Cách Nền Kinh Tế Vận Hành - Chương 2
Kinh tế học cổ điển
Tính vị kỷ, chứ không phải lòng nhân từ của những người bán thịt, chủ cửa hàng rượu, hay người bán bánh mì, là điều đã mang lại cho chúng ta những bữa tối.
Adam Smith (1776)
Câu nói trên của Adam Smith, cha đẻ của lý thuyết kinh tế hiện đại, đã tóm lược đầy đủ những tư tưởng cơ bản nhất của kinh tế học cổ điển. Theo ông, tính vị kỷ của mỗi cá nhân là yếu tố then chốt mang lại lợi ích của mọi người trong cộng đồng. Cuốn sách quan trọng nhất của Smith, Bàn về bản chất và nguồn gốc của cải của các dân tộc (An Inquiry into the Nature and Causes of the Wealth of Nations) được ông viết vào năm 1776, cùng thời điểm với sự ra đời của bản Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kì. Sau khi cuốn sách được xuất bản, các nhà kinh tế tiếp tục mở rộng thêm các ý tưởng trong cuốn sách này và phát triển nó trở thành xương sống của học thuyết kinh tế học cổ điển. Vậy kinh tế học cổ điển là gì và tại sao bạn phải quan tâm đến nó?
Trên thực tế, có thể coi kinh tế học cổ điển bao gồm hai lý thuyết chính: Thuyết Cân bằng Tổng quát (general equilibrium theory) và Thuyết Số lượng Tiền tệ (quantity theory of money). Thuyết Cân bằng Tổng quát được đưa ra vào năm 1874 bởi nhà kinh tế người Pháp, Leon Walras, giảng viên Đại học Lausanne, Thụy Sĩ*. Lý thuyết này giải thích tại sao hàng hóa được sản xuất ra với số lượng xác định ở mức giá ngoài thực tế. Lý thuyết này cho chúng ta hiểu điều gì quyết định số giờ làm việc cần thiết của mỗi người trên thế giới, số lượng xe hơi được sản xuất ở Nhật Bản và số giờ bạn cần làm việc để có thể chi trả cho một chuyến chơi golf tại Scotland.
Thuyết Số lượng Tiền tệ được đưa ra bởi David Hume, triết gia, nhà kinh tế người Scotland, cùng với Adam Smith là nhân vật tiêu biểu trong thời kỳ Khai sáng của Scotland. Thời kỳ Khai sáng thế kỷ 18 tại Scotland là giai đoạn xuất hiện rất nhiều các thành tựu lớn về mặt học thuật, đến từ những nhà kinh tế như Adam Smith và James Mill, những kiến trúc sư như Robert Adam, nhà phát minh ra động cơ hơi nước James Watt và nhà thơ, tiểu thuyết gia nổi tiếng Sir Walter Scott*.
Nội dung chính của Thuyết Số lượng Tiền tệ bàn về giá trị của tiền như một yếu tố tỉ lệ nghịch với số lượng hàng hóa và giá tiền. Lý thuyết này giúp chúng ta hiểu điều gì quyết định việc một người có thể kiếm được trung bình bao nhiêu đô la, bảng hoặc yên trong một giờ làm việc, hay số tiền bạn cần phải trả để mua một chiếc xe hơi, hay số tiền cần thanh toán khi tới ở khách sạn St. Andrew. Nó cũng hữu dụng trong việc giải thích những yếu tố ảnh hưởng đến tỉ lệ lạm phát.
