Cuộc Nổi Dậy Ở Phố Wall - Chương 5

Khoác diện mạo cho HFT

Sergey Aleynikov không phải là kẻ di cư háo hức nhất thế giới khi đặt chân đến Mỹ, hay nói đúng hơn là đến Phố Wall. Anh rời Nga năm 1990, một năm sau khi bức tường Berlin bị kéo đổ, nhưng trong buồn bã, hơn là hy vọng. “Năm 19 tuổi, tôi không hình dung được là mình sẽ rời bỏ đất nước này,” anh nói. “Tôi có tình yêu sâu đậm dành cho nước Nga. Tôi đã khóc khi Brezhnev25 chết. Và tôi lúc nào cũng ghét tiếng Anh. Tôi đã nghĩ mình hoàn toàn không có khả năng học ngôn ngữ.” Vấn đề của anh với nước Nga là chính phủ sẽ không cho phép anh học thứ mà anh muốn học. Anh không phải là người mộ đạo theo bất kỳ nghĩa thông thường nào, nhưng anh sinh ra đã là người Do Thái, và điều này được ghi chú trên cuốn hộ chiếu Nga của anh để nhắc mọi người phải nhớ đến nó. Là người Do Thái, anh sẽ phải trải qua một kỳ thi cực khó mới được vào đại học, kỳ thi mà nếu qua được, anh sẽ được phép vào học một trong hai trường đại học dễ chấp nhận người Do Thái hơn cả ở Moscow, và có thể học bất cứ thứ gì mà nhà chức trách cho phép người Do Thái học. Trong trường hợp của Serge, đó là toán học. Anh sẵn lòng chịu đựng tình trạng này; tuy nhiên, thật tình cờ, anh cũng được sinh ra để trở thành một chuyên gia lập trình máy tính. Mãi cho đến năm 1986, khi 16 tuổi, anh mới được đặt tay lên một chiếc máy tính. Việc đầu tiên anh làm là viết một chương trình: anh ra lệnh cho chiếc máy tính vẽ một đồ thị sóng hình sin. Khi chiếc máy tính thực hiện theo lệnh của anh, anh đã hoàn toàn bị bỏ bùa. Theo anh, thứ bỏ bùa anh là “định hướng chi tiết của nó. Cách thức nó đòi hỏi khả năng thấy được vấn đề và xử lý vấn đề đó từ nhiều góc độ khác nhau. Nó không đơn thuần như cờ vua, mà giống như việc giải quyết một vấn đề cụ thể trong cờ vua. Vấn đề khoai hơn không nằm ở việc chơi cờ, mà ở việc viết ra đoạn mã chơi cờ.” Anh nhận thấy rằng việc viết mã không chỉ lôi cuốn anh về trí tuệ mà còn về cả tình cảm. “Viết một chương trình giống như sinh hạ một đứa con,” anh nói. “Đó là một sự sáng tạo. Nó là kỹ thuật, nhưng nó cũng là một công trình nghệ thuật. Ta sẽ có được cảm giác mãn nguyện như thế đó.”

Anh nộp đơn xin chuyển chuyên ngành từ toán sang khoa học máy tính, nhưng các nhà chức trách không chấp thuận. “Đó là chuyện khiến tôi phải chấp nhận ý kiến rằng có lẽ Nga không phải là nơi thích hợp nhất dành cho tôi,” anh nói. “Khi mà họ không cho tôi học khoa học máy tính.”

Năm 1990, anh đến New York và ở trong khu ký túc xá của Hiệp hội Nam nữ Thanh niên Do Thái ở phố 92. Vùng đất mới này có hai điều làm anh sốc: sự đa dạng của những người thuộc đủ mọi sắc tộc đang bước đi trên phố, và những dãy đồ ăn ngập tràn trong các cửa hàng thực phẩm. Anh chụp những dãy xúc xích ở Manhattan và gửi về cho mẹ anh ở Moscow. “Tôi chưa bao giờ nhìn thấy nhiều xúc xích như thế,” anh nói. Tuy vậy, sau sự ngạc nhiên trước sự dồi dào của nước Mỹ, anh băn khoăn tự hỏi những đồ ăn này cần thiết đến độ nào. Anh đọc những cuốn sách viết về tiết thực và tác động của các chế độ ăn uống nghiêm ngặt khác nhau. “Tôi quyết định lùi ra xa hơn một chút để tìm hiểu và đặt câu hỏi cái gì tốt, cái gì không,” anh nói. Cuối cùng, anh trở thành một người ăn chay khó tính. “Tôi không cho rằng tất cả năng lượng mà ta có đều đến từ đồ ăn,” anh nói. “Tôi nghĩ nó đến từ môi trường quanh ta.”

