Con Đường Chẳng Mấy Ai Đi - Chương 19

ĐỀ KHÁNG ÂN SỦNG

Orestes đã không hề tìm đến một chuyên viên trị liệu tâm lý nào. Chàng tự chữa trị mình. Và ngay cả nếu có những bác sĩ tâm thần tài ba hành nghề trong thời cổ Hi lạp ấy, thì Orestes vẫn phải tự chữa trị chính mình. Vì, như đã nói, tâm lý trị liệu chỉ là một khí cụ – một qui phạm. Bệnh nhân – chứ không ai khác – sẽ chọn lựa hoặc từ khước khí cụ này. Và khi đã chọn lựa rồi, cũng chính bệnh nhân là người quyết định mình sẽ sử dụng nó đến mức nào và đến bao giờ. Có những người vượt qua được tất cả các chướng ngại – chẳng hạn, sự eo hẹp về tài chánh, những kinh nghiệm không tốt về các bác sĩ tâm thần hay các chuyên viên trị liệu tâm lý trước đây, sự phản đối của người thân, bầu khí lạnh lùng và buồn tẻ trong các dưỡng đường… – và họ đã thu hoạch được tất cả những lợi ích mà cuộc trị liệu có thể cống hiến cho họ. Những người khác, trái lại, sẽ cự tuyệt sự trị liệu cho dù nó được “bày sẵn trên mâm vàng”, hoặc giả họ có tìm gặp và xúc tiến công việc với một chuyên viên trị liệu, thì họ cũng chỉ “ngồi đó như kẻ mất hồn”, chẳng rút tỉa được gì, cho dù nhà trị liệu có giỏi giang và nhiệt tình đến mấy đi nữa. Mỗi lần kết thúc một tiến trình trị liệu thành công cho một thân chủ nào đó của mình, tôi thường thoáng bị cám dỗ để có cảm tưởng như mình đã chữa lành anh ta (hay cô ta) – thế nhưng, tôi hiểu sự thực không phải thế, bởi tôi chỉ là một xúc tác thôi, một xúc tác có phần may mắn! Nếu nhìn nhận rằng, nói cho cùng, chính bệnh nhân tự chữa lành mình dù có hay không có sự trị liệu tâm lý xét như một khí cụ – thì vẫn còn câu hỏi: Tại sao quá ít người làm được điều đó và quá nhiều người không làm được? Con đường trưởng thành tinh thần, dù cam go, vẫn mở ra cho hết mọi người – vậy tại sao không mấy người chọn bước đi trên con đường ấy?

Câu hỏi đó đã được Đức Kitô trả lời khi Ngài nói: “Nhiều người được gọi, nhưng ít kẻ được chọn”.[§§§] Nhưng, tại sao chỉ ít kẻ được chọn thôi? Và đâu là điểm phân biệt giữa số ít này và số đông kia? Câu trả lời mà đa số các nhà trị liệu tâm lý thường đưa ra là một câu trả lời dựa trên tầm mức nghiêm trọng khác nhau của tâm bệnh. Nói cách khác, các nhà trị liệu tin rằng trong khi phần đông người ta bị bệnh thì một số bị bệnh nghiêm trọng hơn so với những người kia, và bệnh nghiêm trọng hơn thì khó chữa trị hơn. Hơn nữa, tầm mức nghiêm trọng của tâm bệnh tùy thuộc trực tiếp vào mức độ và thời điểm mà người ta bị cha mẹ mình hất hủi trong tuổi ấu thời. Nói cụ thể, những bệnh nhân cuồng loạn nghiêm trọng được nghĩ là đã gặp sự đối xử cực kỳ tệ hại của cha mẹ trong khoảng chín tháng tuổi đầu tiên của mình; bệnh trạng của những người này có thể được xoa dịu bằng một hình thức trị liệu nào đó, nhưng hầu như không thể chữa lành được hẳn. Những người mắc chứng rối loạn tính cách được nghĩ là đã nhận được sự săn sóc thích đáng của cha mẹ trong giai đoạn sơ sinh, nhưng bị đối xử tệ hại vào thời gian giữa chín tháng và hai năm tuổi – kết quả là bệnh trạng của họ ít nghiêm trọng hơn những kẻ cuồng loạn, song vẫn là một “vấn đề lớn” và rất khó chữa trị. Những bệnh nhân mắc chứng thần kinh loạn được nghĩ là đã nhận được sự săn sóc thích đáng của cha mẹ trong vài năm đầu đời của mình, song rồi bắt đầu bị bỏ bê sau tuổi lên hai (và thường là trước tuổi lên năm hay lên sáu). Các bệnh nhân thần kinh loạn, vì thế, được cho là ít bệnh hơn những người rối loạn tính cách hay những người cuồng loạn trên kia – và do đó tình trạng của họ dễ được điều trị và chữa lành hơn rất nhiều.

Tôi tin rằng có rất nhiều sự thực hàm chứa trong luận giải vừa nêu trên; luận giải ấy là cơ sở của một hệ thống lý thuyết tâm thần học vốn rất hữu ích cho các y sĩ trong nhiều trường hợp khác nhau. Ta không nên nông nổi chỉ trích nó. Tuy nhiên, luận giải ấy cũng không giải đáp được toàn bộ vấn đề. Chẳng hạn, nó bỏ qua tầm quan trọng lớn lao nơi vai trò của cha mẹ sau tuổi thiếu thời. Người ta hoàn toàn có cơ sở để tin rằng sự săn sóc tệ hại của cha mẹ trong những năm sau này cũng có thể là nguyên nhân của nhiều loại tâm bệnh; đàng khác, sự săn sóc thích đáng của cha mẹ trong giai đoạn sau này có thể là nhân tố chữa trị rất nhiều (có lẽ tất cả) các vết thương gây ra do tình trạng tệ hại trước kia. Hơn nữa, trong khi luận giải ấy có giá trị dự báo về phương diện thống kê (chẳng hạn, nói chung, bệnh nhân thần kinh loạn dễ được chữa trị hơn bệnh nhân rối loạn tính cách – và bệnh nhân rối loạn tính cách dễ chữa trị hơn bệnh nhân cuồng loạn) – thì nó lại không tiên lượng tốt lắm về tiến trình trưởng thành của một cá nhân. Cuộc trị liệu nhanh nhất và thành công hoàn toàn mà tôi đã thực hiện, đó là với một nam bệnh nhân mắc bệnh cuồng loạn nghiêm trọng – từ lúc bắt đầu cho tới khi kết thúc trị liệu chỉ mất có chín tháng. Trong khi đó, tôi đã phải làm việc trong ba năm ròng rã với một nữ bệnh nhân “chỉ” mắc chứng rối loạn sơ sơ thôi – và kết quả đạt được hết sức ít ỏi.

Một yếu tố nữa mà luận giải về các cấp độ nghiêm trọng khác nhau của tâm bệnh đã bỏ qua không xét đến, đó là “ý chí trưởng thành” của cá nhân người bệnh. Một người bị bệnh cực kỳ nghiêm trọng nhưng đồng thời cũng có một “ý chí trưởng thành” hết sức mạnh mẽ – trong trường hợp này, sự chữa trị sẽ hoàn toàn có thể xảy ra. Đàng khác, một người chỉ bệnh nhẹ thôi – thậm chí tưởng chừng như không đáng gọi là bệnh tâm thần – nhưng vì thiếu ý chí trưởng thành một cách trầm trọng, nên đương sự không thể cải thiện một chút nào tình trạng của mình. Vì vậy tôi tin rằng ý chí trưởng thành của bệnh nhân là một chìa khóa quyết định sự thành công hay thất bại của cuộc trị liệu. Thế nhưng, đó cũng là một yếu tố không được nắm hiểu và thậm chí không được nhận ra bởi lý thuyết tâm thần học hiện đại.