Kinh tế học cổ điển, điển hình là Thuyết Cân bằng Tổng quát và Thuyết Số lượng Tiền tệ, rất đáng để chúng ta tìm hiểu vì nó đang ảnh hưởng và chi phối rất nhiều đến cách tư duy của các nhà kinh tế thời hiện đại, bao gồm cả giới học thuật, nhà báo, các nhà làm chính sách kinh tế trong các công ti, ngân hàng và chính phủ. Ngay cả những người hoài nghi về giá trị của nó trong việc giải thích những yếu tố kinh tế trong thực tế thì vẫn sử dụng kinh tế học cổ điển như một thước đo để xem xét hiệu quả vận hành nền kinh tế. Làm cách nào chúng ta có thể biết được hình thái kinh tế nào tốt hơn? Việc lãng phí tài nguyên của các tổ chức sẽ mang đến hệ quả gì? Những câu hỏi này đã phần nào được làm sáng tỏ nhờ lý thuyết kinh tế cổ điển. Và cũng như các nhà kinh tế cổ điển đã chỉ ra, trong một số trường hợp, phân phối hàng hóa thông qua thị trường là cách thức tốt nhất xã hội có thể nghĩ tới.
KHỚP NỐI CÁC MIẾNG GHÉP KINH TẾ
Thuyết Cân bằng Tổng quát, được đưa ra bởi Walras, là một ví dụ tuyệt vời cho thấy các miếng ghép quan trọng của nền kinh tế được khớp nối với nhau như thế nào. Vào thời điểm đó, các nhà kinh tế người Anh đã xây dựng hoàn chỉnh lí thuyết cung cầu của một thị trường duy nhất trong một thời điểm xác định. Dựa trên nền tảng đó, Walras tìm cách ghép nối các thị trường riêng lẻ đó lại với nhau để giải thích việc giá cả được xác định thế nào, và nó sẽ điều hướng hành động của hàng trăm triệu cá nhân dường như chẳng có mối liên quan nào với nhau ra sao.
Con người luôn đặt ra các kế hoạch và cố gắng thực hiện nó. Những hành động đó đều gây ảnh hưởng đến hệ thống, không ít thì nhiều. Thực tế, mỗi quyết định của bạn và tôi đều bị ràng buộc bởi một điều gì đó, theo một cách nào đó. Sự ràng buộc này có thể được ghi một cách rõ ràng trong luật pháp, hoặc đơn giản là ngầm ẩn đằng sau các tục lệ xã hội. Điều đó dẫn đến một trong những vấn đề cơ bản của khoa học xã hội, đó là con người có ý chí tự do sẽ phải hành xử ra sao khi bị ràng buộc bởi những hành động của chính mình trước đó. Lý thuyết Cân bằng Tổng quát kể trên là lời giải cho một trường hợp đặc biệt của vấn đề này: tương tác của các cá thể trong khía cạnh kinh tế và thị trường.
Thuyết Cân bằng Tổng quát được xây dựng dựa trên lý thuyết về cung cầu và được mô tả dưới một phiên bản hiện đại hơn bởi Altred Marshall trong cuốn sách Các nguyên lý kinh tế. Marshall dạy kinh tế tại trường St. Johns Colleage Cambridge trong những năm 1860, nơi ông “chuyển từ dạy toán học sang luân lí học, và sau đó là kinh tế, do thấy việc dạy luân lý học là một việc lãng phí thời gian”*. Ông được sinh ra trong một gia đình mộ đạo. Cha của ông, một nhân viên thu ngân của ngân hàng Anh, đã định hướng cho con trai mình sẽ trở thành một linh mục.
Cuối thế kỉ 19, các triết gia tại Cambridge đang trong giai đoạn cải tổ hệ thống tôn giáo sang một hệ thống mới gần gũi với đời sống, hướng đến luân lí và đạo đức nhiều hơn. Chịu ảnh hưởng của trào lưu này, Marshall tự xem mình là một người hoài nghi tôn giáo. Thay vì bước chân vào nhà thờ, ông cống hiến cuộc đời mình cho việc xây dựng nền móng của kinh tế học. Ông là thầy dạy học không chỉ của John Maynard Keynes mà còn của Neville Keynes, cha đẻ của John Maynard*.
