Câu Chuyện Phương Bắc - Chương 09
Shchedrin sống trong căn nhà nhỏ mới xây gần trạm đua thuyền trên đảo Krestovsky.
Những căn phòng trong nhà được xây ở các độ cao khác nhau. Phòng nọ sang phòng kia nối nhau hai ba bậc thang. Điều đó, làm cho ngôi nhà có một phong cách ấm áp của những nguời sống trên tàu biển; đã thế, cầu thang lên tầng hai lại có tay vịn bọc đồng và những cửa sổ hình tròn giống như trên một chiếc tàu thủy.
Tóc Shchedrin đã bạc đi nhiều, khi đọc, ông đã phải mang kính. Ông dạy môn khí tượng học và thiên văn học ở Trường đại học Hàng hải.
Trong phòng ông có nhiều máy đo bằng đồng, la liệt những bản đồ có đánh dấu bắng bút chì xanh đỏ, Các máy móc trong những ngày trời sáng tỏa sáng mờ mờ như nến.
Vẻ sạch sẽ trong nhà cũng đạt tới trình độ của tàu biển. Viner trông nom dọn dẹp nhà cửa. Ông đã bị mất một tay trong trận chiến đấu ở Elabuga và từ đó không còn điều khiển được các cỗ máy yêu quý nữa.
Shchedrin vẫn trao đổi thư từ với vợ chồng Jacobsson và bác sĩ ở Mariehamn. Đầu tháng sáu, Maria Jacobsson đã từ Stockholm về đây chơi hai tháng. Có Shchedrin và Viner đều gọi cô là Marie.
Sự có mặt của người con gái trẻ tuổi đã làm thay đổi bộ mặt của các căn phòng trước đây vẫn yên tĩnh và chính xác như các máy móc thiên văn. Thoáng hiện một vẻ bề bộn dễ thương. Những chiếc bao tay phụ nữ nằm trên kính lục phân, những cánh hoa rắc lên mặt bàn viết lên những bản thảo chi chít những con số, mùi nước hoa và mùi vải mỏng thoang thoảng khắp nơi từ căn phòng của Marie trên tầng hai, mảnh giấy bạc bọc thanh sô-cô-la nằm vương trên đi-văng bên cạnh cuốn sách đang đọc đến đoạn giữa. Marie đọc ngấu nghiến để hiểu tiếng Nga được nhiều hơn.
Bên cạnh những bức chân dung của Anna Jacobsson, Pavel Bestuzhev và mẹ của Shchedrin, Marie luôn đặt trên mặt bàn con một bó lá, mấy nhánh cây đoạn, những bông hướng nhật quỳ. Trước đây căn nhà giống như con tầu, giờ đây nó còn giống một vườn ươm nữa.
Marie còn thiếu chín chắn và điều đó làm Shchedrin lo lắng. Cô vẫn giống hệt cô bé đã cậy vòng tay áo nạm vàng của ông thời ở Mariehamn.
Cô vui sướng vì tự do, hân hoan vì được đi lại một mình trong thành phố, vui sướng vì tất cả những gì được nhìn thấy ở Leningrad: các cung điện, nhà hát, cuộc sống không có những quy ước gò bó mô phạm, sự giản dị trong quan hệ giữa đàn ông và đàn bà, giữa nhà bác học và người công nhân và cuối cùng, vì ở đâu người ta cũng nhìn cô với một nụ cười. Cô cũng mỉm cười đáp lại mặc dầu cố làm ra nét mặt nghiêm nghị của một người đàn bà xinh đẹp đang có chiều thất vọng.
Đặc biệt những cuộc đi chơi của Marie làn Shchedrin lo lắng. Đã hai lần cô bị lạc. Một lần, một em thiếu nhi gầy, bé, đã đưa cô về nhà. Bấm chuông xong, em trao cô tận tay cho Viner và nghiêm túc nói:
- Bác đừng cho chị ấy ra phố một mình. Cháu phải dẫn chị ấy tận Smolny về đấy.
