Dàn nhạc đỏ - Phần II - Chương 19
Cuộc đời hai mặt của Trepper
Huyền thoại
về tình báo thật là dai dẳng… Điệp viên coi như trải qua lớp học trong một ngôi
trường để theo học những bí quyết của khoa học ít nhiều bí ẩn là khoa gián
điệp. Trên ghế của những trường đại học đặc biệt này, điệp viên tương lai học
khoa tình báo như những sinh viên khác học toán học vậy. Khi ra trường, anh
điệp viên đó được phát văn bằng và chàng tiến sĩ mới tốt nghiệp đó sẽ đi khắp
thế giới đem lí luận ra thử thách với thực tiễn. Người ta quên mất rằng quy
luật của tình báo không phải là những định lí hoặc những tiền đề và nói chung
chúng không viết trên sách.
Riêng cá
nhân Leopold Trepper không hề qua một lớp tình báo nào. Trong lĩnh vực này anh
chỉ là một điệp viên tự học. Trường tình báo của anh chính là cuộc đời chiến
đấu của anh. Chẳng có cái gì trang bị cho anh tốt hơn là hai mươi năm sôi động,
thường là bí mật, trước khi anh bước chân vào nghề tình háo. Để anh có thể chỉ
huy một lưới như Dàn Nhạc Đỏ, anh đã học khoa hí mật ở Ba Lan và tại Palestine.
Và những kinh nghiệm quý báu đó hơn bất cứ lớp tình báo nào trên trái đất này.
Cũng trường đời đã trải qua giúp cho những hạn thân quen lâu năm của Leopold
như Grossvogel hoặc Hillel Katz là hai người đã giữ những vai trò rất quyết
định về việc tổ chức và phát triển lưới tình báo này. Là chiến sĩ cộng sản, ba
người đã học hoạt động ở mọi nơi như cá trong nước. Nghề tình báo đòi hỏi sự
thoải mái cũng như óc sáng tạo. Khi Kent, một người tốt nghiệp trường đại học
tình báo, vào một sàn nhảy bình dân ở ngoại vi Paris và gọi một ấm trà, anh gây
ra những lời chế nhạo và nhất là thu hút sự chú ý. Ở trường người ta quên dạy
anh môn hòa mình vào môi trường.
Nguyên tắc
quý báu là đừng gây chú ý, là sống bình thường. Trong giai đoạn đó, vỏ bọc là
vô cùng quan trọng. Điệp viên phải nhập vai. Ở Brussels, Leopold không khoác
vai Adam Mikler, mà anh đã trở thành đúng là Adam Mikler. Ai quan sát kĩ và lâu
cũng không phát hiện được sự khác nhau nào giữa sinh hoạt của anh với sinh hoạt
của một trong những nhà kinh doanh khác khi gặp anh tại sở Giao dịch hoặc tại
hiệu ăn.
Lặng lẽ đi
vào thế giới đòi hỏi phải hiểu rất cặn kẽ đất nước, môi trường mình đang hoạt
động, nghề nghiệp mình đang đóng, với vai Adam từ Quebec tới Bỉ. Leopold có thể
tán hàng giờ về những vẻ đẹp của thành phố Montreal. Ở Brussels, có Luba và các
con bên cạnh, anh dễ hòa vào đời sống xã hội thủ đô này. Khi Đức gây chiến
tranh và chiếm đóng, anh càng phải tăng cường cảnh giác.
Bề ngoài,
cuộc sống của anh ở Paris không thay đổi. Ông Jean Gilbert, người hùn vốn của
công ty Simex, cư trú tại phố Fortuny hoặc phố Prony. Hàng xóm và người bảo vệ
chào ông kỹ nghệ gia Bỉ.
Ở hai nơi
này, Leopold sống một mình và ít tiếp khách. Bà bạn Georgie de Winter không đến
hai nơi này bao giờ. Bà đã rời Bỉ mùa thu năm 1941 và từ khi nước Hoa Kì tham
gia chiến tranh, bà sống dưới tên là Thevenet. Bà sống ở Pigalle và sau này
thuê một ngôi nhà ở Vesinet. Thông minh, kín đáo, bà chỉ biết rằng Leopold
chiến đấu chống quốc xã. Đôi khi Leopold có đến ngôi nhà phố Prony. Có một đêm
anh ở quá giờ giới nghiêm nên phải ngủ lại. Từ hôm đó, bà gác cổng vốn hòa nhã
và ân cần nay trở nên giận dỗi với anh. Hai hoặc ba tuần lễ sau, một bà đến
thăm anh. Hôm sau, bà gác cổng cười vui vẻ với anh. Thắc mắc, anh hỏi thì bà
trả lòi: “Ông Gilbert ạ, tôi coi ông là một con người đáng tôn trọng. Rồi người
đầu tiên đến ngủ tại nhà ông lại là một người đàn ông. Nhưng hôm qua tôi thấy
có một khách là đàn bà, tôi mới hết thắc mắc vì trước đó tôi cho rằng ông là
một con người bất bình thường…”
Jean
Gilbert mỗi tuần đến Simex mấy lần tại phố Champs Elysees (sau này chuyển về
phố Hosman). Trừ Leo Grossvogel, Alfred Corbin, Hillel Katz, và Suzanne Cointe,
những người làm thuê cho công ty đều không biết vai trò thực sự của Leopold.