Lý thuyết về cung cầu của Marshall giải thích số lượng hàng hóa sẽ được sản xuất và giá cả của chúng tại thời điểm được mua và bán là bao nhiêu. Walras sau này áp dụng lý thuyết của Marshall vào việc giải thích tất cả các hàng hóa trong nền kinh tế trong cùng một thời điểm. Ông đặt ra câu hỏi: Có hệ thống giá cả nào, áp dụng được cho tất cả các loại hàng hóa, mà tại đó số lượng cầu và cung luôn bằng nhau? Kể từ khi Walras đặt ra câu hỏi ấy, nó đã được nghiên cứu một cách rất kỹ lưỡng, và ngày nay, chúng ta biết câu trả lời là “có”.
Thoạt nghe, đây có vẻ không phải là một điều gì to lớn, nhưng thực tế nó đã được xem là một thành tựu quan trọng của kinh tế học. Để trả lời câu hỏi của Walras, bạn cần nghiên cứu mọi mối tương quan có thể có trên thị trường. Ví dụ, giá dầu tăng sẽ ảnh hưởng đến nhu cầu sử dụng phương tiện giao thông công cộng, và do đó nhu cầu đi taxi tại London cũng tăng lên. Tiếp đến, liệu có đủ công nhân cần thiết để sản xuất lượng taxi cần thêm đó không? Ở mức lương nào? Trong những điều kiện chung nhất, các nhà kinh tế chỉ ra rằng có ít nhất một hệ thống mà trong đó số lượng hàng hóa và giá cả của mọi loại hàng hóa, bao gồm tiền lương và số lượng nhân công trong từng ngành công nghiệp, sẽ cân bằng tại một thời điểm. Trên lý thuyết, Walras đã cho thấy cách chủ nghĩa tư bản vận hành. Nhưng liệu điều này có áp dụng được vào thực tế?
THỊ TRƯỜNG VẬN HÀNH CÓ TỐT KHÔNG?
Người kế tục sự nghiệp của Walras tại Đại học Lausanne là Vilfredo Pareto. Pareto không chỉ quan tâm đến sự tồn tại của sự cân bằng trong kinh tế học mà ông còn muốn biết thị trường tự do có thể phân phối nguồn lực cho các cá nhân trong xã hội theo cách nào là hiệu quả nhất. Pareto là cha đẻ của lý thuyết kinh tế theo hướng phúc lợi xã hội hiện đại (modern welfare economics), một hướng chuyên nghiên cứu về cách phân phối hàng hóa ảnh hưởng thế nào đến chất lượng cuộc sống của mọi người.
Pareto sinh năm 1848 tại Paris, trong một gia đình gốc Ý tha hương. Sau này, ông quay trở lại Ý để hoàn tất việc học tại Turin, nơi ông được học về toán học và văn học. Sau khi tốt nghiệp trường Bách Khoa, ông bắt đầu sự nghiệp là một kỹ sư xe lửa, và tới hơn bốn mươi tuổi ông mới chuyển sang nghiên cứu kinh tế học. Mặc dù theo đuổi ngành kinh tế rất muộn, nhưng trước đó Pareto đã là một người tích cực chỉ trích chính sách kinh tế của chính phủ Ý trong nhiều năm liền. Trong suốt thời gian đó, ông đã xuất bản một cuốn sách ngắn lên án chính sách bảo hộ kinh tế và phản đối chế độ quân phiệt*.
Pareto nổi tiếng trong các nhà kinh tế với câu hỏi: “Liệu có nhà lập kế hoạch Toàn trí nào có cách thức phân phối hàng hóa tới mọi người trên thế giới tốt hơn thị trường tự do?”. Theo cách định nghĩa về “tốt hơn” của Pareto thì câu trả lời luôn là không. Nói cách khác, thị trường tự do phân phối hàng hóa tốt hơn bất kì điều gì mọi người có thể hình dung.