Marie hôn lấy hôn để chú bé, lôi chú vào phòng cho xem mô hình tàu "Dũng Cảm", các dụng cụ, bản đồ các bức tranh mô tả cảnh bão biển hay biển lúc trời êm. Chú bé được mời uống chè, cho kẹo và ra về vừa bàng hoàng, vừa sung sướng.
Chuyện xảy ra lần thứ hai xấu hơn. Marie đi chơi Petergof, lúc về bị lỡ chuyến tàu thủy cuối cùng và suốt đêm phải ngồi trên bến tầu trong một chiếc áo váy mỏng.
Hai giờ đêm, Shchedrin gọi điện đến hàng chục đồn công an, dựng dậy hàng chục người, còn sau đó khi tìm thấy Marie, ông đã phải xin lỗi và nghe những lời nhận xét bông đùa của những người trực ban.
- Chuyện vặt thôi mà! - Marie nói trong buổi trả sáng. Mắt cô long lanh mặc dầu buồn ngủ đến chết được. - Ở đất nước của chú, cháu chả sợ gì hết. Thậm chí đang đêm cháu còn lại gần một người trẻ tuổi và trò chuyện với anh ấy hồi lâu.
- Về điều gì ? - Shchedrin hỏi.
- Về tất cả, - Marie trả lời. - Sau đó có một người đi khập khiễng ra câu cá, cúi chào cháu như nhột người quen biết đã lâu.
- À, thế thì chắc phải là Ackerman rồi. - Shchedrin thốt lên. - Cái con quỷ già ấy! Ông ta vẫn đi câu ư?
- Vâng, - Marie nói. - Cùng với một con mèo, y như trong chuyện cổ tích ấy.
Marie ngủ đến tận chiều. Các cửa sổ để ngỏ. Gió lật những trang sách bỏ quên trên bậu cửa. Gió đảo những trang sách khi lên trước, khi lùi lại, tìm những câu ưa thích và khi tìm ra thì chừng lại : "Từ vương quốc của gió, vương quốc của băng giá và tuyết trắng, tháng năm của em đến sao trong trắng và tươi vui."
Marie thức giấc vì tiếng loạt xoạt ngoài cửa sổ. Gió thổi tung những bì thư đã xé trên mặt bàn. Trời tối. Xa xa, ngoài ven biển một tiếng sấm vang động gầm lên rồi trượt xuống vực sâu.
Marie nhổm dậy. Một tia chớp lóe lên ngoài cửa sổ, rung rinh rồi tắt đi trong chiều sâu của những khu vườn đang nổi gió.
Marie nhanh nhẹn rửa mặt, mặc quần áo và chạy xuống tầng dưới. Shchedrin đang ngồi bên dương cầm.
- Có giông đấy, - Ông bảo Marie. - Cháu đã ngủ chín giờ liền.
- Chú đang chơi gì đấy ạ? - Mari hỏi và ngồi vào chiếc ghế bành, chân co lại.
Cô nhìn ra cửa sổ, nơi gió nóng đã ào ào thổi trong các khu vườn, ném lên bậu cửa số những chiếc lá lìa cành. Một chiếc lá rơi lên mặt đàn dương cầm. Nắp đàn không có và chiếc lá cuộn vào giữa những sợi dây đàn thép. Shchedrin thận trọng gỡ chiếc lá ra và nói:
- Tchaikovsky[2]. Nếu chú là nhạc sĩ, hẳn chú phải viết một bản giao hưởng về khí hậu.
Marie bật cười.
- Cháu đừng cười, - Shchedrin nói và bấm đàn. - Tất cả cái đó giản đơn thôi. Chúng ta có thể trả lại khí hậu Trung Tân kỷ[3] cho Âu châu, chú không biết ở Stockholm cháu có học lịch sử trái đất không. Nhưng chắc cháu phải biết là trái đất đã trải qua mấy thời kỳ băng hà khủng khiếp.
Marie so vai lại.
- Không cần chúng thêm nữa. - Cô nghiêm trang nói.