Mọi người thấy anh chỉ là một nhà công nghiệp giải quyết các công việc. Tất
nhiên không được mang những cái gì có thể làm phương hại đến Simex và nhất là
không bàn đến công việc của lưới, vỏ bọc phải bảo vệ thật kín đáo. Khi kí những
hợp đồng quan trọng với bọn Đức, Grossvogel tổ chức những bữa cơm tối thân mật.
Những tay buôn của hãng Todt rất khoái ăn tại một hiệu Nga, hiệu Kornilov, và
thậm chí một hiệu ăn Do Thái do quân đội chiếm đóng giành riêng cho chúng.
Trước khi tới ăn tối như thế các đồng chí này đều phải chuẩn bị chu đáo, cẩn
thận vì rất căng thẳng, cho nên đều phải tợp một ngụm dầu ôliu hoặc một thìa bơ
đề phòng say xỉn… Đồ béo dã ruợu và giúp cho điệp viên ta sáng suốt và giữ được
tư cách đến cùng; có thế mới đương đầu được với những đối tác nguy hiểm. Anh
thợ may, thợ cắt tóc, chủ quán rượu, chủ khách sạn quen Leopold đều coi trọng
ông Gilbert, con người đàng hoàng, hút thuốc xì gà và phân phát tiền thưởng.
Đằng sau đó
là một con người khác, bao giờ cũng có mặt, đó là trưởng lưới Dàn Nhạc Đỏ Otto.
Giữa Gilbert và Otto, vách ngăn hoàn toàn kín mít; chính sự nhập nhằng giữa hai
vai trò mới nguy hiểm. Bỏi vì không ai có thể theo ông Gilbert khi ông đi vào
bóng tối.
Mỗi tuần
hai lần Leopold Trepper, tức Otto, tới một trong hai chục hoặc hai mươi nhăm
“nơi ẩn”, thường là một biệt thự ở ngoại ô mà Grossvogel đã lựa chọn, Katz và
Grossvogel đã thu thập các tin tức và tài liệu trong những ngày trước, mang đến
cho Leopold sắp xếp lựa chọn và làm báo cáo ngắn gọn, xúc tích, chia thành bốn
hoặc năm bức điện. Phải mất cả một ngày lao động. Một giao liên mang những bức
điện đó đến một mật mã viên; thường là Vera Ackermann, mã xong, Vera chuyển đến
Sokol phát lên không trung. Mỗi công đoạn đều bị ngăn cách cẩn thận. Thành viên
của lưới chỉ được biết cái gì cần biết mà thôi. Trong loại tổ chức này, liên
lạc là sinh tử; vì thế ngay từ đầu lưới tình báo đã rất quan tâm đến kỹ thuật
hẹn nhau, gặp gỡ.
An toàn
nhất là hai người gặp nhau trong môi trường tụ nhiên: như liên hệ giữa Luba và
Kent vào năm 1939 khi hai người còn cùng học đại học tự do ở Brussels. Hình
thức liên lạc ở trường học như thế thật là đặc biệt. Hai điệp viên hẹn gặp nhau
sẽ dời nơi cư trú trước giờ hẹn. Họ không la cà trên đường phố, mà đi thẳng vào
nhiệm vụ nhưng phải đi thật xa điểm hẹn. Về nguyên tắc họ dùng xe điện ngầm,
bao giờ cũng lên toa cuối và xuống trong số khách xuống cuối cùng để có thể
quan sát hành khách đi xuống. Hai người phải đổi xe và đùng thủ đoạn như trước,
cho đến khi nào thấy tuyệt đối không bị theo dõi. Hai giao liên sẽ vào một trạm
điện thoại đã quy ước để kiểm tra trong danh hạ có chữ quy ước đã gạch dưới
chưa; ví dụ, tên người thứ mười ở cột hai, đó là dấu hiệu đường thông. Cuộc gặp
chính cống có vẻ tình cờ, diễn ra không qúa vài giây ở hành lang xe điện ngầm.
Cũng có khi Leopold hẹn gặp nhau tại bể bơi, chỉ thuê hai cabin sát nhau, rèm
che không qúa cao. Rất dễ trao cho nhau tài liệu. Cũng có thể dùng cách này tại
những nhà vệ sinh trong quán cà phê hoặc hiệu ăn ít khách. Hai thành viên của
Dàn Nhạc Đỏ có thể gặp nhau tại rạp hát. Tất nhiên phải làm như không biết
nhau, nhưng tình cờ lại phải ngồi cạnh nhau (do một người thứ ba mua vé cho).
