Người Đàn Ông Mỹ Cuối Cùng - Chương 06 - Phần 2
Tuy nhiên, khía cạnh kinh doanh này là một khía cạnh trong Eustace mà mọi người thường không thấy, sẽ không thấy được trừ khi tình cờ họ lại là người chịu trách nhiệm lập bản đồ thuế trong Tòa Thị chính của thành phố Boone thuộc Bắc Carolina. Người ta không thấy mặt khôn ngoan tính toán thiệt hơn đó của Eustace Conway vì anh không nói về nó nhiều như nói về chuyện lắng nghe tiếng mưa rơi tí tách hay cách nhóm lửa mà không có diêm. Chậc, thiên hạ đâu có trả tiền để anh nói chuyện kinh doanh. Nhưng đó không phải lý do duy nhất mọi người không để ý đến nó. Người ta không thấy khía cạnh giao dịch rất rắn tay của Eustace chủ yếu là bởi vì họ không muốn thấy nó. Bởi vì họ sợ rằng nếu soi quá tỉ mỉ vào mặt đó của con người anh, nó có thể làm hỏng mất hình ảnh đẹp của bộ đồ da hoẵng, cái lều vải, phát bắn duy nhất với khẩu súng nòng dài kiểu cổ, chiếc bát gỗ tự đẽo gọt, và nụ cười rộng mở thanh bình. Đó là hình ảnh họ cần ngày hôm nay, là hình ảnh họ vẫn luôn luôn cần.
“Phóng khoáng trong phong cách và tự do như ngọn gió,” như nhà văn Anh Isabel Lucy Bird miêu tả người đàn ông miền Tây nước Mỹ của thế kỷ mười chín.
“Chàng trai hoang dã vô thần nguyên thủy của em,” như Valarie Spratlin vẫn gọi, vào thuở ban đầu cô biết yêu Eustace.
Đó là điều chúng ta ai cũng thầm nghĩ, thuở ban đầu ta yêu mến Eustace. Ít ra là những ai trong chúng ta yêu mến anh. Mà số người như chúng ta thì nhiều vô kể.
Tôi hiểu cảm giác đó. Tôi cũng có cái khoảnh khắc thầm nghĩ đây là người đàn ông đích thực đầu tiên mình từng thấy, kiểu người mà thời hai mươi hai tuổi tôi đã lặn lội tới Wyoming để tìm kiếm (đúng hơn là để trở thành) - một tâm hồn thuần khiết không bị vấy bẩn bụi bặm thời hiện đại. Điều khiến cho khi mới gặp ta có cảm giác Eustace giống như thành viên cuối cùng của một giống loài cao quý nào đó là ở chỗ, chẳng có gì là “thực” trong hiện hữu của anh. Đây là người đàn ông sống cái cuộc sống mà, đối với phần còn lại của đất nước này, về căn bản đã trở thành một ẩn dụ đúng với nghĩa của từ.
Hãy nghĩ đến chuyện mỗi năm người ta có thể tìm thấy rất nhiều bài báo trong tờ Wall Street Journal miêu tả một chủ doanh nghiệp hay doanh nhân nào đó là “người khai khẩn tiên phong” hay “kẻ bất kham” hay “tay cao bồi”. Hãy nghĩ xem đã bao nhiêu lần những người đàn ông hiện đại đầy tham vọng này được mô tả là “đóng cọc tuyên bố chủ quyền” hay liều lĩnh dấn sâu “quá vùng biên” hay thậm chí “phóng vào hoàng hôn”. Chúng ta vẫn sử dụng từ vựng thế kỷ mười chín này để miêu tả những công dân dám nghĩ dám làm nhất của chúng ta, nhưng giờ đây đó chỉ còn là lối nói được thừa nhận chung, bởi vì những con người này thực tình không phải là người khai khẩn tiên phong; họ là những lập trình viên tài giỏi, nhà nghiên cứu nguồn gốc phát sinh sinh vật, chính trị gia hoặc những tay có thế lực của ngành truyền thông được dư luận săn đón trong một nền kinh tế hiện đại phát triển vũ bão.