Mặc dù nhận thức được tầm quan trọng lớn lao của ý chí trưởng thành, tôi vẫn không chắc mình sẽ có thể đóng góp được bao nhiêu cho việc nắm hiểu hó – bởi vì ý niệm này, một lần nữa, dẫn chúng ta tới mép bờ của huyền nhiệm. Thật rõ rằng ý chí trưởng thành, tự yếu tính của nó, là hiện tượng không khác với tình yêu. Yêu là ý chí mở rộng bản ngã ra để trưởng thành về tinh thần. Những người yêu thương đích thực, vì thế, là những người đang trưởng thành. Chúng ta đã có ghi nhận rằng khả năng yêu thương nơi người ta được di dưỡng bởi sự săn sóc đầy yêu thương của cha mẹ mình – nhưng chúng ta cũng đã đề cập rằng chỉ sự di dưỡng của cha mẹ mà thôi không đủ để giải thích khả năng này nơi tất cả mọi người. Phần hai của quyển sách này đã được đúc kết với bốn câu hỏi về tình yêu, hai trong bốn câu hỏi ấy đang được ta liên hệ đến ở đây: Tại sao một số người không hưởng ứng cuộc trị liệu – dù họ gặp được những chuyên viên trị liệu giỏi giang nhất và đầy yêu thương nhất? Và tại sao một số người vượt qua được giai đoạn thiếu thời hết sức hẩm hiu – dù có hay không có sự giúp đỡ của tâm lý trị liệu – để trở thành những con người đầy khả năng yêu thương? Tôi đã thừa nhận rằng mình không dám chắc sẽ có thể trả lời những câu hỏi ấy một cách hoàn toàn thỏa đáng. Tuy nhiên, như tôi đã nhận định, bằng việc liên hệ đến ý niệm ân sủng, chúng ta có thể có được một số tia sáng lờ mờ soi rọi cho vấn đề.

Tôi đã đi đến xác tín và cố gắng vạch rõ rằng khả năng yêu thương của người ta và – do đó – ý chí trưởng thành của họ được di dưỡng không chỉ bởi tình yêu của cha mẹ trong tuổi thiếu thời mà còn bởi ân sủng, tức tình yêu của Thiên Chúa nữa. Đây là một sức mạnh mãnh liệt ở ngoài ý thức của người ta, hoạt động xuyên qua vô thức của họ cũng như xuyên qua những con người yêu thương (không nhất thiết phải là cha mẹ họ) và xuyên qua nhiều cách thế khác nữa mà ta không hiểu được. Chính nhờ ân sủng mà người ta có thể vượt qua được nỗi khủng khiếp của tình trạng hoàn toàn thiếu vắng tình thương cha mẹ – và trở thành những con người biết yêu thương, những con người vượt xa trên cha mẹ mình trong nấc thang tiến hóa của loài người. Nhưng, tại sao chỉ có một số người tiến lên về mặt tinh thần và vượt quá tình trạng của tiền nhân mình? Tôi tin ân sủng luôn có sẵn cho mọi người; tất cả chúng ta đều được bao phủ bởi tình yêu của Thiên Chúa; không ai bị rẻ rúng hơn ai. Vì thế, câu trả lời duy nhất mà tôi có thể đưa ra là: Đa số chúng ta chọn thái độ phớt lơ tiếng gọi của ân sủng và từ khước sự trợ giúp mà ân sủng có thể đem lại cho mình. “Nhiều người được gọi, song ít kẻ được chọn”, lời tuyên bố ấy của Đức Kitô có thể được diễn dịch ở đây là: tất cả chúng ta đều được ân sủng kêu gọi, nhưng ít người trong chúng ta chọn lắng nghe tiếng gọi ấy.

Vậy, câu hỏi sẽ trở thành: Tại sao quá ít người trong chúng ta chọn lắng nghe tiếng gọi của ân sủng? Tại sao phần đông chúng ta đề kháng ân sủng? Trước đây chúng ta đã có đề cập rằng ân sủng cung cấp cho chúng ta một sự đề kháng nào đó trong vô thức để chống lại bệnh hoạn. Thế nhưng, tại sao chúng ta dường như cũng có một sức đề kháng không kém chống lại sự lành mạnh? Câu hỏi này, kỳ thực, đã được trả lời rồi. Đó chính bởi vì sự lười biếng của chúng ta, vì cái ách của “tội nguyên tổ entropy” đè nặng trên đầu tất cả chúng ta. Ân sủng là nguồn mạch sức mạnh thúc đẩy ta tiến lên trên bậc thang tiến hóa của nhân loại, thì đàng khác: lực entropy làm cho ta chống cưỡng lại sức mạnh ấy, giữ ta ở yên tại chỗ, hay thậm chí kéo ta xuống những cấp độ hiện hữu dễ chịu và thoải mái hơn. Chúng ta đã nhấn mạnh rằng việc đưa mình vào khuôn thước kỷ luật, việc sống yêu thương đích thực, việc lớn lên trong tinh thần… là những việc rất cam go và đòi hỏi nhiều nỗ lực. Cam go và nỗ lực thì ai mà không ớn! Chúng ta đã thảo luận về những nét căn bản liên quan đến vấn đề lười biếng hay entropy – song vẫn còn một khía cạnh nữa của vấn đề này đáng cho ta khảo sát thêm: đó là khía cạnh quyền lực.

Các bác sĩ tâm thần – và ngay cả nhiều người không chuyên môn khác – rất quen thuộc với sự kiện rằng nhiều vấn đề tâm thần thường xảy ra nơi người ta ít lâu sau khi họ được thăng chức và nắm giữ những chức vụ gắn liền với quyền lực và trách nhiệm cao hơn. Các bác sĩ tâm thần trong quân đội – là những người đặc biệt quen thuộc với vấn đề “thần kinh loạn do thăng chức” – cũng đồng thời nhận ra rằng vấn đề ấy rất thường xuyên… không thể xảy ra được, bởi vì nhiều quân nhân thành công ngay từ việc đề kháng lại sự… lên chức! Có vô số chàng binh nhì không muốn trở thành hạ sĩ quan – và có vô số hạ sĩ quan không muốn trở thành sĩ quan. Rất nhiều hạ sĩ quan thông minh và có năng lực nhưng thà chết còn hơn là đi học các khóa đào tạo sĩ quan!

Trong cuộc phát triển tinh thần và trong đời sống nghề nghiệp, tình hình cũng diễn ra y như thế. Bởi tiếng gọi của ân sủng là một tiếng gọi tiến lên, gọi người ta bước tới một vị trí có trách nhiệm và quyền lực cao hơn. Một đàng, cảm thức về ân sủng, về sự hiện diện thường xuyên của ân sủng và về sự gần gũi với Thiên Chúa… đồng nghĩa với cảm nghiệm thường xuyên về một niềm an bình sâu thẳm bên trong mà ít người có được. Đàng khác, đó cũng là những cảm thức gắn liền với một trách nhiệm lớn lao. Vì nhận ra mình gần gũi với Thiên Chúa cũng có nghĩa là nhận ra bổn phận trở thành Thiên Chúa, trở thành nơi thể hiện sức mạnh và tình yêu của Ngài. Tiếng gọi tiến đến với ân sủng là một tiếng gọi mời ta sống một cuộc sống đầy nỗ lực quan tâm, một cuộc sống phụng sự và hy sinh hầu như tất cả. Đó là một tiếng gọi mời ta bước ra khỏi tình trạng ấu trĩ để sống cuộc sống trưởng thành, để đóng vai trò làm cha làm mẹ đối với nhân loại xung quanh ta. T.S. Eliot đã mô tả khía cạnh này rất hàm súc trong bài giảng lễ Giáng Sinh mà ông đặt vào môi miệng của Thomas Becket trong vở kịch Vụ Án Mạng Trong Nhà Thờ Chính Tòa:

Xin các bạn hãy suy nghĩ về ý nghĩa của hai tiếng “bình an” này. Phải chăng các bạn rất ngạc nhiên vì các thiên sứ đã loan báo Bình An, mà sao thế giới vẫn tiếp tục dập vùi trong chiến tranh và trong nỗi hoang mang lo sợ chiến tranh? Phải chăng các bạn nghĩ rằng các thiên sứ đã loan tin thất thiệt, đã hứa mà không giữ lời, đã lừa phỉnh?

