Hai mươi năm sau - Chương 01

Chương 1

Bóng ma của Richelieu

Trong căn phòng của
Cung giáo chủ mà chúng ta đã từng biết, bên chiếc bàn có góc thếp vàng trên
chất đầy giấy tờ sổ sách, một người đang ngồi tì đầu lên hai bàn tay. Phía sau
ông ta là một lò sưởi lớn đỏ rực lửa, những thanh củi bốc cháy đổ sụt trên
những thanh sắt rộng vàng chóe. Ánh lò sưởi soi rọi phía sau bộ y phục lộng lẫy
của con người trầm ngâm được ánh cây đèn thắp đầy nến chiếu sáng từ phía trước.

Cứ nhìn tấm áo dài đỏ
tía và những thêu ren sang trọng ấy, nhìn vầng trán xanh xao vọng dưới những
suy tư, nhìn cảnh quạnh hiu của căn phòng, sự yên tĩnh ở các tiền sảnh, bước đi
đều đặn của lính vệ trên thềm, người ta có thể tưởng như vong hồn của cố giáo chủ
tể tướng Richelieu(1) vẫn còn ngự trong phòng của ông ta.

(1) Jean Armand Duplessis - giáo chủ De Richelieu
(1585-1642) từ năm 1622 tham gia Hội đồng Hoàng gia và trở thành tể tướng nước
Pháp, nổi tiếng là một người độc tài, tàn nhẫn và lấn át quyền của vua Louis
XIII. Ông ta chủ trương khuất phục các giới quý tộc, tập trung quyền hành vào
chính quyền quân chủ trung ương, đấu tranh chống đế tộc Áo và mở rộng chiến
tranh chống Tây Ban Nha. Richelieu là một nhân vật chính trong tập chính của
tập truyện "Ba người lính ngự lâm".

Hỡi ơi! Quả thực đó chỉ
là vong hồn của con người vĩ đại ấy. Nước Pháp suy yếu, quyền lực của nhà vua
không dược biết đến, các quan đại thần lại mạnh lên và hiếu loạn. Kẻ thù lấn
vào tận bên trong biên thuỳ, mọi thứ chứng tỏ rằng Richelieu không
còn ở đây nữa.

Nhưng điều rõ hơn tất
cả rằng tấm áo dài đỏ không phải là tấm áo của vị cố giáo chủ, ấy là sự cô đơn
của một bóng ma hơn là một kẻ đang sống, ấy là những dãy hành lang vắng bóng
các cận thần, những sân đầy những vệ sĩ, ấy là cái tinh thần nhạo báng bốc lên
từ phố phường nó xuyên qua những cửa kính của căn phòng này đang bị lay động
trước hơi thở của cả một kinh thành liên minh chống lại tể tướng, sau hết ấy là
tiếng súng xa xa không ngớt dội về, may thay chỉ bắn vu vơ và không kết quả cốt
làm sao cho bọn vệ sĩ, bọn lính gác Thụy Sĩ, đám ngự lâm quân và các binh lính bao quanh Hoàng cung -
chính là Cung giáo chủ đã đổi tên - hiểu rằng nhân dân cũng có vũ khí. [Chúc
bạn đọc sách vui vẻ tại www.gacsach.com - gác nhỏ cho người yêu sách.]

Cái bóng ma ấy
của Richelieu chính là Mazarin(2).

(2) Juylơ Mazarin (1602 - 1661)
- người Ý lấy quốc tịch Pháp, năm 1643, khi vua Louis XIII chết, con là Louis
XIV mới năm tuổi nối ngôi, hoàng hậu Anne D’Autriche lảm nhiếp chính và đưa
giáo chủ Mazarin làm tể tướng. Là một kẻ bất tài, hèn nhát, lại rất tham nhũng,
Mazarin đã gây công phẫn lớn trong nhân dân và giới quý tộc. Các quan đại thần
và các hoàng thân đã dấy lên phong trào La Fronde chống lại Mazarin và triều đình. Khi chết
Mazarin đã chiếm hữu một gia tài khổng lồ và rất nhiều bộ sưu tập nghệ thuật quý giá đề
trong các tòa lâu đài
cùa mình.

Trong nguyên bản thường dùng
chữ "giáo chủ" để chỉ Mazarin nhưng trong bản dịch tùy chỗ chúng tôi dùng chữ
"giáo chủ" hoặc "tề tướng" cho rõ nghĩa.
Vì chăng Mazarin đơn độc và tự
cảm thấy mình hèn yếu.

