David Copperfield - Chương 2

Chương 2

Ký túc xá Salem House

Buổi sáng, cô Murdstone đến nói là tôi sắp đến nội trú ở ký túc xá mà
không thấy tôi sửng sốt như cô tưởng. Cô bảo tôi mặc áo quần xong thì xuống nhà
ăn lót dạ.

Mẹ tôi đã ở đó, tôi thấy mẹ rất nhợt nhạt và cặp mắt đỏ mọng. Tôi lao vào
vòng tay mẹ và nói lời xin lỗi với tất cả tấm lòng đau buồn của tôi.

-
Ồ! David, - mẹ tôi nói, - tại sao con lại gây ra đau đớn cho người mà mẹ yêu
quý? Con hãy gắng sống tốt hơn. David ạ, mẹ tha thứ cho con nhưng mẹ rất buồn,
vì trái tim con đã có những ý nghĩ xấu xa đến thế!

-
Khuân hòm của cậu Copperfield ra đây - cô Murdstone nói.

Khi
tiếng bánh xe lạo xạo trước cửa. Tôi đưa mắt tìm chị Peggotty, nhưng không
thấy. Cả chị, cả ông Murdstone đều không có ở đấy. Người đánh xe hàng quen
thuộc đã ở ngoài cổng. Chiếc hòm được đưa lên xe. - Tạm biệt con trai mẹ, con
đi để học những điều haỵ Nghỉ hè con sẽ trở về. Gắng tốt lên con nhé!

-
Clara! - Cô Murdstone nhắc gọn lỏn.

Tôi
lên xe ngồi và con ngựa lừ đừ cất bước.

Đi
được chừng nửa dặm, chiếc khăn tay của tôi đã ướt đẫm, thì người đánh xe đột
ngột dừng xe lại. Vừa ngẩng lên, tôi ngạc nhiên thấy chị Peg-gotty nhô lên từ
một hàng rào và trèo lên xe. Chị ôm tôi trong vòng tay siết chặt. Chị ghì đầu
tôi vào ngực làm mũi tôi bẹp dí. Chị không nói lời nào. Chị buông tay và thọc
vào túi lấy ra vài gói bánh ga tô nhét vào túi tôi. Chị lặng lẽ ấn vào tay tôi
một túi tiền. Sau khi ghì mạnh tôi lần cuối, chị bước xuống xe và vừa đi vừa
chạy.

Trong
túi tiền tôi thấy có ba đồng si linh được chị Peggotty chăm chút đánh bóng sáng
loáng, hai đồng nửa cua ron, bọc trong một tờ giấy, trên đó tự tay mẹ tôi viết:
"Tặng David, với tất cả tình yêu của mẹ". Tôi vô cùng xúc động.

Sáng
hôm sau, chúng tôi tới Luân Đôn.

Sau
khi đợi mãi tại trạm xe, tôi thấy một người đàn ông trẻ gầy guộc và tái xanh,
má hóp và chiếc cằm cũng đen gần như cằm ông Murdstonẹ Râu thưa, tóc cáu ghét
và bơ phờ. Bộ com lê dạ đen quá ngắn so với khổ người ông ta.

-
Cậu là người mới đến? - Ông ta hỏi tôi.

-
Vâng, thưa ông! Tôi đáp.

-
Tôi là giáo viên dạy tại Salem House. - Ông nói với tôi.

-
Xin thầy cho biết còn xa không ạ?

-
Cách đây khoảng sáu dặm. - Ông nói. - Chúng ta đi xe khách tới đó.

Đến
Salem House chúng tôi được một người đàn ông đẫy đà, cổ bò mộng với một bên
chân gỗ và tóc húi ngắn đón tiếp.

-
"Học trò mới". - Ông giáo nói.

Salem
House là một căn nhà hình vuông, nhiều chái, nom ngoài trơ trọi và cô quạnh.
Ông Mell, thầy giáo, cho tôi biết là đang nghỉ hè, học trò về gia đình, rằng
ông Creakle, là giám đốc cùng vợ và con gái đang đi nghỉ ở biển. Việc tôi phải ở
ký túc xá suốt mùa nghỉ hè là bởi vì hạnh kiểm tôi xấu.