Anh đến Mỹ trong tình cảnh không có một đồng xu dính túi nào và không thật sự biết phải làm thế nào để kiếm tiền. Anh học một khóa dạy xin việc. “Khóa học đó thật khủng khiếp,” anh nói. “Tôi không nói được tiếng Anh, thật tình là thế, và sơ yếu lý lịch là một khái niệm hoàn toàn xa lạ.” Người đầu tiên phỏng vấn Serge đề nghị anh kể về bản thân. “Đối với một tư duy kiểu Nga,” Serge cho biết, “câu hỏi đó có nghĩa là ‘Anh sinh ra ở đâu?’ ‘Anh chị em của anh là ai?’” Serge đã kể cho người đàn ông đó một tràng dài về việc anh xuất thân từ một dòng tộc học giả và viện sĩ Do Thái như thế nào, ngoài ra chẳng thêm điều gì khác nữa. “Ông ấy nói sẽ liên lạc lại với tôi, nhưng tôi chẳng bao giờ nhận được bất kỳ tin gì.” Tuy vậy, anh rõ là có khiếu lập trình và nhanh chóng tìm được một công việc với mức lương 8,75 đô-la một giờ tại một trung tâm y tế ở New Jersey. Từ trung tâm y tế này, anh xin được một công việc tốt hơn, trong khoa Khoa học Máy tính của Đại học Rutgers, ở đây, thông qua một dạng kết hợp phức tạp vừa làm vừa học có học bổng nào đó, anh có thể theo đuổi tấm bằng thạc sĩ. Sau Rutgers, anh làm vài năm trong các công ty khởi nghiệp trực tuyến, cho đến năm 1998, anh nhận được lời mời làm việc cho một công ty viễn thông lớn của New Jersey, tên là IDT. Trong 10 năm tiếp theo, anh thiết kế hệ thống máy tính và viết mã định tuyến hàng triệu cuộc gọi điện thoại mỗi ngày cho những đường dây điện thoại giá rẻ nhất. Khi anh gia nhập IDT, công ty có 500 nhân viên; đến năm 2006, quân số của công ty đã lên đến 5.000 và anh là ngôi sao công nghệ ở đây. Cũng trong năm đó, một hãng săn đầu người gọi cho anh thông báo ở Phố Wall đang trỗi lên một nhu cầu mới cho đúng kỹ năng mà anh sở hữu: viết mã phân tích khối lượng lớn thông tin ở tốc độ cao.

Serge chẳng biết gì về Phố Wall, anh cũng chẳng đặc biệt vội vã tìm hiểu về nó. Dù có biệt tài làm cho máy tính chạy nhanh, song anh lại thuộc dạng chậm chạp và tỉ mẩn. Hãng săn đầu người kia ấn cho anh cả chồng sách liên quan đến chủ đề viết phần mềm trên Phố Wall, cộng thêm một cuốn sách vỡ lòng về cách vượt qua cuộc phỏng vấn tuyển dụng trên Phố Wall và nói với anh rằng, ở Phố Wall, anh có thể kiếm được gấp nhiều lần con số 220.000 đô-la một năm mà anh đang kiếm được ở công ty viễn thông. Serge cảm thấy lâng lâng, nhưng khi đọc các cuốn sách đó, anh nghĩ Phố Wall không phải là chốn dành cho anh. Anh thích những thách thức công nghệ ở công ty viễn thông mà giờ đã trở thành một gã khổng lồ và không thật sự cảm thấy có nhu cầu phải kiếm thêm tiền. Một năm sau, đầu năm 2007, công ty săn đầu người lại gọi anh. Thời điểm này IDT đang gặp khó khăn nghiêm trọng về tài chính; Serge bắt đầu lo rằng ban quản lý đang phá tan công ty. Anh không có khoản tiết kiệm nào đáng kể. Elina, vợ anh, lúc đó đang mang bầu đứa thứ ba, và họ cần mua một ngôi nhà lớn hơn. Serge đồng ý tham gia cuộc phỏng vấn với doanh nghiệp Phố Wall đặc biệt muốn gặp anh: Goldman Sachs.