Nào, các bạn hãy xem cách mà đích thân Chúa chúng ta nói về Bình An. Ngài nói với các môn đệ: “Thầy để lại bình an của Thày cho anh em, Thầy ban bình an của Thầy cho anh em”. Có phải bình an của Ngài là thứ bình an như chúng ta thường hiểu: bình an là Vương quốc Anh chung sống không xung đột với các quốc gia láng giềng, là giới quí tộc không chống lại nhà vua, là chúng ta làm ăn phát đạt, cơm ngon, áo đẹp, nhà cửa ngăn nắp, vợ hiền, con ngoan…? Các môn đệ của Chúa đã không có được những thứ đó. Họ bôn ba xuôi ngược khắp nơi, lao đao lận đận dưới biển trên bờ, bị hành hạ, bị bỏ tù, bị xử tử. Vậy Bình An của Chúa là gì? Nếu câu hỏi này làm các bạn băn khoăn, thì xin các bạn hãy nhớ lại rằng Chúa cũng đã nói rõ: “Thầy ban bình an cho anh em không như thế gian ban tặng”. Nghĩa là, Bình An của Chúa trao cho các môn đệ không phải là loại bình an của thế gian.[****]

Niềm an bình của ân sủng gắn liền với những trách nhiệm và những bổn phận hết sức nặng nề. Thật không đáng ngạc nhiên sự kiện rất nhiều anh trung sĩ có năng lực không hề khao khát được thăng hàm sĩ quan. Cũng không đáng ngạc nhiên sự kiện các bệnh nhân trong quá trình trị liệu tỏ ra không mặn nồng mấy với quyền lực (tinh thần) – là quyền lực có mặt nơi bất cứ ai có một tâm thần lành mạnh. Một phụ nữ trẻ xúc tiến trị liệu với tôi được một năm – vì một chứng suy sụp thông thường – bắt đầu trở nên nắm hiểu khá nhiều về tâm bệnh của những người thân. Một bữa nọ chị hết sức phấn khởi chia sẻ với tôi rằng chị đã dàn xếp tốt đẹp được một vấn đề trong gia đình. “Tôi cảm thấy rất vui” – chị nói – “Tôi ước mình có thể tiếp tục cảm nghiệm được niềm vui này một cách thường xuyên hơn”. Tôi bảo chị rằng chị hoàn toàn có thể; và tôi vạch cho chị thấy lý do của niềm vui ấy nằm ở chỗ: đó là lần đầu tiên chị đảm nhận một vị trí có quyền lực trong quan hệ với gia đình chị, lần đầu tiên chị nhận thức được tất cả những đòn phép và những kiểu cách quanh co của những người thân có ý đồ o ép chị phải đáp ứng các đòi hỏi phi thực tiễn của họ – và nhờ nhận thức được như vậy, chị đã có thể chủ động kiểm soát được tình hình. Tôi bảo chị rằng một khi chị mở rộng được khả năng nhận thức đó ra cho những trường hợp khác nữa, chị sẽ thấy mình ngày càng “kiểm soát tình hình” nhiều hơn, và do đó chị sẽ nếm cảm niềm vui ấy một cách thường xuyên hơn. Bất chợt, người phụ nữ nhìn tôi với ánh mắt đầy sợ hãi: “Vậy thì, hóa ra tôi phải ở trong tình trạng suy nghĩ và cân nhắc hoài hay sao?” “Đúng thế,” tôi xác nhận, “Chị phải suy nghĩ nhiều thì mới tăng triển và duy trì được sức mạnh của mình; chị cũng phải suy nghĩ nhiều thì mới cắt đứt được mặc cảm bất lực vốn chính là gốc rễ gây ra tình trạng suy sụp bấy lâu nay của chị”. Người phụ nữ cực lực phản đối. Chị gầm lên: “Tôi không muốn cứ phải suy nghĩ hoài như vậy. Tôi không đến đây để tìm cách làm cho cuộc sống mình thêm khó khăn hơn. Tôi chỉ mong được thoải mái và dễ chịu. Ông đừng bắt tôi phải làm một thánh nhân, làm Thiên Chúa!” Thật đáng tiếc, sau đó ít lâu, người nữ thân chủ đầy tiềm năng ấy của tôi đã chấm dứt trị liệu. Chị đã bỏ cuộc giữa chừng, chỉ vì kinh sợ những đòi hỏi mà sự lành mạnh tâm thần đặt ra cho chị.

Một sự thực nghe có vẻ kỳ quái đối với nhiều người – song chẳng lạ lẫm gì đối với các nhà trị liệu tâm lý – đó là người ta thường tỏ ra hoảng sợ sự lành mạnh tâm thần! Đưa bệnh nhân tới chỗ cảm nghiệm được sự lành mạnh tâm thần – đó là một phần chủ yếu của tiến trình trị liệu. Song còn một phần nữa cũng chủ yếu không kém, đó là bằng nhiều cách (an ủi, khích lệ, đảm bảo, bức bách…), nhà trị liệu phải cố ngăn ngừa để không xảy ra tình trạng thân chủ của mình hoảng sợ và tháo lui khi vừa chợt hiểu sự lành mạnh tâm thần là gì và bao hàm gì. Đành rằng, nỗi hoảng sợ này cũng có một khía cạnh hợp lý của nó – và do đó tự bản chất nó không phải là không lành mạnh: nỗi sợ rằng nếu mình trở nên mạnh mẽ, mình có thể sử dụng sức mạnh ấy một cách sai trái! Thánh Augustine đã viết: “Dilige et quod vis fac” – nghĩa là “Bạn có thể làm bất cứ gì bạn muốn, miễn là bạn đang yêu thương và cần mẫn”.[††††] Một khi người ta đã tiến đủ xa trên tiến trình trị liệu, họ sẽ cắt đứt được cảm nghĩ rằng mình chẳng làm gì nổi với một thế giới dữ dằn và chai đá thế kia – trái lại, sẽ đến lúc bất chợt họ nhận ra rằng mình có đủ sức mạnh để làm bất cứ gì mình muốn. Cảm thức tự do này là một cảm thức đầy run sợ. “Nếu tôi có thể làm bất cứ gì tôi muốn, thì cái gì sẽ ngăn cản tôi phạm những lỗi tày đình, cái gì sẽ ngăn cản tôi gây tội ác, ngăn cản tôi ngông cuồng vô luân, ngăn cản tôi lạm dụng tự do và sức mạnh của tôi? Phải chăng chỉ sự cần mẫn và tình yêu của tôi đã đủ để kiểm soát tôi?”

Nếu nhận thức về sức mạnh và tự do của mình được cảm nghiệm như một tiếng gọi tiến đến với ân sủng – như sự thường là vậy – thì thái độ đáp trả cũng sẽ là: “Ôi lạy Chúa, con sợ con không xứng đáng với sự tín nhiệm mà Ngài đặt nơi con”. Dĩ nhiên, nỗi sợ này tự nó là một phần cốt yếu của tình yêu và sự cần mẫn nơi người ta – và do đó nó sẽ hữu ích trong vai trò kiểm soát chính mình và ngăn ngừa mình lạm dụng sức mạnh. Vì thế, ta không nên dẹp bỏ nó; đàng khác, cũng không nên cường điệu nỗi sợ này quá đến độ để nó che lấp không cho ta nhận ra tiếng gọi của ân sủng và ngăn cản ta đảm nhận sức mạnh trong tầm hành sử của mình. Một số người được ân sủng mời gọi có thể mất nhiều năm vật lộn với nỗi sợ này nơi mình trước khi vượt qua được nó để chấp nhận “vai trò Thiên Chúa” noi chính mình. Còn nếu nỗi sợ và cảm thức bất xứng này lớn đến nỗi níu chặt người ta, không cho phép người ta đảm nhận quyền lực – thì đó là một dạng rối loạn tâm thần, và cuộc trị liệu phải xoáy vào việc giải quyết rối loạn này như một phần chính yếu, thậm chí có thể là phần chính yếu duy nhất.

