Hai mươi năm sau - Chương 68

Chương 68

Đại sảnh trắng

Nghị viện kết án tử
hình Charles Stuart, như người ta có thể dễ dàng thấy trước. Những cuộc xét xử
chính trị bao giờ cũng chỉ là những nghi thức vô ích, bởi vì vẫn nhưng thiên
kiến ấy vừa buộc tội lại vừa kết án. Cái lý luận kinh khủng của những cuộc cách
mạng là như thế đấy.

Việc kết án ấy mặc dầu
đã được mấy người bạn của chúng ta liệu trước, nó vẫn làm cho họ đau đớn.
D’Artagnan có những tài trí hơn là những lúc gay go càng nảy ra nhiều mưu mẹo
nhất, lại thề rằng sẽ tìm mọi cách ở trên đời để ngăn cản sự kết thúc của tấn
bi kịch đẫm máu này. Nhưng bằng cách nào đây? Đó là điều anh thấy còn mơ hồ
quá.

Tất cả phụ thuộc vào
tính chất của hoàn cảnh. Trong khi chờ đợi một kế sách hoàn chỉnh, để tranh thủ thời
gian, bằng mọi giá phải cản trở việc hành hình mà các quan tòa đã quyết định
vào ngày hôm sau.

Cách duy nhất là làm
sao làm biến mất tên đao phủ London.

Đao phủ biến mất thì
bản án không thể thi hành. Chắc chắn là người ta sẽ đi kiếm đao phủ ở thành phố
gần London nhất, và như thế ít ra cũng được thêm một ngày, mà một ngày trong
trường hợp như thế này có thể là cứu nạn! D’Artagnan đảm nhiệm cái công việc
quá ư là khó khăn này.

Một điều không kém phần
quan trọng là báo cho Charles Stuart biết rằng người ta đã định cứu ông để ông
hết sức hỗ trợ những người bảo vệ ông hoặc ít ra không làm điều gì trở ngại cho
công việc của họ… Aramis nhận làm cái việc mạo hiểm đó.

Charles Stuart đã yêu
cầu người ta cho phép giám mục Juxon đến thăm ông ở nhà tù Đại sảnh trắng. Ngay
chiều hôm ấy Mordaunt đã đến nhà giám mục để cho ông biết điều mong muốn sùng
tín của nhà vua và sự cho phép của Cromwell. Aramis nhất quyết bằng cách dọa
nạt hoặc thuyết phục làm sao cho giám mục đồng ý để cho anh thay thế ông, mang
những huy hiệu giáo chức của ông và lọt vào cung Đại sảnh trắng.

Cuối cùng Arthos đảm
nhiệm việc chuẩn bị các kế hoạch rời khỏi nước Anh trong trường hợp thành công
cũng như thất bại.

Đêm đến, họ hẹn gặp
nhau ở khách sạn vào lúc mười một giờ, và mỗi người lên đường để thực hiện
nhiệm vụ nguy hiểm của mình.

Cung Đại sảnh trắng
được canh gác bởi ba trung đoàn kỵ binh và nhất là bởi những nỗi băn khoăn vô
tận của Cromwell, ông đi đi lại lại và phải đi các tướng lãnh hoặc nhân viên.

Một mình trong căn
phòng thường lệ của mình có hai ngọn nến soi sáng, nhà vua bị kết án tử hình
buồn bã nhìn cái xa hoa của thời vàng son đã qua, giống như vào lúc lâm chung
người ta nhìn hình ảnh cuộc đời thấy nó sáng lạn và ngọt ngào hơn bao giờ hết.

Parry không rời chủ lúc
nảo và từ khi chủ bị kết án, hắn khóc mãi không thôi.

Ngồi tì tay trên một
cái bàn, Charles Stuart ngước nhìn một bức đại bài trên đó treo những bức chân
dung của vợ và các con của ông.

Ông chờ đợi Juxon trước hết, rồi sau Juxon là sự tuẫn
tử.

Đôi khi dòng suy nghĩ
của ông dừng lại ở những người quý tộc Pháp trung hậu lúc này như đã cách xa
ông hàng trăm dặm, có vẻ huyền thoại, hư ảo và tựa như những hình ảnh mà người
ta thấy trong giấc mơ và biến mất khi tỉnh dậy.

Mà quả thật, đôi khi
Charles tự hỏi mình rằng tất cả những gì vừa mới xảy ra với ông phải chăng là
một giấc mơ hoặc ít ra cũng là một điều mê sảng trong cơn sốt.