Nhưng khi Eustace Conway nói về đóng cọc tuyên bố chủ quyền thì chàng trai này đúng nghĩa là đóng cọc tuyên bố chủ quyền. Những từ ngữ về biên giới khác mà tất cả chúng ta dùng như ẩn dụ thì Eustace dùng theo đúng nghĩa đen. Anh thật sự ngồi thẳng trên mình ngựa; anh thật sự luôn giữ thuốc súng khô; anh thật sự chi đất làm nhà cửa vườn tược. Khi anh nói về chuyện ghìm cương ngựa hay xua chó hay sửa hàng rào, ta có thể tin chắc ở đây có ngựa thật, chó thật và hàng rào thật. Và khi anh nói dự định đi giết, không phải anh đang nói về việc thôn tính một công ty đối đầu nào đấy; anh đang nói chuyện thật sự bắn giết một cái gì đó.
Tôi nhớ một lần khi tôi ở Đảo Rùa để giúp Eustace làm nghề rèn. Xưởng rèn nhỏ của Eustace lúc nào cũng hoạt động. Anh là một tay thợ rèn thành thạo theo phương thức nông trang kiểu cũ, nghĩa là anh không chế tác đồ chạm trổ sắt nguyên chất; anh chỉ sửa chữa nông cụ và đóng móng ngựa. Ngày hôm ấy, Eustace đang nung nóng que sắt để sửa lại một chỗ bị hỏng trên chiếc máy gặt cổ lỗ. Cùng lúc đó anh đang đặt một số đồ sắt nung trong lò và, sao nhãng vì cố gắng dạy tôi những điểm cơ bản của nghề rèn, anh đã để cho vài món trong số ấy quá nóng, tới mức nhiệt làm tổn hại đến độ cứng của kim loại. Thấy thế anh la lên, “Trời ạ! Tôi để nhiều đồ sắt trong lửa quá[3].”
[3] Nguyên văn: too many iron in the fire, thường được dùng như một thành ngữ chỉ việc ôm đồm nhiều việc một lúc.
Đây là lần đầu tiên tôi từng nghe thấy câu này được dùng trong đúng văn cảnh của nó. Tuy nhiên đó chính là kiểu mãn nguyện khi ở bên Eustace; mọi thứ đột nhiên dường như đều ở trong đúng văn cảnh của nó. Anh hiện thực hóa một khái niệm về bản sắc vùng biên vốn từ lâu đã vượt quá sức hiểu hầu hết thanh niên thuộc thế hệ anh, hầu hết trong đó chỉ còn thừa hưởng được mỗi vốn từ vựng, không hơn. Và ngôn ngữ vùng biên còn tồn tại lâu hơn vùng biên thực sự của chúng ta, bởi vì chúng ta đã xây dựng bản sắc nam nhi kiểu Mỹ của mình dựa trên cái thời kỳ ngắn ngủi ấy, thời kỳ thám hiểm, thời kỳ tự chủ đầy lãng mạn, thời kỳ tiến dần về phía Tây lập đất định cư.
Chúng ta bấu víu lấy bản sắc đó, rất lâu sau khi nó chẳng còn chút tương thích với thực tế nào, bởi vì chúng ta vô cùng yêu thích ý tưởng ấy. Tôi tin đó là lý do tại sao rất nhiều đàn ông ở nước này mang một ý niệm mà nay chỉ còn là cặn lắng qua thời gian, ý niệm tự xem mình là kẻ khai khẩn tiên phong.
