Huyết tâm lệnh - Chương 02 phần 1
Chương
2: Đoạt Mệnh Kim Tiền
Gió
bên ngoài cứ rít lên từng chập, trong ngôi “Tửu điếm” tuy người ấm áp, tuy
không đến lạnh, nhưng có nhiều kẻ đã hơi run.
Có
nhiều người ngồi không muốn yên, họ nhổm qua nhổm lại mặc dầu không có con rệp
nào dưới ghế.
Có
nhiều người trong bụng muốn lõng ra dông tuốt cho yên chuyện nhưng khổ nỗi trên
mặt họ đã lỡ sơn quá nhiều “sĩ diện” bây giờ thì tiếc, mà để y như thế thì
rung.
Hồ
Phi, người trên mặt có nhiều lông trắng vụt đứng lên bước lại bàn của anh em họ
Hàn và khẽ vòng tay:
-
Uy danh của “Nam Dương song hổ” từ lâu đã làm cho bọn tại hạ ngưỡng mộ.
“Đại
Hổ” Hàn Ban lật đật đáp lễ:
-
Không dám.
“Nhị
Hổ” Hàn Minh cũng nói theo luôn:
-
Huynh muội của Hồ đại hiệp và Hồ cô nương khinh công song tuyệt, chính anh em
chúng tôi muốn được hân hạnh diện kiến lâu rồi, nhưng hiềm vì chưa được duyên
may.
Hồ
Phi lại vòng tay:
-
Hàn nhị hiệp quá khen cho.
Bên
kia bàn, “Thủy Xà” Hồ Mỵ cũng vội khép nép “uốn mình” thi lễ.
Hồ
Phi nói tiếp:
-
Nếu nhị vị không trách đệ là mạo muội thì dám xin thỉnh sang bàn để cùng chung
chén cho vui. Không biết nhị vị đại hiệp có hoan hỉ chăng?
Hàn
Ban tươi cười:
-
Anh em chúng tôi rất mong được như thế ấy.
Thế
là hai tốp người đã nhập lại một bàn. Có lẽ đôi bên cùng đã nhận được một thực
trạng.
Hai
phe phái tuy đều găng nhau, nhưng khi họ cùng lâm đại địch, thì phương cách hay
nhất là hãy xóa bỏ hiềm khích nhỏ nhen, họp nhau để định kế an toàn.
Họ
cùng nâng chén và Hồ Phi nói trước:
-
Nhị vị đã ở lâu miền Quảng Đông, anh em chúng tôi từ thuở trước đến nay lẩn
quẩn trong dãy Giang Hoài, thật không hiểu tại sao có người lại muốn gây sự với
chúng ta cùng một lúc?
Hàn
Ban nói:
-
Chính điều đó mà tại hạ cũng vô cùng thắc mắc.
Hồ
Phi nói:
-
Nghe cách nói của vị bằng hữu kia thì người muốn giết chúng ta chắc phải là võ
công cao lắm, có thể chúng ta quả thật không phải là đối thủ của hắn, nhưng.
Hắn
bỗng bật cười và nói tiếp:
-
Một cây làm chẳng nên non, nhưng nếu ba cây chụm lại thì... hà hà... thì vấn đề
nhất định là đổi khác. Hợp sức lực của sáu người trong bọn chúng ta, chẳng lẽ
một cái đỡ gạt cũng không làm nổi hay sao?
Thần
sắc của anh em họ Hàn lập tức có chiều thay đổi.
Hàn
Ban lớn giọng hơn một chút:
-
Hồ huynh nói rất hay, sáu người của bọn ta đâu phải là kẻ bất tài vô tướng,
chẳng lẽ cam tâm cúi đầu cho chúng chém hay sao?
Hắn
nói bằng tia mắt nghiêng về phía tên mặt có bớt xanh, nhưng gã này lại như
không buồn nghe thấy.
Hàn
Minh cất giọng ôn tồn:
-
Người ta nói “nước chảy thì đấp bờ, binh tới thì tướng ngăn”. Họ không đến thì
thôi, còn nếu họ đến thì... Hà hà...
