Tình Yêu Thời Thổ Tả - Chương 37

Chương 37

Gần hai năm sau khi Phecxima Đaxa biến mất, đã xảy ra một sự kiện thuộc số
những sự kiện ngẫu nhiên từng được bà Tranxitô Arixa lúc sinh thời liệt nó vào
loại một của Thượng đế. Phlôrêntinô Arixa vẫn chưa hết hào hứng trước sự sáng
chế ra xinê và Lêôna Catixiani đã dễ dàng kéo ông đi xem buổi chiếu thử bộ phim
Cabiria, mà kịch bản của nó dựa trên những cuộc đối thoại do nhà thơ Gabiên
Đanungdiô viết ra. Cái bãi rộng của Đôn Galilêô Đacôngtê, vốn là nơi trong một
đêm người xem thích thú những mối tình câm trên màn bạc, hôm ấy chật ních đám
khán giả được chọn lọc. Lêôna Catixiani mải mê theo dõi câu chuyện của bộ phim.
Phlôrêntinô Arixa đang ngủ gà ngủ gật vì bộ phim quá nặng nề. Phía sau ông,
bỗng vang lên tiếng nói của một người đàn bà dường như đoán được tâm trạng
ông:

- Trời ơi, điều này còn dài hơn cả một nỗi đau thương.

Đó là điều duy nhất mà người ấy nói và bị dừng lại có lẽ bởi sức vang vọng
của tiếng nói ở trong bãi thanh lặng, vì ở đây vào thời ấy người ta chưa có
thói quen dùng đàn piano đệm cho các cảnh của phim câm đang được chiếu trên màn
bạc và do đó người ta chỉ nghe thấy tiếng kêu vo vo từ chỗ buồng máy chiếu phát
ra tựa như tiếng mưa rơi đều đều. Phlôrêntinô Arixa không nhớ tới Thượng đế
trong những hoàn cảnh khó khăn nhất, nhưng lần này với tất cả tấm lòng của mình
ông cảm ơn Người. Bởi vì dù có ở sâu dưới lòng đất tới hai mươi sải tay đi nữa
ông vẫn cứ nhận ra ngay lập tức cái giọng nói sang sảng kia, đó là cái giọng
nói mà ông từng mang trong tâm khảm mình từ cái buổi chiều ông nghe người ấy
nói khi đứng trên đống lá vàng rơi tại một công viên hiu quạnh: "Bây giờ
anh hãy đi đi. Và xin đừng trở lại cho đến khi nào em nhắn anh tới". Ông
biết rõ bà đang ngồi ở phía sau mình, bên cạnh người chồng không thể tránh
được. Ông cảm nhận hơi thở nóng hổi và đều đặn của bà, và ông hít thở không khí
trong lành được thanh lọc bởi chính làn hơi bà thở. Ông không cảm thấy bà bị
con dán của thần chết đang đục khoét như ông vẫn thường tưởng tượng ra trong
lúc buồn chán vào những tháng gần đây mà ông lại một lần nữa tưởng tượng ra bà
trong tuổi tươi sáng nhất và hạnh phúc nhất với cái bụng lùm lùm mang hạt giống
đứa con đầu lòng bên dưới chiếc áo tunica mà nữ thần Minecva thường mặc. Ông
tưởng tượng ra bà như thể nhìn bà mà không nhìn lại phía sau, hoàn toàn xa lạ
với những bất hạnh trong câu chuyện đang được kể trên màn ảnh. Ông ngây ngất
với mùi thơm quen thuộc của hạnh đào vương theo mình sau mỗi bận ngồi ở vườn
hoa Lôt Êvăngêliốt trở về nhà. Ông khao khát muốn biết bà nghĩ gì về việc những
người đàn bà trong phim ảnh nên yêu nhau như thế nào để cho tình yêu của họ ít
đau khổ hơn những mối tình của đời thực. Trước khi buổi chiếu phim kết thúc ít
phút, với niềm vui đột khởi, ông nhận ra rằng chưa bao giờ mình được ở bên cạnh
người đàn bà mình yêu lâu như lần này.