Tôi đặc biệt nghĩchú Terry của tôi, chú sinh ra trên một nông trang ở Minnesota và được con cháu của những người đi khai hoang nước Mỹ nuôi dạy. Terry, một cậu bé thông minh và nhạy cảm sinh vào thời kỳ bùng nổ dân số sau Thế chiến Thứ hai, không thể dễ dàng từ bỏ trang ấp đó. Về sau chú đến miền Đông, bắt đầu sự nghiệp lánh doanh, và đến giờ công việc hằng ngày của chú là làm chuyên gia vi tính. Mấy năm trước chú Terry mê trò chơi điện tử tên là Đường mòn Oregon. Ý tưởng của trò chơi là bạn, người chơi, là một người Mỹ đi khai hoang vào thế kỷ mười chín, cùng gia đình thẳng tiến về miền Tây trên xe ngựa. Để chiến thắng trong trò chơi, bạn phải tới được Thái Bình Dương, sống sót qua vô vàn gian khó ảo, bao gồm bệnh tật, bão tuyết bất thình lình, bị thổ dân tấn công, và đói khát khi vượt qua đèo hiểm trở. Càng chuẩn bị tốt - theo nghĩa là mang theo đồ dự trữ hợp lý và chọn được tuyến đường an toàn nhất - cơ hội sống sót của bạn càng cao.
Chú Terry thích trò chơi này lắm, chú thường ngồi nhiều giờ trước máy tính, nỗ lực ảo để đi về miền Tây, hăng hái không kém gì ông bà của chú nỗ lực thật để đi về cùng hướng đó một thế kỷ trước. Nhưng có một điều khiến chú Terry thất vọng về trò chơi này: chương trình máy tính không cho chú tùy cơ ứng biến khi đối mặt thảm họa. Chú bỗng nhiên nhận được một thông điệp trên màn hình cho biết rằng trục xe ngựa của chú đã hỏng và chú sắp tiêu đời vì không thể đi tiếp. Máy tính đã thông báo người đi khai hoang ảo này thua cuộc. Trò chơi kết thúc. Chú Terry đứng dậy khỏi bàn đi tới tủ lạnh, lầm bầm nguyền rủa bực bội. Chú lấy cho mình một lon bia nữa và chê bai những tay sáng chế trò chơi, bực bội đến tức cười.
“Nếu chú thực sự ở ngoài đó trên Đường mòn Oregon, chú biết chú có thể giải quyết ngon lành chuyện này!” chú nói, “chú có thể tìm ra cách để sửa một cái trục xe chết tiệt. Chú đâu có đần! Chú sẽ chặt cành cây, lắp thứ gì đó vào!”
Có lẽ chú làm được thật. Không chỉ vì chú Terry lớn lên ở một nông trại mà còn bởi trong những năm tháng tuổi trẻ đầy lý tưởng chú đã đi khám phá khắp những vùng hoang dã nước Mỹ để tìm kiếm kiểu độc lập của riêng mình. Đối diện với các thử thách của Đường mòn Oregon, chú Terry có lẽ sẽ sống sót. Tuy nhiên chú không ở ngoài đó suốt ngày dài để chứng tỏ điều này. Nhưng Eustace Cornway thì có. Eustace thực sự đưa gia súc đi từ Đông sang Tây lục địa này, thực sự chịu đựng mọi gian khó, thực sự nghĩ được ra cách lắp thứ gì đó vào khi cái trục xe bị gãy.
Vấn đề trở nên tế nhị khi chúng ta quyết định mình muốn Eustace Conway phải như thế nào, để đáp ứng được những ý niệm của chúng ta về anh, và rồi phớt lờ những gì không khớp với hình ảnh lãng mạn như ấn tượng ban đầu của chúng ta. Phản ứng ban đầu của tôi khi chứng kiến cuộc đời của Eustace Conway là thấy nhẹ lòng. Khi lần đầu tiên nghe về cuộc đời và những cuộc phiêu lưu của anh, tất cả những gì tôi có thể nghĩ là Ơn Trời. Ơn Trời là ở nước Mỹ vẫn còn có người còn sống theo cách này. Ơn Trời, ít nhất còn có một sơn nhân đích thực, người đàn ông đích thực của vùng biên, người khai khẩn tiên phong đích thực, kẻ bất kham đích thực ngoài kia. Ơn Trời còn có một tâm hồn hoang dã độc lập và thực sự tháo vát sót lại trên đất nước này. Bởi vì, ở một mức độ cảm xúc sâu sắc, kiểu tồn tại của Eustace cho tôi thấy rằng bằng cách nào đó, đối ngược lại tất cả những biểu hiện dễ thấy khác, người Mỹ chúng ta vẫn thực sự là một dân tộc mà con người phát triển tự do, phóng khoáng, mạnh mẽ, dũng cảm và ngoan cường, chứ không lười biếng, béo phì, tẻ nhạt và không mục đích.
