Cách Nền Kinh Tế Vận Hành - Chương 11

Làm thế nào để giải quyết khủng hoảng tài chính

Các phương thuốc mới sẽ tạo ra những điều xấu xa mới, vì thời gian chính là nhà sáng chế vĩ đại nhất.

Francis Bacon (tiểu luận Trong cung điện)

Lịch sử nền kinh tế thế giới từ sau Thế chiến II đã chứng kiến rất nhiều cuộc bùng nổ và khủng hoảng kinh tế. Tại Hoa Kì đã diễn ra liên tiếp 10 sự kiện như vậy, với tỉ lệ thất nghiệp giảm và GDP tăng trong chu kì 4-5 năm tăng trưởng kinh tế đan xen với các thời kỳ suy thoái ngắn với tỉ lệ thất nghiệp tăng lên trung bình khoảng 3,5%. Và mặc dù chu kỳ kinh tế ở các vùng khác nhau trên thế giới không phải luôn luôn tương đồng với nhau nhưng các nền kinh tế ở châu Âu cũng đều chứng kiến hiện tượng tương tự.

Trong tất cả các lần suy giảm kinh tế, ở mọi quốc gia, sự suy thoái này không hề tự nhiên biến mất: chúng đều cần đến một chút can thiệp từ phía chính quyền. Tại Hoa Kì, FED luôn luôn giảm lãi suất ngân hàng khi một cuộc suy thoái kinh tế xảy ra. Cuộc Đại suy thoái diễn ra không giống như vậy, đơn giản chỉ vì khi đó lựa chọn này không tồn tại. Vào năm 1934, lãi suất cơ sở (fed funds rate), lãi suất qua đêm và lãi suất qua đêm liên ngân hàng gần như bằng 0.

Theo lý thuyết chu kỳ kinh tế thực, lý thuyết kinh tế cơ bản nhất mà chúng ta dạy trong các trường đại học trong suốt 35 năm, thì tiền lương sẽ nhanh chóng được điều chỉnh để đảm bảo rằng số lượng công ăn việc làm được điều khiển bởi quy luật cung cầu của thị trường. Những người không kiếm được việc làm trong thời kỳ khủng hoảng tài chính đơn giản là vì họ đòi trả lương quá cao, và tỉ lệ thất nghiệp nên được xác định bởi một nhà lập kế hoạch nhân từ.

Tôi không phủ nhận rằng sự thay đổi đột ngột về năng suất lao động sẽ có tác động tới GDP. Nhưng Pigou vào năm 1929 đã liệt kê ra tới 6 nguyên nhân có thể ảnh hưởng tới chu kỳ kinh tế, trong đó ngoài yếu tố vừa kể trên 5 yếu tố còn lại cũng đóng vai trò rất quan trọng. Đáng lý việc sụt giảm tới một nửa nguồn cung dầu mỏ do cuộc chiến tranh Vùng Vịnh sẽ phải khiến các quốc gia nhập khẩu dầu mỏ bước vào một cuộc khủng hoảng kinh tế. Thế nhưng quy luật thị trường không phải là yếu tố duy nhất gây nên sự tăng vọt của giá dầu thế giới: tâm lý của nhà đầu tư cũng không kém phần quan trọng.

Tâm lý bất ổn của nhà đầu tư có thể phóng đại một sự biến động nhỏ được gây nên bởi quy luật thị trường và tạo nên sự hỗn loạn trên thị trường tài chính. Theo quan điểm của trường phái kinh tế cổ điển, một nhà đầu tư có cái đầu lạnh và đi ngược lại xu hướng của số đông nhà đầu tư khác trên thị trường có thể giúp nền kinh tế được phục hồi và mọi người đều có công ăn việc làm. Một nhà đầu tư có tầm nhìn dài hạn như vậy hẳn sẽ kiếm được nhiều lợi nhuận bằng hành động nói trên. Trong cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, chúng ta đã không thấy bất kỳ nhà đầu tư nào như trên xuất hiện. Lý do đơn giản là vì khi đó, không tồn tại một định nghĩa thống nhất về việc khi nào hiện tượng không còn nạn thất nghiệp xảy ra. Bàn tay vô hình hẳn đã bị liệt.

ĐIỀU Gì ĐÃ XẢY RA VÀO NĂM 2008

Trong cuộc khủng hoảng năm 2008, nền kinh tế thế giới nhanh chóng rơi vào trạng thái thất nghiệp tràn lan và sự thịnh vượng xuống thấp. Hiện tượng này xảy ra khi người dân bắt đầu mất lòng tin vào giá trị của các tài sản được đảm bảo bởi thị trường thế chấp bất động sản dưới chuẩn (subprime mortgage market). Việc không thể định giá được các tài sản trên đã châm ngòi cho một sự đổ vỡ niềm tin và gây ra sự hoảng loạn cho các nhà đầu tư trên khắp thế giới.

Thực tế, giá trị các cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán Hoa Kì vào đầu năm 2009 đã được tính toán và xác định một cách cẩn thận dựa trên lịch sử trước đó của chỉ số giá trên lợi nhuận (price earnings ratios). Nhưng các nhà đầu tư khi đó vẫn lo ngại rằng giá trị của các cổ phiếu có thể sẽ còn thấp hơn nhiều. Vào mùa hè năm 2008, chỉ số Dow Jones dao động ở mức 12.000 điểm, nhưng đến tháng 2 năm 2009, chỉ số này đã giảm xuống mức 8.000 điểm. Nếu chỉ số Dow Jones còn tiếp tục giảm xuống, những dự báo giảm điểm trước đó sẽ trở thành sự thực, và các tổ chức tài chính lẫn phi tài chính sẽ rơi vào trạng thái vỡ nợ ở mức kỷ lục.

Phần lớn các nhà kinh tế lẫn nhà báo tài chính đều tin rằng vào năm 2008 chúng ta đã rơi vào một cuộc khủng hoảng về tính thanh khoản. Các cuộc tranh luận tại Washington, Frankfurt, Tokyo và London đều cho thấy chúng ta cần phải phá băng thị trường tín dụng. Nhưng nhiều nhà quan sát đã chỉ ra một thực tế là các ngân hàng đầu tư và các tổ chức tài chính khi đó đều nhận tiền từ ngân hàng trung ương quốc gia, nhưng lại từ chối cho các tập đoàn vay vốn. Trên thực tế, chiến lược giữ lại nguồn vốn hỗ trợ của các ngân hàng khi đó là hoàn toàn hợp lý.

Các ngân hàng vào thời điểm năm 2009 đều lo ngại về việc thị trường có thể giảm sâu hơn nữa. Nếu giá trị của các tài sản như nhà đất, xí nghiệp hay máy móc tiếp tục giảm xuống, các khoản vay dành cho các doanh nghiệp khi đó sẽ không thể hoàn lại và các ngân hàng sẽ tiếp tục chìm sâu vào khủng hoảng. Vào tháng 2 năm 2009, mọi người đều ở trong trạng thái chờ đợi vì lo ngại mọi việc có thể tệ hơn rất nhiều.

MỘT ĐÒN BẨY CHÍNH SÁCH MỚI

Từ năm 1951 đến nay, FED luôn phản ứng với các cuộc khủng hoảng kinh tế bằng cách giảm lãi suất ngân hàng. Mặc dù các ngân hàng trung ương luôn làm rất tốt công việc ngăn chặn không cho các cuộc khủng hoảng kinh tế lớn có thể xảy ra nhưng cho đến tận ngày nay các nhà đề xuất chính sách đều hiểu sai về bản chất công việc của họ. Các nhà đề xuất chính sách tại các ngân hàng trung ương đều tin rằng trong dài hạn họ có thể tác động được tới tỉ lệ lạm phát, nhưng họ sẽ không tác động được gì tới tỉ lệ thất nghiệp trong nước. Chuyện chính sách tài khóa có thể tác động được đến tỷ lệ lạm phát trong dài hạn là điều chúng ta đều đã biết, nhưng lí thuyết xuyên suốt nhất được tôi chỉ ra trong cuốn sách này còn cho thấy các ngân hàng trung ương cũng có thể tạo ra những ảnh hưởng rõ rệt tới tỉ lệ thất nghiệp nữa.

Thông thường, một ngân hàng trung ương quản lý hai đòn bẩy về chính sách kinh tế chính. Thứ nhất là họ có thể kiểm soát được độ lớn của bảng cân đối tài chính, điều quyết định tới số lượng tiền được luân chuyển trong nền kinh tế. Đòn bẩy thứ hai là thành phần cấu thành bảng cân đối tài chính của họ. Từ trước đến nay, các ngân hàng trung ương vẫn sử dụng vàng như là đối tượng dự trữ chủ yếu, nhưng gần đây các khoản nợ chính phủ cũng đã bắt đầu được họ sử dụng. Với sự ra đời của chính sách lạm phát mục tiêu (inflation targeting) vào những năm 1980, các ngân hàng trung ương đã học được cách thức hiệu quả trong việc dùng yếu tố đòn bẩy thứ nhất để kiểm soát lạm phát. Và cho đến tận gần đây họ mới bắt đầu thử nghiệm với yếu tố đòn bẩy thứ hai. Điều này cũng hơi giống với việc bạn học cách đánh bánh lái để điều khiển con thuyền, nhưng lại không biết làm thế nào để nâng hay hạ cánh buồm vậy.