Ông
dẫn tôi vào phòng học, chưa bao giờ tôi thấy nơi nào hoang phế đến thế. Trong
phòng bốc lên một mùi lạ, độc hại, mùi da thuộc mục rữa, mùi táo và mùi sách
mốc.

Tôi
chợt thấy một tấm biển bằng bìa cứng có ghi chữ: "Hãy đề phòng, hắn cắn
đấy" đặt trên bàn học.

Tôi
vội nhảy phắt lên bàn, sợ rằng ở gầm bàn có con chó to. Ông Mell hỏi tôi làm
trò gì trên đó.

-
Xin lỗi thầy, - tôi nói, - em đang nhìn xem con chó nó ở đâu.

-
Chó ư? - Ông nói, - Chó nào?

-
Cái con phải đề phòng nó cắn đó.

-
Không, Copperfield. - Ông nghiêm giọng nói, - không phải là chó, mà là một cậu
bé. Tôi được lệnh là treo tấm bảng này sau lưng cậu. Tôi rất tiếc phải dùng
biện pháp này với cậu, nhưng tôi buộc lòng phải làm như thế.

Cùng
lúc đó ông đặt tôi xuống đất và buộc tấm bảng lên vai tôi. Đi đến đâu tôi cũng
khổ tâm phải mang theo nó.

Không
ai có thể hình dung nổi tấm bảng đó làm tôi đau khổ đến thế nào. Họ có thể nhìn
thấy tôi hay không, nhưng bao giờ tôi cũng tin rằng có người đang đọc nó.

Hết
ngày nọ đến ngày kia trôi qua trong đơn điệu và nỗi phấp phỏng sắp đến ngày
khai trường.

Tôi
lại thấy mình bé nhỏ, tội nghiệp trong căn phòng tối tăm, hai bàn tay ôm lấy
đầu, ôn lại bài học ngày hôm sau rồi gấp sách vở lại, trèo lên ngủ trong căn
phòng gần như hoang vắng, và khóc thầm trên giường nhớ mẹ tôi hoặc chị
Peggotty.

Một
hôm ông Mell thông báo với tôi buổi tối ông Creakle sẽ tới. Trước lúc đi ngủ,
Tungsby -người đàn ông có chiếc chân gỗ đưa tôi đến trình diện ông Creakle.

Tôi
run rẩy bước vào. Ông Creakle, một con người tráng kiện, có một túm tòng teng
đeo vào dây đồng hồ, ngồi trong ghế bành, một chiếc cốc và một cái chai để cạnh
ông ta.

-
Ồ! - Ông Creakle lên tiếng, - chàng trai có bộ răng cần phải mài cùn đi đây rồi!
Bảo nó xoay người lại.

Tungsby
xoay người tôi để phô tấm bảng cho ông Creakle đọc, đọc xong lão xoay lại để
tôi đối diện với ông Creakle, còn lão đứng bên cạnh ông ta.

Bộ
mặt ông Creakle dữ tợn, cặp mắt ti hí, sâu hoắm. Ông ta có chiếc mũi nhỏ, chiếc
cằm rộng, đỉnh đầu lơ thơ vài sợi tóc hoa râm, và bóng nhờn vuốt xuống giữa cái
trán có những mạch máu nổi lên.

Nhưng
điều khiến tôi chú ý nhất là ông ta không nói được thành tiếng, chỉ nói thì
thào…

-
Nào - Ông Creakle nói, - có gì báo cáo với tôi về cậu bé này?

-
Chưa có gì, - lão chân gỗ đáp.

-
Chưa gặp dịp đấy thôi.

-
Lại đây, cậu! ông Creakle vừa nói vừa ra hiệu cho tôi.

-
Lại đây, - Lão chân gỗ vừa nói vừa lặp lại hiệu lệnh như thế.

-
Ta có may mắn được biết ông bố dượng của cậu. - Ông Creakle vừa thì thầm vừa
véo tai tôi. - Đó là một người đàn ông đàng hoàng, một con người đầy nghị lực.
Ông biết ta và ta quen ông.

Cậu
có biết ta không? Hử? - Ông Creakle vừa nói vừa bấm vào tai tôi kiểu đùa cợt
độc ác.

-
Thưa ông, cháu chưa được biết ạ. - Tôi vừa đáp vừa lùi lại, không nén nổi một
tiếng kêu khe khẽ.