Hoặc đó là cảm nhận của tôi khi gặp Eustace lần đầu, và đó là phản ứng mà tôi chứng kiến ở hàng chục người khi họ gặp Eustace lần đầu. Phản ứng đầu tiên của rất nhiều người Mỹ, đặc biệt là đàn ông, khi họ thoáng thấy cuộc đời của Eustace Conway là: “Tôi muốn làm điều anh đang làm.” Thực ra thì, khi xem xét cẩn thận hơn, có lẽ họ không muốn thế. Mặc dù cảm thấy hơi xấu hổ vì sự dễ dàng và tiện dụng của đời sống hiện đại, nhiều khả năng là họ chưa sẵn sàng để từ bỏ tất cả những thứ đó. Không vội thế được, bạn ạ…
Đa phần người Mỹ chắc hẳn không muốn sống tự cấp tự túc theo nghĩa là thiếu tiện nghi thực sự, nhưng họ vẫn xúc động trước lời đoan chắc liên tục của Eustace rằng “Bạn có thể!” Bởi vì đó là điều hầu hết chúng ta ai cũng muốn nghe. Chúng ta không muốn ở ngoài kia giữa cơn bão tuyết trên Đường mòn Oregon, chữa cái trục gãy của chiếc xe ngựa có mái che; chúng ta muốn cảm thấy như ta có thể làm được việc đó nếu chúng ta phải làm. Và Eustace sống như anh đang sống là để cho chúng ta cái bằng chứng đầy an ủi đó.
“Bạn có thể!” anh không ngừng nói với chúng ta như vậy.
Và chúng ta không ngừng tin ở anh, bởi vì anh đã làm được!
Anh là cái tôi hoang đường bên trong chúng ta, bằng xương bằng thịt, đó là lý do tại sao có cảm giác thật khuây khỏa khi được gặp anh. Giống y như được nhìn thấy một cánh chim đại bàng đầu trâu. (Chúng ta nghĩ, một khi còn một người tồn tại thì rốt cuộc có lẽ mọi chuyện không đến nỗi quá tệ.) Tất nhiên, trở thành hiện thân cho ước vọng hoang đường của toàn thể xã hội quả là việc lớn đối với một người, nhưng Eustace vẫn luôn đủ sức cho nó. Và mọi người cũng cảm nhận được điều đó ở anh; họ cảm nhận được niềm tự tin của anh rằng mình đủ lớn để làm một ẩn dụ sống, đủ mạnh để mang trên lưng mình mọi khao khát của chúng ta. Thế nên quả là an toàn khi tôn thờ anh, điều này là một trải nghiệm hết sức thú vị cái thời đại non nớt, vỡ mộng này khi mà thật thiếu an toàn khi tôn thờ bất kỳ ai. Và mọi người tỏ ra hơi mờ mắt trước niềm phấn khích này, hơi thiếu lý tính. Tôi biết, bởi vì tôi đã từng như thế.
Một trong những trò tiêu khiển yêu thích của tôi là tìm đọc lại các đoạn trong nhật ký của mình viết về lần Eustace và Judson Conway tới thăm tôi ở thành phố New York. Tôi đặc biệt thích chỗ kể về lần đầu trông thấy Eustace và miêu tả anh là “người anh trai quyến rũ, hoang dã, và hoàn toàn ngây thơ của Judson.”
Quyến rũ? Chắc chắn rồi.
Hoang dã? Quá đúng.
Ngây thơ? Nghĩ lại đi, cô em.