Nghĩ vậy ông đứng lên,
đi vài bước như để ra khỏi cơn mê, đi ra đến cửa sổ nhưng lập tức trông thấy ở
phía dưới cửa lấp lánh những nòng súng của lính gác. Khi ấy ông buộc phải thú
nhận rằng ông đang thức tỉnh hẳn hoi và giấc mơ đẫm máu của ông là có thật.

Charles lặng lẽ trở lại
ghế bành, ngồi tì tay lên bàn, gục đầu vào bàn tay và nghĩ ngợi.

- Than ôi! - Ông tự nhủ
thầm, - Nếu như ít ra ta có một đức cha để xưng tội trong số những tâm hồn sáng
láng của Nhà thờ đã thăm dò mọi bí mật của cuộc đời, mọi điều nhỏ nhen của sự
cao cả, thì, tiếng nói của người ấy có lẽ sẽ dập tắt tiếng nói đang than thở
trong tâm hồn ta? Nhưng ta sẽ có một linh mục tâm hồn tầm thường mà do tai họa
của ta, ta đã phá vỡ cuộc đời và cơ nghiệp của ông ấy. Ông ấy sẽ nói với ta về
Thượng đế và cái chết như vẫn thường nói với những kẻ sắp chết khác, không hiểu
rằng kẻ sắp lìa đời vương giả này để lại một ngai vàng cho kẻ tiếm đoạt trong
khi con gái của mình chẳng còn bánh ăn.

Rồi đưa các bức chân
dung lên môi, ông lần lượt lẩm nhẩm đọc tên của từng đứa con ông.

Đêm hôm ấy là một đêm
mù sương và ảm đạm. Chuông nhà thờ gần đó thong thả điểm giờ. Ánh sáng vàng vọt
của hai cây nến gieo rắc trong căn phòng rộng rãi và cao ráo ấy những bóng ma
chập chờn kỳ lạ. Đó là những tổ tiên của vua Charles tách ra khỏi những khung
ảnh thiếp vàng; và những bóng chập chờn kia là những vầng sáng cuối cùng xanh
xanh và lấp lánh của một ngọn lửa than đang tắt.

Một nỗi buồn mênh mang
xâm chiếm cả tâm hồn. Ông vùi đầu vào trong lòng bàn tay và mơ màng đến cái thế
giới thật là tươi đẹp, khi người ta rời bỏ nó hoặc đúng hơn là nó rời bỏ ta,
đến những cái vuốt ve thật êm ái và ngọt ngào của những đứa con nhất là khi
người ta xa rời chúng để không bao giờ gặp lại nữa.

Rồi ông nghĩ đến người
vợ cao quý và can đảm đã nâng đỡ ông đến phút cuối cùng. Ông rút từ ngực ra cây
thánh giá kim cương và tấm huân chương Jarretière mà bà đã nhờ những người Pháp
hào hiệp kia đưa tới, và hôn lên. Rồi nghĩ rằng bà chỉ thấy lại những kỉ vật ấy
khi tấm thân lạnh giá và bị chặt của ông ta đã bị vùi trong một nấm mồ, ông cảm
thấy một cơn rùng mình ớn lạnh chạy khắp người như những cơn ớn lạnh mà tử thần
ném lên mình ta như ném chiếc áo choàng đầu tiên của nó.

Thế là trong căn phòng
nhắc nhở với ông biết bao kỉ niệm đế vương và đã từng chứng kiến biết bao cận
thần vào ra và biết bao điều phỉnh phờ nịnh hót, giờ đây một mình ông cùng với
một tên đầy tớ buồn phiền mà linh hồn yếu đuối không thể nâng đỡ linh hồn ông
nhà vua buông rơi lòng can đảm của mình xuống ngang tầm của sự yếu đuổi ấy, của
những bóng đêm ấy, của cái giá lạnh mùa đông ấy.

Và liệu người ta có sẽ
nói ra không? Cái ông vua ấy chết thật cao cả, thật tuyệt vời, với nụ cười nhẫn
nhục trên môi, đã lau trong bóng tối một giọt nước mắt rơi xuống bàn và rung
rinh trên tấm thảm thêu vàng lóng
lánh.

Bỗng nhiên có tiếng
chân bước ngoài hành lang, rồi cửa bật mở và gian phòng bừng lên trong ánh sáng
khói um của những ngọn đuốc Một giáo sĩ vận y phục chủ giáo bước vào có hai tên
lính gác theo sau. Charles khoát tay một cách khần thiết cho hai tên lính và
chúng đi ra. Căn phòng trở lại tối tăm.