Ông ta lẩm bẩm:

- Người ngoại quốc?
Người Ý! Đấy những lời đao to búa lớn mà chúng buông ra! Với lời ấy, chúng ta đã ám sát
treo cổ, xé xác Concini (3) và nếu ta để mặc chúng, ắt chúng cũng sẽ ám sát ta, treo cổ ta, xé xác
ta như vậy; mặc dù ta chẳng hề gây cho chúng một điều tai hại gì ngoài việc bóp
nặn chúng một tí chút. Đồ ngu ngốc? Vậy là chúng không thấy rằng kẻ thù của
chúng không phải lão người Ý này nói tiếng Pháp không sõi mà chính là cái bọn
kia, họ có tài nói năng với chúng những lời hoa mỹ bằng cái
giọng Paris thật là thuần túy và tuyệt diệu.

(3) Concini - người gốc Ý, làm thống chế Pháp, bất
tài và tham lam, đã khiến các đại thần nổi loạn Năm 1967, vua Louis XIII phải
ra lệnh bắt giam. Concini chống cự và đã bị giết chết.

- Phải rồi, phải rồi, -
vị tể tướng nói tiếp và xảo quyệt cười, lần này cái cười có vẻ lạ lẫm trên đôi
môi nhợt nhạt, - phải rồi, những tiếng đồn của các ngươi đã nói với ta điều đó,
số phận của các sủng thần là bấp bênh, nhưng nếu các người biết điều đó thì các
người cũng phải biết rằng ta đây, ta chẳng phải là một sủng thần tầm thường. Bá
tước D’Essex có một cái nhẫn tuyệt đẹp nạm đầy kim cương mà nữ hoàng tình nhân
đã tặng: còn ta chỉ có một chiếc nhẫn bình thường với một con số ngày tháng(4),
nhưng nó đã được ban phước tại tiểu thánh đường trong Hoàng cung, cho nên họ sẽ
không phế bỏ ta theo nguyện vọng của họ. Họ chẳng nhận thẩy rằng với tiếng hô
muôn thuở của họ: "Đả đảo lão Mazarin!" ta đã hô với họ, khi thì de
Beaufort(5) muôn năm, khi thì ngài Hoàng thân muôn năm?

(4) Ngày cưới. Người ta biết rằng Mazarin không bị
một điều lệnh nào cấm kết hôn nên đã lấy Anne D’Autriche (xem các hồi ức của de
Lanporter và của quận chúa Palatin).

(5) Quận công de Beaufort - cháu nội của vua Hăngri
IV một thủ lĩnh trong phong trào La Fronde của các hoàng thân.

- Này! Ông de Beaufort
đang ở Vinxen; Hoàng thân nay mai sẽ đến theo ông ta, còn nghị viện…

Đến đây, nụ cười của
giáo chủ biểu hiện một vẻ thù hằn dường như không thể có được trên gương mặt vốn
dịu dàng của ông.

- Nào! Nghị viện… Chúng
ta xem xét sẽ làm gì cái nghị viện này. Có Orléans(6). Ồ! Ta sẽ để thì giờ xem
xét. Song những ai đã hô đả đảo Mazarin cuối cùng sẽ phải hô đả đảo tẩt cả
những kẻ đó, người nào phiên nấy. Richelieu khi còn sống bị bọn họ căm ghét và khi chết còn bị
họ nhắc đến luôn trước kia còn thấp kém hơn ta, bởi vì ông ta đã bị nhiều lần xua đuổi và luôn luôn
nơm nớp còn bị xua đuổi nhiều hơn nữa. Hoàng hậu, chẳng bao giờ xua đuổi ta đâu, còn nếu ta bị
ép buộc phải nhượng bộ dân chúng thì nàng sẽ nhượng bộ cùng với ta; nếu ta chạy
trốn, nàng cũng sẽ bỏ trốn
và chúng ta sẽ thấy bọn phiến loạn xoay xở thế nào khi không có hoàng hậu,
không có đức vua của họ. Ôi! Giá như ta không phải là người ngoại quốc, giá như
ta là người Pháp, giá như ta là người quý tộc!

(6) Gaston Orléans (1608 - 1660) - quận công con vua
Henri IV tham gia những cuộc âm mưu chống lại Richelieu, rồi Mazarin.

Và ông ta lại rơi vào
trạng thái trầm ngâm.