Khi đèn bật sáng, ông ngồi đợi cho đến khi những người khác đứng dậy hết mới từ từ đứng dậy và
uể oải đóng lại hàng cúc áo gi-lê mà trong buổi chiếu phim ông đã mở ra. Bốn
người chạm trán nhau đến mức họ buộc phải chào hỏi mặc dù trong số họ có người
thực tâm không muốn một chút nào. Bác sĩ Huvênan Ucbinô trước tiên chào Lêôna
Catixiani, người mà ngài biết rất kĩ và sau đó ngài siết chặt tay Phlôrêntinô Arixa một cách lịch
sự. Phecxima Đaxa mỉm một nụ cười với cả hai, một nụ cười xã giao nhưng dù sao
chăng nữa nó vẫn chỉ là một nụ cười của một người từng nhìn thấy họ nhiều lần,
từng biết họ là ai và vì vậy họ cần phải đến chào mình. Lêôna Catixiani cũng
đáp lễ lại bà bằng điệu bộ duyên dáng của một người phụ nữ da lai. Ngược lại,
Phlôrêntinô Arixa chẳng biết làm gì vì ông cứ đứng thần người ra mà nhìn
bà.

Bà là một người khác hẳn trước đây. Trên gương mặt không hề có một dấu hiệu
nào của bệnh tật, thân hình bà vẫn giữ được độ săn chắc và vòng eo lưng thon
thả của thời kỳ đẹp nhất trong cuộc đời bà nhưng cũng thật rõ ràng rằng hai năm
gần đây đã qua đi trong đời bà với tất cả sự khắc nghiệt của mười năm sống vất
vả cộng lại. Mái tóc cắt ngắn ôm lấy gương mặt bà nom rất đẹp nhưng nó không
còn là màu mật mà đã ngả màu bạc của nhôm, và đôi mắt sáng như mũi lao đã mất
đi nửa cuộc đời ánh sáng sau cặp kính lão. Phlôrêntinô Arixa nhìn thấy bà tay
khoác cánh tay chồng mỗi lúc một đi xa khỏi rạp chiếu bóng, và ông lấy làm ngạc
nhiên thấy ngay giữa đám đông bà lại che một chiếc mạng xoàng xĩnh và đi đôi
giày vải chỉ dùng để đi trong nhà. Nhưng điều khiến ông cảm động hơn cả là
người chồng cứ phải vịn chắc lấy cánh tay bà để dò dẫm đi cho vững ở cửa rạp
chiếu bóng. Mặc dù cẩn thận như vậy nhưng vì dự tính sai độ cao bậc lên xuống
nên ngài đã hụt chân suýt nữa bị ngã.

Phlôrêntinô Arixa rất dễ động lòng trắc ẩn trước những cú va vấp kiểu ấy
của tuổi già. Vì vẫn còn trẻ, trong các buổi tối ở công viên ông ngừng đọc thơ
đêm quan sát các đôi vợ chồng già giúp nhau vượt qua đường phố và đó là những
bài học thực tế giúp ông rất nhiều trong việc tự rút ra những quy tắc sống cho
chính tuổi già của mình. Ở độ tuổi của bác sĩ Huvênan Ucbinô trong cái đêm ấy ở
rạp chiếu bóng, đàn ông bao giờ cũng bừng lên một sức sống mãnh liệt hơn trong
tuổi hồi xuân, họ trở nên hoạt bát và dễ quyến rũ hơn, trước hết đối với cặp
mắt những người đàn bà trẻ, trong khi đó những bà vợ héo úa của họ lại phải vịn
cho chắc vào cánh tay họ để khỏi va vấp ngay cả với cái bóng của chính mình. Nhưng
ít năm sau, bỗng nhiên họ suy sụp cả về thể xác lẫn tinh thần, rơi tõm xuống
vực sâu của tuổi già đáng nguyền rủa và thế là các bà vợ còn khỏe mạnh lúc ấy
chính là những người cần phải nắm lấy cánh tay chồng để dắt họ đi đường như dắt
những người mù lòa, vừa đi vừa rủ rỉ nói vào tai họ để khỏi làm thương tổn đến
lòng kiêu hãnh của cánh đàn ông rằng mình ơi cẩn thận đấy: ba bậc thềm chứ không phải hai đâu, rằng ở
giữa đường có vũng nước, rằng cái đống lù lù nằm ở mé đường bên kia là tử thi
thằng ăn mày đấy, và họ vất vả dìu nhau ra đường như thể dìu nhau qua chỗ rộng
duy nhất trên dòng sông cuối cùng của cuộc đời. Trong tấm gương ấy, đã nhiều
lần ông nhìn thấy hình bóng của chính mình đến mức ông không bao giờ sợ hãi cái
chết cũng như cái tuổi già đáng nguyền rủa mà ở tuổi ấy và chỉ ngày ấy ông sẽ
phải từ bỏ hi vọng có Phecxima Đaxa ở bên cạnh mình.