Không có một tí ngây thơ nào ở chàng trai này, và chẳng ở đâu điều đó sáng tỏ hơn là trong những thương lượng đất đai của anh. Những người lên núi để xem Eustace Conway và đất đai của anh hiếm khi tự hỏi đất ấy từ đâu ra. Đảo Rùa phù hợp với Eustace tới mức người ta tin nó sinh ra từ anh hoặc anh sinh ra từ nó. Cũng như mọi thứ Eustace trình bày trước công chúng, đất đai của anh dường như chẳng dính dáng gì tới những quy trình đầy bẩn thỉu của xã hội hiện đại suy đồi của chúng ta. Trái với mọi suy lý, người ta thấy Đảo Rùa là một mảnh nhỏ xíu cuối cùng của vùng biên nước Mỹ. Và Eustace tất nhiên không thể làm bất kỳ việc gì thô thiển kiểu như tậu miếng đất; hẳn là anh đã cứ thế tuyên bố chủ quyền đối với nó thôi.
Chúng ta có thể thấy Eustace qua cái nhìn của Domingo Faustino Sarmiento, nhà trí thức thế kỷ mười chín người Argentina từng tới thăm nước Mỹ đủ lâu để thấy cách “người nông dân tự chủ này tìm đất đai màu mỡ, một địa điểm ngoạn mục, nơi nào đó cạnh một dòng tàu bè có thể qua lại; và khi anh ta đã quyết định, y như vào thời đại sơ khai nhất trong lịch sử nhân loại, anh ta tuyên bố, 'Chỗ này là của tôi!' và chẳng tốn thêm chút sức nào để trở thành chủ sở hữu của miếng đất nhân danh hai vì Chúa tể Thế gian: Lao động và Thiện ý.” Chúng ta yêu ý tưởng này đến mức nghĩ bất cứ điều gì khác đi về Eustace hay về cách anh giữ lãnh địa của mình cũng sẽ làm hỏng mất trong chúng ta hình tượng hoành tráng và khiến ta an lòng về anh như là Người Đàn Ông Mỹ Cuối Cùng. Nhưng câu chuyện của Eustace Conway là câu chuyện về nam tính Mỹ. Linh lợi, giàu tham vọng, đầy nghị lực, xốc vác, rộng mở - anh đứng ở cuối một dòng dõi bao đời đầy vinh quang những người như thế.
Không có gì lỗi thời trong cách làm việc khôn ngoan của anh. Chúng ta muốn Eustace là Davy Fuckin' Crockett chăng? À, tốt thôi. Chính xác thì chúng ta nghĩ Davy Crockett là ai? Ông là dân biểu, chính thế. Ông xuất thân từ vùng núi rừng hẻo lánh, chắc chắn rồi, và ông là tay thợ săn thiên tài đã dùng dao giết gấu (mặc dù có lẽ không phải hồi ông mới chập chững biết đi), nhưng ông cũng cực kỳ mánh khóe và ông biết cách khai thác cái chi tiết đầy sức thu hút là xuất thân từ rừng hoang ấy để phục vụ lợi ích chính trị của bản thân. Trong một cuộc tranh luận với đối thủ chính trị thuộc dòng dõi quý tộc, tay đối thủ đã hỏi vị sơn nhân Tennessee này liệu ông có đồng ý rằng nên có một thay đổi triệt để “trong bộ máy tư pháp tại phiên họp sắp tới của cơ quan lập pháp” hay không. Crockett (mặc bộ đồ da hoẵng thô) chinh phục đám dân địa phương bằng cách dài giọng đầy vẻ ngây thơ nói rằng ông chẳng hề biết có tồn tại thứ gì như cái gọi là “bộ máy tư pháp”. Nói vậy nghe thật quyến rũ và thú vị, rõ là thế, tuy nhiên hẳn là chẳng thật, bởi vì Crockett đã làm việc trong cơ quan lập pháp nhiều năm rồi - làm thẩm phán hòa giải, quan tòa, ủy viên hội đồng thành phố, và lúc này là thành viên của cơ quan lập pháp bang.