Quả thật, tình thế đang khó
khăn, và cái ngày vừa trôi qua càng thêm phức tạp. Luôn luôn bị tính biển lận bẩn thỉu thôi thúc,
Mazarin chà siết dân chúng bằng thuế khóa, và dân chúng ấy chỉ còn lại có linh hồn như
tổng trạng sư Talon nói, và hơn nữa, vì người ta không thể đem linh hồn ra bán
tầm tầm, cho nên đám dân chúng mà người ta cố làm cho họ kiên nhẫn bằng tiếng
đồn về những trận chiến thắng đã giành được, họ thấy những vòng nguyệt quế
chẳng phải là thịt để có thể nuôi sống mình, đám dân chúng ấy từ lâu đã bắt đầu
xì xào kêu ca.

Nhưng đó chưa phải là
tất cả, vì khi dân chúng xì xào, triều đình không nghe thấy do nó vốn bị ngăn
cách bởi giới thị dân và các nhà quý tộc. Nhưng Mazarin đã dại dột đánh vào các
pháp quan! Ông ta đã bán mười hai tờ chứng chỉ ủy viên thỉnh nguyện, và do các án quan trả giá cho
những chức vị của họ quá đắt và sự gia nhập của mười hai bạn đồng nghiệp kia
tất làm giảm giá những chức vị đó, những án quan cũ đã hợp nhau lại, thề trước
kinh Phúc âm là sẽ không chịu sự tăng thêm ấy và kháng cự lại mọi sự ngược đãi
của triều đình; họ hứa hẹn với nhau là trong trường hơp một người trong bọn họ do sự phản
kháng ấy mà mất chức vị của mình thì họ sẽ cùng nhau đóng góp để hoàn lại tiền
cho người ấy.

Đây là chuyện xảy ra từ
hai phía đó:

Ngày bảy tháng Giêng,
bảy đến tám trăm nhà buôn tập hợp và bị kích loạn về một khoản thuế mới mà
người ta muốn đánh vào các trạch chủ, và họ đã cử mười đại biểu đến trình bày
với quận công Orléans, người vốn có thói quen lấy lòng dân. Quận công tiếp họ
và họ tuyên bố sẽ quyết định không đóng khoản thuế mới cho dù có phải dùng vũ
lực chống lại quan quân của nhà vua đến thu thuế. Quân công Orléans lắng nghe
với vẻ rất ân cần, làm họ hi vọng một sự giảm nhẹ nào dấy, hứa sẽ trình lại với
hoàng hậu và đã tông biệt họ bằng lời nói thông thường của các ông hoàng:
"Người ta sẽ xem xét".

Về phía mình, ngày mồng
chín, các ủy viên thỉnh nguyện của Tham chính viện đến gặp giáo chủ tể tướng,
và một người thay mặt họ phát ngôn đã nói năng rất cương quyết và táo bạo đến
nỗi giáo chủ sửng sốt; ông ta tống khứ họ ra và nói giống như quận công Orléans
rằng người ta sẽ xem xét.

Thế là, để xem xét,
người ta đã họp hội đồng và cho đi tìm quan Tổng giám tài chính D’Emery.

Cái ông D’Emery này bị
dân chúng ghét cay ghét đắng, trước hết bởi vì ông ta là tổng giám tài chính,
mà bất cứ tổng giám tài chính nào cũng đều bị ghét cả; sau nữa phải nôi rằng vì
ông ta ít nhiều cũng xứng đáng bị ghét.

Ông ta là con trai một
chủ ngân hàng thành Lyon tên gọi Particelli, sau khi bị vỡ nợ bèn đổi
tên là D’Emery. Nhân thấy ông ta có khả năng rất lớn về tài chính, giáo chủ De
Richelieu đã tiến cử ông với vua Louis XIII dưới cái tên D’Emery và do muốn
phong ông làm giám quan tài chính nên đã nói rất tốt về ông ta.

- Hay tuyệt? - Nhà vua
trả lởi. - Ta hài lòng là khanh trình với ta ông D’Emery để tiến cử vào chỗ đòi
hỏi một con người lương thiện.
Ta nghe nói khanh tán trợ cái tên Particelli vô lại ấy, và ta lo khanh sẽ ép ta
dùng hắn.

- Tâu hoàng thượng, -
ngài giáo chủ đáp, - xin Hoàng thượng yên lòng, tên Particelli mà Hoàng thượng
vừa nói đến đã bị
treo cổ rồi ạ.