“Nhà lập kế hoạch” ở đây là một nhân vật hư cấu sở hữu một nhận thức hoàn hảo như Chúa toàn năng. Nhà lập kế hoạch ấy cần phải biết mọi điều về mong muốn, sở thích của từng người trên thế giới, và ông ta phải có kiến thức đầy đủ về các công nghệ cần thiết để sản xuất từng loại hàng hóa đáp ứng nhu cầu đó. Do nhận thức dường ấy là không tưởng cho bất kì cá nhân đơn lẻ nào có thể đạt tới, nên công trình của Parcto sau đó còn được sử dụng để ám chỉ tư tưởng thị trường tự do sẽ có khả năng điều chỉnh tốt hơn nhiều so với kinh tế kế hoạch tập trung mà Liên bang Xô-viết thực hiện trong thế kỷ 20. Nhà lập kế hoạch sở hữu nhận thức hoàn hảo đơn giản là không tồn tại trên thực tế. Thị trường tự do là cỗ máy tích lũy thông tin và lan truyền thông tin từ người này sang người khác theo phương thức gần như lý tưởng.
Mặc dù nghiên cứu của Pareto cho rằng thị trường tự do hoạt động hiệu quả, kết quả này thực chất vẫn dựa trên một loạt các giả định về các đặc tính của công nghệ và cách thức con người sẽ hành xử. Dựa trên các giả định dó, Pareto đã đặt nền móng cho các nhà kinh tế sau này đặt ra câu hỏi: Trong trường hợp nào thị trường tự do không còn hoạt động tốt? Đó là câu hỏi chúng ta đang phải đối mặt ngày nay.
Tư tưởng của Pareto về cách thức phân phối hàng hóa tốt hơn quan trọng đến mức nó được công thức hóa thành một nguyên lý trong kinh tế học mang tên Nguyên lý Thứ nhất của Kinh tế học phúc lợi. Nguyên lí này chỉ ra mối tương quan giữa quan điểm của Pareto về phân phối hàng hóa và cách thức hàng hóa thực tế được phân phối trên thị trường. Quan điểm của Pareto về phân phối hàng hóa không nhắc gì đến việc ai là người giàu ai là người nghèo, ông coi mọi người là như nhau. Thị trường sẽ tự điều tiết tài nguyên hiệu quả dựa trên việc phân phối của cải hiện tại. Các nhà kinh tế gọi quan điểm về việc phân phối hiệu quả, được thể hiện một cách rõ rệt nhất trong các nghiên cứu của Pareto, là Hiệu quả Pareto. Nguyên lý đầu tiên về kinh tế học phúc lợi cho biết, mọi điểm cân bằng cạnh tranh đều tuân theo nguyên tắc Hiệu quả Pareto.
Quan điểm thị trường tuân theo nguyên tắc Hiệu quả Pareto là sự thể hiện rõ rệt tư tưởng đề cao thị trường tự do của các nhà kinh tế. Nó là biểu hiện rõ ràng cho lý thuyết về “bàn tay vô hình” mà Adam Smith đã viết vào năm 1776. Nói theo cách của Adam Smith thì:
Bằng việc chú ý đến ngành của mình thay vì các ngành khác, [mỗi cá nhân] cuối cùng cũng chỉ nhắm tới quyền lợi của mình. Ngay cả việc tìm cách chi phối ngành đó theo hướng làm ra nhiều của cải nhất, anh ta cũng chỉ nghĩ đến bản thân. Trong trường hợp này, cũng như trong nhiều trường hợp khác nữa, anh ta bị điều khiển bởi một “bàn tay vô hình”, dẫn anh ta đến một kết quả mà chính anh ta cũng không chủ định trước. Vì tính vị kỉ, anh ta không bao giờ quan tâm tới các hệ quả từ hành động của mình, và may là điều này không phải lúc nào cũng gây hại tới xã hội. Tuy vậy, nghịch lý là, bằng cách theo đuổi lợi ích riêng, anh ta vô tình đã tạo ra những điều tốt cho xã hội, thậm chí còn hiệu quả hơn khi anh ta chủ định làm việc đó. Tôi chưa bao giờ nhìn thấy những thứ tốt đẹp được tạo ra từ những người có suy nghĩ đi buôn bán, trao đổi để phụng sự cho lợi ích cộng đồng cả (Smith, 1776, Chương 2, quyển 4, trang 477).