Cuộc gặp gỡ ấy làm kinh hoàng giấc ngủ của ông. Đáng lẽ đưa Lêôna Catixiani
đi xe về nhà, ông lại đưa bà đi bộ qua thành phố cổ, là nơi những bước chân ông
vang lên như thể tiếng vó ngựa đạp trên đường nhựa. Đôi lúc, từ các ban công,
từ trong buồng kín, vọng đến tai ông những tiếng nói thì thào, những tiếng khóc
nức nở đầy vui sướng của tình yêu tuyệt vời và từ những ngõ phố im lìm ngủ bay
đến với ông làn hương nhài thơm nồng. Lại một lần nữa, Phlôrêntinô Arixa phải
lấy hết sức bình sinh cố giấu kín mối tình đầy đau khổ của mình đối với
Phecxima Đaxa để Lêôna Catixiani không thể nhận ra. Họ cùng đi bên nhau, với
những bước chân thong thả và đều đặn. Họ thong thả yêu nhau như những tình nhân
già. Bà nghĩ đến vẻ duyên dáng của Cabiria, còn ông nghĩ đến nỗi bất hạnh của
chính mình. Có một người đàn ông đứng trên ban công ở Quảng trường Hải Quan hát
và tiếng hát của anh ta vang vọng khắp khu quảng trường: Khi anh băng qua
những con song lớn giữa biển khơi.
Tại phố Santôt đê Piêđra, đúng
vào lúc cần phải tạm biệt Lêôna Catixiani ngay ở trước cửa nhà bà, Phlôrêntinô
Arixa đã yêu cầu bà mời mình uống một cốc rượu brandy. Đây là lần thứ hai ông
xin được uống rượu trong những hoàn cảnh tương tự. Lần thứ nhất, cách đây mười
năm, bà từng trả lời ông khi ông đòi uống rượu: "Nếu anh lên nhà em vào
giờ này anh sẽ phải ở lại đó vĩnh viễn". Ông không lên nhà nhưng giờ đây
dù thế nào chăng nữa ông cũng trèo lên nhà dù rằng sau đó ông buộc phải vi phạm
lời nói của mình. Tuy nhiên, Lêôna Catixiani đã mời ông mà không đòi hỏi một sự
hứa hẹn nào.

Đó là lúc ông đã bất chợt nhận ra chính mình trong cái thánh đường của một
tình yêu tàn héo trước khi nó kịp nở. Bố mẹ của bà đã qua đời, người em trai
duy nhất của bà đã trở nên giàu có ở Curaxao và một mình bà sống trong ngôi nhà
cũ của gia đình. Những năm trước đây, khi ông chưa từ bỏ hi vọng tán bà làm
người yêu của mình, ông vẫn đến thăm bà vào các ngày chủ nhật trong tình yêu
thương của bố mẹ bà và đôi lúc ông còn đến thăm bà vào những giờ rất khuya, và
ông từng góp nhiều công sức vào việc sửa sang ngôi nhà đến mức ông thuộc nó như
nhà mình. Tuy nhiên, trong cái đêm sau khi xem phim ấy, nhờ chính những kỉ niệm
của mình ông có cảm giác rõ ràng rằng phòng khách ấy đã được sắp đặt lại gọn
gàng, sạch đẹp hơn. Giường ghế bàn tủ được kê lại ở những vị trí khác trước đây, trên
các bức tường lại treo những bức tranh mới, và do đó ông nghĩ rằng có biết bao
thay đổi và những thay đổi này được thực hiện hẳn là để kéo dài cái ý nghĩ sáng
tỏ rằng chưa bao giờ ông có mặt ở nhà này. Con mèo không nhận ra ông. Giật mình
trước cơn giận con mèo đã quên mình, ông nói:

"Mày không còn nhớ tao rồi".

Nhưng trong lúc quay lưng lại để chuẩn bị rượu brandy, bà ta đáp lại ông
rằng nếu ông bận lòng về việc này thì ông có thể yên tâm ngủ ngon giấc, bởi vì
loài mèo chẳng nhớ gì hết.