- A! Hay lắm! - Nhà vua
reo lên. - Như vậy chẳng phải không dưng thiên hạ gọi là Louis Công minh.

Và ngài ký giấy bổ
nhiệm ông D’Emery,
cũng vẫn cái ông D’Emery ấy trở thành tổng giám tài chính. Người ta đi tìm ông
theo lệnh tể tướng và ông chạy đến mặt tái mét và hốt hoảng, nói rằng con trai
ông suýt bị ám sát ngay ban ngày giữa quảng trường Hoàng cung: đám đông gặp anh
ta và chê trách sự xa hoa của vợ anh ta, mụ này có một căn nhà chăng nhung đỏ
với những lụa ren bằng vàng. Đó là con gái của Lơ Camuy, tổng trưởng năm 1617. Ông này khi
đến Paris chỉ có hai mươi livrơ, nay tự dành cho mình bốn mươi nghìn
livrơ niên thu và vừa mới chia chín triệu cho các con.

Con trai D’Emery suýt
chết nghẹt vì một trong những người nổi loạn bắt phải ép hắn cho đến khi hắn phải
nhả chỗ vàng đã ngốn.

Ngày hôm ấy Hội đồng
chẳng quyết nghị được gì, vì viên tổng giám quá bấn bíu về sự cố đó nên chẳng
còn bụng dạ nào mà bàn định.

Ngày hôm sau ông đệ
nhất chủ tịch Nghị viên Mathieur Molé mà lòng quả cảm trong mọi công việc như
giáo chủ de Retz nói, ngang với ngài quận công de Beaufort và ngài hoàng thân
de Condé(7), nghĩa là hai người được coi như dũng cảm nhất nước Pháp, ngày hôm sau, đến lượt
mình ông đệ nhất chủ tịch bị tiến công. Dân chúng đe dọa là ông ta phải gánh
chịu trách nhiệm tất cả
những tai họa mà người ta gây ra cho họ; nhưng với vẻ bình tĩnh thông thường,
ông đệ nhất chủ tịch không xúc động và không kinh ngạc, ông đệ nhất chủ tịch đã
trả lời rằng nếu những kẻ phiến loạn không tuân theo ý nhà vua, ông ta sẽ cho
dựng những giá treo cổ ở các quảng trường để treo cổ ngay tức khắc những kẻ ngỗ
ngược nhất trong bọn họ. Bọn này bên đáp lại rằng họ không yêu cầu gì hơn là
dược trông thấy dựng lên những giá treo cổ, và chúng sẽ dùng để treo cổ những
viên pháp quan tồi đã đi mua ân sủng của triều đình bằng giá sự khốn cùng của
nhân dân.

(7) Condé (1621-1686) - một trong những tướng tài
thời vua Louis XIV, đã từng tham gia phong trào La Fronde. Thường gọi là ngài
Hoàng thân.

Chưa hết, ngày mười
hai, hoàng hậu đi dự lễ ở nhà thờ Đức Bà, việc bà thường làm đều đặn vào các
ngày thứ Bảy, thì hơn
hai trăm phụ nữ bám theo vừa kêu la vừa xin được thừa nhận quyền lợi. Kể ra họ
không có một ý đồ xấu nào, chỉ muốn quỳ trước hoàng hậu đề cầu bà rủ lòng
thương; song vệ sĩ đã ngăn cản họ và hoàng hậu cứ ngạo mạn và kiêu hãnh đi qua
mà chẳng để tai đến những tiếng kêu gào của họ.

Buổi chiều hội đồng họp
và quyết nghị giữ vững quyền lực của nhà vua, do đó nghị viện được triệu tập
vào ngày hôm sau tức ngày mười hai.

Ngày hôm ấy, cái ngày mà vào buổi chiều
tối, chúng tôi mở đầu câu chuyện mới mẻ này, nhà vua khi ấy mới mười tuổi và
vừa mắc bệnh thủy đậu
xong, mượn cớ đi nhà thờ Đức Bà để lễ tạ ơn bình phục, đã bố trí vệ sĩ, lính Thụy Sĩ và lính ngự lâm, rải
quân xung quanh Hoàng cung, trên các kè và trên Cầu Mới, và sau khi nghe kinh Misa, nhà vua bèn sang nghị
viện. Ở đó trên một chiếc ngai ngự dựng bất ngờ, nhà vua không những giữ nguyên
những chỉ dụ cũ mà còn đặt năm, sáu cái mới, tất cả những điều giáo chủ de Retz
nói đều tai hại chẳng kém gì nhau. Đến nỗi ông đệ nhất chủ tịch như ta đã thấy,
những hôm trước vẫn đồng tình với triều đình, mà nay cũng hết sức bất bình về
cái cách đưa nhà vua đến Cung để tập kích và vi phạm sự tự do đầu phiếu.