Có một số tư tưởng quan trọng trong đoạn trích này vẫn còn nguyên giá trị đến ngày nay. Thứ nhất, hành vi vị kỷ của con người sẽ kích thích lợi ích chung, vì lợi nhuận sẽ thúc đẩy các công ti sản xuất những mặt hàng mọi người muốn mua. Tư tưởng này đã trở thành nền tảng cho lập luận của những người theo cánh hữu ủng hộ sự tồn tại của các doanh nghiệp tư nhân. Thứ hai, trong thực tế hãy cẩn trọng với những người hay tuyên bố rằng họ hành động vì lợi ích của bạn. Tư tưởng thứ hai này là gốc rễ của sự thiếu niềm tin đối với các chính sách về thị trường của chính phủ.
Nguyên lý đầu tiên về phúc lợi xã hội đóng một vai trò quan trọng trong kinh tế học bởi vì khi hàng hóa được bán ra trên thị trường cũng là lúc người sử dụng lao động phải trả tiền lương cho nhân công. Nếu thị trường vận hành đúng theo cách Thuyết Cân bằng Tổng quát đề ra thì thực chất thất nghiệp chỉ là lựa chọn riêng của các cá nhân khi họ đang trong giai đoạn đi tìm công việc được trả lương tốt hơn. Lập luận này khó có thể đứng vững trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế năm 2008-2009, khi số lượng công nhân trong ngành ô tô tại Detroit, công nhân nhà máy hóa dầu tại Anh và công nhân xây dựng tại Pháp bị sa thải lên đến hàng nghìn. Chỉ tính riêng tại Hoa Kì, hằng tháng có tới nửa triệu công nhân bị mất việc trong những tháng đầu năm 2009. Rõ ràng những người lao động này không hề lựa chọn việc nghỉ ngơi dài hạn như vậy, chúng ta buộc phải đi đến kết luận rằng Nguyên lý đầu tiên về phúc lợi không áp dụng được trong nền kinh tế ngoài thực tế.
Kết luận này là hệ quả của việc suy luận logic dựa trên những giả định ban đầu, do đó chắc hẳn một trong số những giả định nói trên sẽ không còn chính xác. Tôi sẽ quay lại vấn đề này trong Chương 7 bằng cách giải thích kĩ hơn về việc Nguyên lý Đầu tiên về Phúc lợi yêu cầu những người tham gia vào thị trường cần sở hữu thông tin hơn là chỉ suy đoán: Vì một số người có thông tin nội bộ, nên một số thị trường sẽ không thể tồn tại.
ĐỒNG MÁC, ĐỒNG YÊN, ĐỒNG ĐÔ LA HAY ĐỒNG BẢNG ANH…
Thuyết Cân bằng Tổng quát là một công cụ hữu hiệu để giải thích nguyên nhân tại sao mọi người trao đổi với nhau và số lượng hàng hóa bao nhiêu cần được sản xuất. Nó không giải thích được lý do mọi người tiêu tiền, hoặc tương quan của sức mua của đồng đô la với giá cả các mặt hàng. Thay vào đó, kinh tế học cổ điển giải thích những khía cạnh kể trên của nền kinh tế hiện đại bằng Lý thuyết về số lượng tiền tệ.
Tiền đã được sử dụng để mua bán hàng hóa ngay từ thời con người bắt đầu biết cách tạo dựng cộng đồng để chung sống với nhau. Từ những năm 3000 trước Công nguyên, một số kim loại quý đã được người Babylon dùng làm vật trao đổi ngang giá. Tại Trung Quốc, vào đầu những năm 2000 trước Công nguyên, vỏ của những con sò tiên cũng được sử dụng như một loại tiền. Đến năm 500 trước Công nguyên, người Trung Quốc đã biết sử dụng tiền xu làm từ kim loại quý. Người Ấn Độ cũng sử dụng phương thức tương tự trong cùng khoảng thời gian này. Sự tiến hóa về hình thức của các đồng tiền, đi từ vật dụng đơn giản như vỏ sò đến kim loại quý và cuối cùng là tiền giấy là một nguyên mẫu phát triển chung trong lịch sử các nền văn minh, cho dù tốc độ của sự phát triển đó có thể khác nhau giữa các châu lục và các nền văn hóa.