- Juxon! - Charles reo
lên, - Juxon? Cảm ơn người bạn cuối cùng của tôi, ông đến rất kịp thời.

Vị giám mục đưa mắt lo
ngại nhìn nghiêng sang phía người dân ông đang thổn thức ở góc lò sưới.

- Nào, Parry, đừng khóc
nữa, - Vua nói, - đây là Chúa đến với chúng ta.

- Nếu là Parry thì tôi
chẳng có gì phải lo ngại, - Giám mục nói. - Vậy thì tôi xin phép kính chào
Hoàng thượng và thưa với ngài tôi là ai và đến đây vì việc gì.

Nhìn lại người và nghe
giọng nói ấy, suýt nữa Charles kêu lên, nhưng Aramis đặt ngón tay lên môi và
kính cẩn cúi chào ông vua Anh quốc.

- Ông hiệp sĩ, -
Charles lẩm bẩm.

- Vâng, thưa Hoàng
thượng, - Aramis ngắt lời và lên cao giọng, - vâng tôi là giám mục Juxon, người
hiệp sĩ trung thành của Chúa Giêsu, đến đây theo nguyện vọng của Hoàng thượng.

Đã nhận ra D’Herblay,
Charles chắp hai tay, kinh ngạc và ngẩn người ra trước những người ngoại quốc
này, họ chẳng có động cơ nào khác ngoài nghĩa vụ mà tự lương tâm họ đặt ra,
chiến đấu chống lại ý nguyện của một dân tộc và chống lại số mệnh của một ông
vua.

- Ông đấy à! - Vua nói,
- Ông làm thế nào mà tới được đây? Lạy Chúa, nếu họ nhận ra ông thì ông nguy
to.

Parry đứng gần đấy, tất
cả con người hắn biểu hiện một niềm khâm phục hồn nhiên và sâu sắc.

Vừa tiếp tục ra hiệu
cho vua im lặng, Aramis vừa nói:

- Xin ngài đừng lo gì
cho tôi, và chỉ nên lo cho ngài thôi. Các bạn bè của ngài chăm lo cho ngài,
ngài thấy đấy; chúng tôi sẽ làm gì, tôi cũng chưa biết; nhưng bốn con người đầy
lònh cương quyết đó có thể làm được rất nhiều việc. Trong khi chờ đợi, ngài chớ
nhắm mắt ban đêm, chớ ngạc nhiên về chuyện gì cả và sẵn sàng với mọi việc có
thể đến.

Charles lắc đầu nói:

- Bạn ơi, các ông có
biết rằng chẳng còn mấy thời giờ nữa đâu, và nếu các ông muốn hành động thì
phải gấp lắm ư? Các ông có biết rằng đến mười giờ sáng mai là tôi phải chết
không?

- Thưa ngài, từ giờ đến
lúc ấy, một điều gì đó sẽ xảy ra khiến việc hành quyết không thể thực hiện
được.

Vua nhìn Aramis với vẻ
ngạc nhiên.

Đúng lúc ấy ở phía dưới
cửa sổ phòng vua vang lên một tiếng động lạ như tiếng bốc dỡ một xe chở gỗ.

- Ông có nghe thấy
không? - Vua hỏi.

- Tiếng động kia kèm
theo một tiếng kêu đau đớn.

- Tôi có nghe, - Aramis
đáp, - Nhưng tôi không hiểu rõ tiếng động ấy là gì và nhất là tiếng kêu kia.

- Tôi không biết ai đã
thốt ra tiếng kêu ấy, Vua nói: nhưng về tiếng động tôi sẽ nói để ông rõ. Ông có
biết rằng tôi sẽ bị hành quyết ở ngay ngoài cửa sổ kia không? - Vua nói và giơ
tay về phía bãi tối chỉ có toàn lính gác.

- Vâng, thưa ngài, tôi
có biết, - Aramis đáp.

- Đấy! Những gỗ mang
đến là những cột kèo người ta dùng để dựng đoạn đầu đài cho cho tôi đấy. Có
người thợ nào đó bị thương khi bốc dỡ.

Aramis bất giác rùng
mình.

- Các ông thấy đấy, -
Charles nói, - Các ông có khăng khăng làm nữa cũng vô ích mà thôi. Tôi đã bị
kết án, hãy đề tôi cam chịu số phận của mình.

Lấy lại sự bình tĩnh bị
quấy động trong giây lát, Aramis nói:

- Thưa ngài họ có thể
dựng một đoạn đầu đài
nhưng họ sẽ không tìm được một đao phủ.