Nhưng đối với phần đông người ta, nỗi sợ lạm dụng sức mạnh như nói trên không phải là sự đề kháng cốt yếu chống lại ân sủng. Không phải vế “làm bất cứ gì bạn muốn” trong câu nói nổi tiếng của Thánh Augustine – nhưng chính là vế “hãy cần mẫn” mới khiến họ dị ứng nhiều hơn. Đa số chúng ta giống như lũ con nít hay đám thiếu niên; chúng ta tin rằng sự tự do và quyền lực của người lớn là thuộc về mình, nhưng chúng ta không cảm nhận bao nhiêu về trách nhiệm và sự tự chủ của người lớn. Một đàng, chúng ta cảm thấy mình bị áp chế bởi cha mẹ, bởi xã hội hay bởi số phận – đàng khác, chúng ta xem ra thực sự muốn có những quyền lực ở trên mình để mình có thể oán trách về những điều này điều nọ nơi chính mình. Việc vươn lên tới một vị trí mạnh mẽ đến nỗi không còn có ai để oán trách – ngoại trừ oán trách chính bản thân – đó quả là một việc làm ta run sợ. Như chúng ta đã ghi nhận, nếu không phải bởi vì muốn gần gũi và ở trong sự hiện diện của Thiên Chúa, người ta sẽ khiếp sợ và từ khước nỗi cô đơn của vị trí “một mình trơ trọi trên cao” ấy. Quả thực, nhiều người do không chịu nổi sự cô đơn ấy đã chọn lựa thà đánh mất sự gần gũi với Thiên Chúa hơn là phải sống trong cảm thức rằng chỉ một mình mình là thuyền trưởng lèo lái con tàu mình. Đa số người ta muốn thứ bình an không kèm theo nỗi cô đơn của quyền lực. Họ muốn có được sự tự do của người lớn mà không muốn phải…lớn lên!

Lớn lên – như ta đã thấy – là một quá trình đầy cam go và thách đố. Chỉ một số rất ít người tiến bước trên con đường trưởng thành một cách dứt khoát không do dự; họ hăng hái nhận lãnh những trách nhiệm mới mẻ và quan trọng hơn. Còn phần đông người ta chỉ uể oải kéo lê những bước chân nặng nề và không bao giờ là người trưởng thành thực sự. Họ luôn luôn thoái thác trước những đòi hỏi của sự trưởng thành đúng nghĩa. Và bởi vì không trưởng thành trong tâm lý nên họ cũng không thể trưởng thành trong tinh thần được. Tiếng gọi của ân sủng – trong mức độ tột cùng của nó – là một lời mời gọi người ta nên một với Thiên Chúa, đảm nhận tư cách đồng liêu của Thiên Chúa. Vì thế, đó là tiếng gọi tiến đến trưởng thành trọn vẹn. Chúng ta dễ tưởng nghĩ rằng cảm nghiệm trước tiếng gọi bất ngờ ấy của ân sủng sẽ là một cảm nghiệm vui thú, hân hoan, Trong chừng mực kinh nghiệm của bản thân mình, tôi thấy đó thường – ít là một phần – là một cảm nghiệm rụt rè, nhát sợ. Vào lúc mà, cuối cùng, chúng ta nghe rõ tiếng gọi ấy, chúng ta luống cuống kêu lên “Thôi đi, con không dám đâu, Chúa ơi”; hoặc “Lạy Chúa, con bất xứng”; hoặc “Con không thể”…

Vì thế, sự kiện “nhiều người được gọi nhưng ít kẻ được chọn” có thể được giải thích dễ dàng nếu ta xét đến những khó khăn thường hằng trong việc đáp trả lại tiếng gọi của ân sủng. Vấn đề còn lại, do đó, không phải là tại sao người ta không nhận tâm lý trị liệu hoặc tại sao họ không tận dụng được cuộc trị liệu của mình – ngay cả dù họ gặp những chuyên viên trị liệu giỏi giang nhất; vấn đề cũng không phải là tại sao người ta thường đề kháng lại ân sủng. Bởi tất cả những thực tế ấy là hậu quả tự nhiên của lực entropy nơi mỗi người. Đúng hơn, cần phải đặt câu hỏi theo chiều ngược lại: Tại sao một số người tích cực hưởng ứng tiếng gọi đầy khó khăn ấy? Cái gì là điểm phân biệt giữa số ít người này và số đông người kia? Tôi không thể trả lời được câu hỏi này. Những người này có thể đến từ những gia đình giàu cũng như nghèo, những bối cảnh văn hóa sáng sủa cũng như thê thảm. Họ có thể đã nhận được sự săn sóc ân cần và đầy yêu thương của cha mẹ trong tuổi thiếu thời, cũng có thể họ đã trải qua một tuổi thơ hoàn toàn thiếu vắng tình thương của cha mẹ. Họ có thể đến với tâm lý trị liệu vì những khó khăn nho nhỏ nào đó hay vì những tâm bệnh rõ rệt nghiêm trọng. Họ có thể là những người cao niên hay còn rất trẻ. Họ có thể bất chợt nghe được tiếng gọi của ân sủng và mau mắn hưởng ứng tiếng gọi ấy một cách dễ dàng; cũng có thể họ kịch liệt chống cưỡng lại tiếng gọi đó lúc đầu, rồi sau mới dần dần chịu nhượng bộ từng tí từng tí một. Vì vậy, sau những năm hành nghề và rút tỉa kinh nghiệm cho mình, tôi càng ngày càng ít khe khắt lựa lọc hơn trong việc ấn định chấp nhận ai và từ chối ai trong những người đến gõ cửa mình. Tôi muốn xin lỗi những người mà tôi đã từ chối chỉ vì kiểu tuyển lựa dốt nát ấy của mình. Bởi tôi nhận ra rằng trong những giai đoạn đầu của tiến trình trị liệu, tôi hoàn toàn không có khả năng dự báo ai sẽ không hưởng ứng tiến trình, ai sẽ hưởng ứng một phần và ai sẽ kiên trung đi trọn con đường tiến đến với ân sủng. Chính Đức Kitô cũng đã đề cập đến tính “không thể báo trước” này của ân sủng khi Ngài nói với Nicôđêmô: “Cũng như ông nghe tiếng gió nhưng không thể biết nó từ đâu tới hoặc nó sẽ đi đâu, về Thánh Thần cũng vậy. Người ta không biết Ngài sẽ ban cho ai sự sống từ trời”.[‡‡‡‡] Những gì chúng ta đã có thể bập bẹ về ân sủng rốt cuộc cũng đặt ta đứng trước bản chất mầu nhiệm của hiện tượng này – mầu nhiệm mà ta được gọi mời cảm nghiệm.

ĐÓN NHẬN ÂN SỦNG

Và một lần nữa chúng ta bị đặt trước một nghịch lý. Xuyên qua cả quyển sách này, tôi đã viết về sự trưởng thành tinh thần như thể đó là một tiến trình mạch lạc chặt chẽ và có thể dự báo được. Tôi đã tạo ra ấn tượng rằng sự trưởng thành tinh thần có thể được học như người ta có thể học một lãnh vực kiến thức nào đó để lấy bằng Ph.D. (tiến sĩ). Nếu bạn có đủ tiền để trả học phí và nếu bạn làm việc tích cực đúng mức, thì bạn chắc chắn sẽ thành công và lãnh được tấm bằng. “Nhiều người được gọi, nhưng ít kẻ được chọn” – lời tuyên bố ấy của Đức Kitô đã được tôi giải thích rằng: rất ít người chọn lắng nghe và hưởng ứng tiếng gọi của ân sủng bởi vì người ta khiếp sợ những khó khăn bao hàm trong tiếng gọi ấy. Bằng cách giải thích như vậy, tôi đã chỉ ra rằng việc chúng ta có nhận được hoa quả của ân sủng hay không – đó là vấn đề hoàn toàn do ta chọn lựa. Một cách cốt yếu, tôi muốn nói rằng ân sủng là cái mà ta kiếm được. Và tôi hiểu đó là sự thật.