Vào tháng 11 năm 2008, FED và Ngân hàng Anh bắt đầu tìm cách sở hữu thêm các loại tài sản khác theo lộ trình thực hiện chính sách nới lỏng định lượng (quantitative easing). Đây là một hướng đi đúng đắn, nhưng như vậy là chưa đủ. Đã đến lúc họ phải mở rộng phạm vi hoạt động bằng cách can thiệp trực tiếp vào thị trường tài sản thông qua các chính sách để tác động không chỉ tới lãi suất ngân hàng trong ngắn hạn. Cụ thể, bên cạnh việc sử dụng quy mô của bảng cân đối tài chính để thay đổi lãi suất ngân hàng và tỉ lệ lạm phát mục tiêu, họ cũng nên sử dụng các thành tố cấu thành bảng cân đối tài chính của họ nhằm thay đổi giá trị của các tài sản và tỉ lệ thất nghiệp. Các ngân hàng trung ương không nhất thiết phải thực hiện việc này bằng cách trực tiếp mua quyền biểu quyết tại từng doanh nghiệp. Cách tốt hơn là cho phép đầu tư vào các quỹ chỉ số (index fund).

CHỈ SỐ CHỨNG KHOÁN VÀ QUỸ ĐẦU TƯ CHỈ SỐ

Chỉ số chứng khoán là một con số được tính bằng cách lấy bình quân giá của một số mã chứng khoán nhất định. Việc đó dẫn tới việc tồn tại của rất nhiều loại chỉ số chứng khoán, do số lượng và mức độ quan trọng của các mã chứng khoán được chọn ra để tính chỉ số là khác nhau. Một số chỉ số chứng khoán coi mọi mã chứng khoán có mức độ quan trọng ngang nhau, một số khác thì coi trọng mã của các doanh nghiệp lớn nhiều hơn. Một số chỉ số chứng khoán nổi tiếng có thể kể đến như chỉ số công nghiệp Dow Jones, S&P 500, Wilshire 500 của Hoa Kì, FTSE 100 của Anh hay Nikkei của Nhật Bản. Ban đầu, các chỉ số chứng khoán sẽ được chỉ định ở mốc 100 điểm. Mốc điểm này được xác định bằng cách chọn và đánh giá mức độ quan trọng của từng mã chứng khoán niêm yết sao cho kết quả nhận được là 100.

Để giải thích cụ thể hơn, hãy giả định là chúng ta đang trong quá trình tạo ra một loại chỉ số chứng khoán mới có tên Farmcr Big 3, gồm 3 loại cổ phiếu của Wal-Mart, Microsoft và Apple. Vào ngày mồng 10 tháng 2 năm 2009, các cổ phiếu trên được giao dịch ở mức giá tương ứng là 47,8, 19,17 và 98,74 đô la một cổ phiếu. Giá trị của một doanh nghiệp có thể được xác định bằng cách lấy giá niêm yết nhân với số lượng cổ phiếu đang được niêm yết, và có thể được gọi dưới cái tên khác là giá trị vốn hóa thị trường của một doanh nghiệp. Theo đó, vào ngày mồng 10 tháng 2 năm 2009, giá trị vốn hóa của Wal-Mart là 187 tỉ đô la, Microsoft là 170 tỉ đô la và Apple là 88 tỉ đô la. Tổng giá trị vốn hóa của ba doanh nghiệp nói trên là 445 tỉ đô la, trong đó Wal-Mart chiếm 42%, Microsoft chiếm 38% và Apple chiếm 20%. Các con số này được thể hiện trong Hình 11.1.

Chỉ số Farmer Big 3 xuất hiện lần đầu vào ngày mùng 10 tháng 2 năm 2009, theo đó giá trị khởi điểm của nó vào ngày hôm đó là 100 điểm. Giả sử sang ngày hôm sau, cổ phiếu của Wal-Mart và Microsoft vẫn tiếp tục được giao dịch ở mức 47,8 và 19,17 đô la một cổ phiếu nhưng giá cổ phiếu của Apple giảm một nửa trong ngày hôm đó xuống còn 49,37 đô la. Giá cổ phiếu Wal-Mart và Microsoít không thay đổi còn của Apple thì giảm 50%. Vì cổ phiếu Apple chỉ chiếm 20% giá trị của chỉ số Farmer Big 3, nên chỉ số này sẽ giảm ở mức 50% của 20% hay là 10%. Giá một cổ phiếu Apple sẽ chỉ còn 90 đô la một cổ phiếu vào ngày hôm đó.

Có thể thấy, chỉ số chứng khoán là một thước đo cho chúng ta biết nói chung các mã chứng khoán đang lên hay xuống.

Tuy vậy, không phải nhà đầu tư nào cũng có động lực hay thời gian để theo dõi thường xuyên xu hướng thị trường và thực hiện giao dịch. Họ có thể nhờ các quỹ đầu tư tương hỗ (mutual fund) để giúp mình quản lý danh mục đầu tư. Cho đến tận gần đây, các quỹ đầu tư tương hỗ vẫn được quản lí thường xuyên bởi các chuyên gia tài chính. Các chuyên gia này sẽ quyết định cấu thành danh mục đầu tư hằng ngày cho các nhà đầu tư chứng khoán.

Tuy vậy, đến năm 1975, John Bogle, người sáng lập của Vanguard đã giới thiệu một ý tưởng hoàn toàn mới tới thị trường chứng khoán: quỹ đầu tư chỉ số (index fund) được ra đời. Về bản chất đây là một quỹ đầu tư tương hỗ, nhưng các mã cổ phiếu được chọn trong danh mục đầu tư sẽ tỉ lệ với một tỉ trọng cố định từ chỉ số chứng khoán và cả các tài sản nợ được đảm bảo bởi cổ phiếu của các nhà đầu tư. Quỹ đầu tư chỉ số đầu tiên là Vanguard, với số tài sản ban đầu là 11 triệu đô la. Đến năm 1999, tài sản của quỹ này đã lên tới hơn 100 tỉ đô la.

KẾ HOẠCH NGĂN NGỪA SỰ SỤP ĐỔ VÀ TÌNH TRẠNG BONG BÓNG

Giá trị của các cổ phiếu đơn lẻ luôn tăng và giảm theo quy luật của thị trường. Việc tìm ra một mỏ dầu mới sẽ giúp giá trị của công ti tìm ra nó tăng lên. Một cuộc thử tên lửa thành công của Bắc Hàn sẽ giúp cổ phiếu của công ti cung cấp tên lửa đó tăng lên. Việc tìm ra một loại vắc xin mới sẽ làm giàu cho công ti sản xuất chúng. Trong khi đó, một số quy luật thị trường sẽ khiến cổ phiếu của mọi công ti thay đổi. Ví dụ, nếu một chính phủ với các dự định tăng thuế được bầu lên, cổ phiếu của mọi công ti sẽ giảm, do giá trị cổ tức sau thuế sẽ bị giảm sút.

Quy luật thị trường không phải yếu tố duy nhất khiến thị trường thay đổi. Giá trị các mã cổ phiếu đơn lẻ có thể thay đổi do chịu ảnh hưởng của yếu tố tâm lý của các nhà đầu tư, và không dễ để có thể phân biệt được giá trị cổ phiếu thay đổi là do yếu tố tâm lý hay là do quy luật thị trường. Công nghệ nano sẽ làm thay đổi giá trị của các mã cổ phiếu hiện nay trong 5 năm nữa ra sao? Sự bùng nổ của Internet sẽ ảnh hưởng tới các doanh nghiệp trong 10 năm tới thế nào? Máy tính có thể sẽ trở nên thông minh hơn con người hay không? Những ví dụ nói trên đều có thể tạo ra những tác động lớn lao tới giá cổ phiếu và cổ tức trong tương lai, nhưng sẽ không dễ dàng để có thể định lượng được các tác động đó.

Và bởi vì mức độ thịnh vượng và nhu cầu tiêu dùng có mối quan hệ mật thiết với nhau, và đều ảnh hưởng tới tỉ lệ thất nghiệp, do đó một niềm tin chưa có cơ sở về cổ tức trong tương lai đều có khả năng trở thành hiện thực. Bằng cách giữ ổn định các biến động của thị trường, cả khi thị trường lên và xuống, các ngân hàng trung ương có thể ngăn ngừa những ảnh hưởng tiêu cực mà những sự biến động đó có thể tạo ra với nền kinh tế. Điều phối dựa trên hoạt động của các quỹ đầu tư chỉ số là cách lý tưởng nhất để thực hiện việc này, và các ngân hàng trung ương cũng không cần nắm giữ cổ phần trong các doanh nghiệp tư nhân.