-
Chưa biết hử? - Ông ta nhắc lại. - Nhưng cậu sẽ biết ta ngay thôi, hử?

-
Cậu sẽ biết ông ấy ngay, hử! - Lão chân gỗ nhắc lại.

Sau
đó tôi biết rằng nhờ có giọng cực khỏe, lão Tungsby được làm thông ngôn cho ông
Creakle với học trò.

-
Ta sẽ cho cậu biết ta là ai. - Ông Creakle vừa lầm bầm vừa buông tai tôi sau
khi xoắn cái cuối cùng khiến nước mắt tôi trào ra. - Ta là một người Tac-ta.

-
Một người Tac-ta. Lão chân gỗ nói.

-
Khi ta nói: "Ta sẽ làm điều gì đó" là ta làm, - Ông Creakle nói, - và
khi ta nói: "Ta muốn điều gì đó" là ta muốn nó bằng được.

-
Ta muốn nó bằng được. - Tungsby nhắc lại.

-
Bây giờ đây, cậu bạn trẻ, - Ông Creakle nói, cậu có thể đi được rồi đấy.

-
Xin vâng, thưa ngài... - Tôi lắp bắp, - cháu xin phép được bỏ tấm bảng trước
khi học trò tựu trường...

Không
biết ông ta làm thật hay chỉ muốn ra oai với tôi, nhưng ông nhảy ra khỏi ghế
bành và tôi hối hả chạy thoát thân, không đợi lão chân gỗ, không dừng lại lần
nào, đến tận phòng ngủ, tôi vẫn run bắn cả người suốt nhiều giờ liền.

Sáng
hôm sau, ông Sharp, phụ tá của ông Creakle tới. Đó là một người nhỏ nhắn với
chiếc mũi rất to có vẻ tế nhị.

Tóc
ông dài và lượn sóng, nhưng tôi được cậu học trò đầu tiên đến tựu trường cho
biết là ông Sharp mang tóc giả.

Người
học trò cho tôi biết chuyện đó, đổi lại anh hỏi vô số điều về tôi và gia đình
tôi. Anh ta tên là Tommy Trađles. Đó là anh bạn tốt nhất trên đời. Nhờ có anh
mà những học trò khác không chế nhạo tôi nhiều về tấm bảng. Vài đứa còn vuốt ve
tôi như thể tôi là một con chó, nhưng, nhìn chung, tôi đã lo ngại điều tệ hơn
thế.

Tôi
chỉ được chính thức chấp nhận vào ký túc sau khi một anh tên là J.Steerforth
đến. Anh nổi tiếng học giỏi và rất đẹp trai, ít nhất cũng hơn tôi quãng sáu
tuổi. Tại chiếc lều nhỏ trong sân. Anh tìm hiểu về những chi tiết dẫn đến hình
phạt của tôi và tuyên bố rằng, theo anh, đó là một "sự nhục mạ chưa từng
thấy", tôi mãi mãi biết ơn anh về điều này.

Các
bạn học mới cho tôi biết rằng ông Creakle hoàn toàn đúng khi tuyên bố ông ta là
một Tac-ta.

Đó
là người tàn nhẫn nhất và hắc nhất trong các thầy giáo; không có ngày nào mà
ông ta không tự tay trừng phạt những học trò phạm lỗi. Ông ta hoàn toàn không
biết làm gì ngoài việc trừng phạt, Steerforth nói vậy. Ông ta còn dốt nát hơn
cả cậu học trò kém nhất. Người ta đồn rằng ông thành giáo viên quản trị ký túc
xá sau khi đi buôn hou-blon bị vỡ nợ tại một khu phố ở Luân Đôn.

Tôi
được biết rằng ông Sharp và ông Mell được trả mức lương thảm hại, rằng khi nào
trên bàn ông Creakle có cả thịt nóng và thịt nguội thì thế nào ông Sharp cũng
buộc phải thích thứ nguội.