Tuy nhiên, đồng thời tôi cũng biết rằng những gì vừa nêu trên không phải là tất cả sự thật. Chúng ta không đến với ân sủng; chính ân sủng đến với chúng ta. Dù chúng ta cố chụp bắt ân sủng, ân sủng vẫn có thể vuột khỏi chúng ta. Ta có thể không kiếm nó mà nó vẫn gặp ta. Trong ý thức mình, chúng ta có thể cháy bỏng khát khao sức sống tinh thần, nhưng rồi nhận ra bao nhiêu chướng ngại sừng sững chặn đường không cho ta bước tới. Hoặc giả chúng ta xem ra chẳng có mấy thao thức về sự sống tinh thần, nhưng rồi bỗng thấy mình được thúc đẩy mãnh liệt tiến lên – bất kể sự yếu hèn cố hữu nơi mình. Xét trên một bình diện nào đó, chính chúng ta là người chọn lựa hoặc đón nhận hoặc từ khước tiếng gọi của ân sủng; nhưng xét trên một bình diện khác, xem ra rõ ràng là Thiên Chúa – chứ không phải chúng ta – làm công việc chọn lựa này. Những người đã từng đạt được ân sủng, nhận được “sự sống mới ban xuống từ trời”, thường cảm nghiệm một niềm sửng sốt về tình trạng của chính họ. Họ không nghĩ rằng họ đã chiếm lĩnh được tình trạng ấy. Trong khi thực tiễn họ vẫn nhận ra bản chất đặc biệt tốt lành nơi mình, họ không hề gán bản chất ấy cho ý chí của riêng họ. Đúng hơn, họ cảm nghiệm rõ rệt rằng bản chất tốt lành nơi họ đã được tạo ra bởi đôi bàn tay khôn ngoan và khéo léo hơn đôi bàn tay của chính họ. Những ai gần gũi với ân sủng nhất cũng là những người ý thức sâu sắc nhất về đặc tính kỳ diệu của món quà mà mình đã được trao cho.

Làm sao ta giải quyết nghịch lý này? Ta không thể. Có lẽ điều duy nhất mà ta có thể nói – đó là: trong khi ta không thể chủ động chọn ân sủng, thì ta vẫn có thể chủ động mở rộng chính mình ra để ân sủng đến với mình. Chúng ta có thể sửa soạn chính mình thành một mảnh đất tốt, một môi trường thuận tiện. Nếu chúng ta có thể khuôn mình vào một cuộc sống hoàn toàn tuân thủ theo qui phạm, một cuộc sống triệt để yêu thương, thì dẫu cho chúng ta dốt đặc thần học và chẳng suy tư trịnh trọng gì về Thiên Chúa, chúng ta vẫn có thể hoàn toàn sẵn sàng để đón nhận ân sủng đến với mình. Trái lại, việc nghiên cứu thần học – xét trong mục đích dọn đường cho ân sủng – chỉ là phương thế loại tồi, và tự thân nó là một việc hoàn toàn vô ích. Dù vậy, tôi đã viết phần này bởi vì tôi tin rằng việc ý thức về sự hiện hữu của ân sủng có thể hỗ trợ rất nhiều cho những ai chọn lựa đi trên con đường trưởng thành tinh thần đầy chông gai. Ý thức ấy sẽ giúp làm cho cuộc hành trình của họ được dễ dàng hơn trong ít nhất ba khía cạnh: nó giúp họ biết tận dụng ân sủng trong quá trình mình bước đi; nó trao cho họ một cảm thức chắc chắn hơn về hướng đi của mình; và nó cung cấp cho họ sự khích lệ.

Tính nghịch lý nơi sự kiện rằng ta vừa chọn ân sủng vừa được chọn bởi ân sủng chính là cốt lõi của hiện tượng cơ duyên. Cơ duyên được định nghĩa là “ơn gặp được những điều giá trị hay những điều phù hợp mà không do mình cố ý kiếm tìm”. Đức Phật đã gặp được sự giác ngộ chỉ khi ngài ngừng tìm kiếm nó – chỉ khi ngài để cho nó đến với ngài. Đàng khác, ai có thể phủ nhận sự kiện rằng sự giác ngộ ấy đã xảy đến với Đức Phật chính bởi vì ngài đã bỏ ra ít nhất mười sáu năm trong cuộc đời ngài để tìm kiếm nó, mười sáu năm sửa soạn? Ngài đã phải vừa tìm kiếm nó vừa không tìm kiếm nó. Các Nữ Thần Trừng Phạt đã được chuyển hóa thành các Phúc Thần cũng chính bởi vì Orestes đã vừa nỗ lực tranh thủ ân huệ của chư thần vừa đồng thời không mong ngóng chư thần xử khoan hồng cho mình. Chính nhờ xuyên qua cái nghịch lý của việc vừa tìm kiếm vừa không tìm kiếm ấy mà chàng đã nhận được món quà của cơ duyên là những điều tốt lành của ân sủng.

Hiện tượng này cũng thường xuyên xảy ra trong việc các bệnh nhân vận dụng những giấc mơ của mình vào tiến trình trị liệu tâm lý. Một số bệnh nhân, ý thức rằng các giấc mơ hàm chứa những lời giải đáp cho các vấn đề của mình, sẽ tích cực tìm kiếm những lời giải đáp ấy bằng cách chú ý ghi nhận và trình bày lại từng giấc mơ của mình một cách chi tiết cho nhà trị liệu. Và họ có một bộ sưu tập dày cộm những giấc mơ. Nhưng các giấc mơ của họ lại xem ra không hữu ích mấy. Hay có thể nói, tất cả những tư liệu giấc mơ này có thể là một chướng ngại cho cuộc trị liệu. Vì một đàng, khó có đủ thời gian để phân tích tất cả những giấc mơ ấy. Đàng khác, những tư liệu giấc mơ ngồn ngộn ấy có thể làm bỏ nhỡ việc phân tích những lãnh vực có nhiều triển vọng hơn. Hơn nữa, tất cả những tư liệu giấc mơ ấy nói chung thường rất mập mờ. Những bệnh nhân này cần phải được khuyến cáo ngừng săn đuổi các giấc mơ, cần biết để cho các giấc mơ tự nhiên đến với mình, cần biết để cho vô thức lựa chọn đẩy giấc mơ nào lên vùng ý thức. Sự kiềm chế này tự nó là một việc có thể rất khó khăn; nó đòi bệnh nhân phải bỏ bớt một lượng kiểm soát và chấp nhận một mối quan hệ thụ động hơn trong tâm thức mình. Nhưng một khi bệnh nhân đã biết ngừng việc cố săn đuổi và bám riết các giấc mơ, thì bấy giờ các tư liệu giấc mơ được anh ta (hay cô ta) ghi nhớ sẽ giảm thiểu về lượng nhưng sẽ tăng rất nhiều về chất. Kết quả là các giấc mơ của đương sự – những món quà từ vô thức mà đương sự không còn cố ý tìm kiếm nữa – sẽ trở nên rất hữu ích đối với tiến trình chữa trị. Tuy nhiên, nếu nhìn mặt bên kia của hiện tượng này, chúng ta sẽ thấy rằng có rất nhiều bệnh nhân xúc tiến việc trị liệu mà hoàn toàn không ý thức hay không nhận hiểu về giá trị lớn lao mà các giấc mơ có thể cống hiến cho họ. Họ gạt phăng ra khỏi ý thức mình tất cả các giấc mơ vì cho rằng chúng không quan trọng và không đáng chú ý. Những bệnh nhân này cần phải được khuyến cáo để biết ghi nhớ các giấc mơ của mình, biết cách trân trọng chúng và nhận hiểu kho tàng ẩn chứa trong chúng. Để sử dụng các giấc mơ một cách hữu hiệu, chúng ta phải ý thức về giá trị của chúng và học biết cách tận dụng chúng khi chúng xảy đến với mình; và đôi khi chúng ta cũng phải biết cách buông chúng ra, không tìm kiếm và không kỳ vọng chúng. Chúng ta phải để cho các giấc mơ trở thành những món quà đích thực.