Giọng
cười trong trẻo của Hồ Mỵ cũng tiếp liền theo:
-
Nếu quả thật họ đến thì sẽ không bao giờ có cơ hội quay trở về.
Đúng
là “người đông làm cho chí lớn”, bọn Đoàn Khai Sơn và Dương Thừa Tổ cũng chợt
nghe hào khí hừng hừng.
Sáu
người họp lại, anh một câu, tôi một câu, anh một chén, tôi một chén... họ thi
đua tâng bốc nhau, riết một hồi xem ra người nào cũng trở thành vĩ đại.
Ngay
lúc bên trong tinh thần hứng khởi thì bên ngoài cửa, một tiếng cười khô khốc
nổi lên.
Sáu
người hào khí đang bốc ngất trời, thoáng cái chợt xìu ngay, da mặt họ tái xanh
và cổ họng như bị ai chận chẹn.
Chẳng
những họ không còn nói được một lời nào, mà cả hơi thở cũng hình như ngưng lại.
Lão
Tôn Gù nghe tiếng cười ấy vốn đã nổi da gà nhưng thấy cách sợ của sáu bậc “vĩ
nhân” đang ngồi tán nhau từ nãy khiến cho lão chợt thấy rằng mình bỗng vọt lên
ngang hàng với họ và cùng với họ đưa mắt ra ngoài.
Ở
bên ngoài xuất hiện bốn người.
Cả
bốn người đều mặc một chiếc áo vàng lợt như nhau, một người mày rậm mắt to, một
người mũi quặc như mỏ chim ưng, chính là hai người khách đã mua lời nói của lão
Tôn Gù hồi ban sáng.
Họ
đã đến cửa nhưng họ không vào, họ đứng xuôi tay im lặng trông thật hiền khô.
Có
một điều mà lão Tôn Gù không làm sao hiểu được là vừa rồi sáu người ngồi trong
quán đúng là những nhân vật khí thế đang lên rõ ràng, lời lẽ của họ vẫn còn hơi
hám “dọc ngang nào biết trên đầu có ai”, thịnh khí đó của họ hãy còn đang lùng
bùng trong lỗ tai lão, thế mà bằng vào sự có mặt của những tên áo vàng đứng
xuôi lơ như thế mà lại làm cho họ xanh máu mặt.
Thế
thì bốn tên áo vàng đó là ai?
Họ
cũng là người chứ đâu phải là ma quỷ?
Còn
nếu bảo rằng họ là những kẻ có tên tuổi giang hồ thì vừa rồi sáu nhân vật “vĩ
đại” trong kia đã chẳng nói “binh tới thì tướng đương” đó sao?
Nhưng
chính lão Tôn Gù bây giờ lại không cảm nghe sợ sệt gì cả, lão không bể nồi cơm,
nếu có xảy ra sự lộn xộn trong quán lão, lão tự tin vì lão có một người bạn mà
lão không thấy tài nghệ ra sao nhưng tự nhiên lão tin tưởng một cách lạ lùng.
Người bạn mà lão tin tưởng ấy đang ngồi nhắm rượu làm thinh như không nghe thấy
chuyện gì đã xảy ra, người ấy là Tửu Quỷ.
Cái
lạ thứ hai là ông cháu lão già tóc bạc chuyên kể chuyện cho thiên hạ nghe lúc
nãy, ông thì coi gần như sắp xuống lỗ, cháu thì là một cô gái non xéo coi giống
như mới vừa dứt sữa chưa được bao lâu thế mà trước không khí ngột ngạt nãy giờ,
hai ông cháu vẫn điềm nhiên không mảy may sợ sệt.
Tình
hình nghẹt thở như thế này mà họ vẫn ngồi nhấm nháp như không.
Hay
là họ, hai ông cháu nhà kia là loại ếch ngồi đáy giếng?
Vì
họ không hiểu nên họ không biết sợ là gì?
Bốn
người áo vàng bỗng dạt ra chừa một khoảng đường chính giữa.
Thêm
một gã thiếu niên từ ngoài đi vào thẳng trong quán.