Các
lớp vào học ngay sau ngày khai trường. Sau bữa điểm tâm, ông Creakle vào, có
Tungsby tháp tùng. Tôi tự hỏi không biết vì sao lão ta lại hét "Im
lặng" với cái giọng dữ tợn như thế, đến nỗi tất cả chúng tôi đều sững sờ,
câm lặng. Thấy môi ông Creakle mấp máy và tiếng ông Tungsby lặp lại những lời
sau:

-
Các trò nhỏ, đây là một học kỳ mới. Hãy chăm lo đến những gì các em làm trong
học kỳ mới này. Tôi khuyên các em hăng hái học tập, bởi vì tôi, tôi sẽ kiên
quyết trừng phạt các em. Tôi không nhụt chí đâu. Dù các em có xoa đến mấy cũng
không xóa nổi những lằn roi của tôi đâu. Và bây giờ tất cả hãy vào việc.

Chúng
tôi vâng lời. Hết tuần này sang tuần khác trôi qua. Một hôm. Trađles lỡ đá bóng
làm vỡ một miếng kính cửa sổ. Đến bây giờ tôi còn rùng mình khi nghĩ lại cái
thời điểm định mệnh đó. Cứ như là quả bóng nẩy trúng vào mái đầu tôn kính của
ông Creakle vậy.

Tội
nghiệp Trađles! Chiếc áo vét và cái quần xanh của anh trở nên quá chật khiến
chân tay anh nom như những cây xúc xích bị bó chặt. Anh là người vui tính nhất
đồng thời là người khổ nhất trong cả bọn chúng tôi. Ngày nào anh cũng bị đánh
đòn.

Steerforth
hết lòng bảo vệ tôi, và tình bạn của anh rất có ích cho tôi, bởi không ai dám
động đến những người được anh đoái thương.

Anh
không thể giúp tôi chống lại sự tấn công của ông Creakle vốn rất nghiệt ngã với
tôi. Nhưng lúc nào tôi phải chịu đau khổ nhiều hơn thường lệ, anh lại tiếp cho
tôi lòng can đảm và khiến tôi mang ơn anh về điều đó. Sự ngặt nghèo của ông
Creakle đã một lần có lợi cho tôi, đó là cái lợi duy nhất tôi có thể phát hiện
ra. Một hôm, ông ta chợt thấy tấm bảng của tôi làm ông vướng khi ông đi qua
phía sau chiếc ghế dài và ông muốn vừa đi vừa quật cho tôi một gậy. Do đó, tấm
bảng được nhấc đi và tôi không thấy lại nó nữa.

Một
buổi tối Tungsby tới và kêu toáng lên:

-
Copperfield có khách!

Thật
không ngờ khi tôi thấy ông Peggotty và Cham tại phòng ăn. Chúng tôi thân mật
bắt tay nhau và tôi cười rất to nhiều đến nỗi phải rút khăn tay lau nước mắt.

-
Ông có biết mẹ tôi có khỏe không, thưa ông Peggotty? - Tôi hỏi. - Và chị
Peggotty thân mến của tôi có khỏe không?

-
Rất khỏe! - Ông Peggotty đáp.

-
Cả bé Emilie, cả bà Gummidge nữa ạ?

-
Rất... khỏe, - Ông Peggotty nhắc lại.

Trước
khi ra về ông Peggotty và Cham tặng tôi hai con tôm hùm to tướng, một con cua
bể lớn và một làn to tôm giảo.

-
Bọn tôi biết cậu thích những thứ này. Chính tay bà Gummidge luộc đấy.

Phần
cuối học kỳ lẫn lộn trong tâm trí tôi với những nếp quen hàng ngày của cuộc
sống buồn tẻ của chúng tôi. Mùa hè đã qua và mùa thu đã tới.

Buổi
sáng thức dậy, trời lạnh. Nhưng ban đêm trời còn lạnh hơn. Buổi tối, phòng học
của chúng tôi tù mù và ít được sưởi ấm, sáng ngày ra quả là một hầm nước đá.
Chúng tôi hết ăn thịt bò luộc lại thịt bò quay, hết cừu quay lại sang cừu luộc
và ăn bánh với bơ hôi dầu.

Tôi
nhớ lại rằng, sau khi tưởng chừng thời gian như không nhúc nhích, viễn cảnh xa
xôi về những ngày hè cuối cùng đang lại gần chúng tôi. Tôi lo rằng, người ta
không đưa tôi trở về nhà mẹ và khi được tin mẹ tôi nhắn, tôi nơm nớp lo sợ
chẳng may bị gãy chân trước ngày lên đường thì sao. Rồi cái ngày ấy cũng đến.