THIẾT LẬP MỘT CHỨNG CHỈ QUỸ

Để thực hiện kế hoạch này, đầu tiên chúng ta cần xác định ra một loại chỉ số mới để các quỹ đầu tư chỉ số có thể dùng để tham chiếu. Bởi vì mọi hình thức tài sản trong một quốc gia đều nằm trong mục tiêu tích hợp, do đó chỉ số này cần bao quát tất cả các công ti hiện đang niêm yết trên thị trường. Tuy nhiên để ngăn chặn việc một số công ti nhỏ với số lượng đông đảo có thể gây ảnh hưởng lớn tới độ chính xác, mỗi công ti phải được gán một mức tỉ trọng khác nhau. Các công ti có giá trị vốn hóa lớn và nhiều nhân viên phải có tỉ trọng lớn hơn. Tiếp đó, cũng cần tới một số quy định nhằm điều chỉnh tỉ trọng của các công ti một cách thường xuyên để chí số có thể phản ánh tốt nhất các thực tế: giá trị của một số công ti có thể tăng hay giảm hay có một số công ti mới thành lập. Sau khi hoàn tất việc định nghĩa chỉ số trên, các công ti đầu tư tư nhân như Vanguard hay Fidelity sẽ được khuyến khích để tạo ra các quỹ đầu tư chỉ số với danh mục đầu tư dựa trên mức tỉ trọng và danh sách công ti có trong chỉ số. Các quỹ đầu tư trên có thể mua cổ phần của các công ti tư nhân và giữ chúng dưới dạng tài sản. Họ cũng có thể tạo ra các công cụ tài sản nợ bù trừ (off setting liabilities) và bán chúng cho các nhà đầu tư trên thị trường.

Khi thị trường đã được định hình dựa trên chỉ số chứng khoán mới, lúc này các ngân hàng trung ương có thể mua các chứng chỉ quỹ đầu tiên với mức giá thị trường. Ở Hoa Kì, bảng cân đối tài chính của FED vào cuối năm 2008 là 800 tỉ đô la và một con số tương tự được dùng vào việc mua các chứng chỉ quỹ có thể được xem là một sự khởi đầu tốt. Để kế hoạch có thể diễn ra tốt đẹp, hành động can thiệp vào thị trường chứng khoán của các ngân hàng trung ương phải độc lập với chức năng quản lý nguồn tiền của các cơ quan này. Sự độc lập này có thể đạt được thông qua việc các ngân hàng cho vay các khoản vay được bảo đảm bởi Ngân khố quốc gia với lãi suất bằng 0 trong vòng 3 tháng.

KÉO ĐÒN BẨY

Thông thường, sau khi được ngân hàng trung ương chọn ra, lãi suất ngân hàng sẽ có hiệu lực áp dụng trong khoảng thời gian từ 1 đến 2 tháng. Mỗi năm, ủy ban Thị trường mở của FED sẽ tổ chức họp 8 lần, và lãi suất ngân hàng 6 tuần kế tiếp sẽ được xác định trong các cuộc họp này. Để giữ cho tỉ lệ này được ổn định, FED sẽ thông qua việc mua bán trái phiếu ngắn hạn của Ngân khố quốc gia để đổi lấy tiền mặt. Cùng lúc, FED cũng sẽ công bố dự đoán về giá của các chứng chỉ quỹ đầu tư chỉ số trong tương lai và sẵn sàng mua hoặc bán liên tục các chứng chỉ này ở mức giá vừa công bố. Nói cách khác, các ngân hàng trung ương có thể công bố rằng họ sẽ bắt đầu thực hiện các giao dịch chứng chỉ từ quỹ đầu tư chỉ số một tuần sau khi cuộc họp kết thúc với mức giá giao dịch là 120 điểm và điều chỉnh mức giá hằng ngày để duy trì được tốc độ tăng giá 3% một năm. Nếu chỉ số hiện tại đang đạt 100 điểm, các nhà quản lý quỹ sẽ có nhiều động cơ để mua thêm cổ phiếu nhằm đẩy mức điểm của chỉ số tăng lên mốc mà ngân hàng trung ương công bố sẽ sẵn sàng giao dịch.

Nếu thực hiện kế hoạch này, liệu ngân sách có bị ảnh hưởng hay không? Câu trả lời cho câu hỏi trên là điều đó rất khó xảy ra. Thường thì các ngân hàng trung ương sẽ không sử dụng tiền lãi sinh ra từ các tài sản mà họ nắm giữ để đi trả nợ. Số tiền lãi này sẽ được dùng để trả cho chi phí vận hành, và phần còn lại được chuyển vào Ngân khố quốc gia. Trong khi đó, các quỹ đầu tư chỉ số sẽ phải trả cho ngân hàng trung ương một mức phí tương đương với tiền lãi cổ tức sinh ra từ các danh mục đầu tư để bù đắp chi phí cho hoạt động bình ổn thị trường của cơ quan này. Do đó ngân hàng trung ương luôn sở hữu một dòng tiền dương hằng tháng. Ngoài ra, khi thực hiện kế hoạch nói trên, các ngân hàng trung ương cũng phải chi bớt một phần trong khoản tiền lãi của mình để đảm bảo yếu tố an ninh cho việc mua bán chứng chỉ quỹ trong trường hợp cần thiết. Để đảm bảo hoạt động, dòng tiền ra và dòng tiền vào của cơ quan này cần phải tương đương nhau.

Theo con số được ghi nhận, thị trường chứng khoán Hoa Kì thường mang lại nguồn thu tốt hơn so với việc mua bán trái phiếu ngắn hạn của Ngân khố khoảng 5%. Không nhiều người dân hiểu khoản chênh đó do đâu mà có, nhưng các nhà kinh tế thì cho rằng nó xuất phát từ bản chất rủi ro của việc nắm giữ cổ phiếu, đặc biệt là những rủi ro mang tính hệ thống đã dẫn tới sự sụp đổ của thị trường năm 2008. Mặc dù các đề xuất nhằm bình ổn thị trường của tôi vừa nêu có thể xóa bỏ các rủi ro mang tính hệ thống này, nhưng khi đó khoản chênh về nguồn thu từ thị trường chứng khoán và Ngân khố nói trên cũng có thể sẽ biến mất. Thay vào đó thì tiền lãi từ thị trường chứng khoán có thể sẽ giảm và lãi suất ngân hàng trên trái phiếu ngắn hạn của Ngân khố quốc gia sẽ tăng. Và bởi vì các ngân hàng trung ương thường mua chứng chỉ quỹ ở thời điểm thị trường định giá các chứng chỉ này rất thấp, do đó trong dài hạn, nó có thể mang lại một nguồn thu lớn đủ để bù đắp chi phí vận hành.

CÁC NGÂN HÀNG CẦN ĐƯỢC ĐIỀU CHỈNH THEO CÁCH THẾ NÀO

Ý tưởng về việc sử dụng các quỹ đầu tư chỉ số để tăng cường giá trị tài sản còn có thể mang lại nhiều lợi ích tiềm năng khác. Phiên bản đơn giản hơn của ý tưởng này có thể được thực hiện thông qua việc ngân hàng trung ương bơm thêm vốn vào lĩnh vực ngân hàng nội địa nhưng lại không nhất thiết phải sở hữu hay quốc hữu hóa các ngân hàng đó. Việc này có thể được thực hiện ra sao?

Có thể nói, cách thực hiện này có thể được coi là một phần mở rộng của kế hoạch ổn định thị trường trên, khi ngân hàng trung ương chỉ mua và bán một số lượng mã cổ phiếu giới hạn thay vì mua và bán cổ phiếu của toàn bộ mã trên thị trường. Nó bao gồm 4 bước chính.

Đầu tiên là cần xác định ra một quỹ đầu tư chỉ số bao gồm tất cả các mã cổ phiếu của các ngân hàng đã được niêm yết trên thị trường. Tỉ trọng của các mã chứng khoán của từng ngân hàng sẽ được xác định dựa trên giá trị vốn hóa ban đầu. Bên cạnh đó, cũng cần thêm một quy tắc cho phép các tỉ trọng nói trên có thể thay đổi một cách thường xuyên.

Thứ hai là cần cho phép các tổ chức tài chính tư nhân có thể tạo và trao đổi các chứng chỉ của quỹ đầu tư chỉ số nói trên. Họ có thể mua cổ phiếu của các ngân hàng và sở hữu chúng như một loại tài sản và có thể bán các chứng chỉ dưới hình thức tài sản nợ.

Thứ ba, ngân hàng trung ương cần sở hữu những chứng chỉ đầu tiên từ quỹ chỉ số mới thành lập trên và thông qua khoản nợ ngắn hạn không lãi suất được đảm bảo bởi Ngân khố quốc gia.