Trên ghế sôpha,
họ ngồi rất gần nhau, cùng nói chuyện về nhau, về thời kỳ họ quen biết nhau
trong một buổi chiều trên chiếc xe khách do lừa kéo mà không ai nhớ rõ năm nào.
Cuộc đời họ trôi đi trong những phòng làm việc liền kề nhau và cho đến lúc ấy
chưa bao giờ họ nói với nhau về bất kỳ điều gì ngoài công việc. Trong lúc nói
chuyện Phlôrêntinô Arixa đặt tay mình lên đùi bà; bằng những động tác thật nhẹ
nhàng êm ái ông bắt đầu mơn trớn và bà cứ để cho ông tự nhiên nhưng không hề để
lộ một mảy may xúc động. Chỉ khi ông đi hơn, lúc ấy bà cầm lấy cái bàn tay đang
mò tìm kia và đặt lên
đó một chiếc hôn.

- Hãy ngoan nào anh, - bà nói. - Đã từ lâu em biết rằng anh chẳng phải là
người đàn ông em tìm kiếm.

Ngay từ hồi còn rất trẻ, một người đàn ông khỏe mạnh và liều lĩnh, người mà
bà chưa hề nhìn rõ mặt đã bỗng dưng vật bà ngã xuống đê biển, lột truồng bà ra
rồi ân ái với bà thật nhanh chóng nhưng cũng thật hăng say. Nằm trên nền đất
sỏi, người hằn những vết sỏi găm lên mình, bà mong muốn người đàn ông ấy sẽ ở
lại đấy mãi mãi để chết vì tình trong cánh tay anh. Chưa nhìn rõ mặt anh, chưa
nghe giọng anh nói nhưng bà tin chắc rằng mình sẽ nhận ra anh giữa muôn nghìn
người người nhờ hình dáng và cung cách làm tình của anh. Kể từ dạo ấy bà đều
nói với tất cả những ai muốn nghe: "Nếu một lần nào đó chị có quen biết
một người đàn ông lực lưỡng từng cưỡng hiếp một cô bé da đen tội nghiệp vào
ngày mười lăm tháng mười, lúc mười một giờ rưỡi đêm thì hãy bảo cho anh ấy tìm
gặp em". Bà nói thế chỉ đơn thuần vì thói quen và bà nói đi nói lại với
không biết bao nhiêu người đến mức tự bà cũng mất luôn hi vọng. Đã nhiều lần
Phlôrêntinô Arixa nghe chuyện này như nghe những tiếng còi tạm biệt của một con
tàu giữa đêm khuya. Khi đồng hồ điểm hai giờ sáng cả hai người đều đã uống được
ba cốc rượu brandy và ông biết rằng, đúng thế, mình không phải là người đàn ông
mà bà từng tìm kiếm và ông lấy thế làm vui vẻ.

- Hoan hô Lêôna, - ông nói khi ra về. - Chúng ta vừa giết chết một con hổ.

Đó không phải là điều duy nhất mà đêm ấy kết thúc. Câu chuyện huyễn hoặc về
trại lao khiến ông từng mất ngủ, vì ông luôn luôn sợ rằng Phecxima Đaxa đang bị
bệnh hiểm nghèo và bởi thế có thể chết trước chồng bà. Nhưng khi nhìn thấy ngài
bị vấp ngay ở cửa ra vào rạp chiếu bóng, theo sự hiểu biết của chính mình, ông
đã dấn thêm một bước nữa về phía vực thẳm với ý nghĩ sáng tỏ bất ngờ ập tới
rằng ngài chứ không phải bà sẽ là người chết trước. Đó là một điềm báo thuộc số
những điềm báo đáng sợ hơn cả, bởi vì cái điềm báo ấy hiện ra rõ mồn một trong
thực tế. Phía sau ông là những năm tháng ngồi yên chờ đợi, những năm tháng hi
vọng náo nức, nhưng ở phía đường chân trời trước mặt kia, chỉ thấy rõ đại dương
mênh mông những bệnh tưởng, những lần đi đái dắt trong đêm mất ngủ, cái chết
hàng ngày khi chiều xuống. Ông nghĩ rằng mỗi một khoảnh khắc trong ngày, vốn
trước đây chúng là đồng minh của mình, là kẻ đồng lõa của mình, giờ đây bắt đầu
phản thùng mình. Mấy năm gần đây, theo một lời hẹn hò mạo hiểm ông ra đi trong
lúc tim mình đập như thắt lại vì sợ nhỡ có chuyện chẳng lành xảy ra, ông thấy
cánh cửa không khóa trái, các bản lề được tra dầu để ông vào nhà mà không gây
tiếng động, nhưng đến phút chót ông lại ân hận và quay trở về vì ông sợ rằng
nhỡ mình chết đột tử trên giường người đàn bà ấy hẳn sẽ gây tiếng xấu cho bà
ta, một người đàn bà không quen biết và tận tụy. Do đó thật là có lý khi ông
nghĩ rằng người đàn bà được ông yêu nhất trần đời, người mà ông đã chờ đợi từ
thế kỷ trước sang thế kỷ này với tinh thần bền bỉ không một lúc than vắn thở
dài, hầu như sẽ có lúc được khoác cánh tay ông để vượt qua một con đường gồ ghề
những đống đất và luống cây amapôla bị gió đánh tơi tả, để giúp ông đi một cách
bình yên và khỏe mạnh sang bờ bên kia của cuộc đời, đó là cõi chết.

