Tình Yêu Thời Thổ Tả - Chương 40
Chương 40
Ngày lễ Hạ Trần họ nghĩ sẽ cùng ở bên nhau cho đến khi cô gái phải trở về
ký túc xá, năm phút trước khi chuông cầu kinh Đức Bà đổ hồi, nhưng chuông cầu
hồn lại nhắc Phlôrêntinô Arixa nhớ đến lời hứa sẽ tham dự đám tang của Giêrêmia
đê Xanh Amua và thế là ông mặc quần áo nhanh hơn thường lệ. Như thói quen lâu
nay, trước khi ra đi ông tết lại cho cô gái bím tóc mà ông đã xổ tung nó ra
trước khi hành lạc, rồi đặt cô gái lên bàn, ông buộc lại dây giày của bộ đồng
phục nữ sinh mà cô gái thường vẫn thắt không được đẹp. Ông giúp cô thật lòng
chứ không hề với ý thức lợi dụng và cô để yên cho ông làm coi đó như là nhiệm
vụ của ông mà thôi. Cả hai người đã đánh mất ý thức về tuổi tác của mình ngay
từ những cuộc hội ngộ đầu tiên và họ cư xử với nhau như vợ như chồng mà quên
khuấy đi bao nhiêu chuyện khác đến độ họ chẳng còn gì để mà nói với nhau.
Ngày chủ nhật và ngày hội, các văn phòng làm việc đều
đóng cửa và đều tối om, và ngoài cảng vắng vẻ chỉ có độc một con tàu đã tắt
máy. Không khí oi nóng báo hiệu sẽ có mưa, đó là những cơn mưa đầu năm, nhưng
không khí trong trẻo ở bến cảng và khung cảnh yên tĩnh ngày chủ nhật lại như
đang nói rằng họ sống trong một tháng trời đẹp tuyệt vời. Ở đấy, cảnh trời đất
có vẻ ngái ngủ hơn là khung cảnh tranh tối tranh sáng ở trong phòng giường nằm
của họ và tiếng chuông nghe rầu lòng hơn dù không biết chúng vang lên là để cầu
hồn cho ai. Phlôrêntinô Arixa và cô gái bước xuống sân diêm sinh mà trước đây
từng là bến cảng buôn bán nô lệ phục vụ cho người Tây Ban Nha, và là nơi hiện
đang còn những quả cân và sắt vụn hoen gỉ, dấu vết của một cái chợ buôn bán nô lệ. Xe ôtô
đã đợi họ ngay dưới bóng râm các cửa hàng, và bọn họ chưa đánh thức người tài
xế đang ngủ sau vô lăng chừng nào họ chưa ngồi yên chỗ trên xe. Chiếc xe vòng
ra phía sau cửa hàng ngay cạnh có hàng rào lưới sắt chạy qua khoảng không rộng
lớn mà trước đây là chợ cũ của vịnh Anima, là nơi bọn trẻ choai choai đang chơi
bóng đá, rồi ra khỏi khu vực cảng giành cho tàu thủy chạy trên sông kéo theo
sau nó những đám bụi nóng hầm hập. Phlôrêntinô Arixa vẫn tin chắc rằng nghi
thức lễ tang trang trọng này không dành cho Giêrêmia đê Xanh Amua nhưng những hồi chuông vẫn được
người ta bền bỉ rung mãi kia khiến ông sinh bụng nghi. Ông đặt tay lên vai
người tài xế rồi ghé sát tận tai y gào lên để hỏi rằng chuông nguyện hồn cho ai
vậy.
- Chuông ấy là để cầu hồn cho viên bác sĩ, người tài xế nói. - Ông ta tên
là gì nhỉ, thưa ông?
Phlôrêntinô Arixa không cần phải nghĩ cũng biết y đang nói đến ai. Tuy
nhiên khi người tài xế kể cho ông nghe việc bác sĩ chết như thế nào thì hình
ảnh thoáng qua bỗng tan biến ngay vì ông không thấy nó xác thực. Không có gì giống
với một người bằng chính cái chết này đối với con người ông mường tượng ra.