Cuối cùng, tại mỗi cuộc họp của ủy ban chính sách tiền tệ quốc gia, ngân hàng trung ương cần công bố một mức giá và tốc độ gia tăng của mức giá này. Ngân hàng trung ương phải luôn luôn sẵn sàng mua bán các chứng chỉ quỹ chỉ số ở mức giá được công bố này trong vài tuần tiếp theo.

Thực tế, các ngân hàng vào thời điểm tháng 1 năm 2009 đều bị định giá thấp hơn giá trị thực vì lúc đó không tồn tại một thị trường cho phép giao dịch các “tài sản nguy hại” mà họ đang nắm giữ. Tuy nhiên, nếu ý tưởng tôi vừa trình bày được áp dụng, thì thị trường chứ không phải các ngân hàng trung ương sẽ là người định giá các tài sản đó. Giá tương đối của cổ phiếu các ngân hàng theo đó cũng được xác định bởi thị trường, chứ không phải bởi ngân hàng trung ương. Nó sẽ tăng hoặc giảm dựa trên các thông tin mới về giá trị các tài sản ngân hàng được công bố. Nếu một ngân hàng được phát hiện đang sở hữu một tỉ lệ các tài sản xấu ở mức bất thường, dòng vốn của thị trường sẽ tự động chuyển tới các ngân hàng được quản lý tốt hơn. Nếu một ngân hàng mới được thành lập và cho thấy khả năng quản trị tốt, dòng vốn từ thị trường cũng sẽ chuyển sang ngân hàng mới này và các ngân hàng cũ sẽ mất dần giá trị hoặc thậm chí là phá sản.

Hướng tiếp cận này so với hướng tái cấp vốn xen kẽ đang được xem xét có những lợi thế nào? Đầu tiên, nó không tốn một chút tiền thuế nào. Thứ hai, nó cho phép thị trường tự định giá các tài sản. Thứ ba, nó trừng phạt các ngân hàng có khả năng quản lý kém bằng cách có thể khiến các ngân hàng này sụp đổ mà không ảnh hưởng gì tới hệ thống tài chính. Cuối cùng, nó khuyến khích việc các tổ chức tài chính mới được thành lập nhằm thay thế các tổ chức cũ hoạt động kém hiệu quả.

Vào năm 2008, hệ thống tài chính thế giới không đơn giản chỉ là rơi vào trạng thái kém thanh khoản mà rất có thể đã phá sản. Nguyên nhân của việc này không phải đến từ các quy luật thị trường mà đến từ tâm lí của các nhà đầu tư tham gia thị trường.

Các cuộc khủng hoảng tài chính có thể kéo theo việc nhiều người lợi dụng thời điểm khó khăn này để trục lợi cho bản thân và ảnh hưởng xấu đến tình hình chung. Thật vậy, khi GDP ở mọi quốc gia giảm sút và không phản ánh đúng tiềm năng của nền kinh tế thì hoạt động quản lý kinh tế không còn là một cuộc chơi được mất có tổng bằng không nữa. Và bằng cách ngăn chặn sự sụp đổ của hệ thống tài chính thế giới, chúng ta có thể chuyển hướng nền kinh tế ra khỏi một trạng thái cân bằng tồi tệ và trở lại đúng quỹ đạo thông thường. Tuy vậy, các chính trị gia và người lãnh đạo các ngân hàng trung ương cần phải có tư duy ra ngoài khuôn khổ chiếc hộp để có thể thực hiện được việc này.

TÓM TẮT VỀ CÁC LẬP LUẬN CỦA TÔI

Một nhược điểm cố hữu của nền kinh tế thị trường là nó không thể cung cấp chi phí, thời gian cần thiết để mọi người đều có thể tìm được công ăn việc làm một cách hiệu quả. Chính sự thiếu hụt thông tin đó đã khiến nền kinh tế thị trường có thể bị mắc kẹt với một tỉ lệ thất nghiệp rất cao và tồn tại trong một thời gian dài.

Số lượng các nhân công được tuyển thì phụ thuộc vào nhu cầu của người tiêu dùng dành cho các mặt hàng được sản xuất bởi các doanh nghiệp. Nhu cầu này lại phụ thuộc vào mức độ giàu có của người dân.

Khi mức độ này thay đổi, tỉ lệ thất nghiệp cũng sẽ thay đổi theo. Mức độ giàu có của các hộ dân lại phụ thuộc vào việc họ tin vào điều gì. Niềm tin sẽ quyết định tới mức độ giàu có!

Như vậy, với mỗi mức độ tin tưởng về mức độ giàu có của người dân, sẽ tồn tại một tỉ lệ thất nghiệp tương ứng, và kéo theo đó là một mức giá nhất định dành cho nhà đất, công xưởng và máy móc. Giá trị của các tài sản vật chất cuối cùng phụ thuộc vào niềm tin về giá trị tương lai của chúng đến từ những người tham gia vào thị trường.

Các chính sách tài khóa và tiền tệ (fiscal monetary) đều không thể khiến tỉ lệ thất nghiệp có thể giảm xuống trừ phi các chính sách trên có thể phục hồi niềm tin của nhà đầu tư vào thị trường chứng khoán. Tuy nhiên không có gì đảm bảo rằng việc đó sẽ xảy ra. Vào mùa hè năm 2009, rất nhiều nhà kinh tế đã dự đoán rằng nền kinh tế của Anh và Hoa Kì có thể sẽ phục hồi và tăng trưởng trở lại vào quý 3 và quý 4 cùng năm đó. Tuy nhiên không ai dự đoán được khi nào tỉ lệ thất nghiệp có thể giảm xuống.

Khi khủng hoảng kinh tế xảy ra năm 2008, các nhà dự báo kinh tế ở mọi quốc gia trên thế giới đều sẽ phải điều chỉnh lại dự báo trước đó của mình về tỉ lệ thất nghiệp tự nhiên do khủng hoảng kinh tế có thể khiến rất nhiều người bị mất việc làm. Các ngân hàng trung ương khi đó sẽ bị buộc phải tăng lãi suất ngân hàng nội địa nhằm ngăn chặn lạm phát có thể bùng nổ.

Theo quan điểm của cả trường phái kinh tế truyền thống và trường phái kinh tế theo Keynes, các ngân hàng trung ương đã làm một việc đúng đắn. Họ tin rằng tỉ lệ thất nghiệp leo thang là hệ quả của việc thay đổi đột ngột của các quy luật thị trường trong nền kinh tế. Theo một khía cạnh nào đó, họ đã nhận định chính xác. Tuy nhiên, quy luật thị trường thay đổi khi đó là do niềm tin của người tham gia thị trường chứng khoán biến động. Niềm tin này thì không phụ thuộc vào các chính sách của chính phủ.

Biện pháp đối phó phù hợp nhất trong tình huống này là thiết lập các tổ chức có thể bình ổn giá trị các cổ phiếu niêm yết trên thị trường trong nước thông qua hình thức kiểm soát tốc độ tăng trưởng của các chứng chỉ quỹ đầu tư chỉ số. Việc các ngân hàng trung ương tham gia, phối hợp với các chính sách tiền tệ có sẵn là cách lý tưởng nhất để thực thi biện pháp này. Các ngân hàng trung ương đồng thời cũng nên sử dụng quy mô của bảng cân đối tài chính của mình để ngăn chặn tỉ lệ lạm phát có thể tăng quá cao hay xuống quá thấp. Họ cũng nên sử dụng các yếu tố cấu thành bảng cân đối tài chính của mình để ngăn ngừa các vụ sụp đổ hay bong bóng có thể xảy ra.

GIỮA KEYNES VÀ HAYEK

Nền kinh tế vận hành trên nền tảng thị trường tự do là ý tưởng có khả năng lây lan rất mạnh, và rất thường khi điều đó là tốt. Và trong những năm 1940, mô hình xã hội chủ nghĩa được thử nghiệm tại Liên bang Xô viết và Trung Quốc có nhiều tiềm năng trở thành một mô hình xã hội ưu việt hơn mô hình tư bản chủ nghĩa. Cuối năm 1956, Kruschev thậm chí đã có thể tuyên bố: “Chúng tôi sẽ chôn vùi các ông”. Tại châu Âu thời hậu chiến, chủ nghĩa xã hội bước vào thời kì hưng thịnh của mình. Phần lớn các trí thức lúc đó đi theo một ý tưởng duy lý rằng một nền kinh tế tập trung sẽ hoạt động hiệu quả hơn tính vô chính của thị trường tự do.

Vào thời điểm đó, tiếng nói của Friedrich von Hayek, một nhà kinh tế gốc Áo phải rời bỏ quê hương mình vì nạn phát xít, là vô cùng đơn độc và lạc lõng. Hayek dành phần lớn thời gian trong sự nghiệp của mình tại Đại học Kinh tế London. Vào năm 1944, ông viết một cuốn sách quan trọng có nhan đề Đường về nô lệ với những quan điểm bảo vệ thị trường tự do khi cho rằng một nhà hoạch định xã hội sẽ không bao giờ có thể có đầy đủ thông tin về sở thích của mọi người hay hiểu biết về từng vùng địa phương để có thể đưa ra những quyết định đúng đắn*. Những ý tưởng của Hayek đã ảnh hưởng rất lớn tới công cuộc cải cách của Reagan và Thatcher, và là một lực đẩy gây nên sự sụp đổ của nhiều quốc gia theo mô hình xã hội chủ nghĩa sau này.