- Thế nghĩa là thế nào?
- Vua hỏi.

- Nghĩa là vào lúc này,
thưa ngài, tên đao phủ đã bị bắt cóc hoặc dụ dỗ đi. Ngày mai đoạn đầu đài sẽ
sẵn sàng, nhưng không còn đao phủ, người ta sẽ phải hoãn việc hành quyết đến
ngày kia.

- Thế thì sao? - Vua
hỏi.

- Thì đêm mai chúng tôi
sẽ bốc ngài đi, - Aramis đáp.

Một tia chớp vui mừng
bất giác lóe lên gương mặt vua. Ông reo lên:

- Thế là thế nào?

Parry chắp hai bàn tay
lẩm bẩm:

- Ôi, ông ơi! Cầu Chúa
ban phước lành cho ông và các bạn ông.

- Thế là thế nào? - Vua
nhắc lại, - Tôi cần phải biết để nếu cần tôi còn hỗ trợ các ông chứ.

- Thưa ngài, tôi thật
không biết gì cả, - Aramis nói, - Nhưng cái người khôn khéo nhất, dũng cảm
nhất, tận tâm nhất trong bốn chúng tôi đã bảo khi chia tay rằng: "Hiệp sĩ,
hãy nói với vua rằng ngày mai vào lúc mười giờ tối, chúng tôi cướp vua
đi". Bởi vì ông ấy đã nói, ông ấy sẽ làm.

- Hãy cho tôi biết tên
của ông bạn hào hiệp ấy, - Vua nói, - để tôi giữ một niềm biết ơn ông ấy mãi mãi, dù ông ấy có thành
công hay không.

- D’Artagnan, thưa
ngài. Chính ông ấy đã suýt cứu được ngài thì đại tá Harrison vào thật là không
đúng lúc.

- Quả thật các ông là
những con người kỳ diệu! - Vua nói. - Người ta đã kể cho tôi nghe những chuyện
tương tự về các ông mà tôi không tin.

- Giờ đây xin ngài hãy
nghe tôi. - Aramis nói. - Không một lúc nào ngài quên rằng chúng tôi chăm lo
việc cứu ngài; một cử chỉ nhỏ nhặt, một tiếng hát khe khẽ, một dấu hiệu thoảng
qua của những người sẽ đến gần ngài, phải rình hết, nghe hết, thật bình tỉnh.

- Ôi, hiệp sĩ! - Nhà
vua kêu lên, - Tôi biết nói gì với ông đây? Không một lời nào, dù từ đáy lòng
tôi thốt ra, có thể biểu hiện hết niềm biết ơn của tôi. Nếu các ông thành công
- Tôi sẽ không nói rằng các công cứu một ông vua, không, nhìn từ đoạn đầu đài như tôi đang
nhìn đây thì, tôi xin thề rằng, vương vị chẳng có nghĩa lý gì cả; nhưng các ông
giữ gìn được một người chồng cho vợ, một người cha cho các con của ông ta. Hiệp
sĩ ơi, hãy cầm lấy tay tôi, đó là tay một người bạn sẽ yêu quý ông cho đến hơi
thở cuối cùng.

Aramis muốn hôn tay
vua, nhưng vua nắm lấy tay anh và áp vào tim mình.

Lúc ấy một người đi vào
không buồn gõ cửa. Aramis toan rụt tay về, nhưng vua giữ lại.

Đó là một trong những
tín đồ thanh giáo nửa thày tu nửa lính đầy rẫy quanh Cromwell.

- Ông cần gì? - Vua
nói.

- Tôi muốn xem việc
xưng tội của Charles Stuart đã xong chưa, - Người mới vào đáp.

- Điều ấy can hệ gì đến
ông? - Vua nói, - Chúng ta không cùng một tôn giáo.

- Tất cả mọi người đều
là anh em, - Người thanh giáo nói. - một người anh em của tôi sắp chết, tôi đến khích lệ anh ta đi đến
cái chết.

- Thôi đủ rồi, - Parry
nói - Đức vua không cần đến những điều khích lệ của ông.

- Thưa ngài, - Aramis
nói nhỏ, - hãy nhẹ
nhàng với hắn, chắc hẳn đó là một tên do thám.

- Thưa ông, - Vua nói,
- sau vị tiến sĩ giám mục tôn kính, tôi sẽ vui lòng nghe ông.