Tôi
theo xe hòm thư của Yarmouth và ngủ đêm ở khách sạn Dauphin. Ông Barkis đến tìm
tôi lúc chín giờ sáng. Khi tôi đã ngồi trên xe, ông Barkis trèo lên và ngựa
chạy nước kiệu như thường lệ. Cuối cùng tôi về đến nhà. Người đánh xe hạ chiếc
hòm của tôi ở cửa vườn. Tôi men theo con đường mòn dẫn về nhà, đưa mắt nhìn
khắp các ô cửa sổ. Cứ mỗi bước tôi lại e ngại nhận ra ở một ô cửa nào đó khuôn
mặt dễ sợ của ông Murdstone hoặc của bà chị ông ta. Về đến nhà, không thấy ai,
tôi mở cửa mà không gõ. Trời chưa tối, tôi nhè nhẹ và rụt rè bước vào nhà.

Vào
đến tiền sảnh, tôi nghe thấy tiếng mẹ tôi trong phòng khách phụ. Bà hát khe khẽ
như tôi thường nghe thấy lúc nằm trong lòng bà khi còn bé tí. Nghe bà rì rầm
điệu hát một cách suy ngẫm và cô đơn, tôi tưởng bà chỉ có một mình, và tôi nhè
nhẹ bước vào. Bà ngồi bên lò sưởi đang cho một em bé bú và áp chặt bàn tay em
vào cổ mình.


rạng rỡ ngắm nó và hát ru nó ngủ. Trong phòng chỉ có mình mẹ tôi.

Tôi
lên tiếng, bà giật mình và sửng sốt kêu lên.

Nhận
ra tôi, bà gọi: David của mẹ, con trai thân yêu của mẹ và đến trước mặt tôi
giữa căn phòng bà quỳ xuống, vừa hôn tôi vừa kéo đầu tôi áp vào ngực bà, gần
đứa bé đang ngủ, và bà đưa bàn tay đứa bé lên môi tôi.

-
Em con đấy! - Mẹ tôi vừa nói vừa vuốt ve tôi, - David, con trai ngoan của mẹ,
con trai tội nghiệp của mẹ!


bà vẫn ôm chặt lấy tôi, hôn tôi. Bà vẫn giữ lấy tôi khi chị Peggotty chạy vào
ngồi luôn xuống nền nhà bên cạnh chúng tôi.

Tôi
được biết ông Murdstone và bà chị ông ta đang đi thăm quanh vùng đến đêm mới
về.

Chúng
tôi ngồi ăn với nhau bên lò sưởi. Peg-gotty chỉ muốn phục vụ chúng tôi, nhưng
mẹ tôi bắt chị ngồi ăn cùng.

Tôi
thấy mẹ tôi mỉm cười khi chị Peggotty ngắm bà, nhưng tôi thấy rõ rằng bà có vẻ
nghiêm trang và tư lự hơn trước.

Sau
bữa tối, chị Peggotty đặt em bé vào nôi, và sửa lại áo và tã lót cho nó. Sau đó
chị thu dọn bàn ăn, rồi chị mang ra hộp đồ khâu. Sau khi dùng trà, Peggotty cời
lửa và gạt tàn cây nến, còn tôi đọc một chương cuốn sách nói về loài cá sấu.
Chị Peg-gotty đã rút cuốn sách ấy ra từ túi áo chị; tôi tin rằng chị đã giữ nó
bên mình từ ngày tôi vào ở ký túc xá. Chúng tôi rất sung sướng và buổi tối hôm
ấy không bao giờ phai mờ trong ký ức của tôi.

Gần
mười giờ đêm thì nghe thấy tiếng bánh xe.

Mẹ
tôi vội vàng đứng lên nói rằng đã quá khuya rồi, rằng ông Murdstone và bà chị ông
muốn trẻ con đi ngủ sớm, do đó tốt nhất là tôi lên phòng ngủ. Tôi không để nhắc
đến lần thứ hai.