Nhưng chúng là một, dẫu rằng chúng rất mơ hồ: người bác sĩ già hơn cả và được
coi trọng nhất và là một trong số những con người nổi tiếng hơn cả của thành
phố bởi chính những công trạng của ngài, đã chết với cái xương sống bị gãy vào
tuổi tám mươi mốt khi định bắt con vẹt đã bị ngã từ một cành xoài rơi xuống
đất.
Tất cả những gì mà Phlôrêntinô Arixa làm kể từ ngày Phecmina Đaxa cưới
chồng đến nay đều dựa trên hi vọng của cái tin này. Tuy nhiên, khi giờ ấy đến,
ông lại không cảm thấy phấn khích trước thắng lợi mà bao lần ông dự cảm trong
những đêm mất ngủ. Trái lại, ông lại cảm thấy xao xuyến trong lòng trước cú đấm
của nỗi sợ: trí thông minh đã ám ảnh ông rằng chính điều này cũng có thể xảy
đến với ông vì ông đã ở vào tuổi gần đất xa trời. Ngồi bên cạnh ông trong một
chiếc xe nhẩy chồm chồm trên đường lổm ngổm đá, Amêrica Vicunha giật thột trước
gương mặt xám ngoét của ông và hỏi ông làm sao vậy. Phlôrêntinô Arixa cầm lấy
tay cô bé trong bàn tay giá lạnh của mình, nói:
- Ôi, cô bé đáng yêu của ta, để kể cho cô em nghe chuyện này phải cần đến
thời gian năm mươi năm mới đủ.
Ông quên khuấy lễ an táng của Giêrêmia đơ Xanh Amua. Ông để Amêrica Vicunha
xuống xe vào ký túc xá với lời hứa vội vàng rằng ông sẽ trở lại đón cô vào thứ
bảy tới, rồi ra lệnh cho người tài xế đánh xe đưa mình về thẳng nhà bác sĩ
Huvênan Ucbinô. Ông bắt gặp rất nhiều xe ô tô và xe thuê đậu ở các đường phố
lân cận, và đám đông tò mò đang đứng chật ở trước cửa nhà. Tân khách của bác sĩ
Laxidêt Ôlivêda, những người được tin dữ trong lúc cuộc vui đang lên đến cao
điểm, đã ồn ĩ kéo đến đây. Do đám đông lộn xôn nên việc đi lại trong nhà chẳng
chút nào, nhưng Phlôrêntinô Arixa đã len lỏi vào tận buồng ngủ chính của ngôi nhà.
Ông lách qua đám người vây lấy cửa và nhìn thấy bác sĩ Huvênan Ucbinô nằm trên
chiếc giường vợ chồng, người xám ngoét trong sự hành hạ của thần chết như ông
từng muốn nhìn thấy ngài kể từ lần đầu ông nghe nói đến ngài. Bác phó mộc đang
đo kích thước ngài để đóng áo quan. Bên cạnh ngài, vẫn vận bộ váy áo của người
bà nội vừa mới cưới chồng mà bà đã mặc để đi dự tiệc, Phecmina Đaxa đứng trong
tư thái đăm chiêu và im lặng.
Phlôrêntinô Arixa từng mường tượng ra cái khoảnh khắc ấy với những chi tiết
nhỏ nhặt của nó ngay từ những ngày trai trẻ của mình, trong đó ông đã hiến thân
cho sự nghiệp của mối tình táo bạo này. Vì bà ông đã giành được địa vị của cải
mà không cần phải tráo trở nhiều trong phương pháp của mình, vì bà ông đã giữa
gìn sức khỏe và diện mạo của mình với một nghị lực phi thường mà đối với những
người đồng thời với họ đều cảm thấy khó hiểu thế nào ấy, và ông đã đợi cái ngày
ấy mà không một ai có thể đợi chờ một cái gì, mà không một người nào như ông đã
làm: không một khoảnh khắc nản chí trong suốt một nửa thế kỷ. Điều được nghiệm
thấy rằng ngay cả cái chết cũng đứng về phía mình đã đem lại cho ông lòng can đảm mà ông đang cần đến
để nhắc lại với Phecmina Đaxa lời thề thủy chung son sắt và tình yêu mãi mãi
của ông dành cho bà ngay trong đêm đầu tiên của cuộc sống góa bụa của bà.