Sự thật đối với những quan điểm của thời đại mình, Phlôrêntinô Arixa đã
vượt quá xa giới hạn của tuổi già. Ông đã năm mươi sáu tuổi đời, sống rất trọn
vẹn và đầy đủ, và ông nghĩ rằng đó cũng là những năm đã được sống tốt nhất vì
chúng là những năm tháng của tình yêu. Nhưng không một người đàn ông nào của
thời đại ấy đã có thể đương đầu với sự giễu cợt này. Ở tuổi năm mươi sáu ông
lại trẻ trung như một thanh niên, cho dù đúng là trẻ thực hoặc là tưởng trẻ đi
nữa, và không một ai trong đám đàn ông ở tuổi ông đã dám tự thú mà không biết
ngượng rằng mình vẫn thường khóc thầm cho nỗi thất vọng từ thế kỷ trước. Đó là
một thời đại bất hạnh đối với tuổi thanh niên: một thời đại mà mỗi lứa đều có
một kiểu ăn vận thích hợp, nhưng kiểu ăn vận cho tuổi già lại bắt đầu người con
trai còn ở tuổi thanh niên và kéo dài cho đến khi xuống mồ. Nó không chỉ là
biểu tượng cho mỗi lứa tuổi mà còn là biểu tượng cho danh dự xã hội. Thanh niên
nam ăn mặc như những ông nội mình, càng được tôn kính hơn khi họ đeo một cặp
kính trắng trước tuổi cần phải dùng và càng dễ ưa mắt hơn khi họ chống một cây
ba toong vào lúc vừa tròn ba mươi tuổi. Đối với phụ nữ chỉ có hai lứa tuổi mà
thôi: tuổi lấy chồng, tuổi này không thể quá tuổi hai mươi mốt, và lứa tuổi mãi
mãi là con gái chưa chồng, tức là những người đàn bà ở vậy suốt đời. Những
người đàn bà khác, những người lấy chồng, những bà mẹ, những bà góa, đó là
những người đàn bà thuộc một lứa tuổi khác, lứa tuổi không bao giờ tính tuổi
của mình trong mối quan hệ với những năm tháng đã được mà tính tuổi của mình
trong mối quan hệ với thời gian họ còn thiếu để được đi hầu Chúa.