Tôi
chưa gặp lại ông Murdstone lần nào từ cái ngày đáng ghi nhớ về trọng tội của
tôi. Sáng hôm sau tôi ớn lạnh cả người với ý nghĩ phải xuống nhà ăn lót dạ.
Chần chừ mãi tôi đành bước vào phòng ăn. Ông ta đang đứng bên lò sưởi. Cô
Murdstone đang pha trà.

Sau
một lát ngập ngừng, tôi tiến lại gần ông và nói:

-
Xin ông tha lỗi cho cháu, cháu rất tiếc về những gì cháu đã làm, và hy vọng ông
sẵn sàng bỏ qua cho cháu.

Ông
chìa tay cho tôi, bàn tay tôi đã cắn. Tôi không sao ngăn nổi nhìn vào cái vết
đỏ còn hằn trên đó. Nhưng mặt tôi còn đỏ hơn cái sẹo khi nhìn thấy nét hiểm ác
dữ trên gương mặt ông ta.

-
Thưa cô, cô có khỏe không? - Tôi hỏi cô Murdstone.

-
Ồ! - Cô Murdstone vừa thở dài thốt lên vừa chìa cho tôi chiếc kẹp đường thay vì
đưa tay cho tôi, - Được nghỉ hè bao lâu?

-
Một tháng, thưa cô.

Sáng
nào cô Murdstone cũng đánh dấu trên tấm lịch một ngày trôi qua. Thời gian càng
trôi đi, cô càng tỏ ra vui vẻ như con khướu.

Một
buổi sáng, tôi bước vào phòng chỗ cô ấy đang làm việc cùng mẹ tôi, em bé của
tôi mới được mấy tuần đang ngủ trên đùi mẹ. Tôi ẵm nó. Cô Murdstone kêu thất
thanh làm tôi suýt nữa đánh rơi cái bọc quấn thằng bé.

-
Chị Jane thân mến! - Mẹ tôi kêu.

-
Lạy chúa tôi! Clara, mợ không nhìn thấy à?

-
Thấy gì kia, chị Jane?

-
Thấy nó bế đứa nhỏ, - Cô Murdstone kêu lên, thằng bé bế đứa nhỏ.


ta sững người vì khiếp sợ, cô bật dậy xô lại giằng lấy thằng bé từ tay tôi. Từ
đó tôi bị cấm không được đụng đến đứa bé bất kể vì lý do gì, và bà mẹ tội
nghiệp của tôi, dù có không đồng ý cũng phải dịu dàng xác nhận sự cấm đoán ấy
và nói:

-
Chắc hẳn là chị có lý, chị Jane thân mến.

Tôi
chẳng thấy thoải mái với bất kỳ ai. Những người yêu quý tôi không dám biểu lộ
tình cảm của họ, những người không yêu tôi thì tỏ rõ thái độ đến mức lúc nào
tôi cũng cảm thấy lúng túng, vụng về và ngốc nghếch.

Những
ngày nghỉ hè kéo dài nặng nề cho đến một buổi sáng cô Murdstone lên tiếng trong
khi đưa cho tôi tách nước trà.

-
Hôm này là ngày cuối cùng.

Tôi
ra đi không buồn phiền. Tôi bị rơi vào trạng thái mụ mẫm và chỉ hơi tỉnh ra
được một chút với ý nghĩ được gặp lại Steerforth, mặc dù hình ảnh ông Creakle
lấp ló phía sau.

Ông
Barkis lại xuất hiện trước chấn song cửa.

Tôi
ôm hôn mẹ tôi, cả em bé của tôi, và tôi cảm thấy thật là buồn tuy nhiên không
phải vì rời xa mẹ và em, mà bởi một cái hố ngăn cách đã hình thành giữa họ và
tôi. Chiếc hôn của mẹ tôi có âu yếm đến mấy, thì nó cũng không in trong ký ức
của tôi bằng tiếp theo sau là lời vĩnh biệt.

Tôi
đã ngồi trên chiếc xe của người chở hàng, thì thấy mẹ tôi gọi. Tôi nhìn ra. Bà
đứng một mình bên hàng rào, nâng bổng em bé trên tay để tôi nhìn thấy nó. Trời
rét, nhưng tiết trời bình lặng, không một sợi tóc, một nếp áo nào của bà lay
động, trong khi bà đăm đắm nhìn tôi và nâng em bé lên cho tôi nhìn.

Báo cáo nội dung xấu