Với ý thức đầy đủ ông không phủ nhận đó là một hành động thiếu chín chắn,
chưa nhận thức đúng mức sự cần thiết về thời gian và hình thức thích hợp để bộc
lộ tình cảm yêu đương của mình, nhưng nỗi sợ thời cơ có một không hai này sẽ
không trở lại với mình nữa đã buộc ông phải vội vã hành động, ông từng mong
muốn có cái hành động này kể cả việc đã nhiều lần ông mường tượng ra nó trong
những hình thức đỡ thô bạo hơn, nhưng vận may theo ông nghĩ, sẽ không đến với
ông nữa. Ông đã bước ra khỏi ngôi nhà có tang với nỗi đau day dứt trong lòng về
việc mình để cho bà đang ở tình trạng đau thương đến mủi lòng mà chính ông cũng
đang ở trong nó, nhưng ông không thể làm gì hơn để ngăn chặn nó, bởi vì ông cảm
thấy rằng cái đêm đau thương ấy mãi mãi đã được viết lên số phận của hai người.
Những tuần lễ tiếp theo ông không ngủ được lấy một đêm cho trọn giấc. Ông
đau lòng tự hỏi Phecmina Đaxa cô đơn không có ông hiện đang ở đâu, bà đang nghĩ
gì, bà sẽ làm gì trong những năm tháng còn lại với sức nặng của nỗi hoảng sợ
đang ở trong tay bà. Ông lại bị đi lỵ và bệnh lỵ khiến bụng dạ ông sôi lên ùng
ục như có ai đó đang gõ trống ở bên trong, buộc ông phải dùng thuốc giảm đau.
Những cơn đau của tuổi già ở trong ông, mà ông vốn chịu đựng rất giỏi so với những
người cùng tuổi với mình, ông quen chịu từ hồi trẻ, đã cùng một lúc tấn công
ông. Sau một tuần vắng mặt, ngày thứ tư ông đến văn phòng và Lêôna Catxiani
phải giật mình khi nhìn thấy ông phờ phạc và xanh tái. Nhưng ông đã kịp trấn an
bà: lại một lần nữa ông bị mất ngủ, như lâu nay vẫn thế, và ông kịp cắn lưỡi
lại thật đau để khỏi phun ra sự thật đang rỏ từng giọt mật đắng trong trái tim
ông. Mưa tầm tã suốt không hửng lên một chút để ông suy tư. Ông lại sống qua
một tuần khác thường. Không thể tập trung được tư tưởng do đó chẳng nghĩ được
gì, ăn không ngon, ngủ không yên giấc, cố lòng cảm nhận những dấu hiệu rõ ràng
sẽ chỉ cho ông con đường thoát ra khỏi tình trạng này. Nhưng kể từ thứ sáu trở
đi, một sự thanh thản lạ lùng lại xâm chiếc toàn bộ tâm hồn ông và ông coi nó
như một lời tuyên bố rằng sẽ chẳng có cái gì mới xảy ra, rằng tất cả những gì
ông đã làm trong cuộc đời thảy đều trở nên vô ích và chẳng có việc để mà làm:
Nghĩa là nó là cái kết cục rồi. Ngày thứ hai, khi về đến ngôi nhà của bà mẹ ở
phế Vênhtanat, ông bắt gặp một phong thư nổi lềnh bềnh trên một vũng nước ngầu
bùn đỏ, ngay ở lối vào nhà, và ngay lập tức ông nhận ra trên mặt bì thư một lối
viết chữ rất đẹp mà dù trải qua bao thăng trầm trong cuộc đời nó vẫn nguyên như
trước khi họ còn trẻ và kể cả việc ông tưởng rằng mình cảm thấy cái mùi thơm
ban đêm của những bông hoa dành dành đã héo, bởi vì trái tim đã mách cho ông
ngay từ cú thảng thốt đầu tiên: đó là bức thư ông hằng mong đợi không một phút
ngừng nghỉ trong hơn một nửa thế kỷ nay.