Đối với ân sủng cũng vậy. Chúng ta đã ghi nhận rằng các giấc mơ chính là một hình thức hay cách thế qua đó các món quà của ân sủng được ban cho ta. Và cùng một hiện tượng nghịch lý mà ta đang đề cập ở đây có thể được nhận ra nơi các hình thức khác nữa của ân sủng: những ý nghĩ bất chợt, những linh cảm, những biến cố có tính cơ duyên hay trùng hợp. Và phổ quát hơn tất cả, đó cũng là hiện tượng nghịch lý của tình yêu. Mọi người đều muốn được yêu. Nhưng trước hết chúng ta phải làm cho chính mình trở nên đáng yêu. Chúng ta phải sửa soạn mình để được yêu. Chúng ta làm công việc sửa soạn này bằng cách chính chúng ta trở nên những con người đầy yêu thương và đầy khuôn thước kỷ luật. Nếu ta cố xoay xở để được yêu – nếu ta mong ngóng được yêu – ta sẽ không thể được yêu, vì bấy giờ ta trở nên lệ thuộc và bám víu người khác chứ không phải yêu thương họ đích thực. Đàng khác, khi chúng ta biết dinh dưỡng chính mình và người khác mà không chủ yếu nhằm thu vén một phần thưởng nào, chúng ta sẽ trở nên đáng yêu – và phần thưởng được yêu (mà ta chẳng hề cố tìm kiếm) sẽ xảy đến với ta. Tình yêu của con người cũng thế và tình yêu của Thiên Chúa cũng vậy.

Một mục đích chính của phần này – phần nói về ân sủng – là nhằm giúp cho những ai bước đi trên con đường trưởng thành tinh thần nhận hiểu được khả năng của cơ duyên. Và thiết tưởng chúng ta nên định nghĩa lại cơ duyên không phải là một món quà tự thân nó mà, đúng hơn, đó là một khả năng do người ta đắc thủ được để nhận ra và vận dụng các món quà của ân sủng được ban cho họ ngoài tầm định đoạt của ý thức họ. Với khả năng này, chúng ta sẽ nhận ra rằng cuộc hành trình trưởng thành tinh thần của mình được hướng dẫn bởi bàn tay vô hình và sự khôn ngoan khôn lường của Thiên Chúa – với sự chính xác muôn vàn lần vượt trên khả năng của ý thức chúng ta. Được hướng dẫn như thế, cuộc hành trình của ta sẽ dễ dàng và nhanh chóng hơn nhiều.

Những ý niệm nêu trên – bằng cách này hay cách khác – vốn đã được trình bày bởi Đức Phật, bởi Đức Kitô, bởi Lão Tử, và bởi nhiều vị khác. Nền tảng của quyển sách này đặt trên sự kiện rằng tôi cảm nhận và trình bày lại chính những ý tưởng khôn ngoan của các vị ấy theo cách của mình – một con người sống ở thế kỷ hai mươi. Nếu bạn muốn nắm hiểu nhiều hơn những gì mà các trình bày ở đây có thể cung ứng, bạn có thể tìm lại các văn liệu xa xưa. Hãy tìm cách để hiểu hơn, nhưng đừng mong có được sự chỉ dẫn với nhiều chi tiết hơn. Có rất nhiều người – do tính cách thụ động, lệ thuộc, nhát sợ và lười biếng của mình – cố tìm kiếm sự chỉ dẫn chi li và cụ thể từng bước một. Họ muốn rằng mỗi bước chân của họ sẽ là một bước tuyệt đối an toàn và chắc chắn. Không bao giờ có chuyện đó. Vì cuộc hành trình trưởng thành tinh thần đòi người ta phải có lòng can đảm, phải có sự sáng tạo và tính cách độc lập trong tư tưởng cũng như trong hành động. Đành rằng lời nói của các nhà tiên tri và sự hỗ trợ của ân sủng vẫn có sẵn đó cho bạn, nhưng bạn phải một mình bước đi trong cuộc hành trình này. Không một vị thầy nào có thể cõng bạn đến nơi phải đến. Không có những công thức tiền chế. Các nghi tiết (tôn giáo) chỉ là những phương tiện hỗ trợ cho nhận thức, chúng không phải là chính sự nhận thức. Việc thực hành ăn kiêng, việc đọc năm kinh kính mừng trước bữa điểm tâm, việc cầu nguyện quay về hướng đông hay hướng tây, việc đi nhà thờ vào ngày chủ nhật… tự chúng sẽ không đưa bạn về đến đích điểm cuộc hành trình. Không có ngôn từ nào hay sự chỉ dạy nào có thể được đưa ra để “giải phóng” cho những kẻ bước đi trên hành trình trưởng thành tinh thần khỏi phải vất vả nhọc nhằn tìm ra cách thế của riêng mình để tiến đến hội nhập bản ngã mình với Thiên Chúa.

Ngay cả dù chúng ta thực sự nhận hiểu những điều ấy, cuộc hành trình trưởng thành tinh thần vẫn còn là một hành trình cô quạnh và khó khăn đến nỗi rất thường làm ta nản lòng. Sống trong một thời đại khoa học, ta có được nhiều lợi điểm trong một số phương diện – nhưng có những bất lợi nhất định trong một số phương diện khác. Chúng ta tin vào những nguyên lý có tính cơ giới của vũ trụ; chúng ta không tin vào những điều kỳ diệu. Nhờ khoa học, chúng ta biết rằng mình đang sống trong một hành tinh bé nhỏ quay quanh một ngôi sao lọt thỏm trong một thiên hà ở giữa hàng trăm triệu thiên hà khác. Và cũng như chúng ta dường như mất hút giữa cái bao la của vũ trụ bên ngoài mình, khoa học cũng đưa ta đến chỗ cảm nhận về chính mình như một cái gì hoàn toàn bất lực và bị kiểm soát bởi những lực nội tại không qui phục ý chí của mình – bởi những phân tử hóa học trong óc não mình và bởi những xung động trong vô thức làm mình cảm nghĩ và ứng xử theo những cách mà thậm chí bản thân mình cũng không hiểu mình đang làm gì. Như vậy, việc thay thế các thần thoại của chúng ta bằng những thông tin khoa học đưa ta đến chỗ cảm nhận về mình như một cái gì vô nghĩa lý. Chúng ta có thể có nghĩa gì, trong tư cách là những cá nhân hay ngay cả trong tư cách là cả giống loài, khi mà chúng ta bị xô đẩy bởi những động lực tâm lý và sinh hóa bên trong chính mình – những động lực mà ta không hiểu biết? Chúng ta có thể có nghĩa gì khi mà chúng ta mất hút trong một vũ trụ mà các chiều kích của nó to lớn đến nỗi ngay cả khoa học của chúng ta cũng không đo lường được?

Thế nhưng, cũng chính khoa học – một cách nào đó – đã giúp tôi cảm nhận thực tại ân sủng. Và cho tới đây trong quyển sách này tôi đã cố gắng chuyển đạt sự cảm nhận ấy. Một khi chúng ta nhận ra sự tồn tại và hoạt động của ân sủng, chúng ta sẽ không còn thấy mình vô nghĩa nữa. Ở bên trên chúng ta và vượt quá ý chí của ý thức chúng ta có tồn tại một sức mạnh mãnh liệt giúp di dưỡng cho sự trưởng thành và cuộc tiến hóa của ta – sự kiện ấy đã đủ để làm đảo lộn những mặc cảm vô nghĩa lý về chính mình. Vì sự tồn tại của sức mạnh ấy (một khi ta cảm nhận được) là dấu chứng không thể chối cãi rằng sự phát triển tinh thần của chúng ta chiếm tầm quan trọng đệ nhất đối với một cái gì đó lớn lao hơn bản thân chúng ta. Chúng ta gọi “một cái gì đó” này là Thiên Chúa. Sự hiện hữu của ân sủng là bằng chứng không chỉ cho thấy thực tại Thiên Chúa mà còn cho thấy cả sự thực rằng Thiên Chúa muốn tích cực quan tâm đến sự trưởng thành tinh thần nơi cá nhân mỗi người. Điều vốn tưởng như một câu chuyện thần tiên lại té ra là hoàn toàn có thực! Chúng ta sống cuộc sống mình trong ánh nhìn của Thiên Chúa – không phải ở đâu đó ngoài rìa mà là ở giữa ánh nhìn của Ngài, ở giữa sự quan tâm của Ngài. Rất có thể rằng vũ trụ này chỉ là một trong những nấc thang trên con đường dẫn đến Vương Quốc của Thiên Chúa. Nhưng đừng nghĩ rằng chúng ta mất hút trong vũ trụ. Trái lại, thực tại ân sủng cho thấy rằng loài người nằm ở trung tâm của vũ trụ. Thời gian và không gian này hiện hữu là để cho chúng ta đi qua. Mỗi khi một thân chủ của tôi đánh mất cảm thức về giá trị của chính mình và đâm ra chán nản không muốn tiếp tục nỗ lực làm việc nữa, tôi thường nhắc anh ta (hay cô ta) rằng nhân loại đang ở trong một bước nhảy tiến lên – và “bước nhảy này của loài người chúng ta có thành công hay không là tùy ở bạn”. Dĩ nhiên, tùy ở tôi nữa, tùy ở từng người trong tất cả chúng ta. Vũ trụ này – một nấc thang – được đặt ra đó để chúng ta bước qua. Nhưng chính chúng ta phải bước qua nó, từng người một. Nhờ ân sủng, chúng ta sẽ không trượt ngã. Và nhờ ân sủng, chúng ta biết rằng sự tiếp đón nồng nhiệt đang đợi chờ ta. Giục giã. Ta còn đòi gì hơn nữa?