Người có cái nhìn lấm
lét rút lui và không quên quan sát Juxon với một vẻ chú ý không thoát khỏi con
mắt nhà vua. Khi cửa đóng rồi, vua nói:

- Hiệp sĩ ạ, tôi chắc
rằng ông nói đúng và cái người kia đến đây với ý đồ xấu. Khi ra khỏi đây ông hãy coi chừng kẻo vướng
vào tai họa.

- Xin cảm ơn Hoàng
thượng, - Aramis nói, - nhưng
ngài hãy yên tâm. Dưới làn áo dài này tôi mặc một áo giáp sắt và giấu một con
dao.

- Thôi, ông đi đi, và
cầu Chúa che chở cho ông, như tôi vẫn thường nói khi còn làm vua.

Aramis đi ra. Charles
tiễn anh ra ngưỡng cửa, Aramis vừa đi vừa ban phước khiến những tên lính gác
cúi rạp mình, anh đường
bệ đi qua các tiền sảnh đầy lính tráng, bước lên cỗ xe có hai tên hầu đi theo
và trở lại tòa giám mục, hai tên hầu cáo biệt anh, Juxon đợi chờ lo lắng.

- Thế nào? - Ông vội
hỏi thì thấy Aramis vào.

- Thưa ngài, mọi việc
đều hoàn thành như tôi cầu mong. Dọ thám, lính gác, sai nha đều tưởng tôi là
ngài, nhà vua thì ban phước cho ngài trong khi chờ đợi ngài ban phước cho vua.

- Cầu Chúa che chở cho
con, vì rằng tấm gương của con đem lại cho ta hi vọng và can đảm.

Aramis mặc lại y phục
và áo choàng của mình ra đi và báo trước cho Juxon rằng anh sẽ còn nhờ vả ông
một lần nữa.

Đi ra phố mới độ mươi
bước anh đã nhận thấy rằng mình bị một người khoác chiếc áo choàng lớn bám theo
sau; anh rờ tay vào con dao găm và đứng lại. Người kia đi thẳng tới anh. Đó là
Porthos.

- À, ra cái anh bạn
thân mến này, - Aramis nói và chìa tay ra cho bạn.

- Bạn thân mến, cậu
thấy đấy, - Porthos nói, - mỗi
người chúng ta có nhiệm vụ của mình; nhiệm vụ của tôi là canh gác cho cậu và
tôi đã làm. Cậu có gặp vua không?

- Có mọi việc tốt cả.
Bây giờ các bạn chúng ta đâu?

- Chúng ta hẹn gặp nhau
ở khách sạn vào lúc mười một giờ.

- Thế thì của còn bao
lâu nữa đâu.

Quả thật, chuông nhà
thờ Saint Paul điểm mười giờ.

Tuy nhiên do hai người
bạn làm chu tất mọi việc nên đến nơi hẹn trước.

Sau đó, Arthos vào.

- Mọi việc tốt cả, anh
nói trước khi các bạn kịp hỏi.

- Cậu đã làm gì? -
Aramis hỏi.

- Tôi đã thuê một chiếc
tàu buồm hẹp như cái thuyền thoi, nhẹ như cánh én, nó đợi chúng ta ở Greenwich,
trước mặt đảo Những con Chó. Tàu có một chủ và bốn người làm, họ nhận năm mươi
livres sterling và để tùy ý
chúng ta sử dụng trong ba đêm liền. Sau khi đưa vua lên thuyền, lợi dụng nước
triều chúng ta xuôi sông Tamise và hai giờ sau là ra đến biển khơi. Lúc ấy, như
những tên cướp thực thụ chúng ta đi men bờ biển, trú ở các vách núi, hoặc nếu
mặt biển tự do chúng ta sẽ dong buồm thẳng đến Boulogne-sur-Mer. Nếu tôi có
chết thì hãy nhớ ông chủ tàu là thuyền trưởng Roger và tàu gọi là Tia chớp. Cứ
thế là sẽ tìm ra. Một cái khăn tay buộc ở bốn góc là ám hiệu nhận ra nhau.

Một lát sau D’Artagnan
về.

- Các cậu hãy dốc túi
ra cho đủ một trăm livres sterling, vì rằng túi tôi…

Và anh lộn các túi rỗng
không của mình ra.

Số tiền được góp xong
ngay, D’Artagnan đi ra một lát rồi quay về. Anh nói:

- Vậy, mọi việc đã xong
xuôi. Nhưng cũng chẳng phải là dễ dàng.

- Gã đao phủ đã rời
London chưa? - Arthos hỏi.