Tên
này cũng mặc áo vàng chói lói, chỗ khác của hắn là tuổi nhỏ, phong độ thành nhã
và cái khác về hình thức đối với bốn tên áo vàng đến trước là áo hắn có viền
kim tuyến chiếu sáng ngời người.
Hắn
là một thiếu niên khôi ngô, nhưng mặt hắn căm căm như băng giá, hắn không lộ
một chút tình cảm nào bất cứ ai, hắn đi vào bằng những bước chân chậm rãi và
mắt hắn nhìn châm bẩm vào mặt người có cái bớt xanh.
Người
mặt có bớt xanh lại cứ ngồi uống rượu tự nhiên như không thấy hắn.
Vành
môi của gã thiếu niên áo vàng khẽ nhếch lên với nụ cười lạnh nhạt, hắn chầm
chậm đi qua khỏi chỗ người mặt có bớt và dời tia mắt về phía bàn có sáu người
của bọn Dương Thừa Tổ.
Trông
dáng cách bên ngoài, sáu người của bọn Dương Thừa Tổ có vẻ hung hãn hơn gã
thiếu niên nhưng tia mắt của tên áo vàng đã làm cho thay chân của họ cảm giác
bủn rủn, họ ngồi xem chừng không vững nữa.
Gã
thiếu niên áo vàng chầm chậm đi vòng bàn của sáu người, không biết từ bao giờ
hắn móc từ trong mình ra những đồng tiền chói sắc đồng lóng lánh, hắn thong thả
đặt lên đầu của mỗi người một đồng tiền.
Sáu
bậc “vĩ nhân” hồi nãy khẩu khí xung thiên mới rành rành đây thế mà bây giờ bỗng
biến thành những hình cây tượng đá.
Họ
mở mắt thao láo nhìn người đặt đồng tiền lên đầu mình mà lặng trang không dám
động.
Còn
thừa lại mấy đồng tiền trên tay, gã thiếu niên áo vàng nhồi lên nhồi xuống nghe
leng keng, hắn chầm chậm đi về phía bàn của lão già và cô gái có hai bím tóc.
Lão
già nhìn hắn cười híp mắt:
-
Nếu bạn thích rượu thì xin mời ngồi xuống uống chơi vài chén, tôi mời bạn đây
mà.
Lão
ta hình như đã có hơi men, lời nói của lão đã đặc sệt y như là lưỡi bị cụt lại
hay đang ngậm một quả trứng gà, đúng là giọng đã ngà say.
Đĩa
đậu phộng rang bắn tung lên, những hạt đậu tua tủa lên mặt lão già tóc bạc.
Không
biết vì sửng sốt hay vì quá sợ, lão già quên cả việc tránh né, lão cứ nhìn
những hạt đậu như đang chờ nó bắn lên mặt lão.
Nhưng
gã thiếu niên áo vàng vụt phất tay áo rộng, bao nhiêu hạt đậu bị cuốn vào tay
áo và trút xuống đĩa y như cũ.
Lão
già lờ đờ đôi mắt há hốc mồm, cũng không biết lão đã hoảng hốt hay là lão đang
há mồm chờ những hạt đậu chui vào.
Riêng
cô gái tóc bím thì vỗ tay cười hăng hắc:
-
A, cái trò chơi đó thật là hay, thế ra cậu cũng biết hát thuật nữa à? Làm lại
đi, làm lại cho tôi coi với, nhất định tôi sẽ bảo ông tôi mời cậu một bữa rượu
thật nhiều, làm đi, làm cho coi mà, ngộ quá.
Bằng
cái ngón vừa rồi, bất cứ ai là người biết qua về võ học cũng đều thấy gã thiếu
niên có một nội lực phi thường nhưng khốn nỗi gặp cô gái thuộc về tay thưởng
thức “méo mó” thành thử “độc gia công phu” bị trở thành trò xảo thuật.
Thế
nhưng gã áo vàng lại không hề giận dữ, hắn nhìn cô gái từ đầu đến chân, một nụ
cười dễ dãi dạng lên ánh mắt và hắn từ từ bước sang bàn khác.