Crockett là một người tự quảng cáo tiến thân tài giỏi, người ta luôn có thể kỳ vọng ông đưa ra cho phóng viên một phát biểu dí dỏm của người miền núi hay một câu khoác lác đầy kịch tính về cuộc đương đầu với “con ma mút” hoang dại và nguy hiểm nào đó. Ông đủ khôn khéo để cẩn thận chọn thời điểm phát hành cuốn hồi ký đầy khoa trương Cuộc đời và những chuyến phiêu lưu của Đại tá David Crockett miền Tây Tennessee cho trùng với thời gian diễn ra chiến dịch ứng cử Quốc hội năm 1833 của mình. “Thành phố là một nơi mới khốn khổ làm sao,” Crockett than van. Thế nhưng sau đó ông tới sống ở Washington D.C, nơi ông sẵn lòng bắt tay thân ái với những địch thủ thuộc đảng Whig Đông Bắc để thấy rằng, thật thích đáng, dự luật đất đai yêu quý của ông đã được thông qua.
Thực ra, dĩ các chàng trai rừng núi người Mỹ trứ danh này thảy đều trở thành chàng trai rừng núi người Mỹ trứ danh được là nhờ vào trí thông minh, tham vọng và sự tự thể hiện được trau chuốt chu đáo. Daniel Boone, kiểu mẫu của người đàn ông vùng biên phóng khoáng tự do, là một tay đầu cơ bất động sản (nói đúng hơn là một chủ thầu) hàng đầu. Ông thành lập thành phố Kentucky thuộc Boonesborough rồi sau đó đệ hơn hai mươi chín đơn xin chủ quyền hợp pháp đối với đất đai, cuối cùng sở hữu tới hàng ngàn mẫu đất. Ông dính vào kiện tụng về tranh chấp địa giới, trong đó có một vụ rất kinh khủng trong đó ông phải tranh đấu với cả hệ thống tòa án thuộc địa trong suốt hơn hai mươi ba năm. (Thậm chí vào thế kỷ mười tám, thậm chí với Daniel Boone, quy trình nhận quyền sở hữu đất đai vẫn phức tạp quan liêu hơn nhiều so với câu tuyên bố “Đất này là của tôi!”. Boone hiểu chuyện đời. Như ông có viết cho một người định cư anh em, “Không nghi ngờ gì rằng anh rất mong mỏi thương vụ đất đai của anh xong xuôi, nhưng đó là một việc bất khả nếu không có tiền.”) Hóa ra rất nhiều khoảnh khắc hào hùng trong lịch sử nước Mỹ sẽ không thể xảy ra nếu không có tiền. Lý do Daniel Boone trở nên nổi tiếng là vì ông tiến hành thỏa thuận trao đổi với một giáo viên ở Pennsylvania tên là John Filson, gia đình Filson cũng sở hữu rất nhiều đất ở Kentucky và ông ta đang tìm cách quảng bá về bang này và nhờ đó làm tăng giá trị đất đai của mình. Rốt cuộc Filson viết một cuốn sách ly kỳ, Những cuộc phiêu lưu của Đại tá Daniel Boone. Cuốn sách này bán rất chạy và, đúng như tính toán, những người định cư náo nức đi xuống Kentucky mua hết chỗ đất Boone-Filson tuyệt vời đó. Về phần Boone, đó là một dự án khôn ngoan và mang lại rất nhiều lợi nhuận, và nó cũng khiến ông trở thành một thần tượng lúc sinh thời.