Trong lịch sử, tiền thường được đúc từ hợp kim của một hoặc nhiều kim loại quý. Vào thời Trung cổ tại châu Âu, tiền làm từ vàng được sử dụng trong các giao dịch quốc tế, trong khi tiền làm từ bạc và đồng được sử dụng trong các giao dịch trong nước*. Khi châu Mĩ được tìm thấy, đã có những cuộc chở vàng ồ ạt từ các mỏ tại vùng Tân thế giới về châu Âu. Từ sự kiện này, những nhà quan sát đương thời nhận thấy giá cả của mọi hàng hóa nói chung đã đồng loạt tăng lên.
Một trong số những người nghiên cứu về tiền sớm nhất là triết gia người Anh David Hume. Ông đã viết một tiểu luận có nhan đề “Về tiền tệ” năm 1752, và cho đến tận ngày nay, nó vẫn còn có giá trị*.
David Hume và các học giả cùng thời đã đưa ra Lý thuyết về số lượng tiền tệ, trong đó khẳng định rằng giá thị trường của mọi hàng hóa và dịch vụ sản xuất trong một năm (giá thị trường của tổng sản phẩm quốc nội, viết tắt là GDP), tỉ lệ thuận với lượng tiền dự trữ. Song song với đó, các nhà kinh tế cổ điển cũng sử dụng Thuyết Cân bằng Tổng quát để xác định số lượng hàng hóa và dịch vụ cần được sản xuất và mức giá của chúng trong so sánh tương quan với nhau. Mức giá đó còn được gọi là giá tương đối hay tỉ giá (relative prices). Họ còn sử dụng Thuyết Số lượng Tiền tệ để xác định mức giá trung bình của các mặt hàng tính theo các đơn vị tiền, hay còn được gọi là giá tiền hay giá danh nghĩa (money price hay nominal price).
… ĐÓ LÀ THỨ CẢ THẾ GIỚI PHẢI XOAY QUANH
Sự khác nhau giữa giá tương đối, được xác định bằng Thuyết Cân bằng Tổng quát, và giá tiền, được xác định bằng Thuyết Số lượng Tiền tệ được giải thích như sau: Giả sử Denis là người công nhân cuối cùng được thuê vào một công ti sản xuất hộp nhôm. Denis có thể sản xuất 40 hộp một tuần, trong 40 giờ làm việc*. Thuyết Cân bằng Tổng quát cổ điển dự đoán rằng lương dành cho Denis là một sản phẩm một giờ. Nó không nhắc gì đến tiền lương hoặc giá thị trường của một hộp nhôm. Những giá trị này không được giải thích trong Thuyết Cân bằng Tổng quát. Tại điểm cân bằng, có thể Denis kiếm được 1 đô la một giờ, và một hộp nhôm trị giá 1 đô la; hoặc, Denis kiếm được 10 đô la một giờ và một hộp nhôm cũng trị giá 10 đô la. Cả hai trường hợp này, dưới góc nhìn về giá tương đối của Thuyết Cân bằng Tổng quát, là tương tự nhau.