LỜI BẠT

Kể từ khi The Road Less Traveled được xuất bản lần đầu, tôi hân hạnh nhận được nhiều thư của độc giả. Những lá thư ấy thật tuyệt vời. Tất cả đều rất sắc sảo và đầy quan tâm. Bên cạnh những lời tưởng lệ, đa số các thư đều có kèm những món quà thú vị: những bài thơ minh họa, những trích dẫn hữu ích từ các tác giả khác, những châm ngôn hàm súc và những mẩu chuyện kể lại các kinh nghiệm cá nhân. Các thư ấy có ý nghĩa rất lớn cho cuộc sống của chính bản thân tôi. Qua đó tôi tin rằng trên đất nước này đang có một lực lượng đông đảo những người – đông đảo hơn mình vốn tưởng – đã và đang âm thầm kiên trì bước đi trên con đường trưởng thành tinh thần “chẳng mấy ai đi”. Họ cám ơn tôi vì đã giúp làm vơi bớt nỗi cô đơn trên hành trình của họ. Tôi cám ơn họ cũng vì họ đã giúp làm vơi bớt nỗi cô đơn trên hành trình của tôi.

Một số độc giả hỏi về niềm tin của tôi đối với tinh hiệu quả của trị liệu tâm lý. Tôi đã xác nhận rằng dĩ nhiên chất lượng của các nhà trị liệu rất khác nhau. Và tôi vẫn tin rằng phần đông những người không đạt được kết quả gì khi làm việc với một chuyên viên trị liệu giỏi, đấy bởi vì họ thiếu nhiệt tình và ý chí cần thiết để làm nghiêm túc công việc. Tuy nhiên, tôi đã bỏ sót không nêu một sự kiện rằng một thiểu số rất nhỏ người ta – khoảng 5 phần trăm – có những vấn đề tâm thần thuộc bản chất không hưởng ứng sự trị liệu tâm lý, và thậm chí việc khảo sát chuyên sâu có thể làm cho những vấn đề ấy trở nên tệ hại hơn.

Bất cứ ai đọc xong và hiểu quyển sách này thì hầu chắc không thuộc về con số 5 phần trăm ấy. Dẫu sao đi nữa, trách nhiệm của một nhà trị liệu giỏi là phải biện biệt kỹ lưỡng và nhiều khi rất từ từ để xác định ai là người không nên dấn sâu vào công việc phân tâm – và thay vào đó, hướng dẫn họ đến với những hình thức trị liệu khác có thể hữu ích cho họ.

Nhưng thế nào là một nhà trị liệu giỏi? Một số độc giả của The Road Less Traveled (Con Đường Chẳng Mấy Ai Đi) đang có ý tìm đến tâm lý trị liệu đã đặt câu hỏi rằng làm sao có thể chọn được nhà trị liệu thích hợp, làm sao xác định được một nhà trị liệu giỏi hay không giỏi. Lời khuyên đầu tiên của tôi là bạn phải rất nghiêm túc khi làm công việc chọn lựa này. Đây là một trong những quyết định quan trọng nhất mà bạn có thể có trong cuộc đời bạn đấy. Nhận trị liệu tâm lý là một cuộc đầu tư lớn, không chỉ về tiền bạc mà nhất là về thời giờ và năng lực quí báu mà bạn phải bỏ ra. Nói theo ngôn ngữ của giới mua bán cổ phiếu thì đây là một cuộc đầu tư với hệ số rủi ro rất cao. Nếu bạn chọn lựa đúng, cuộc đầu tư này sẽ đem lại cho bạn những món lãi tinh thần mà bạn chưa bao giờ dám mơ. Còn nếu bạn chọn lựa sai, có thể cũng chẳng thiệt hại gì, nhưng chắc chắn là bạn sẽ uổng phí phần lớn tiền bạc, thời giờ và sức lực mà bạn bỏ vào đó.

Vậy, bạn đừng ngần ngại đi dò la tìm hiểu một vòng trước đã. Và cũng đừng ngần ngại tín nhiệm vào trực giác của bạn. Thường thì chỉ cần một cuộc tiếp xúc, bạn sẽ có thể xác định ngay vị này là “thứ thiệt” hay là “tay mơ”. Nếu gặp vị “tay mơ”, bạn hãy thanh toán chi phí cho buổi gặp duy nhất ấy và tìm kiếm một vị khác. Những trực giác ấy thường khó xác định, song chúng có thể bật ra từ những dấu hiệu nho nhỏ mà rất rõ ràng. Hồi tôi bắt đầu tìm đến tâm lý trị liệu, năm 1966, tôi rất quan tâm và thắc mắc nhiều về tính đúng đắn của sự dính líu của Mỹ trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Trong phòng đợi của vị y sĩ, tôi thấy những tờ Ramparts và New York Review of Books – cả hai đều là những tờ báo tự do và đều có những chủ trương phản chiến. Tôi hiểu rằng mình đã gõ đúng cửa, ngay cả trước khi tôi gặp ông ta!

Nhưng khuynh hướng chính trị, tuổi tác, phái tính của vị y sĩ của bạn không phải là những yếu tố quan trọng nhất. Điều quan trọng hơn: đó có phải là một con người có sự quan tâm đích thực không? Cả vấn đề này nữa, bạn thường có thể xác định một cách nhanh chóng – dù vị y sĩ sẽ không rối rít nắm tay bạn và dõng dạc thề thốt sẽ hết mình với bạn đâu. Những vị y sĩ giàu quan tâm thường là những vị tỏ ra cẩn trọng, mực thước và nhiều khi hơi nghiêm nghị. Nhưng bạn có thể trực giác và nhận biết bên trong vẻ nghiêm nghị ấy là sự nồng nhiệt hay sự lạnh lùng.

Các y sĩ sẽ phỏng vấn bạn để quyết định xem có thể nhận bạn làm thân chủ hay không. Vậy bạn cũng cần phải biết phỏng vấn vị y sĩ để xem có thể nhận vị ấy làm nhà điều trị cho mình hay không. Nếu thấy cần, bạn đừng ngần ngại hỏi xem vị y sĩ nghĩ gì về – chẳng hạn – phong trào giải phóng phụ nữ, về đồng tính luyến ái hay về tôn giáo… Bạn có quyền nhận được những câu trả lời nghiêm túc, cởi mở và thành thực. Đối với những loại câu hỏi khác – chẳng hạn cuộc trị liệu sẽ kéo dài bao lâu, hay những nốt đỏ trên da bạn có thể phải là triệu chứng của một tâm bệnh hay không – thì bạn nên tín nhiệm vị y sĩ nào thú nhận rằng mình không biết. Thật vậy, những người am hiểu nhiều và thành công trong bất cứ nghề nghiệp nào mà sẵn sàng thú nhận mình không biết về những điều họ không biết – thì thường đó là những chuyên gia thực sự đáng tin cậy.