Nhưng những người phản
đối mạnh mẽ nhất những thuế khóa mới là ông chủ tịch Blancmensnil và ông tham
nghị Broussel.

Các chỉ dụ đó ban xong,
vua trở về Hoàng cung. Một trăm dân chúng đông nghịt đang đi trên dường, họ
biết nhà vua từ nghị viện về, nhưng vì không biết nhà vua họp ở đó để thừa nhận
quyền lợi của nhân dân hay để tiếp tục áp bức họ, nên không một tiếng kêu mừng
rỡ nào vang lên khi vua đi qua để chúc mừng nhà vua đã bình phục. Trái lại, tất
cả các gương mặt đều rầu rĩ và lo lắng; có vài người còn tỏ vẻ sừng sộ.

Mặc dầu nhà vua đã ra
về, các toán lính vẫn ở nguyên tại chỗ: người ta lo ngại một cuộc bạo loạn bùng
nổ khi biết kết quả phiên họp nghị viện; và quả nhiên, tiếng đồn vừa mới lan ra
các phố rằng đáng lẽ phải giảm nhẹ thuế nhà vua lại tăng thêm thì các nhóm tập
họp lại và những tiếng la hét vang ầm lên: "Đả đảo Mazarin? Broussel muôn
năm! Blancmensnil muôn năm!" vì dân chúng biết rằng Broussel và
Blancmensnil đã lên tiếng ủng hộ họ; và tuy tài hùng biện của các ông bị thất
bại, họ vẫn tỏ lòng biểt ơn.

Người ta muốn giải tán
các đám dân chúng, muốn dập tắt các tiếng kêu, nhưng càng thế các đám người
càng đông lên và những tiếng kêu la càng tăng gấp bội. Lệnh vừa mới ban ra cho
lĩnh ngự vệ và lính Thụy Sĩ,
không những phải giữ vững, mà còn phải đi tuần tra trong các phố Saint-Denis và
Saint-Martin, nơi các đám người có vẻ đông đảo hơn và nhộn nhạo hơn, thì ở
Hoàng cung người ta thông báo có ông thị trưởng thành phố đến.

Ông ta được dẫn vào
ngay: ông nói rằng nếu không chấm dứt ngay lập tức những cuộc thị uy thù
nghịch, thì trong hai giờ nữa toàn thành phố Paris sẽ vũ khí sẵn
sàng.

Người ta đang bàn luận
xem phải làm gì thì viên trung úy thị vệ đoàn Comminger trở về quần áo tả tơi
và mặt mày đầm đìa máu.

Thấy ông ta xuất hiện,
hoàng hậu kinh hãi kêu lên và hỏi xem có chuyện gì.

Như ông thị trưởng đã
dự kiến; nhìn thấy các toán lính gác, dân tình nổi xung lên. Người ta chiếm các
tháp chuông và rung chuông báo động. Comminger đã chống cự tốt, bắt giữ một
người đàn ông có vẻ là một trong những tay phiến động chủ yếu, và để làm gương
đã ra lệnh treo cổ anh ta ở bãi Thập tự T'rahoa. Binh lính lôi anh đi để thi
hành lệnh, nhưng đi đến dãy chợ thì bị tiến công bằng gạch đá và giáo mác, kẻ
phiến loạn thừa cơ chạy thoát ra phố Lômba và chạy bổ vào trong một ngôi nhà.
Nhà bị phá cửa ngay lập tức. Nhưng bạo lực ấy cũng vô ích, không thể tìm thấy
tội phạm.

Comminger để lại một
trạm gác trong phố và cùng số lính còn lại của đơn vị trở về Hoàng cung để tâu
với hoàng hậu về sự việc đã xảy ra. Suốt dọc đường, ông ta bị những tiếng la ó
và đe dọa đuổi theo, nhiều lính của ông bị giáo mác đâm bị thương và bản thân
ông bị một hòn đá đáp rách chỗ lông mày.