Đó là lúc Thuyết Số lượng Tiền tệ phát huy tác dụng. Theo thuyết này, giá tiền của một hàng hóa phụ thuộc vào lượng tiền đang lưu hành trong nền kinh tế bởi tiền là công cụ để thúc đẩy việc giao thương. Như Hume đã từng viết:
Tiền, nói một cách chính xác, không phải là chủ đề chính của việc giao thương. Nó chỉ là một phương tiện để giúp con người có thể trao đổi hàng hóa với nhau thuận tiện hơn. Nói một cách hình tượng, nó không phải là bánh xe của cỗ xe thương mại, mà chỉ là dầu nhớt giúp cho chuyển động của bánh xe trở nên dễ dàng và thuận tiện hơn (Hume, 1754, trang 281).
Tư tưởng cho rằng tiền là dầu nhớt thúc đẩy bánh xe quay nhanh hơn có sức ảnh hưởng mạnh mẽ, tới mức nó xuất hiện trong tất cả các lời giải thích về kinh tế học cổ điển của thời nay. Bản chất của nó là, các hoạt động kinh tế sẽ xoay quanh các yếu tố chủ chốt như nhu cầu của con người, nguồn lực, công nghệ… Và theo đó, trong dài hạn, số lượng tiền lưu thông chỉ quyết định được mức giá hàng hóa ngoài thị trường mà thôi. Tư tưởng này có thể được diễn đạt trong một mệnh đề ngắn gọn: Trong dài hạn, tiền mang tính chất trung lập.
TRỰC THĂNG RẢI TIỀN
Con người thường không hiểu rõ về tính trung lập của tiền. Vì thế, đôi khi, người ta dự đoán rằng theo Thuyết Số lượng Tiền tệ thì khi lượng tiền tăng gấp đôi thì giá cả cũng tăng gấp đôi, và điều này sẽ không gây tổn hại gì đến các hoạt động kinh tế. Ông Ben Bernanke, giám đốc của FED, đôi khi sử dụng cụm từ “máy bay trực thăng thả một núi tiền” (Helicopter Ben) để nhấn mạnh cho yếu tố không gây tổn hại này khi bơm tiền vào nền kinh tế. Trong một bài phát biểu, ông có nêu lại ví dụ dưới đây, vốn là một phần trong công trình nghiên cứu của Nhà kinh tế từng đoạt giải Nobel, Milton Friedman (1994, trang 29).
Friedman gợi ý rằng chúng ta thử suy ngẫm xem điều gì sẽ xảy ra nếu một chiếc máy bay trực thăng bay vòng quanh một quốc gia và liên tục thả tiền xuống. Một người, với cách hiểu đơn giản về Thuyết Số lượng Tiền tệ, sẽ dự đoán rằng hệ quả ngay lập tức là giá của mọi mặt hàng trong quốc gia đó sẽ tăng gấp đôi, nhưng số lượng hàng hóa được trao đổi thì sẽ giữ nguyên. Theo đó, lúc mọi người thức dậy vào sáng thứ Tư, khi chiếc máy bay đã hoàn thành nhiệm vụ trong đêm thứ Ba, giá của một cốc cà phê là 1 đô la trong thứ Ba sẽ trở thành 2 đô la vào thứ Tư. Thực chất Thuyết Số lượng Tiền tệ phức tạp hơn như vậy rất nhiều. Mặc dù thuyết này nói rằng, trong dài hạn tiền sẽ không có tác động gì nhiều đến tỉ lệ thất nghiệp hay sản lượng hàng hóa, nhưng trong ngắn hạn, thuyết này không dám khẳng định điều đó, do những kết quả ngoài thực tế đã chứng minh ngược lại. Trên thực tế, việc bơm thêm tiền vào nền kinh tế cần thời gian để nhìn ra được những hệ quả đầu tiên.