Cả Boone lẫn Crockett đều là những doanh nhân sắc sảo hơn nhiều so với ta hẳn sẽ đoán khi xem các chương trình truyền hình về họ trong thập niên 1950. (“Người đàn ông ưu tú nhất, thành công nhất, năng động nhất vùng biên mà người ta từng biết!”) Và họ không chỉ là những người khôn ngoan duy nhất. Có hàng tá tiểu thuyết phiêu lưu viết về Kit Carson được xuất bản ở thành phố New York khi ông còn sống (ví dụ như: Kit Carson: Hiệp sĩ của dân da đỏ; Kit Carson: Ông hoàng của dân tìm vàng). Và ông chủ cũ của Carson, nhà thám hiểm John Frémont, đủ thông minh để thêm thắt dăm nét lãng mạn vào các báo cáo về cuộc thám hiểm mà ông được Quốc hội giao phó viết, khiến chúng thành tác phẩm bán chạy nhất nước. Ngay cả Lewis và Clark cũng biết cách làm cao giá. Khi từ cuộc thám hiểm nổi tiếng trở về, họ ăn mặc sao cho thật bắt mắt thật phong trần khi đi tàu ngược sông vào thành phố St. Louis để được cả ngàn người dân reo hò và một số không nhỏ phóng viên báo chí chào đón, trong đó có một phóng viên viết với lòng ngưỡng mộ, “Họ quả thực có dáng vẻ của Robinson Crusoe, mặc toàn đồ da hoẵng.”
Thế nên khi Eustace Conway dấn thân vào “một thương vụ nhỏ khôn ngoan” hay khi anh đổi đất lấy đất hay khi anh viết trong nhật ký, “Tôi vừa gom một gói lớn các bài báo mới để đưa ra công chúng; có lẽ có 35 bài báo chính thực hiện về tôi trong những năm qua - đây sẽ là một tập hợp ấn tượng để tôi tự quảng bá mình” hay khi anh khai thác khía cạnh bản tính người rừng của mình để có được khán giả, anh hoàn toàn không phản bội các bậc tiền nhân trên vùng biên nước Mỹ; anh làm vinh danh họ. Họ hẳn sẽ công nhận ngay anh có thể làm những gì, và họ sẽ ngưỡng mộ điều ấy, bởi vì tiến hành kiểu chiến dịch khôn ngoan đó luôn là cơ sở dẫn đến thành công trên lục địa này.
“Làm việc bảy ngày mỗi tuần, suốt ngày suốt đêm không nghỉ cả một năm trời nay,” Eustace viết trong nhật ký sau khi Đảo Rùa mở cửa vài năm. “Tôi nghĩ mình là một hình mẫu tốt về nỗ lực cho một mục tiêu cao, không phải dựa trên những thành quả trước mắt mà dựa trên tầm nhìn về tương lai, toàn bộ điều này là một phần nền giáo dục triết lý và xã hội mà tôi thụ hưởng hồi còn nhỏ. Ông ngoại tôi đã nêu gương trên nhiều phương diện thông qua Trại Sequoyah. Ngay lúc này đây, một con cú mèo kêu, gọi tôi nhớ đến ông như sức nóng từ ngọn lửa sưởi ấm bên tôi.”
Anh không còn nợ tiền bố nữa (“và cái ngày giải thoát được gánh nặng này quả thật là một ngày hạnh phúc”), song thách thức khác trước mắt anh thì vẫn tới không ngừng. Đó là nỗ lực tổ chức để mùa hè nào Trại Thiếu nam và Trại Thiếu nữ cũng hoạt động. Và có những chuyện cần phải xử lý với chính bọn trẻ. Một em bị đứt tay do đá sắc và cần được khâu lại; em khác ngộ độc thường xuân dại; em khác bị bắt quả tang đang hút cần sa và buộc phải trở về nhà vì Eustace vĩnh viễn không bao giờ dung thứ ai dùng ma túy.
Đó là còn chưa kể những vấn đề về nhân sự. Vì tiêu chuẩn của cá nhân anh về sự hoàn hảo là như vậy, Eustace sớm nhận ra rằng tìm được những nhân viên kiên định mà anh có thể tin cậy quả là nhiệm vụ khó khăn. Có một thời gian các em trai anh, Judson và Walton, làm nhân viên tư vấn cho Eustace. Hai người rất tuyệt, nhưng ai cũng đều có cuộc sống riêng nên không thể trông mong họ dạy tại Đảo Rùa mãi mãi. Walton đã tốt nghiệp cao đẳng và đang dự định sang châu u sống vài năm. Judson vốn đang khao khát được đến ở miền Tây trong các mùa hè và sẽ sớm khởi hành những chuyến phiêu lưu của riêng mình, rong ruổi trên toa chở hàng và đi nhờ xe. (“Mới rồi em khoác ba lô trên vai đi bộ trên dãy núi Wind River ở Wyoming,” Judson viết cho Eustace trong một tấm bưu thiếp với lời văn bay bổng đặc trưng. “Em đã chiến đấu với một trận bão tuyết đầu mùa trong suốt mười lăm dặm, cao hơn vành đai cây cối 350 mét. Suýt chút nữa thì em mất mạng. Thú vị vô cùng. Em hy vọng trại vẫn đang hoạt động tốt. À mà, giờ em đã là chàng cao bồi đích thực rồi.”)