Người
ta thường hay không chấp nhất những lão già say mà lão già này lại có một cô
cháu ngây thơ dễ mến, có lẽ gã áo vàng không đành tức giận với hai người như
thế.
Thấy
hắn đi, cô gái tóc bím kêu theo:
-
Coi, sao cậu không làm cái trò ấy nữa? Cho tôi xem với.
Người
có cái bớt xanh nơi mặt cười nhạt:
-
Cái trò “ảo thuật” ấy càng ít xem càng tốt.
Cô
gái tóc bím chớp mắt:
-
Sao vậy?
Người
có bớt xanh nơi mặt lạnh lùng:
-
Nếu các người có võ công thì cái trò “ảo thuật” ấy đã làm cho các ngươi không
kịp ngáp.
Khẽ
liếc gã thiếu niên áo vàng, tia mắt cô gái tóc bím như có vẻ không tin, thế
nhưng cô ta không dám hỏi.
Không
cần nghe câu nói của gã có bớt xanh nơi mặt, gã thiếu niên áo vàng chầm chậm
bước lại bàn Tửu Quỷ.
Leng
keng... leng keng.
Những
đồng tiền trên tay hắn lại vang lên.
Nhưng
gã Tửu Quỷ đã say cúp mất rồi nhưng bầu rượu của hắn đã cạn khô gần thủng đáy
và gã gục đầu lên bàn, hơi thở sặc mùi men.
Gã
thiếu niên áo vàng cười nhạt, hắn nắm tóc Tửu Quỷ lật mặt lên ngắm nghía một
hồi rồi buông xuống bỏ đi.
Bị
buông xuống một cách phũ phàng, trán Tửu Quỷ đập xuống bàn đánh xầm một tiếng
nhưng hắn vẫn cứ ngáy pho pho.
Gã
có bớt xanh nơi mặt lạnh lùng:
-
Một chén giải sầu vạn cổ, câu nói không biết của ai mà hay quá, kẻ đã say rồi
thì còn hay hơn người tỉnh gấp bội.
Không
thèm đếm xỉa đến hắn, gã áo vàng chấp tay sau lưng thong thả bước ra.
Lạ
lùng làm sao, bọn Hồ Phi, Hồ Mỵ, Hàn Ban, Hàn Minh, Đoàn Khai Sơn, Dường Thừa
Tổ, sáu người cũng lập tức theo ra, họ nối đuôi nhau như một đoàn người ngoan
ngoãn.
Sắc
mặt của họ xuống màu ủ rũ, chân bước từng bước một, nửa thân trên không dám lay
động chừng như họ rất sợ đồng tiền đang đặt trên đầu rớt xuống thình lình.
Xem
chừng họ lâm vào cảnh hồn phi phách tán, họ cẩn thận từng li từng tí, y như là
đồng tiền trên đầu họ một mai rơi xuống thì sinh mạng của họ cũng sẽ rơi theo.
Sống
quá nửa đời người, lão Tôn Gù đã từng thấy rất nhiều chuyện lạ nhưng thật tình
lão chưa từng chứng kiến cảnh nào lạ đến thế này bao giờ.
Dạo
trước lão có nghe người ta nói trong thâm sơn cùng cốc có một loài quỷ rất
thích ăn óc khỉ, mỗi khi muốn ăn con quỷ đó “triệu tập” tất cả khỉ trong rừng
lại ngó qua một lượt, nếu thích ăn con nào thì đặt trên đầu con đó một hòn đá,
con khỉ được “chiếu cố” bằng cách đặt hòn đá lên đầu ấy sẽ không bao giờ dám
chạy trốn, nó cứ một mực ngoan ngoãn ngồi chờ chết.
Lúc
nghe người kể chuyện ấy, lão Tôn Gù cứ ngồi nhấm nháp gật gù, lão không bài
xích, nhưng lão cho câu chuyện ấy có tính cách thần thoại, câu chuyện “truyền
thuyết” của những bộ lạc miền núi mua vui trong lúc hơi men cao hứng thế thôi.