Phecmina Đaxa không thể tưởng tượng rằng bức thư của mình, được thai nghén
bởi nỗi giận dữ mù quáng, lại được Phlôrêntinô giải thích như một bức thư tình.
Bà đã viết trong lá thư tất cả nỗi căm giận lớn nhất, những từ ngữ đáo để nhất,
những lời sỉ nhục và cả những lời thóa mạ, thế mà bả vẫn cảm thấy chúng còn quá
nhẹ so với sự xúc phạm của ông đối với bà. Bức thư ấy là hành động cuối cùng
của một lời nguyền rủa cay đắng trong hai tuần và qua nó bà cố tình giành lấy
một cú giao kèo nhằm làm quen với tình hình mới của cuộc đời bà. Bà muốn một
lần nữa mình lại là mình, muốn khôi phục lại tất cả những gì bà từng phải nhân
nhượng trong một nửa thế kỷ của một cuộc đời nô lệ từng mang lại hạnh phúc cho
bà, điều này đúng quá rồi, nhưng mà khi chết, người chồng đã không để lại chút
xíu danh dự cho bản thể con người bà. Bà là một bóng ma trong một ngôi nhà xa
lạ mà ngày nọ qua ngày kia nó càng bao la và hiu quạnh hơn, và trong ngôi nhà
này càng ngày bà càng đi tới miệng vực thẳm, lòng tự hỏi một cách đầy đau khổ
rằng ai đã chết nhiều hơn: Người đàn ông đã quá cố hay là người đàn bà hiện
đang còn sống.
Bà không tài nào tránh nổi cái ý nghĩ giận hờn thầm kín đối với người chồng
vì lẽ ngài đã bỏ mặc bà một mình ngay giữa biển khơi mênh mông. Những gì của
ngài còn lại đều khiến bà phải khóc, bộ pigiama để ở dưới gối, đôi dép lê đi
trong nhà mà lúc nào cũng khiến bà tưởng rằng chúng là của người ốm, cái ký ức
về hình ảnh ngài thay quần áo ở trong gương khi bà chải tóc để đi ngủ, cái hơi
hướng trên làn da ngài từng thấm đẫm trên là da bà, bất cứ một việc gì đang làm
bà cũng phải dừng lại giữa chừng rồi đưa bàn tay lên vỗ trán bởi vì ngay lập
tức bà nhớ có chuyện gì đó mình quên chưa nói với ngài. Lúc một, lúc một, có
biết bao câu hỏi mà chỉ một mình ngài mới có thể trả lời bà lại đến trong tâm
trí bà.
Có đôi lần ngài từng nói với bà về một điều mà ngay lúc ấy bà không hiểu
nổi, ấy là việc những người bị cưa chân vẫn cảm thấy đau đớn, cảm thấy bị chuột
rút, cảm thấy buồn ngay ở chính cái chỗ đùi đã bị cưa mất rồi. Bây giờ không
còn ngài, bà đã cảm thấy đúng như thế, bà vẫn cảm thấy ngài đang có mặt ở nơi
ngài không có mặt.