Những báo
cáo có thể trao cho nhau kín đáo đều viết trên giấy rất mỏng. Khi báo cáo quan
trọng lắm thì dùng mực bí mật viết xen vào bức thư bình thường. Khi chuyển giao
vật dụng thì dùng hộp thư chết, như gốc cây, chân tượng, một người đặt vật dụng
vào đó rồi đi, người khác đến cứ nhặt mang về. Về nguyên tắc không bao giờ dùng
điện thoại.
Tại
Brussels, Leopold có cho Kent một số điện thoại của anh và dặn chỉ dùng khi có
nguy cơ đặc biệt. Có một lần khi trở về nhà anh thấy Luba đang nói chuyện điện
thoại, thì ra Kent gọi về một chuyện vặt. Việc đó đã làm cho Leopold vô cùng
tức giận. Đối với anh, điện thoại trước hết chỉ là một phương tiện để kiểm tra.
Sau buổi phát sóng, Leopold thường gọi điện đến chỗ phát sóng, chỉ nghe tiếng
người quen trả lời là biết vẫn được an toàn. Leopold còn dùng một quy ước khác
là hỏi “Alô, có phải ông X ở đây không?” “Không, ông gọi nhầm rồi”. Có nghĩa
rằng: không có sự cố. Nếu quá cần thì Leopold dùng cách nói ngược ý mình, ví dụ
“Tôi đi xa Paris” nghĩa là “Tôi ở lại Paris”; “Tôi sẽ trở lại thứ hai”, nghĩa
là “Tôi sẽ về thứ bảy”. Không khi nào dùng ngày giờ chính xác. Dần dần kỹ thuật
liên lạc được cải tiến và đến năm 1941 đạt được trình độ tự động hoàn hảo. Bộ
máy chạy rất đều. Tuy nhiên tình báo viên cũng có những điểm yếu như những con
người khác, đôi khi khó hoặc rất tế nhị khi phải khắc phục. Như Alamo rất khoái
xe hơi. Về nguyên tắc DNĐ không mua xe hơi vì phải đăng kí, tránh tai nạn hoặc
bị chú ý. Leopold rất quí Alamo nên chiều lòng cho anh ta mua một xe. Alamo lái
xe thích chạy nhanh. Rượu cũng không đưọc uống, trừ khi công việc đòi hỏi. Cờ
bạc cũng vậy. Còn gì hại bằng một điệp viên suốt ngày đêm mê bài bạc. Tuy
nhiên, khó nhất vẫn là vấn đề đàn bà. Lại Alamo có hôm tâm sự với Leopold:
- Anh Otto
ơi, anh hãy nghe tôi nói này: tôi rất tuân lệnh anh, nhưng dù sao tôi không
phải là thầy tu.
- Thế ở
Moscow cấp trên dặn chú như thế nào?
- Người ta
cấm em quan hệ với phụ nữ.
- Vậy là
người ta đã thiến chú trước khi chú ra đi rồi. Làm theo gì chú muốn. Anh chỉ
dặn chú ba điều: tránh nhà thổ, đừng cuống cuồng lên, và không được léng phéng
với vợ bạn của chú!
Alamo đã
(gần như) giữ lời hứa.
Với một
người hoạt động bí mật, quan hệ với đàn bà là một nguồn phiền phức không lường
trước được. Ban ngày ta có thể kiềm chế được hành vi và lời nói, nhưng khi ngủ
làm sao tránh được nói mê bằng tiếng mẹ đẻ của mình? Đối với Leopold, tiếng nói
không có gì trở ngại. Khi nói tiếng Pháp, anh có một giọng nặng và chưa nắm
được hết những tinh tế của cú pháp, nhưng anh đóng vai một người Bỉ, những chi
tiết đó không khác thường. Nhưng với điệp viên khác, không hoàn toàn tránh khỏi
những bất ngờ. Có lần ở Brussels, Kent hớt hải đến gặp Leopold:
- Anh ơi,
em bị lộ rồi. Em điện thoại thuê nhà thì bị tay chủ nhà chất vấn em có phải là
người Nga không?
- Chú hãy
nhắc lại đúng như chú đã nói xem sao nào.
- Thưa ông,
chào ông….
- Thôi, đủ
rồi, - Leopold ngắt lời Kent. - Tay chủ nhà đó thường giao dịch với người Nga
nên biết người Nga rất khó phát đúng âm của từ “ông”.
Những sự cố
nhỏ như thế tuy không đáng lo ngại nhưng Leopold không thể yên tâm, vì chỉ một
sự cố nhỏ cũng có thể khiến mật thám Đức theo dõi.