- Tất nhiên là không cần rồi, Băng hà sinh ra từ Greenland. Phải kể ra dài dòng lắm mới hiểu được, nhưng chú chỉ nói gọn lại là chúng ta có thể thủ tiêu băng hà ở Greenland. Khi đã tiêu diệt được chúng rồi thì khí hậu Trung Tân kỷ sẽ trở lại châu Âu.
- Có ấm áp không?
- Rất ấm là khác, - Shchedrin trả lời. - Vịnh Phần Lan sẽ nhả hơi như một nồi sữa. Một năm ở đây sẽ có hai vụ mùa. Những rừng mộc lan sẽ nở hoa trên đảo Aland. Cháu hãy thử tưởng tượng xem: những đêm trắng trong rừng mộc lan! Có thể phát rồ lên được ấy chứ!
- Phát rồ lên là thế nào ạ ? - Marie hỏi.
- Làm thơ, phải lòng các cô gái, tóm lại là điên.
- Tuyệt quá! - Marie nói. - Nhưng muốn thế, phải cần những gì?
- Chuyện lặt vặt thôi. Cần phải có một cuộc cách mạng nhỏ ở Greenland. Cần phải bắt đầu những công trình khổng lồ, để ít ra là trong một thời gian làm tan lớp băng dày một mét rưỡi trên các đỉnh núi cao. Thế là đủ.
- Chú làm sao đi được đến chỗ đó?
Shchedrin chỉ những quyển sách nằm xếp đống trước mặt bàn, những bản đồ và máy đo.
- Thế những thứ này để làm gì? - Ông nói: Các bác học của chúng ta làm việc ở trên bắc cực. Những số liệu của họ đã giúp cho chú được nhiều.
Trận mưa lớn rào rào ngoài cửa sổ, trong phòng trở nên tối. Những bong bóng không khí vỡ trong các vũng nước trong vườn và có thể vì thế những làn sóng ozone nhỏ từ các vũng nước đồn tới.
- Chú đàn đi, - Marie yêu cầu. - Mỗi ngày chú lại kế cho câu nghe những chuyện cổ tích y như với một con bé ngốc nghếch.
- Đó không phải là chuyện cổ tích đâu, - Shchedrin nói và dạo một khúc nhạc trong ca kịch "Yevgeny Onegin" - Pushkin cũng không phải là một chuyện cổ tích. Tất cả những cái đó đều là thật cả.
Marie hít sâu vào lồng ngực và tư lự. Cuộc gặp gỡ buổi sáng lúc này cô thấy xa như thời thơ ấu. Nó có thực không? Anh ấy là ai - người có bộ mặt trẻ trung, xương xương, thái dương điểm bạc ấy?
Tại sao cô không hỏi anh là ai? Khó mà gặp lại người ấy lần thứ hai trong thành phố lớn mênh mông như thế này.
Trận mưa đã qua, những hạt nước rơi lách tách từ các lá cây xuống.
Marie se sẽ đứng dậy khoác chiếc áo mưa và đi ra. Cơn giông chạy sang phía Đông. Phía Tây sáng lên ánh hoàng hôn dịu dàng được cơn mưa rửa sạch.
Marie đi về Vườn Mùa Hạ.
Cô dạo bước dưới những hàng cây ướt át của khu vườn, đi ra kênh Lebyazhya, ngắm nhìn hồi lâu điện Mikhailovsky.
Đêm huyền ảo lắng xuống trên thành phố. Bước chân của những người qua lại vang lên trong tĩnh mịch. Những cây đèn trắng trên các quảng trường chỉ sáng hơn đêm chút ít.
Những tòa nhà hùng vĩ vây quanh, Marie tưởng như chúng được vẽ nên bằng mầu nước. Chỉ có những hàng cột tròn, những mặt tiền được ánh sáng tản mạn tỏa sáng nổi lên. Không thể đoán được ánh sáng từ đâu tới. Phải chăng đó là bóng đêm phản chiếu lại từ các mặt kênh hay vệt ánh nắng chiều còn tỏa mờ ở phía Tây hay những cây đèn hòa hào quang của mình với bóng tối tạo nên ánh sáng này. Nhưng nó gọi nên sự tập trung, sự suy ngẫm và nỗi buồn man mác.