Hayek và Keynes đã từng là bạn bè, mặc dù họ không đồng quan điểm với nhau về lĩnh vực kinh tế. Hayek là một người bảo vệ mãnh liệt cho ý tưởng về thị trường tự do. Keynes thì tin vào vai trò của giới trí thức trong việc khiến thế giới không bị thao túng bởi chủ nghĩa toàn trị. Trong cuốn sách này, tôi đã cố gắng đi dây trên hai quan điểm cực đoan nói trên. Thực sự thì ý tưởng về thị trường tự do có nhiều điều đáng để ngưỡng mộ. Nó chính là động cơ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ nhất mà con người từng biết tới. Nhưng chúng ta đã sống trong một thị trường không có tự do trong ít nhất cả thế kỉ rồi. Do đó câu hỏi được đặt ra không phải có nên quản lý thị trường tự do hay không, mà là sử dụng cách thức quản lý nào cho hiệu quả. Càng trải nghiệm nhiều về thị trường tự do, chúng ta sẽ càng hiểu hơn cả khía cạnh tại sao nó có thể vận hành tốt và tại sao thi thoảng nó thất bại. Qua đó, tôi hi vọng rằng chúng ta có thể học được cách quản lý nền kinh tế mà chúng ta đang sống mà không giết hại con gà đang đẻ trứng vàng.

Hayek (1944) ↩

“Tiếng nói phê phán mạnh mẽ nhất về cơ chế kinh tế xã hội chủ nghĩa và chính quyền xã hội chủ nghĩa tôi đã đọc gần đây (vào cuối những năm 1940), và khiến tôi đọc đi đọc lại nhiều lần chính là Đường về nô lệ của F.A. Hayek”. Thatcher (1995, trang 50). ↩

Tường thuật trên kênh MSNBC vào ngày 20/12/2006 (http://www.msnbc.msn.corn/id/16299324). ↩

Xem thêm trong bài bình luận số tháng 1/2009 của Tạp chí Reason (http://www.reason.com/news/printer/130348.html). ↩

Mackay (1841). ↩

Tobin (2008). ↩

Barro (2009), Taylor (2009). ↩

Xem thêm bài xã luận của tôi đăng trên Thời báo tài chính, “Tại sao Keynes lại đúng, tại sao Keynes sai và tại sao điều này là quan trọng”, Diễn đàn các nhà kinh tế học của Thời báo tài chính, 27/5/2009. ↩

“Lời tiên tri tự đúng” là một dự đoán mà sau đó sự việc diễn ra y như vậy. Thuật ngữ này được đưa ra bởi nhà xã hội học Robert K.Merton vào năm 1968. Kể từ đó, thuật ngữ này được áp dụng rộng rãi trong mọi ngành khoa học xã hội để miêu tả hiện tượng niềm tin của những người tham gia thị trường ảnh hưởng đến sự kiện thực. ↩

Leon Walras, Các thành tố của kinh tế học (1899). Cuốn sách được xuất bản bằng tiếng Pháp vào năm 1874 và mãi đến năm 1954 mới được dịch sang tiếng Anh. ↩

Ý tưởng sớm nhất về Lý thuyết Số lượng Tiền tệ có thể tìm thấy là của nhà triết học người Anh John Locke, thế kỷ 17 “Một số suy nghĩ về việc giảm lãi suất và nâng giá trị đồng tiền”. Ý tưởng này được viết trong một lá thư gửi đến một thành viên Nghị viên vào ngày 7/11/1691. Phiên bản trực tuyến của lá thư này tại địa chỉ http://www.marxists.org/reference/subject/economics/locke/partl.htm. ↩

Skidelsky (1983, trang 11). ↩

Skidelsky (1983, trang 40). ↩

Bách khoa toàn thư về kinh tế học (http://www.econlib.org/library/CEE.html). ↩

Cách thức sử dụng tiền thời Trung cổ châu Âu được mô tâ bởi Carlo Cipolla trong cuốn sách Tiền tệ, Giá cả và nền văn minh trong thế giới cổ đại (1936). ↩

“Về tiền tệ” được in trong cuốn Luận về chính trị, xuất bản năm 1752, và được in lại trong tập Những bài luận, đạo đức, chính trị, văn học (1754). ↩

Dữ kiện Denis là người công nhân cuối cùng rất quan trọng bởi vì các nhà kinh tế học giả định rằng mỗi người công nhân tiếp theo đều tạo ra ít sản phẩm hơn người công nhân trước đó. Ý tưởng này ra đời vào thế kỉ 19 bởi William Stanley Jevons, Carl Menger, và Leon Walras. ↩

Tiểu luận về cải cách tiền tệ (1924, Chương 3) ↩

Pigou (1929). ↩

Robert Skidelsky (1992, Chương 14). ↩

vẫn còn nhiều tranh cãi quanh việc câu nói trên của ai. Trong một lần trao đổi riêng với tôi, Riccardo DiCecio đã tiết lộ rằng: câu “Bây giờ, tất cả mọi người đều theo học thuyết của Keynes”, thường được cho là phát ngôn của Tổng thống Nixon, thực ra là một câu nói được trích dẫn không đầy đủ của Milton Friedman. Theo lời của nhà báo Howard K. Smith của đài ABC, Nixon đã nói rằng “Tôi bây giờ theo học thuyết của Keynes”. Còn Friedman trong một cuộc phỏng vấn với tạp chí Time đã nói “ở một mặt nào đó, bây giờ tất cả mọi người đều theo học thuyết của Keynes, nhưng mặt khác, trong tương lai không xa sẽ không còn ai theo học thuyết của Keynes nữa”. Tuy nhiên, tạp chí Time chỉ trích dẫn nửa đầu “Bây giờ, tất cả mọi người đều theo học thuyết của Keynes”. ↩

Cochrane (2001). ↩

Phillips (1958). ↩

Bức hình này được in lại từ Bissell (2007). ↩

Theo bài báo “Phân tích chính sách chống lạm phát”, tạp chí Bình luận Kinh tế Hoa Kì (American Economic Review) (1960). Cùng với Franco Modigliani của Đại học MIT và James Tobin của Đại học Yale (cả hai đều đã qua đời), Paul Samuelson (qua đời vào tháng 12/2009) và Robert Solow (giáo sư danh dự của Đại học MIT) là hai người theo học thuyết Keynes có sức ảnh hưởng nhất. ↩

“Vai trò của chính sách tiền tệ”, Friedman (1968), “Sự biến động của tiền lương và điểm cân bằng của thị trường lao động”, Phelps (1968). ↩

Thực ra vẫn có những bằng chứng gián tiếp chứng minh giả thuyết về tỉ lệ thất nghiệp tự nhiên là không chính xác. Xem thêm nghiên cứu của tôi cùng với Andreas Beyer của Ngân hàng Trung ương châu u, công bố năm 2007, về chủ đề này. Hoặc tham khảo thêm các công trình nghiên cứu của Olivier Blanchard và Lawrence Summers (2987), và báo cáo của Brad De Long và Lawrence Summers (1988). ↩

Popper đưa lập luận này vào cuốn sách nổi tiếng của ông Những phỏng đoán và những lời bác bỏ. ↩

Những kỳ vọng và tính trung tính của đồng tiền (1972). Vào thời điểm nghiên cứu này được công bố, quan điểm chủ đạo của các nhà kinh tế học vĩ mô về vai trò của kinh tế học vĩ mô là nhằm mô tả những gì sẽ xảy ra nếu giá giảm để hướng tới một thị trường minh bạch. Một số nghiên cứu nổi bật theo hướng này là của Malinvaud (1877), Leijonhufvud (1966), và Barro Grossman (1971). Tuy nhiên, sau khi Giả thuyết Kì vọng Hợp lý ra đời, những tư tưởng này biến mất khỏi phần lớn các viện nghiên cứu trên toàn thế giới. ↩

Khảo luận của Debreu Lý thuyết về Giá trị đã công thức hóa Lý thuyết Cân bằng Tổng quát bằng các công thức toán học chính xác. Debreu là một trong ba nhà kinh tế học có đóng góp nổi bật trong việc phát triển Lý thuyết Cân bằng Tổng quát vào cuối thế kỉ 20. Hai người còn lại là Kenneth Arrow của Đại học Stanford và Lionel McKenzie của Đại học Rochester. ↩

Một bài báo quan trọng đóng góp vào việc thay đổi nói trên là “Về cơ chế phát triển kinh tế” (1988), trong đó, chỉ ra rằng, các nhà kinh tế học nên dành sức lực cho việc nghiên cứu sự phát triển kinh tế thay vì chu kỳ kinh tế. ↩