Câu chuyện của
Comminger làm vững thêm ý kiến của ông thị trưởng - người ta chưa đủ sức đương
đầu với một cuộc nổi loạn thực sự; ông giáo chủ cho loan tin trong dân chúng
rằng các toán quân rải trên các kè và Cầu Mới chỉ là nhân dịp làm lễ và sắp rút
đi.

Quả thật vào lúc bốn
giờ chiều, các toán quân tập trung cả về phía Hoàng cung, người ta đặt một trạm
gác ở chỗ chắn đường Sergents, một trạm khác ở chỗ Tám Mươi, cuối cùng một trạm
nữa ở Saint-Roch. Người ta đưa lính Thụy Sĩ và lính
ngự lâm vào đầy các sân, các tầng trệt và chờ đợi.

Đấy là bổi cảnh diễn
biến các sự kiện, khi chúng tôi đưa bạn đọc vào văn phòng của giáo chủ Mazarin
xưa kia vốn là văn phòng của giáo chủ De Richelieu. Chúng ta đã thấy ông ta ở
trong tình trạng tinh thần như thế nào khi nghe tiếng rì rầm của dân chúng lọt
đến tai ông và tiếng âm vang của những phát súng nổ vọng đến căn phòng ông.

Bỗng nhiên, ông ngẩng đầu lên, lông mày hơi cau
lại như một người đã có quyết định, trừng mắt nhìn lên một chiếc đồng hồ lớn
sắp đánh chuông mười giờ, và vớ một cái còi bằng đồng mạ vàng nằm trong tầm tay
ở trên bàn. Ông huýt lên hai tiếng.

Cánh cửa khuất sau tấm
thảm treo tường mở ra không có một tiếng động và một người vận đồ đen lặng lẽ
bước vào phòng, rồi đứng ở phía sau ghế bành.

- Bernouin, - giáo chủ
nói mà chẳng buồn quay đầu lại vì sau khi thổi lên hai tiếng còi, ông biết
người hầu của mình phải là ai, - lính ngự lâm đang gác ở Cung là lính nào?

- Thưa Đức ông, đó là
ngự lâm đen.

- Đại đội nào?

- Đại đội Treville.

- Có sĩ quan nào ở đại
đội ấy trong tiền sảnh không?

- Có trung úy
D’Artagnan.

- Chắc đó là một người
tốt, phải không?

- Vâng, thưa Đức ông.

- Lấy cho ta một bộ y
phục ngự lâm quân và giúp ta mặc vào.

Người hầu phòng đi ra
cũng lặng lẽ như lúc vào và một lát sau trở lại mang theo bộ quần áo đòi hỏi.

Thế là vị giáo chủ vẻ
im lặng và suy nghĩ, bắt đầu cởi bỏ bộ lễ phục mà ông đã mặc để dự phiên họp
nghị viện, và mặc chiếc áo lính với một vẻ thoải mái nhờ những chiến dịch ở Ý của ông
xưa kia, rồi khi đã vận xong hoàn toàn, ông bảo:

- Đi tìm ông D’Actagnan
cho ta.

Người hầu phòng lần này
đi ra cửa giữa, nhưng vẫn lặng lẽ và câm như hến. Có thể nói như một cái bóng.

Còn lại một mình, giáo
chủ soi mình trong gương, vẻ hài lòng.

Ông ta vẫn còn trẻ, vì
mới gần bốn mươi sáu tuổi, thân hình thanh nhã, hơi dưới chiều cao trung bình;
da dẻ sáng và đẹp, cái nhìn rực lửa, mũi to, tuy nhiên khá cân đối, trán rộng
và đường bệ, tóc hung hung và hơi xoăn, râu đen hơn tóc và lúc nào cũng uốn cao
lên, khiến ông có dáng phong nhã. Ông quàng tấm dải đeo gươm, nhìn với vẻ thỏa
mãn hai bàn tay nuột nà của mình mà ông chăm chút nhất; rồi quẳng đôi găng bằng
da hoẵng mà ông đã cầm lấy và hợp với bộ quân phục, ông xỏ đôi găng lụa giản
dị.

Lúc ấy cánh cửa mở ra.

Một sĩ quan bước vào.

Đó là một người chạc
băm chín bốn mươi tuổi, vóc người nhỏ nhưng chắc, gầy, mắt tinh và hóm hỉnh,
râu đen và tóc hoa râm như thường xảy đến khi người ta thấy cuộc đời quá tốt
hoặc quá xấu, và nhất là khi da người ta rất nâu.