Trên thực tế luôn tồn tại một cuộc tranh cãi dai dẳng giữa Thuyết về cân bằng tổng quát và Thuyết Số lượng Tiền tệ trong các nhà kinh tế cho đến tận ngày nay. Trong khi Thuyết Cân bằng Tổng quát dự đoán rằng giá tương đối sẽ được điều chỉnh ngay lập tức để cung và cầu của mọi hàng hóa có thể tiến đến điểm cân bằng thì Thuyết Số lượng Tiền tệ lại dự đoán rằng mức giá chung trên thị trường sẽ tỉ lệ thuận với số lượng tiền dự trữ, nhưng khi tiền được bơm thêm vào nền kinh tế, giá cả sẽ không thay đổi ngay lập tức. Vì thế, trong khoảng thời gian chuyển từ ngắn hạn sang dài hạn, dự đoán của Thuyết Cân bằng Tổng quát và Thuyết Số lượng Tiền tệ sẽ không thể cùng đúng. Các nhà kinh tế thống nhất rằng sự khác biệt giữa hai lý thuyết này là do hệ quả của việc tồn tại ma sát kinh tế.
MA SÁT KINH TẾ
Các nhà kinh tế thường cho rằng Lý thuyết Cân bằng Tổng quát là cách mô tả hoàn hảo về cách vận hành của các thị trường có mối liên kết chặt chẽ với nhau. Tuy vậy, tại bất kỳ thời điểm nào cũng sẽ xuất hiện những lực ma sát cản trở việc xác lập sự cân bằng giữa cung và cầu.
Kinh tế học sử dụng từ “ma sát” (friction) để ám chỉ rào cản trong việc trao đổi hàng hóa hay chi phí cần thiết chi cho việc cập nhật giá tiền các mặt hàng. Chính chi phí này là điều khiến cho các công ti không muốn liên tục điều chỉnh tiền lương và giá cả một cách nhanh chóng đến mức mà Lý thuyết Cân bằng Tổng quát có thể áp dụng hoàn hảo. Minh họa này tương tự như trong vật lý, khi lực ma sát là yếu tố chính ảnh hưởng đến sự chuyển động của các vật theo định luật của Newton. Trên thực tế, hai lý thuyết nói trên sẽ không thể đạt được các kết quả tương tự khi tiến hành trong phòng thí nghiệm, do khó khăn và chi phí trong việc tạo dựng ra các điều kiện lý tưởng. Các nhà vật lí đã dùng lực ma sát để giải thích về chuyển động đi xuống của một vật trên mặt phẳng nghiêng, hay sự mất năng lượng trong các động cơ. Còn các nhà kinh tế thì sử dụng cụm từ “ma sát kinh tế” (economic friction) để giải thích tại sao trong trường hợp lượng tiền tăng, giá cả vẫn không tăng ngay lập tức theo để thích ứng.
Khi mô hình nói trên được áp dụng vào thị trường lao động, người ta kì vọng rằng cầu lao động luôn phải cân bằng với cung lao động. Nhưng trong thực tế chúng ta luôn thấy tồn tại một tỉ lệ thất nghiệp nhất định, do đó theo quan điểm của các nhà kinh tế, đây là hệ quả của ma sát kinh tế, khiến việc điều chỉnh tiền lương không diễn ra kịp thời. Nếu lực ma sát này đủ lớn, giá cả các mặt hàng cũng như tiền lương sẽ được điều chỉnh rất chậm chạp, và nhiều khả năng là tỉ lệ thất nghiệp sẽ liên tục ở mức cao.
Vào những năm 1930, Hoa Kì đã trải qua giai đoạn 6 năm liên tiếp có tỉ lệ thất nghiệp trên 15%. Dùng kinh tế học cổ điển, chúng ta khó lòng giải thích được hiện tượng này. Cuối cùng, Keynes đã phát triển một hướng tiếp cận mới thay thế cho mô hình cung cầu trên thị trường lao động nói trên. Trong suốt 30 năm, lí thuyết của ông về cách nền kinh tế vận hành đã chiếm ưu thế chủ đạo trong giới học thuật. Bằng lý thuyết của mình, Keynes có thể giải thích được những điều đã xảy ra trong thời kỳ Đại suy thoái, và làm cách nào để có thể ngăn ngừa nó. Điều đó đã dẫn đến một cuộc cải tổ mang tính căn bản trong hệ thống chính trị và có ảnh hưởng đến tận ngày nay.