Ngược lại Phlôrêntinô Arixa đã liều lĩnh đương đầu với những cạm bẫy của
tuổi già, mặc dù ông biết rằng mình có thuận lợi đặc biệt: ngay từ bé mình đã
giống cụ già. Thoạt đầu, đó là một sự cần thiết. Tranxitô Arixa tháo ra và may
lại những bộ quần áo mà cha ông định ném vào sọt rác, do đó ông đến trường tiểu
học với những chiếc áo lêvita mà khi ngồi xuống ghế chúng trùm kín mặt đất, với
những chiếc mũ bộ trưởng rộng thùng thình trùm kín cả mắt mặc dù bên trong đã
được lót bằng cả một cái vành đai bông. Hơn nữa ông còn đeo cặp kính cận ngay
từ lúc năm tuổi và có mái tóc người Anhđiêng như mái tóc của bà mẹ, một thứ tóc
rễ tre xoắn tít do đó
diện mạo thời trẻ của ông chẳng rõ ràng gì hết. May thay sau biết bao thay đổi
trong chính phủ do không biết bao cuộc nội chiến kế tục gây nên, các quan điểm
về nhà trường cũng đỡ ngặt nghèo hơn trước đấy, và tại các trường quốc lập đã
có một đám học sinh thuộc đủ mọi giai tầng xã hội và mọi nguồn gốc. Những đứa
trẻ miệng còn hơi sữa mẹ đến lớp học đã nhiễm phải thói say mùi súng đạn, mang
huy chương và mặc quân phục sĩ quan quân khởi nghĩa lấy được nhờ phải dùng đến
súng đạn trong những cuộc chiến đấu và trên thắt lưng họ nổi gồ những vũ khí
thông dụng. Chúng sẵn sàng đấu súng với nhau vì bất cứ một cuộc tranh chấp nhỏ
nào trong lúc vui chơi, đe dọa những ông thầy nào cho chúng điểm kém trong các
bài thi. Một trong số những đứa trẻ này, vốn là học sinh năm thứ ba trường La
Sadê và là con một vị đại tá về hưu, đã xịt một phát đạn giết chết tu sĩ Hoan
Êrêmita, trưởng giáo đoàn, vì trong giờ học thần học ông ta đã nói rằng Thượng
đế là thành viên danh dự của đảng Bảo hoàng.

Mặt khác, những đứa trẻ con nhà quyền thế và giàu có trước đây nay đã phá
sản ăn vận theo mốt các ông hoàng cổ lỗ và có một số đứa con nhà quá nghèo còn
phải đi chân đất. Giữa khung cảnh ăn mặc lạ lẫm từ mọi miền dồn về ấy, dù sao
chăng nữa, cách ăn vận của Phlôrêntinô Arixa vẫn nổi bật hơn cả, vẫn lạ hơn cả đến mức buộc người đời phải
để ý nhiều. Điều đau đớn hơn cả mà ông nghe thấy ở ngoài đường phố người ta gào
vào mặt mình: "Đối với bọn nghèo khổ và xấu xí, cái gì chúng cũng thèm
khát". Dù thế nào đi nữa, cái bộ quần áo được may vì sự cần thiết đã trở
thành mốt ăn vận phù hợp với tư chất khó hiểu và tính cách ủ dột của ông ngay
từ thời kỳ ấy và nó theo suốt cuộc đời ông. Khi được giao phó chức vụ quan
trọng nhất trong Hãng Tàu thủy Caribê, ông đã nhờ người ta may quần áo cho mình
theo số đo và kiểu cách những bộ quần áo trước đây của cha mình, người vẫn được
ông nhớ tới như một cụ già chết vào đúng cái tuổi bất diệt của Chúa Crixtô: ba
mươi ba tuổi đời. Vì thế trông Phlôrêntinô Arixa bao giờ cũng già trước tuổi,
đến mức bà Brihiđa Xulêta trơ trẽn, một nhân tình tạm bợ từng giúp ông nhận ra
bao sự thật, ngay từ ngày đầu tiên đã nói với ông rằng bà ta thích thú hơn khi
ông không mặc quần áo vì thân thể trần truồng của ông khiến bà ta có cảm giác
ông chưa đến hai mươi tuổi. Tuy nhiên, chưa bao giờ ông biết cách tránh lối ăn
vận ấy phần vì sở thích cá nhân không cho phép ông ăn mặc khác đi phần vì chẳng
một ai biết cách ăn mặc như thế nào cho trẻ hơn hai mươi tuổi trừ việc lại một
lần nữa rút từ trong tủ áo ra chiếc quần chẽn và chiếc mũ hải quân. Mặt khác,
ngay chính bản thân ông cũng không thể lẩn tránh được cảm giác rõ ràng về tuổi
già thời đại mình, vì vậy thật là hiển nhiên khi nhìn thấy Phecmina Đaxa vấp
váp ở cửa ra vào rạp chiếu bóng, ông đã rùng mình trước tia chớp rùng rợn nói
rằng thần chết thế nào cũng chiến thắng ông trong cuộc chiến tranh tình yêu đầy
say đắm của mình.

Báo cáo nội dung xấu