- Ấy! Như thế chưa phải
là chắc chắn đâu. Hắn có thể ra cửa này và lại vào cửa khác.

- Thế bây giờ hắn ở
đâu?

- Ở trong hầm.

- Trong hầm nào?

- Trong hầm của ông chủ
quán chúng ta! Mousqueton ngồi canh ở ngưỡng cửa, chìa khóa đây.

- Hoan hô! - Aramis
nói. - Nhưng cậu làm thể nào mà định đoạt người ấy biến đi được?

- Giống như người ta
định đoạt mọi thứ ở đời này. Bằng tiền bạc. Việc này tôi phải trả giá đắt lắm,
nhưng hắn đã đồng ý.

- Thế cậu phải trả bao
nhiêu? - Arthos hỏi, - Bởi vì cậu hiểu đấy, bây giờ chúng ta hoàn toàn không
còn là những anh chàng ngự lâm quân nghèo xác không nhà không cửa, cho nên
những việc chi tiêu của chúng ta là phải chung nhau.

- Tôi phải chi mười hai
nghìn livres. -
D’Artagnan đáp.

- Thế cậu đã kiếm đâu
ra được? - Arthos hỏi. - Cậu có đủ số tiền đó ư?

- À cái nhẫn kim cương
trứ danh của hoàng hậu ấy mà! - D’Artagnan thở dài đáp.

- A đúng thế? - Aramis
nói, - Tôi đã nhận ra nó ở ngón tay cậu.

- Thế cậu đã chuộc lại
nó ở ông des Essarts đấy à? - Porthos hỏi.

- Ồ, phải, lạy Chúa! -
D’Artagnan nói. - Nhưng thiên mệnh đã ghi rằng tôi không thể giữ gìn nó. Biết
làm thế nào? Người ta tin rằng kim cương nó cũng có thiện cảm và có ác cảm như
con người; dường như cái nhẫn nó ghét tôi.

- Nhưng nó lại rất hợp
với lão đao phủ. -
Arthos nói.

- Khốn thay, đao phủ
nào cũng có người phụ việc, người hầu, biết đâu đấy.

- Thì đao phủ này cũng
có đầy tớ đấy, nhưng chúng ta ăn may thôi.

- Thế là thế nào?

- Vào cái lúc tôi tưởng
mình sắp có một việc thứ hai phải thương lượng, thì người ta mang cái thằng đầy
tớ ấy về với một bên đùi gẫy.

Do quá hăng hái hắn đã
đi theo cỗ xe chở kèo cột đến tận cửa sổ nhà vua; một cái cột rơi và đè gẫy
chân hắn.

- A! - Aramis nói, -Thế
ra chính hắn đã thốt ra tiếng kêu mà tôi nghe thấy lúc đang ở phòng vua.

- Có thể lắm! -
D’Artagnan nói, - Nhưng vì là một người có thiện tâm, khi ra về hắn đã hứa là
sẽ cử đến nơi đến chốn bốn thợ giỏi và lành nghề để giúp sức những thợ đang
làm. Và khi về đến nhà chủ, mặc dù đang bị thương như thế, hắn lập tức viết cho
bác Tôm Lâu là một thợ mộc bạn hắn, dặn bác đến ngay cung Đại sảnh trắng để
hoàn tất lời hứa của hắn. Bức thư ấy đây, hắn thuê một người mang đi ngay, mất
mười xu và tôi đã phải mua lại mất một đồng louis.

- Thế cậu lấy bức thư
ấy làm gì? - Arthos hỏi.

- Thế anh không đoán ra
à. - D’Artagnan hỏi lại, cặp mắt lấp lánh thông minh.

- Xin thề là là tôi chịu
đấy.

- Thế này nhé, Arthos
thân mến! Anh nói tiếng Anh như đích thị Jôn Bun(1), anh là bác Tôm Lâu, còn ba
chúng tôi là ba thợ bạn. Bây giờ anh hiểu ra chưa?

(1) Biểu tượng của người Anh.

Arthos reo lên đầy vẻ
mừng vui và thán phục. Rồi anh chạy vào buồng lấy ra mấy bộ quần áo thợ thuyền;
cả bốn người mặc vào và ra khỏi khách sạn, Arthos mang một cái cửa, Porthos một
cái kìm, Aramis một cái rìu, D’Artagnan một cái búa và đinh.

Lá thư của gã đầy tớ
tên đao phủ chứng thực với bác thợ cả rằng họ đúng là những người mà bác đang
đợi.

Báo cáo nội dung xấu