D’Artagnan đi bốn bước
trong văn phòng là nhận ra mình đã đến đây một lần trong thời giáo chủ De
Richelieu, và chẳng thấy có ai trong phòng ngoài một lính ngự lâm của đại đội
mình, anh dừng mắt trên người lính ngự lâm ấy và qua bộ y phục của người đó,
vừa mới thoạt nhìn anh đã nhận ra ông giáo chủ.

Anh đứng thẳng trong tư
thế cung kính nhưng đường hoàng và rất thích hợp với một người có địa vị trong
đời mình luôn có dịp tiếp xúc với các quan đại thần.

Giáo chủ chằm chằm nhìn
anh bằng con mắt tinh ranh hơn là sâu xa, ngắm nghía chăm chú, rồi sau vài giây
im lặng, ông cất tiếng.

- Chính ông là ông
D’Artagnan phải không?

- Chính tôi, thưa Đức
ông. - viên sĩ quan nói.

Giáo chủ nhìn một lát
nữa cái đầu đến là thông minh ấy và khuôn mặt mà sự linh hoạt thái quá đã bị
kiềm chế bởi tuổi tác và kinh nghiệm; nhưng D’Artagnan chịu dựng sự thẩm tra
với tư cách một người xưa kia đã từng bị nhìn bằng những con mắt sắc sảo khác
hẳn những con mắt mà anh chịu đựng sự dò xét vào lúc này.

- Này ông, - giáo chủ
nói, - ông sẽ đến với
tôi, hay đúng hơn là tôi sẽ đi với ông.

- Xin tuân lệnh, -
D’Artagnan đáp.

- Tôi muốn tự mình đến
thăm những trạm gác bao quanh Hoàng cung; ông nghĩ có điều gì nguy hiểm không?

- Nguy hiểm ư? Đức ông?
Mà nguy hiểm gì? - D’Artagnan ngạc nhiên hỏi.

- Người ta nói dân
chúng hết sức náo loạn.

- Quân phục ngự lâm
quân của nhà vua rất được kính nể, thưa Đức ông, và với bốn người, tôi dám cam
đoan đánh tan một trăm tên loại dân đen ấy.

- Nhưng ông đã thấy,
chuyện xảy ra với Comminger chưa?

- Ông de Comminger là
thuộc đội cận vệ, chứ không phải ngự lâm quân là lính cừ hơn cận vệ.

- Thế có nghĩa là, -
giáo chủ mỉm cười nói, - ngự lâm quân là lính cừ hơn cận vệ.

- Thưa Đức ông, mỗi
người có lòng tự tôn về binh phục của mình.

- Trừ tôi ra! - Mazarin
vừa cười vừa nói, - vì ông thấy tôi đã rời bỏ y phục của mình để mặc binh phục
của ông.

- Ấy chết, thưa Đức
ông, - D’Artagnan nói, - đó là sự nhũn nhặn. Còn như tôi, tôi xin bày tỏ rằng
nếu tôi có bộ y phục của Các hạ, tôi sẽ rất thỏa mãn và nếu cần thì xin thề là
sẽ chăng bao giờ mặc bộ y phục nào khác.

- Phải, nhưng để đi ra
tối nay, có lẽ nó không an toàn lắm. Bemuanh đưa mũ đây.

Người hầu phòng mang ra
một cái mũ binh phục rộng vành.

Ông chủ đội mũ với vẻ
khá phóng túng và quay lại phía D’Artagnan:

- Ông có những con ngựa
đóng yên cương sẵn ở trong các chuồng phải không?

- Vâng, thưa Đức ông.

- Nào, ta đi đi.

- Đức ông cần bao nhiêu
người?

- Ông đã nói là với bốn
người các ông có thể đánh tan một trăm tên dân đen; cho là có thể gặp hai trăm
tên, hãy lấy tám người.

- Khi nào Đức ông cần?

- Tôi theo ông, hay
thôi, - giáo chủ nói tiếp, - ta đi lối này.

Bernouin, rọi đèn cho
chúng tôi.

Người hầu cầm ngọn nến,
giáo chủ cầm một chiếc chìa khóa mạ vàng để trên bàn giấy, và sau khi mở cửa
một cầu thang bí mật, chỉ một lát sau ông đã ở trong sân Hoàng cung.

Báo cáo nội dung xấu