Nhưng
bây giờ, chuyện “thần thoại”, chuyện “truyền thuyết” ấy lại “hiện” ngay trước
mắt lão mà những con khỉ ngoan ngoãn ấy là những con người “hào khí xung thiên”
giữa tiệc rượu vừa rồi.
Bằng
võ công và “khí phách” của sáu con người ấy, bất cứ gặp ai dẫu người đó là cao
thủ nhất nhì trong chốn võ lâm nhưng nếu “chạm” nhau, nhất định họ sẽ giải
quyết trên tinh thần “sắt thép”.
Lão
Tôn Gù tin tưởng như thế qua dáng sắc của họ, nhưng một chuyện làm cho lão ngạc
nhiên là khi chạm mặt gã thiếu niên trông không có gì đáng gọi là ghê gớm ấy,
sáu con người “dọc ngang một cõi” kia bỗng biến thành sáu con cừu non.
Lão
Tôn Gù thật không hiểu ra làm sao hết.
Nhưng
lão cũng không muốn hiểu làm gì.
Sống
đến cái tuổi của lão, sống trong bối cảnh mà chỉ bằng vào đuôi mắt khóe môi
cũng gây ra chuyện máu rơi thịt đổ thì thấy những chuyện mơ mơ hồ hồ như thế
cũng đã là quá lắm rồi, biết rõ thêm cặn rễ của nó làm chi cho thêm phiền toái.
Trời
không còn mưa nữa nhưng trong ngõ hẻm gió vẫn còn thổi mạnh lắm.
Không
biết tự bao giờ, bốn tên áo vàng bên ngoài đã vẽ lên mặt đất mười mấy cái vòng
tròn, mỗi vòng tròn chỉ bằng trang cái thúng.
Bọn
sáu người của Đoàn Khai Sơn lủi thủi đi ra, cũng không ai ra lệnh, mỗi người
trong bọn họ đều “tự động” bước vào trong một cái vòng tròn.
Họ
đứng rất cẩn thận, hình như họ rất sợ dẫm chân phải lên lằn vẽ.
Sáu
con người lập tức biến thành sáu pho tượng gỗ.
Đã
dặn lòng không thèm nghĩ nữa nhưng sự việc xảy ra làm cho lão Tôn Gù buộc phải
nhăn mày.
Lão
nhớ hồi xưa, không phải nhớ mà là nghe nói rằng đời Chu Văn Vương còn ở đất Tân
Kỳ, ông ta nhốt tù nhân cũng bằng những vòng tròn trên mặt đất.
Xứ
Tân Kỳ hồi đó không có “trại giam” nhưng tù nhân không bao giờ trốn thoát và
cũng chưa nói ai trốn hoặc “mưu toan” trốn bao giờ.
Tại
sao vậy?
Người
ta nói vì tại Chu Văn Vương giỏi về khoa bói toán, ai có trốn cũng bị bắt lại
ngay.
Nhưng
lão Tôn Gù nghĩ khác.
Lão
nghĩ có mấy nguyên nhân làm cho người tù đất Tân Kỳ hồi đó không chịu trốn,
không có ý trốn, mặc dù chỉ bị giam bằng một cái vòng tròn vẽ trên mặt đất. Thứ
nhất, sự tổ chức guồng máy cai trị của Văn Vương lúc bấy giờ chặt chẽ lắm, thứ
hai, xã hội Tân Kỳ lúc bấy giờ rất công bằng nhân đạo, dân trí của họ nhờ đó mà
nâng cao, con người làm việc và hưởng thụ trên tinh thần tự nguyện tự giác cho
nên một khi đã không có sự bắt buộc cưỡng bách thì tự nhiên cũng không có trốn
tránh trách nhiệm của mình.
Nhưng
người tội phạm của xứ Tân Kỳ có lẽ cũng thỏa mãn trên tinh thần.
Nhưng
đó cũng chỉ là chuyện “nghe nói” lại, bây giờ chính lão Tôn Gù nhìn tận mắt
chuyện giam người trong cái vòng tròn.