Khả năng của một nhà trị liệu không có nhiều quan hệ lắm với những học vị mà họ có thể có. Tình yêu, lòng can đảm và sự khôn ngoan không thể được chứng nhận qua những tấm bằng. Chẳng hạn, những bác sĩ tâm thần “được hội đồng chứng nhận” – tức những nhà trị liệu có học vị cao nhất – đã trải qua quá trình đào tạo kỹ lưỡng đến nỗi khi làm việc với họ, bạn có thể tin rằng mình không đang rơi vào một tay “dỏm”. Thế nhưng, không phải bao giờ một bác sĩ tâm thần cũng làm công việc trị liệu giỏi hơn – hay thậm chí giỏi bằng – một nhà tâm lý, một nhân viên công tác xã hội hoặc một giáo sĩ. Thực tế, hai trong số những nhà trị liệu kiệt xuất nhất mà tôi được biết thậm chí đã chưa bao giờ tốt nghiệp đại học.

Nghe ngóng dư luận cũng thường là cách tốt nhất để bạn tìm kiếm một nhà trị liệu. Nếu một bạn hữu mà bạn tín nhiệm đã tỏ ra hài lòng với công việc của một nhà trị liệu nào đó, thì bạn nên đến gõ cửa vị ấy xem sao. Một cách khác, đặc biệt đáng áp dụng khi bạn có những vấn đề về thể lý nữa – đó là bạn nên bắt đầu với một bác sĩ tâm thần. Là những người đã trải qua đào tạo y khoa, các bác sĩ tâm thần thường là những nhà trị liệu đắt tiền nhất; nhưng họ cũng có điều kiện tốt nhất để nắm hiểu thấu đáo mọi góc cạnh trong vấn đề của bạn. Vào cuối buổi gặp, sau khi vị bác sĩ tâm thần đã nắm được khái quát các chiều kích của vấn đề của bạn, bạn có thể yêu cầu vị ấy giới thiệu mình cho một nhà trị liệu không chuyên ngành y và ít tốn kém hơn, nếu điều này thích đáng. Những bác sĩ tâm thần giỏi nhất thường sẵn sàng nói cho bạn biết ai là những chuyên viên trị liệu đáng tin cậy trong vùng của bạn. Dĩ nhiên, nếu vị bác sĩ tâm thần trao cho bạn ấn tượng tốt và nhiệt tình muốn nhận bạn làm thân chủ, bạn có thể xúc tiến công việc với chính vị ấy.

Nếu bạn bị khó khăn về tài chánh và bạn không có bảo hiểm y tế cho việc trị liệu tâm lý theo hình thức ngoại trú, có lẽ sự chọn lựa duy nhất của bạn là tìm đến một trung tâm sức khoẻ tâm thần do chính phủ hay do một bệnh viện bảo trợ. Ở đó, chi phí sẽ được ấn định dựa theo khả năng thực tế của bạn – và bạn có thể an tâm rằng mình sẽ không rơi vào một lang băm. Dĩ nhiên, việc trị liệu ở các trung tâm thường không được cặn kỹ, và bạn không có nhiều khả năng để chọn lựa nhà trị liệu cho mình. Nhưng nói chung, kết quả thường rất khả quan.

Những chỉ dẫn vắn tắt trên đây có thể không đạt mức chi tiết như bạn đọc mong muốn. Nhưng điều tôi muốn nhấn mạnh hàng đầu, đó là việc trị liệu tâm lý đòi hỏi một mối quan hệ mật thiết (xét về mặt tâm lý) giữa hai con người – nên không gì có thể miễn chước cho bạn trách nhiệm phải tự mình chọn lựa con người thích hợp mà mình có thể tín nhiệm để nhận làm người hướng dẫn mình. Nhà trị liệu tốt nhất cho người này có thể không phải là tốt nhất cho người kia. Mỗi người, cả nhà trị liệu lẫn bệnh nhân, đều độc đáo; và bạn phải cậy dựa vào sự phán đoán theo trực giác độc đáo của riêng bạn. Bởi vì bao giờ cũng còn đó tính rủi ro, nên tôi chúc bạn may mắn. Và bởi vì hành vi nhận trị liệu tâm lý – với tất cả những hệ lụy của nó – là một hành vi đầy can đảm, nên tôi nghiêng mình thán phục bạn.

M. Scott Peck

Bliss Road

New Preston, Conn. 06777

——————————-

[*] Phóng dịch bài thơ “Amazing Grace” của John Newton (1725-1807).

[†] cf. “Một Khảo Nghiệm Về Các Giấc Mơ Và Vê Thần Giao Cách Cảm”, đăng trong tờAmerican Journal of Psychiatry (March 1970) tr 1282-89. Bất cứ ai vẫn còn chưa tin về thực tại ngoại cảm giác (ESP) – hoặc còn nghi ngờ về cơ sở khoa học của nó – rất nên đọc bài báo này.

[‡] The Portable Jung, Joseph Campbell, ed. (New York: Viking Press, 1971) tr 511-12.

[§] Những Mạc Khải Của Tình Yêu Thần Linh, Grace Warrack, ed. (New York: British Book Centre, 1923) chương VI.

[**] Ý niệm rằng sự tiến hóa vận động ngược chiều với luật tự nhiên không phải là một ý niệm mới mẻ. Tôi nhớ hồi mình còn học ở đại học, có đọc thấy một tác giả tuyên bố: “Tiến hóa là một dòng xoáy trong định luật thứ hai của nhiệt động học”, nhưng rất tiếc là tôi không thể nhớ chính xác trong sách nào. Gần đây hơn, ý niệm đó đã được trình bày rất sâu sắc bởi Buckminster Fuller trong tác phẩm Và Nó Đến Để Đi – Không Phải Để Ở Lại (New York: Macmillan, 1976).

[††] André P. Derdeyn, “Child Custody Contests in Historical Perspective”, American Journal of Psychiatry, Vol. 133, No. 12 (Dec. 1976), tr 1369.

[‡‡] C.G. Jung, Memories, Dreams, Reflections, Aniela Jaffe, ed. (New York: Vintage Books, 1965) tr 4.

[§§] Tôi phân biệt giữa cô đơn và cô độc. Cô độc là tình trạng không có ai để giao tiếp trên bất cứ cấp độ nào. Người có quyền lực được vây quanh bởi nhiều người khác và được họ hăm hở giao tiếp với; vì thế, người có quyền lực ít khi cô độc và nhiều khi thậm chí khát khao tình trạng cô độc. Trong khi đó, cô đơn là tình trạng không có ai để giao tiếp ở cấp độ nhận thức của mình.

[***] Tôi nhận thấy rằng luận giải này về tâm bệnh có vẻ quá đơn giản. Chẳng hạn, nó không xét đến những yếu tố thể lý hay sinh hóa – là những yếu tố có tầm ảnh hưởng rất lớn và ngay cả có tầm quyết định trong một số trường hợp. Tôi cũng nhận ra rằng nhiều người có thể chỉ vì cảm thức thực tại chính xác hơn những người xung quanh mình quá – đến độ bị gán là “mất trí” bởi một “xã hội bệnh hoạn”. Tuy nhiên, luận giải được nêu ra ở đây vẫn đúng trong đa số các trường hợp tâm bệnh.

[†††] Matthêu 5,3.

[‡‡‡] Có nhiều bản khác nhau về thần thoại này, với những sự khác biệt rất đáng kể giữa chúng. Câu chuyện trình bày ở đây phần lớn được toát lược từ quyển Mythology của Edith Hamilton (New York: Mentor Books, New American Library, 1958). Tôi chú ý đến thần thoại này nhờ đọc thấy Rollo May sử dụng nó trong tác phẩm Tình Yêu và Ý Chí của ông – và T.S. Eliot sử dụng nó trong vở kịch Cuộc Đoàn Tụ Gia Đình.

[§§§] Matthêu 22,14; xin cũng xem Matthêu 20,16.

[****] The Complete Poems and Plays, 1909-1950 (New York: Harcourt Brace, 1952) tr 198-99.

[††††] 1Jn.7. Patrologia Latina, 35, 2033.

[‡‡‡‡] Ga 3,8. Bản dịch này trích từ Living Bible bởi vì, theo tôi, dường như nó hay hơn bản King James.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.