Đối với các độc giả muốn tìm hiểu sâu hơn, tôi xin giới thiệu nghiên cứu “hiểu về chu kỳ kinh tế” của Lucas Jr. (1977). Nghiên cứu này diễn giải lý thuyết chu kỳ kinh tế một cách đơn giản, không có nhiều phép toán phức tạp. Tuy nhiên, để hiểu lý thuyết này cũng cần kiến thức nền tảng về kinh tế, do đó nó có thể khó đọc đối với các độc giả không chuyên. Thuật ngữ “chu kỳ kinh tế thực” ra đời vào năm 1983 trong một nghiên cứu của hai nhà kinh tế học, John Long và Charles Plosser (1983). Thuật ngữ này cũng xuất hiện đồng thời trong một nghiên cứu của Finn Kydland và Edward Prescott (1982) với tiêu đề kém hấp dẫn hơn: “Thời khắc để xây dựng và tổng hợp các biến động (kinh tế)”. ↩

Cuốn sách của Woodford Lãi suất và giá cả, và tác phẩm của Gali Chính sách tiền tệ, lạm phát và chu kỳ kinh tế đã đóng góp quan trọng trong việc củng cố kinh tế học hậu Keynes. Cả hai cuốn sách đều không hướng tới độc giả đại chúng, mặc dù, sách của Gali dễ tiếp cận hơn đối với độc giả không chuyên. Kinh tế học hậu Keynes đã trở thành mô hình lý thuyết cho sự khác biệt về tác động của chính sách tiền tệ trong ngắn hạn và dài hạn mà David Hume đã chỉ ra. Một số nghiên cứu nổi bật trong vấn đề này là của Mankiw (1985), Akerlot và Yellen (1985), và Calvo (1983). Nghiên cứu của các tác giả trên đã sử dụng ma sát kinh tế để giải thích việc giá cả không tự điều chỉnh như trong mô hình kinh tế học cổ điển. ↩

Lucas Jr. (1987), Jordi Calis, Mark Gertler, và Daid Lopez Salido (2007, trang 56) cũng đã đưa ra một tính toán tương tự cho mô hình kinh tế học hậu Keynes. ↩

Mô hình này bắt đầu thay đổi đáng kể vào mùa thu năm 2008. Kể từ đó, FED bắt đầu mở rộng tài sản mà FED nắm giữ bằng cách cho các định chế tài chính đang gặp khó khăn vay tín dụng và nắm giữ hàng loạt cổ phiếu có giá trị thấp như tài sản thế chấp. Trong khoảng tháng 8/2008-12/2008, số lượng tài sản của FED tăng lên gấp đôi, từ khoảng 850 tỉ đô la lên đến 1,6 nghìn tỉ đô la. ↩

Nền kinh tế dựa trên bản vị vàng chỉ hoàn toàn được xóa bỏ vào năm 1971, và, trong khoảng thời gian từ 1933 đến 1971, các chính phủ nước ngoài có thể đổi đô la lấy vàng theo một tỉ lệ cố định. Giai đoạn từ 1933 đến 1971 được xem là giai đoạn nền kinh tế bản vị vàng. ↩

Robert L. Hetzel và Ralph F. Leach (2001) đã có một bài báo mô tả chính sách của FED trong giai đoạn ngay sau khi thỏa thuận Accord được thi hành. Bài báo của họ đã nhấn mạnh vai trò của thỏa thuận Accord trong việc hình thành nên mô hình FED hiện đại. ↩

Greenspan (2009). ↩

Tỉ lệ lạm phát là tỉ lệ gia tăng chỉ số giá tiêu dùng của Cục Thống kê của tháng này so với cùng kỳ năm trước. Tỉ lệ thất nghiệp có mã seri là LNS 14000000 theo quy ước của Cục Thống kê. ↩

Giai đoạn từ 1951 đến tháng 8/1978 có ba người đảm nhận vị trí Chủ tịch FED. Từ 4/1951 đến 1/1970, Chủ tịch FED là Willian McChesney. Arthur Burns là người cầm lái FED từ 2/1970 đến 1/1978, và trong một giai đoạn ngắn từ 2/1978 đến 8/1979, William Miller giữ vị trí này. Lạm phát bùng nồ xảy ra trong nhiệm kỳ của Martin và Burns. ↩

Clarida, Gali và Gertler (2000). ↩

Sim và Zha (2006). ↩

Woodward (2000, Chương 1). ↩

Lucas (1972). ↩

Minsky (1975). ↩

Trong phiên họp toàn thế của Hiệp hội tính toán kinh tế năm 2012, tôi đã chỉ ra rằng, sự sụt giảm trên thị trường chứng khoán có liên quan mật thiết đến hiện tượng tỉ lệ thất nghiệp tăng 3 tháng sau đó. Tôi cho rằng sự sụp đổ của thị trường chứng khoán năm 2008 chính là nguyên nhân dần đến Đại suy thoái. ↩

Alchian (1970), McCall (1970), Mortensen (1970), Diamond (1982). ↩

Shimer (2005). Để tìm hiểu thêm về nghiên cứu này, với tương đối nhiều khái niệm chuyên ngành, xem thêm Rogerson, Shimer và Wright (2005). ↩

Một số ít nghiên cứu ảnh hưởng đến tư duy của tôi bao gồm Diamond (1982), Howitt (1986), và Howitt và McAtee (1987). Tất cả những người này đều tin vào thuyết nhiều điểm cân bằng. ↩

Trong cuốn Lịch sử chính sách tiền tệ nước Mĩ (1963), Milton Friedmand và Anna Schwartz đã lập luận rằng cuộc Đại suy thoái đã diễn ra theo chiều hướng tồi tệ hơn vì chính sách tiền tệ. Một lập luận tương tự về vấn đề này gần đây là của Harold Cole và Lee Ohanian trên tạp chí Kinh tế chính trị. Một ý kiến chỉ trích khác từ một nhà kinh tế học theo kinh tế học cổ điển là của Peter Temins trong tạp chí Kinh tế (2008). ↩

Năm 2001, các nhà kinh tế học người Mĩ George A. Akerloí, Michael A.spence và Joseph E.Stigliz đã giành giải Nobel vì những đóng góp của họ trong lý thuyết thị trường với thông tin bất đối xứng. ↩

Trong 3 năm đầu tiên của cuộc Đại suy thoái, lương trong ngành công nghiệp chế tạo tăng nhẹ, và lương thực lĩnh cũng vậy. Cole và Ohanian (2004). ↩

Wighton (2009). Trong năm 2013, bài báo do tôi và cộng sự có nhan đề “Giả thuyết thị trường thiếu hiệu quả: Tại sao thị trường tài chính không vận hành hiệu quả trong thế giới thực” (Farmer 2013) đã được trao giải thưởng Maurice Allais trong lĩnh vực Khoa học kinh tế. Trong bài báo đó, chúng tôi đã chỉ ra nguyên nhân tại sao thị trường tài chính không vận hành hiệu quả. ↩

Xem thêm tại http://www.aetv.com/flipthishouse/flip2_aboutshow.jsp

Robert Shiller (1981) và Steven LeRoy cùng với Richard Porter (1981) đưa ra quan điểm này trong hai bài báo độc lập vào năm 1981. ↩

Benhabib và Farmer (1994), Farmer và Guo (1994). Yếu tố chính được sử dụng để hiểu tại sao dao động tâm lý là duy lý đến từ một dự án nghiên cứu quan trọng được phát triển bởi trường Đại học Pennsylvania vào những năm 1980. Bài báo đầu tiên trong chủ đề này được viết bởi Karl Shell (1977). Một số nhà kinh tế học khác cũng nghiên cứu về chủ đề này tại Penn trong những năm 1980 bao gồm Costas Azariadis (1981), Favid Cass và Karl Shell (1983), Roger Farmer và Michael Woodford (1984). ↩

Để có thể so sánh chính xác cách tiếp cận của tôi so với Akerloí và Shiller, xem thêm tại tạp chí Ecoiìomic Record (2009). Những phản biện của các nhà kinh tế học hành vi về ý tưởng con người duy lý không hề mới mẻ, và theo tôi, sẽ không mang lại thành tựu đột phá cho kinh tế học. Như David Levine (trang 1, 2009) đà chỉ ra trong bài giảng của ông về Max Weber:

Những phản biện về học thuyết con người kinh tế không phải là chủ đề mới. Vào năm 1898, Thorstein Veblen đã viết một cách rất mỉa mai về con người kinh tế: “là một chiếc máy vô cùng nhạy với sự khoái lạc và đau đớn, là những người có ham muốn hạnh phúc dao động y hệt nhau dưới ảnh hưởng của những đợt kích thích”. Mô tả này không có ảnh hưởng gì lớn đến ngành kinh tế học - cả trong thời điểm đó lẫn hiện nay. Thật vậy, trong suốt một thời kỳ dài giữa những năm 1960 và 1970, con người kinh tế phi lý trí là tư tưởng chủ đạo trong kinh tế học. Tuy nhiên, thực tế về việc lý thuyết kỳ vọng duy lý đã bị chỉ trích rất nhiều cho thấy rằng tư tưởng về con người kinh tế phi lý trí cũng không phải là một mô tả tốt hơn so với mô tả “một chiếc máy vô cùng nhạy với sự khoái lạc và đau đớn” nói trên. Theo nhiều cách khác, lý thuyết kỳ vọng duy lí được coi là một phản ứng với “các ngụ ý được diễn đạt trong các mô hình [của các năm 1960 và 1970] rằng mọi người có thể dễ dàng bị lừa gạt hết lần này đến lần khác”.