Vậy
thì, có hai trường hợp giải thích sự việc ấy như sau: thứ nhất, sáu con người
“cao thủ” của bọn Đoàn Khai Sơn đã bị một thứ bùa mê sai khiến, thứ hai, người
chủ của những đồng tiền này là người có uy lực phi thường.
Gạt
bỏ trường hợp thứ nhất ra vì lão Tôn Gù là hạng người không tin về bùa phép,
vậy người chủ của những đồng tiền này là ai mà lại có quyền năng như thế?
Nhưng
nếu có quyền năng làm cho thiên hạ không dám trái lệnh thì tại sao gã mặt có
bớt xanh dám nói những câu không giữ ý vừa rồi?
Chẳng
lẽ tên có bớt xanh lại hơn những tên áo vàng một bậc?
Lão
Tôn Gù không suy nghĩ nữa, vì tên thiếu niên áo vàng đã trở vô.
Mặt
hắn vẫn lạnh băng băng và cho đến bây giờ, hắn chưa hé miệng nói một tiếng nào.
Hắn
đi vào và ngồi chiếc bàn mà bọn sáu người của Đoàn Khai Sơn vừa rời khỏi.
Độ
tàn một điếu thuốc lại có thêm một người áo vàng nữa đi vào đầu ngõ.
Người
này hơi lớn tuổi, hắn chỉ có một vành tai, theo dấu thẹo thì có lẽ hắn đã bị
người ta lắc hết một vành chứ không phải mang tật từ nhỏ.
Mặt
hắn cũng mất hết một con mắt, con mắt còn lại tròn xoe người người trông dễ sợ.
Tự
nhiên. Áo hắn mặc cũng màu vàng và cũng có viền kim tuyến như gã thiếu niên.
Theo
sau hắn là một dọc bảy tám người, già có nhỏ có, hình dáng khác nhau, có người
cao, có người lùn, có người mập tuỳ lùn mà cũng có kẻ ốm tong teo.
Nhìn
qua cách ăn vận hình như họ cũng là những người có tên tuổi lắm nhưng bây giờ
họ cũng không khác gì bọn Đoàn Khai Sơn, nghĩa là họ cũng ủ rũ như kẻ đưa ma,
họ đi như học trò lễ, thân trên của họ thật thẳng, cần cổ họ giữ thế “nghiệm”,
họ cẩn thận từng bước đi theo người áo vàng một mắt đến trước cửa quán và ngoan
ngoãn bước vào vòng tròn vẽ sẵn trên mặt đất.
Trong
đám người mới tới có một gã ốm tong teo nhưng vẻ mặt hết sức dữ dằn.
Liếc
thấy người này, bọn Đoàn Khai Sơn hình như quen mặt và bằng vào tia mắt của họ,
có lẽ như đang lấy làm lạ, không hiểu tại sao tên này cũng đến đây.
Tên
áo vàng một mắt khẽ liếc bọn Đoàn Khai Sơn cười nhạt, hắn đi thẳng vào trong
quán nhìn gã thiếu niên áo vàng, hai người khẽ gật đầu nhưng không ai nói một
lời.
Không
khí nặng nề chậm chạp trôi qua, một lúc sau nơi đầu ngõ lại xuất hiện thêm một
tên áo vàng nữa.
Người
này thì tuổi khá cao, râu tóc đều đã hoa râm, lão cũng mặc áo vàng, cũng viền
kim tuyến, bên sau lão cũng kéo theo một dọc mấy người.
Những
người đi theo sau lão không có gì đáng nói vì họ cũng y như những người trước,
cũng y như bọn Đoàn Khai Sơn, cũng bằng những bước đi không núc nhích, cũng
bằng những bộ mặt đưa ma.
Chỉ
có lão áo vàng tóc hoa râm là đặc biệt.
Khi
ở ngoài xa thì không thấy gì khác lạ nhưng đến lúc gần thì đúng là một dị nhân.
Da
dẻ của lão giống y những người dân ở vùng hải đảo phương tây, da lão không vàng
không trắng mà lại nâu xanh. Với da mặt như thế, được phủ bở một nùi tóc muối
tiêm xám trắng trông đến lạnh người.