Marie đi qua Ermitazh[4]. Cô đã có thăm qua viện bảo tàng và lúc này cố hình dung ra những gian phòng của nó trong đêm, ánh nước mờ mờ của sông Neva ngoài cửa sổ, sự im lặng ngàn đời của các bức tranh.
Marie đi ra quảng trường Cung Điện Mùa Đông và dừng lại. Cô không rõ thiên tài của ai, bàn tay tinh tế của ai đã tạo nên những hàng cột tròn, những tòa nhà, cổng chào, hàng rào gang tuyệt trần - cả một khoảng không gian bao la tràn đầy bóng đêm biếc xanh mát rượi và tư tưởng kiến trúc kỳ vĩ này.
Trở về, Marie đi bằng chuyến ca-nô chạy sông cuối cùng. Toàn thân tàu bằng kính, vắng vẻ, nó lắc lư đưa cô lướt trên sông Neva tối đen, qua pháo đài Petropavlovskaya, qua các thành quách, chiến lũy, những giác lầu, trụ cọc, những chiếc cầu và công viên. Người công an ngủ gật trong một góc phòng trên tầu.
Ngoài cầu Tự Do, một luồng ánh sáng đèn pha rộng chiếu lên trời, ngùn ngụt sáng rồi yếu dần đi. Nó hạ thấp dần xuống và soi sáng trên bờ sông tòa nhà bằng đá trắng giản dị và hùng vĩ.
Người công an mở mắt.
- Bắt đầu công việc chuẩn bị, - anh ta nói với Marie, - Người ta soi sáng những tòa nhà đẹp nhất.
-Chuẩn bị gì cơ ? - Marie hỏi.
- Chuẩn bị ngày hội mừng thành phố chúng tôi. - Người công an nói. - Trên thế gian này không có thành phố nào đẹp hơn Leningrad của chúng tôi. Tôi sống ở đây từ bé, nhìn nó mãi mà vẫn chưa thấy chán. Ban đêm đứng gác mà có khi không hiểu được đây là mơ hay thực. Đến gần tòa nhà, thấy rõ biển ghi số nhà có đèn sáng, bấy giờ mới yên tâm: tất cả đều là thực.
Marie e thẹn mỉm cười.
- Tôi đang học ở trường đua thuyền, - người công an nói. - Tôi vẫn phóng thuyền đua ra biển. Chiều tối ra đi, thành phố không còn thấy rõ nữa, nó chỉ còn mờ ở trong sương mù, chỉ thấy ánh lửa lấp lóe dưới mặt nước. Thậm chí khô ng muốn lên bờ nữa.
- Vậy anh đứng ở đâu trong thành phố? - Marie hỏi. - Chị chắc không phải người Nga. Chị nói khác.
- Tôi người Thụy Điển.
- À..., - anh công an nói. - Có nghĩa là chị cũng đi ngắm cảnh? Tôi ở Kênh Mùa Đông, nơi Lisa[5] đã tự vẫn.
Đến đảo Krestovsky, Marie xuồng tầu. Anh công an cũng xuống và đưa cô về nhà.
- Tôi không sợ đâu, anh tiễn làm gì ! – Marie ngượng ngập nói. - Anh vừa làm việc, mệt rồi.
- Chị đừng lo, - anh công an nói. - Tôi không phải về nhà. Tôi đi đến trạm đua thuyền và ngủ ở đó. Đằng nào đến sáng cũng phải tập để dự ngày hội. Sẽ có cuộc đua. Thẳng từ đây tới Sestroretsk. Thử sức đấy!
Bên cạnh cổng nhà mình, Marie chia tay với anh công an. Anh lịch sự bắt tay cô rồi đi. Marie đứng lại trong vườn một lát rồi bật cười. Cô suy nghĩ: các bạn gái của cô ở Stockholm sẽ nghĩ gì khi cô chìa tay cho một người công an canh gác.
*

