không phải thế. Tôi sợ chúng đánh
lừa nên đắn đo mãi, sau cùng phải đánh liều viết và chỉ thuận cho chồng tôi đến
bến Môsamêdét ở phía nam bờ biển Angola mà thôi.

Đíchsơn nói:

- Bọn chúng xảo trá lắm. Biết đâu khi
ông đến bến Môsa, chúng lại không tìm cớ lừa ông về Cadôngđê, sào huyệt của bọn
chúng.

Bà Uynxton nói:

- Xem giọng lưỡi thằng Nego, rất có
thể nó sẽ gài bẫy. Vả lại nếu sự việc đó trôi chảy chăng nữa thì biết bao giờ
mới lại được gặp mặt những người thân yêu này?

Đíchsơn nói:

- Bây giờ chúng ta phải đến bờ biển
trước khi Nego trở về bến Môsa. Ở đó, những nhà chức trách Bồ Đào Nha sẽ giúp
đỡ và che chở cho chúng ta. Khi nào Angve thò ra lấy một trăm ngàn đồng, tức
thì chúng ta…

- Chúng ta quất một trăm ngàn gậy vào
sọ tên cáo già!

Ecquyn nghe chuyện nổi giận xen vào.

Từ trước, Đíchsơn vẫn có ý định tìm
ra bờ biển bằng cách theo sông. Giờ đã ở sông này. Còn phương tiện đi thì một
hôm Ecquyn tình cờ kiếm được một chiếc thuyền gỗ cũ bị giạt vào một bãi cỏ rậm
đã lâu ngày, anh liền kéo về sửa chữa. Để ngụy trang, Ecquyn lấy cỏ phủ lên mui
thuyền giống hệt như những lùm cỏ xanh thường trôi trên các sông châu Phi mà
người ta thường gọi là “những cù lao nổi”. Con thuyền của Ecquyn bây giờ cũng
là một cù lao cỏ trôi trên sông. Nó không những đánh lừa được những con mắt tò
mò của thổ dân mà còn quyến rũ được các giống chim thường đến đậu trên nóc rỉa
lông rỉa cánh và ca hát véo von.

Dưới mái cỏ xanh ngắt, mọi người được
nghỉ ngơi thoải mái, và tránh được cái nắng gay gắt của mặt trời. Tuy nhiên,
hành trình còn dài và chưa hết khó khăn, nguy hiểm. Theo con sông này thì đoàn
Đíchsơn sẽ ra phía bắc bờ biển Angola mà bến Môsa, nơi Nego hẹn gặp lại ở về
phía Nam. Nhưng hãy ra tới bờ biển đã. Con sông này sẽ đưa tới đất có người Bồ
Đào Nha đóng, nên sẽ yên ổn.

Thuyền êm ả xuôi dòng, hai bên cây
rừng rậm rạp. Đíchsơn ước lượng con thuyền có thể đi hơn hai dặm một giờ. Mấy
ngày đầu đã có lương thực do Ecquyn dự trữ. Những hôm sau, Ecquyn và Binđác
phải đánh cá để ăn. Thỉnh thoảng Đíchsơn lại lên bờ săn bắn với cây súng độc
nhất do Ecquyn đem theo. Thuyền đi suốt ngày, ban đêm chỉ dừng lại một vài giờ
để mọi người nghỉ ngơi lấy sức. Bước đầu của chuyến đi trên sông lạ này trôi
chảy, không gặp khó khăn gì. Hai bên bờ vắng tanh không một túp lều, không một
bóng người. Dân xứ Cadôngđê ít khi đặt chân tới nơi hoang địa này. Một hôm đêm
đã khuya, thuyền đang đi bỗng nhiên dừng lại, Ecquyn ở đằng lái hỏi:

- Sao thế?

- Một bờ đập tự nhiên.

Ecquyn nói:

- Thế thì phá đi!

Đích sơn đáp;

-Anh đem búa lại đây.

Ecquyn xách búa nhảy sang bờ đáp:

- Để tôi phá cho.

Vật ngáng đường này là một đám cỏ
nước, rễ, lá giao nhau, kết thành một bè cỏ dầy từ bờ bên này sang bờ bên kia,
rất chắc và dai, lá cao và xanh bóng. Dân bản xứ gọi dải cỏ này là “cầu cỏ” hay
“tikatika”. Người ta có thể dùng cầu đó qua sông được nếu không sợ thụt chân
xuống gần đầu gối.

Khỏe và nhanh như Ecquyn, cũng phải
gần một tiếng đồng hồ, dòng nước mới thông. Thuyền lại bắt đầu đi.

Chợt vẳng nghe xa xa về bờ bên phải
có tiếng ồn ào, tiếp theo những tiếng xì xụp đều đều như tiếng bễ thợ rèn. Khi
thuyền đền gần thì ra một đàn voi hàng mấy trăm con đang đứng xếp hàng trên bờ
uống nước. Ban ngày chúng kiếm ăn trong rừng, ban đêm vắng vẻ, chúng kéo nhau
ra sông giải khát. Hàng trăm cái vòi đưa xuống đưa lên một loạt như máy. Nếu
khúc sông này là một cái hồ thì không mấy lúc sẽ cạn hết nước.

Báo cáo nội dung xấu