Levine còn đi xa hơn bằng việc chỉ ra rằng trong phần lớn các trường hợp, lý thuyết kinh tế truyền thống có thể giải thích được các bằng chứng thực nghiệm chống lại tư tưởng con người kinh tế tốt hơn rất nhiều so với những gì mọi người nghĩ. ↩

Theo ngôn ngữ của Akerlot và Shiller (trang 26, 2009) thì “chủ nghĩa tư bản… không tự động sản xuất ra những gì con người cần; nó sản xuất ra những gì con người nghĩ rằng họ cần…”. ↩

Có thể xem thêm, ví dụ như cuốn sách của Friedman (1957) Lý thuyết về Chức năng tiêu dùng. Trong cuốn sách này, ông đã lần đầu đưa ra ý tưởng về thu nhập dài hạn. Những nhà kinh tế học nổi bật nhất cũng nghiên cứu về chủ đề này bao gồm James Duesenberry, Albert Ando và Franco Modigliani. ↩

Kehoe và Prescott (2007). Tim Kehoe là giáo sư kinh tế học tại trường Đại học Minnesota và là nhân vật nổi bật trong việc làm sống lại Lý thuyết Cân bằng Tổng quát. ↩

Dữ liệu về giá bất động sản của Shiller từ năm 1980 có thể xem tại http://www.econ.yale.edu/~shiller/data.htm

Không thấy hình này trong sách. ↩

Wall Street Journal, 2/10/2008. ↩

Nhà kinh tế học đoạt giải Nobel đã phát biếu như vậy tại ủy ban dịch vụ tài chính nhà đất, 21/10/2008. ↩

Lời phát biểu của Thomas Hamilton, Hiệp hội thị trường tài chính và chứng khoán, tại ủy ban dịch vụ tài chính nhà đất, 22/5/2008. ↩

Cụm từ ‘đẩy gió vào nhà trống’ được dùng lần đầu vào năm 1935 bởi Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang khi đó - Marriner Eccles trong một bản tường trình trước Quốc hội về Đạo luật Ngân hàng 1935:

Eccles: Dưới điều kiện hiện tại, chúng ta gần như không thể làm gì.

Nghị sĩ Goldsborrough: Ý ông là chúng ta chỉ có thể kéo “sợi dây” kinh tế về phía mình, phải không?

Eccles: Đó là một cách diễn đạt rất chính xác. Đơn giản là chúng ta chỉ có thể kéo chứ không thể đẩy bằng một sợi dây. Chúng ta đang chìm sâu trong khủng hoảng. Nó vượt ngoài khả năng ảnh hưởng của các việc giảm lãi suất, và các tổ chức dự trữ tiền tệ gần như không thể làm gì để giúp nền kinh tế phục hồi [ủy ban tiền tệ ngân hàng Quốc hội - trang 317, 1935] trích dẫn bởi Wood (trang 231, 2006). ↩

Christina D. Romer (27/2/2009). Trường hợp về gói kích thích tài chính: Khả năng phục hồi của nền kinh tế Hoa Kì và Đạo luật tái đầu tư. Xem trực tuyến tại http://news.uchicago.edu/files/newsrelease_20090227.pdf

Hệ số nhân đáng lý sẽ vận hành theo cách như sau: Mỗi đô la được chính phủ chi ra sẽ làm tăng công ăn việc làm trong các ngành sản xuất ra loại hàng hóa mà chính phủ yêu cầu. Những công nhân có việc làm nói trên sẽ chi tiêu một phần từ khoản thu nhập tăng thêm vào hàng hóa và dịch vụ, điều này sẽ tạo ra thêm công ăn việc làm. Các công ăn việc làm mới được tạo ra này sẽ tiếp tục làm tăng khoản chi tiêu của người dân, và sự tổng hợp của những lần tăng chi tiêu này sẽ làm tăng tổng cầu. Theo lí thuyết, sự gia tăng tổng cầu này sẽ lớn hơn khoản chi ngân sách ban đầu của chính phủ theo một hệ số phụ thuộc vào tỷ lệ tiết kiệm/thu nhập của người dân. Việc các chính trị gia sử dụng lý thuyết này là lý do chính khiến cho vai trò của chính phủ trong nền kinh tế hậu chiến tăng lên một cách rõ rệt. ↩

Để loại bỏ ảnh hưởng của tăng trưởng kinh tế thực và lạm phát, tôi đã thêm vào mô hình một yếu tố về tiền lương và tiếp tục lấy con số này chia tiếp cho quy mô lực lượng lao động để ra kết quả cuối cùng được tính trên đầu người. ↩

Hayek (1944). ↩

Hình 3.2: Tỉ lệ thất nghiệp từ năm 1890, vùng xám là các cuộc khủng hoảng kinh tế theo định nghĩa của tổ chức NBER ↩

Hình 10.1: Hai giai đoạn phục hồi của nền kinh tế Hoa Kì kể từ Đại suy thoái. Vùng màu xám là các cuộc khủng hoảng kinh tế theo định nghĩa của tổ chức NBER ↩↩

Hình 11.1: Chỉ số Farmer Big 3 ↩

Hình 9.1: Biểu đồ mô tả thị trường tại Phố lớn và Phố Wall vào năm 1929. Vùng màu xám thể hiện thời kỳ xảy ra khủng hoảng theo định nghĩa của tổ chức NBER ↩

Hình 9.2: Biểu đồ mô tả thị trường tại Phố lớn và Phố Wall vào năm 1987. Vùng màu xám thể hiện thời kỳ xảy ra khủng hoảng theo định nghĩa của tổ chức NBER ↩

Hình 9.3: Biểu đồ mô tả thị trường tại Phố lớn và Phố Wall trong thời kỳ từ 1998 đến 2008. Vùng màu xám thể hiện thời kỳ xảy ra khủng hoảng theo định nghĩa của tổ chức NBER ↩↩

Hình 6.1: Biểu đồ mô tả tỉ lệ thất nghiệp và tỉ lệ lãi suất. Vùng màu xám thể hiện thời kỳ xảy ra khủng hoảng theo định nghĩa của tổ chức NBER ↩

Hình 6.2. Biểu đồ mô tả tỷ lệ lạm phát và lãi suất ngân hàng. Vùng màu xám thể hiện thời kỳ xảy ra khủng hoảng theo định nghĩa của tổ chức NBER ↩

Hình 7.1: Mô tả quá trình sản xuất hàng hóa. Đầu vào của quá trình này là vốn và sức lao động. Công nhân vận hành máy móc và gia tăng giá trị cho các nguyên liệu thô. Sản phẩm đầu ra là hàng hóa như ô tô, máy tính, đồ hộp ↩↩

Hình 7.2: Mô tả quá trình tạo ra công việc. Đầu vào của quá trình này là thời gian tìm kiếm của người lao động và của ban nhân sự thuộc doanh nghiệp. Nhà tuyển dụng lướt qua đơn ứng tuyển của người lao động và lọc ra những người phù hợp với vị trí còn thiếu. Người lao động thì nộp đơn ứng tuyến và tham gia buổi phỏng vấn. Đầu ra của quá trình này là sự chắp mối giữa người lao động và vị trí còn thiếu. ↩

John Maynard Keynes (1883-1946) được coi là nhà kinh tế có tầm ảnh hưởng lớn nhất trong thế kỷ 20. Ông là một nhà trí thức, một nhà hoạt động xã hội, một chính khách đồng thời là một nhà báo. Cuốn sách nổi tiếng của ông có nhan đề Lý thuyết Tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ (The General Theory of Employment Interest and Money), xuất bản năm 1936 đã tạo ra một sự thay đổi nhận thức to lớn về vai trò của chính phủ trong xã hội tư bản và là yếu tố chính định hình cách suy nghĩ của chúng ta về vai trò của chính phủ trong nền kinh tế (Time & Life Pictures/Getty Images) ↩

Friedrich A. von Hayek (1899-1992). Hayek là một triết gia và nhà kinh tế được biết đến bởi quan điểm ủng hộ chủ nghĩa tự do truyền thống và thị trường tự do của mình. Ông là một trong số những triết gia về kinh tế và chính trị có tầm quan trọng lớn nhất trong thế kỷ 20. Ông được trao giải Nobel Kinh tế vào năm 1974 cùng với Cunar Myrdal cho “một nghiên cứu nền tảng về lý thuyết tiền tệ và biến động kinh tế và một phân tích sâu sắc về sự tương thuộc giữa xã hội, nền kinh tế và thể chế” (AP Images). ↩