Ngoài các em trai ra, Eustace thấy cực kỳ khó tìm được những người có thể làm việc cật lực bằng (hoặc gần bằng) anh mà vẫn dành cho anh niềm kính trọng mà anh nghĩ mình xứng đáng. Vốn là người thường nói mình thấy cái ý tưởng mỗi ngày chỉ làm việc tám tiếng quả là “đáng tởm”, Eustace hiếm khi hài lòng với nỗ lực của nhân viên. Họ tới Đảo Rùa “kính sợ, kinh ngạc, và phải lòng mảnh đất này” (như một nhân viên cũ từng viết) nhưng rồi dường như choáng váng thấy mình phải làm việc quá cật lực. Hết lần này đến lần khác, anh đánh mất đội của mình, có khi do họ bỏ đi, cũng có khi do anh sa thải.
Anh ước gì bỗng nhiên mình có thể có nhóm nhân viên đáng tin cậy mà ông ngoại anh đã cộng tác tại Trại Sequoyah vào thập niên 1930, thay vì những thanh niên hiện đại nóng nảy bộp chộp này với tất cả cảm xúc và nhu cầu của họ. Ông ngoại anh đã đòi hỏi sự trong sạch và sự hoàn hảo, và nói chung ông đạt được những thứ đó. Chỉ cần Tư lệnh nghe bàn tán có người thấy một nhân viên tư vấn đang hút thuốc dưới phố vào ngày nghỉ, thế là khi trở lại trại viên tư vấn đó sẽ thấy túi đồ của mình đã được ai đó đóng sẵn rồi. Tư lệnh không bao giờ bận tâm liệu mình có xúc phạm cảm xúc của người khác hay bị trách cứ là “bất công” hay không. Ông có quyền lực tối cao, đó cũng là tất cả những gì Eustace đòi hỏi. Điều ấy, cộng với một sự cam kết của mọi người cố làm việc chăm chỉ như anh. Đó là một đòi hỏi quá cao.
Tôi từng làm việc với Eustace Conway. Không ai tới thăm Đảo Rùa mà không làm việc. Tôi ở trên đó một tuần vào một mùa thu để giúp Eustace xây lán. Chúng tôi có ba người cùng làm việc đó - Eustace, tôi, và một cậu thanh niên học việc cần mẫn và kiệm lời tên Christian Kaltrider. Chúng tôi làm việc mười hai tiếng mỗi ngày, và theo tôi nhớ thì chẳng hề nghỉ ăn trưa. Làm việc lặng lẽ luôn tay. Cách Eustace làm việc chẳng khác gì một cuộc diễu hành - đều đặn và liên tục, đến độ cảm giác mụ cả đi. Ta có cảm giác mình đang ở trong một trung đội. Ta không nghĩ gì nữa mà cứ thế hòa theo nhịp độ. Rốt cuộc trong lúc làm việc thì Eustace là người duy nhất nói, và anh nói là để ra lệnh, anh ra lệnh với quyền uy không thể chối cãi, mặc dù mọi mệnh lệnh đều lịch sự. Trong cả buổi làm việc chỉ có một khoảnh khắc duy nhất Eustace ngừng tay. Eustace nhờ tôi tới chỗ đống dụng cụ lấy cho anh một cái cuốc c
“Xin lỗi,” tôi nói, “tôi không biết nó là thế nào.”