Khi thức dậy trong buổi sáng đầu tiên của cuộc đời góa bụa, bà trằn trọc
trên giường, mắt vẫn nhắm định tìm một tư thế dễ chịu hơn để ngủ tiếp, và trong
khoảnh khắc ấy đối với bà ngài mới là người đã chết rồi. Bởi chỉ lúc ấy bà mới
ý thức rõ được rõ ràng rằng lần đầu tiên ngài không ngủ ở nhà. Ấn tượng thứ hai
về việc ngài không có nhà là ấn tượng xảy ra ở bà ăn không chỉ vì bà cảm thấy
một mình đơn độc, đúng là bà đang đơn độc thật, mà còn vì ý nghĩ sáng tỏ rất lạ
lùng rằng mình đang ngồi ăn với một người không còn tồn tại nữa. Bà đợi cho đến
khi Ôphêlia, con gái bà, cùng với người chồng và ba đứa con gái từ Ôclêăng đến
để một lần nữa cùng họ ngồi ăn ở bàn, nhưng không phải là chiếc bàn trước đây
mà là chiếc bàn làm vội, nhỏ hơn, được kê ngay ở ngoài hành lang. Cho đến tận
lúc ấy bà không hề ăn một bữa ăn bình thường nào. Bà vào nhà bếp bất cứ lúc nào
khi đói bụng và cứ việc vục thìa vào chảo nấu thức ăn và ăn mỗi thứ một tí không phải bày chúng lên
đĩa. Bà đứng quay mặt vào bếp mà ăn, mà nói chuyện với những người đàn bà phục
vụ trong nhà, vốn là những người bà cảm thấy dễ chịu và cảm thấy mình hiểu họ
hơn cả. Tuy nhiên, dù cố quên đi nữa bà vẫn không thể trốn tránh được sự hiện
diện của người chồng đã quá cố ở bất cứ chỗ nào bà muốn đi qua, ở bất cứ đâu bà
muốn ở cho thời gian trôi đi ở bất cứ đồ vật nào bà nhìn thấy, tất thảy đều gợi
bà nhớ đến ngài. Bởi nếu bà thấy mình đau khổ vì ngài là danh giá và đúng đắn
thì bà cũng muốn làm tất cả những gì bà có thể làm được để khỏi tự an ủi trong
nỗi đau thương. Vậy là bà đi đến quyết định sẽ tống khứ khỏi ngôi nhà tất cả
những gì gợi bà nhớ tới người chồng quá cố, coi đó là ý nghĩ cuối cùng bà đã
nghĩ ra để tiếp tục sống mà không có ngài ở bên cạnh.
Đó là một nghi lễ để tự hủy diệt bản thân mình. Người nhận mang đi toàn bộ
thư viện để bà đặt chiếc máy khâu vốn bà không hề may vá từ ngày về nhà chồng
vào trong phòng làm việc của ngài. Về phần mình, người con gái nhận mang đi một
số đồ nội thất và một số đồ vật khác mà bà biết chúng sẽ được giá tại các cuộc
bán đấu giá ở Tân Oóclêăng. Tất cả những việc làm ấy đã cất cho Phecmina một
gánh nặng trong tâm hồn, mặc dù chúng không đem lại cho bà một mảy may hứng thú
trong việc bà tự nghiệm thấy rằng tất cả các đồ vật ấy vốn được mình mua sắm
trong chuyến đi du lịch tuần trăng mật ở châu Âu là những di vật của người sưu
tầm đồ cổ. Bất chấp thái độ thảng thốt của những người đi hầu gái, của những
người hàng xóm, của những người bạn gái thân cận mà trong những ngày ấy đến nhà
chơi với bà, bà ra lệnh nhóm một đống lửa trên bãi đất bỏ không ở sau ngôi nhà,
và tại đây bà đốt tất cả những gì gợi bà nhớ tới người chồng đã quá cố: Những
bộ quần áo diện nhất và đắt tiền nhất mà người ta từng thấy ngài mặc từ thế kỷ
trước, những đôi giày quý giá nhất, những chiếc mũ gợi nhớ đến ngài nhiều hơn
cả chính những bức chân dung của ngài, chiếc ghế xích đu để nghỉ trưa mà ngài
đã từ đây đứng dậy sử dụng nó, và biết bao đồ dùng khác vốn gắn bó rất chặt chẽ
với cuộc đời ngài, đến mức chúng đã trở thành một phần bản thể con người ngài.