David Hume (1711-1776). Hume là triết gia, nhà kinh tế và nhà sử học, cùng với Adam Smith, được xem là nhân vật tiêu biểu nhất cho thời kỳ Khai sáng của Scotland. Ông là một trong những nhà kinh tế đầu tiên nhận ra mối tương quan giữa tiền tệ và lạm phát. Điều này được ông giải thích trong một nghiên cứu có tên Về tiền tệ (Getty Images). ↩

Adam Smith (1723-1790). Ông là triết gia và nhà kinh tế người Scotland, được xem là cha đẻ của kinh tế học hiện đại. Bàn về bản chất và nguồn gốc của cải của các dân tộc xuất bản đầu tiên vào năm 1776, là cuốn sách hiện đại đầu tiên về kinh tế. Smith chịu ảnh hưởng lớn của tư tưởng thời Khai sáng, vốn được xem là một thời kì của sự phục hưng tư duy, bùng nổ khắp Scotland thế kỉ 18 (Time & Life Pictures/Cetty Images). ↩

Léon Walras (1834-1910). Walras là nhà kinh tế người Pháp, giảng dạy tại Đại học Lausanne, Thụy Sĩ. Song song với Stanley )evons và Carl Menger, ông đã tạo nên một cuộc cách mạng trong kinh tế học với lý thuyết cận biên: nhân công cuối cùng được thuê sẽ quyết định tiền lương được trả của toàn bộ công nhân trước đó. Walras phát triển lý thuyết này xa hơn so với Jevons và Menger bằng học thuyết cân bằng tổng quát của mình (UNIL/Archives). ↩

Alfred Marshall (1842-1924). Marshall là một trong những nhà kinh tế tiêu biểu của thế kỷ 19. Ông giảng dạy tại Đại học Cambridge, Anh. Tại đây, ông đã phát triển mô hình cung cầu để giải thích cách số lượng hàng hóa và giá cả được quyết định trong một thị trường đơn lẻ. Cuốn sách của ông, Các nguyên lý về kinh tế (Principles of Economics - xuất bản lần đầu tiên năm 1920 - tái bản 8 lần), dã ảnh hưởng đến việc dạy kinh tế tại các trường Đại học trong suốt 50 năm liền (Trích dẫn từ Đại học Bristol). ↩

Arthur C. Pigou (1887-1959). Nhà kinh tế người Anh. Arthur c. Pigou là học trò của Alíred Marshall và là giáo sư tại Đại học Cambridge. Ông được biết đến nhiều nhất với cuốn Kinh tế học phúc lợi (The Economics of Welfare), xuất bản năm 1933. Ông cũng viết một cuốn sách nổi tiếng khác có nhan đề Sự biến động của ngành công nghiệp (Industrial Fluctuations), xuất bản năm 1929, nói về nguyên nhân tạo ra các chu kỳ kinh tế (Khoa kinh tế, Đại học Louisiana State). ↩

Edmund S. Phelps Jr. (1937- ). Phelps là một nhà kinh tế người Mĩ, giảng dạy tại Đại học Columbia. Ông đã viết nhiều bài báo về vấn đề phát triển kinh tế có sức ảnh hưởng trong ngành. Tuy nhiên, ông được biết tới nhiều nhất với tư cách là một trong hai người xây dựng Giả định về tỉ lệ thất nghiệp tự nhiên (người còn lại là Milton Friedman). Phelps giành giải Nobel năm 2006 “vì những phân tích của ông về sự đánh đổi trong các chính sách kinh tế vĩ mô qua các thời kỳ” (AFP/Getty Images). ↩

Milton Friedman (1912-2006). Fricdman là nhà kinh tế người Mĩ, giảng dạy tại Đại học Chicago. Ông nổi tiếng là một người theo trường phái duy tiền tệ, cương quyết cho rằng nguồn cung tiền phải được quản lý chặt chẽ để ngăn chặn lạm phát và kích thích kinh tế. Ông giành giải Nobel năm 1976 vì “những đóng góp trong các lĩnh vực phân tích hành vi tiêu dùng, lịch sử tiền tệ, lý thuyết tiền tệ và những lý giải về tính phức hợp của các chính sách ổn định kinh tế” (Getty Images). ↩

Hình 4.1: Alban W. (“Bill”) Phillips (1914-1975). Bill Phillips là một nhà kinh tế người New Zealand, giảng dạy tại Đại học Kinh tế London và được biết đến nhiều nhất bởi khái niệm “Đường cong Phillips”. Khi còn là một sinh viên theo học tại LSE, ông đã chế tạo ra một chiếc máy nhằm mô phỏng nền kinh tế Anh bằng việc sử dụng các ống dẫn nước. Một trong những chiếc máy của Philips hiện vẫn được trưng bày tại Bảo tàng khoa học London (Theo tài liệu lưu trữ của trường LSE). ↩

Paul A. Samuelson (1915-2009). Samuelson là giáo sư danh dự người Mĩ lại Đại học Công nghệ Massachusetts. Ông giành giải Nobel năm 1970 cho “các công trình nghiên cứu khoa học về các lý thuyết kinh tế tĩnh và động và những cống hiến không ngừng nghỉ cho việc nâng cao tiêu chuẩn phân tích sử dụng trong kinh tế học”. Samuelson có ảnh hưởng vô cùng lớn đến tất cả các nhánh của kinh tế học nửa cuối thế kỉ 20 (Time & Liíe Pictures/Getty Irnages). ↩

Robert Solow (1924- ). Solow là một giáo sư danh dự tại Đại học Công nghệ Massachusetts. Ông giành giải Nobel năm 1970 vì “những đóng góp vào sự phát triển của các lý thuyết kinh tế”. Các công trình của Solow đã góp phần hình thành nền tảng cho phương pháp phân tích theo trường phái tân cổ điển về các vấn đề tăng trưởng và phát triển kinh tế hiện đại. Cùng với Paul Samuelson, ông là một trong số những nhà kinh tế theo thuyết của Keynes có ảnh hưởng lớn nhất (Donna Coveney/MIT). ↩

Vilfredo Pareto (1848-1923). Pareto là nhà xã hội học, nhà kinh tế và triết gia người Italia. Ông sinh ra ở Pháp trong một gia đình người Genoa tha hương. Ông là người tiếp nối sự nghiệp giảng dạy của Walras tại Đại học Lausanne với bộ môn kinh tế học và nổi tiếng với lý thuyết Hiệu quả Pareto. Ông cũng nghiên cứu việc phân phối thu nhập trong xã hội. Quy tắc phân phối Pareto trong thống kê được đặt theo tên của ông (The Cranger Collection, New York). ↩

Edward C. Prescott (1940- ). Prescott là nhà kinh tế người Mĩ hiện đang dạy tại Đại học bang Arizona. Cùng với Finn Kydland, ông đã phát triển lý thuyết về chu kỳ kinh tế thực. Lý thuyết này đã giải thích những thay đổi về mặt công nghệ có thể dẫn đến suy thoái kinh tế như thế nào. Kydland và Prescott giành giải Nobel năm 2004 “vì những đóng góp cho lĩnh vực động học của kinh tế học vĩ mô: tính nhất quán theo thời gian của các chính sách kinh tế và các động lực chính của chu kỳ kinh tế”. ↩

Finn Kydland (1943- ). Kydland là một nhà kinh tế người Na Uy, hiện đang giảng dạy tại Đại học California tại Santa Barbara. Cùng với Edward c. Prescott, Kydland nhận giải thưởng Nobel về kinh tế vì những đóng góp cho lĩnh vực động học của kinh tế học vĩ mô: tính nhất quán theo thời gian của các chính sách kinh tế và các động lực chính của chu kỳ kinh tế. ↩

Gérard Debreu (1921-2004). Debreu là nhà kinh tế người Pháp giảng dạy tại Đại học Berkeley. Mặc dù là một nhà kinh tế vi mô nhưng công trình của ông về Lý thuyết Cân bằng Tổng quát đã góp phần hình thành nền tảng của kinh tế vĩ mô hiện đại. Ông giành giải Nobel mĩm 1983 vì “đã cống hiến những phương pháp phân tích không thể thiếu cho lý thuyết kinh tế và cung cấp nền tảng toán học vững chắc cho Lý thuyết Cân bằng Tổng quát” (Từ tài liệu lưu trữ của Mathematisches Forschungsinstitut Oberwolfach). ↩

Robert E. Lucas Jr. (1937-). Lucas là nhà kinh tế người Mĩ, giảng dạy tại Đại học Chicago. Ông chính là người xây dựng nên nền tảng mới cho kinh tế vĩ mô. Lucas giành giải Nobel năm 1995, với việc “đã phát triển và ứng dụng Giả thuyết Kì vọng Hợp lý, từ đó, làm thay đổi cách phân tích kinh tế vĩ mô và giúp chúng ta hiểu sâu hơn về các chính sách kinh tế”. ↩

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.