Luôn
cả da bàn tay của lão cũng thế, cũng xanh nâu.
Những
kẻ đứng bên ngoài quán trông thấy lão như là trông thấy quỷ và tất cả chợt rùng
mình.
Chỉ
chưa tàn hai điếu trhuốc mà mấy mươi vòng tròn vẽ trên mặt đất trước cửa quán
đã chật cả ngươì.
Người
nào cũng y như người nấy, họ như nín hơi đứng thẳng, da mặt nhợt nhạt, không ai
dám nói với ai một lời nào.
Những
người mặc áo vàng thêu kim tuyến đã lên đến bốn, người sau cùng là một lão già
tóc trắng phơ phơ, da mặt nhăn nheo, lưng có vẻ hơi còng.
Bước
đi của lão ta cũng có phần xiêu xẹo, xem hình như có vẻ lớn tuổi hơn lão già kể
chuyện trong quán đến ba bốn tuổi.
Một
lão già dáng cách coi khốn đốn như thế mà sau lưng lão ta, người đi theo lại
càng đông hơn.
Một
chiếc bàn, bốn người áo vàng có viền kim tuyến chiếm mỗi người một bên, không
ai nói với ai một tiếng, họ giống như những người câm.
Những
kẻ ngoài sân, những kẻ “tự động” đứng trong vòng tròn vẽ trên mặt đất thì lại
như bị ai lấy chỉ may miệng lại, ngoại trừ tiếng gió đưa xì xào, ngoài sân có
người mà lại vắng lặng như tờ.
Cái
“tiểu điếm” của lão Tôn Gù bây giờ, nếu nhìn vào từ phía bên ngoài, nó mường
tượng như cái nhà mồ.
Con
người có chỗ dựa vững chắc từ khi bất chợt trở thành tri kỷ với Tửu Quỷ như lão
Tôn Gù nhưng đến bây giờ hình như lão đã muốn run.
Thế
mà tên có cái bớt xanh trên mặt vẫn ngồi điềm nhiên uống rượu, hắn uống từng
ngụm nhỏ một cách thong dong.
Nhưng
thôi, cứ kể như hắn là một kẻ lỳ đi, chứ hai ông cháu của cô gái tóc bím thì
quả là lạ không thể tiếng.
Ông
thì coi như sắp kề miệng lỗ, cháu tì sữa còn dính quanh môi, vậy mà hai ông
cháu vẫn ngồi nhấm nháp như thường.
Người
điếc không sợ sấm, phải chăng hai ông cháu nhà này cũng trong trường hợp đó.
Hay
là ông quá lờ mờ, còn cháu thì vì quá mê nên chờ xem những trò ảo thuật?
Mà
không chừng đúng đấy, đúng là một trò “xiếc” mà những con khỉ ngoan ngoãn đóng
trò là những đám người đang đội đồng tiền như chết sững trong vòng.
Không
biết đã qua bao lâu, vì lúc bấy giờ thời gian như ngưng đọng mà cũng vì người
không còn đủ sáng suốt để “đếm” giờ khắc trôi qua, chuyên xảy ra làm cho nó
trôi qua một cách nặng nề.
Tách!
Tách! Tách!
Tiếng
nghe bây giờ nghe rõ lắm. Cứ mỗi khi gặp một khung cảnh im lìm thì y như là
thính giác của người ta lại tỏ hẳn lên.
Mà
cũng có thể người ta vì quá ngóng chờ tiếng động, tiếng động nào cũng được,
miễn có để tan bầu không khí mà họ không thở nỗi nên bất cứ tiếng động nào dù
nhỏ đến đâu họ cũng nghe thấy một tiếng tách rõ ràng hơn những lúc bình thường.
Giả
thuyết sau này có lẽ là đúng và đáng tin hơn hết.
Những
tiếng động của lá rơi này lại không có tác dụng phá tan im lặng, không có tác
dụng “khai thông” bầu không khí khó thở. Trái lại, thứ tiếng lá rụng trong
khung cảnh hãi hùng càng làm tăng thêm khủng khiếp!