Bà làm việc đó với một ý thức hoàn toàn sáng tỏ rằng chồng bà hoàn toàn tán
thành việc làm của mình, không chỉ vì phép vệ sinh. Rất nhiều lần từng bộc lộ
mong ước của mình rằng khi nào chết thì thi hài của mình được thiêu chứ không
liệm trong một cỗ áo quan gỗ tuyết tùng kín bưng không một khe hở cho ánh sáng
lọt vào. Dĩ nhiên tôn giáo của ngài đã ngăn cản ước mong ấy, ngài đã dám bạo
phổ thăm dò ý kiến đức giám mục và đức giám mục đã hoàn toàn bác bỏ ý kiến của
ngài. Đó chỉ là một sự ảo tưởng đơn thuần vì Nhà thờ không cho phép sự tồn tại
của các lò thiêu xác chết ở trong các nghĩa địa của chúng ta, cũng như không
cho phép việc sử dụng nghi thức tôn giáo khác với đạo Thiên Chúa, và chẳng một
ai đã nghĩ đến việc xây dựng các lò thiêu người, ngoài bác sĩ Huvênan Ucbinô.
Phecmina Đaxa không bao giờ quên cái ý nghĩ ghê rợn này của chồng mình, và ngay
trong lúc tâm thần hoảng loạn ở những giờ đầu tấn bi kịch bà vẫn nhớ để bảo bác
phó mộc chừa một khe hở cho ánh sáng lọt vào quan tài, và như vậy sẽ an ủi
ngài.
Dù sao đi nữa đó cũng chỉ là sự hy sinh vô ích. Ngay lập tức Phecmina Đaxa
nhận thấy rằng ký ức về người chồng đã chết là rất dai dẳng, nó không chịu biến
theo thời gian qua đi. Còn tồi tệ hơn thế nữa. Sau khi đốt xong quần áo của
ngài, bà không tiếp tục nhớ cái đáng yêu nhất của ngài mà còn nhớ cái đáng ghét
nhất của ngài từng khiến mình khó chịu, những tiếng động sột soạt ngài gây nên
khi thức dậy lúc sáng sớm. Những ký ức ấy giúp bà thoát khỏi những rừng đước
rậm rạp của tang lễ. Vượt lên tất thảy, bà đã có một quyết tâm kiên cường để
tiếp tục sống mà nhớ ngài như thể ngài chưa chết. Bà biết rằng vì thức dậy mỗi buổi sáng sẽ
rất khó khăn nhưng rồi dần dần sẽ quen đi thôi.
Đúng vậy, hết tuần thứ ba, bà thức dậy với những tia sáng đầu tiên của bình
minh. Nhưng khi ánh sáng ban ngày càng mạnh hơn, càng sáng hơn thì bà càng có ý
thức rõ ràng hơn về một bóng ma khác không để cho mình có lấy một chút được yên
tĩnh trong tâm hồn. Nó không phải là cái bóng ma đáng thương từng theo dõi bà ở
công viên Lốt Êvanghêliốt và nó buộc bà khi đã bước vào tuổi già, nhớ đến nó
với một lòng thương cảm dịu dàng, mà lại là cái bóng ma đáng ghét vận áo lêvita
của tên đồ tể, chiếc mũ úp lên ngực và nói những lời lẽ đường đột ngốc nghếch
từng làm bà lộn ruột tới mức thật khó lòng không thể không nghĩ về nó. Kể từ
khi bà ruồng bỏ ông vào lúc mười tám tuổi, lúc nào bà cũng nghĩ rằng với việc
làm ấy mình đã gieo vào lòng ông một nỗi hờn căm mà cùng với thời gian qua đi
nó ngày càng lớn hơn. Lúc nào bà cũng tính đến nỗi căm hờn ấy ở gần kề. Chỉ
hình ảnh của nó thôi đã khiến bà hoảng loạn, khiến bà giật thột đến mức chẳng
bao giờ bà tìm được một hình thức tự nhiên để đối xử thoải mái với ông. Cái đêm
ông nhắc lại với bà tình yêu của mình, khi mà hoa viếng người chồng quá cố vẫn
còn tươi và tỏa hương thơm ngát ở trong nhà, bà không thể hiểu rằng hành động
trơ trẽn kia lại không phải là bước đầu tiên của người biết rõ mục đích thâm
độc của hành động trả thù.