Chí ít là ngoài mặt, Sergey Aleynikov có cuộc sống mà người ta thường cho rằng ai đến Mỹ cũng là vì thế. Anh kết hôn với một cô bạn đồng hương người Nga xinh đẹp cũng là dân di cư và bắt đầu xây dựng gia đình. Họ đã bán ngôi nhà hai phòng ngủ theo phong cách Cape ở Clifton, New Jersey và mua một ngôi nhà lớn hơn theo phong cách thuộc địa ở Little Falls. Họ có một chị trông trẻ. Họ có một nhóm người Nga mà họ gọi là bạn. Mặt khác, Serge chỉ tập trung vào công việc, và vợ anh chẳng mảy may hay biết công việc đó có dính đến những gì; họ không thật sự gần gũi nhau đến thế. Anh không khuyến khích mọi người tìm hiểu rõ về mình hay tỏ vẻ hứng thú với việc tìm hiểu họ. Anh đã mua nhiều món đồ mà anh không hứng thú lắm. Bãi cỏ cho ngôi nhà ở Clifton là một ví dụ rõ ràng về những vấn đề chung chung này. Khi săn tìm ngôi nhà đầu tiên, anh phấn khích với ý tưởng có một bãi cỏ của riêng mình. Ở Moscow, người ta chẳng bao giờ nghe nói đến một thứ kiểu như vậy. Ngay khi có bãi cỏ, anh lập tức hối hận. (“[Nó] như cái nhọt ở mông.”) Một nhà văn người Nga tên là Masha Leder, người biết về gia đình Aleynikov cũng như bất kỳ ai, nghĩ rằng Serge là một lập trình viên máy tính có tài năng phi thường nhưng đồng thời cũng có cái chất điển hình của một người Nga gốc Do Thái, một anh chàng mà các vấn đề kỹ thuật thường trở thành lời biện minh cho việc không tham gia vào thế giới hỗn loạn quanh mình. “Toàn bộ cuộc đời Serge là một dạng ảo vọng nào đó,” chị nói. “Hoặc một giấc mơ nào đó. Anh ta không nhận thức được mọi thứ. Anh ta thích những cô gái mảnh khảnh mê nhảy nhót. Anh ta cưới về một cô và có ba đứa con với cô ta trước khi phát hiện ra mình thật ra chẳng biết gì về cô ta cả. Anh ta làm việc quần quật, còn cô ta thì tiêu xài số tiền mà anh ta kiếm được. Anh ta về nhà, và cô ta nấu cho anh ta các món chay. Anh ta được phục vụ, về cơ bản là vậy.”

Và rồi Phố Wall gọi tới. Goldman Sachs đẩy Serge qua một loạt các cuộc phỏng vấn qua điện thoại, rồi gọi anh đến tham dự đủ các cuộc phỏng vấn trực tiếp kéo dài cả ngày trời. Anh thấy những cuộc phỏng vấn này vô cùng căng thẳng, thậm chí có chút kỳ cục. “Tôi không quen thấy mọi người dồn nhiều sức như vậy vào việc đánh giá người khác,” anh nói. Hết cuộc này rồi đến cuộc khác, có cả tá nhân viên Goldman cố quay anh bằng những vấn đề đau đầu nhức óc, các câu đố máy tính, câu đố toán học và thậm chí cả một chút vật lý ánh sáng. Goldman ắt là dần dà cũng thấy rõ (như Serge), anh biết về hầu hết những thứ được hỏi đến hơn cả những người phỏng vấn anh. Cuối ngày đầu tiên, Goldman mời anh quay trở lại vào hôm sau. Anh trở về nhà và nghĩ thế là xong: anh không chắc mình muốn làm việc tại Goldman Sachs. “Nhưng sáng hôm sau, tôi lại có cảm giác háo hức cạnh tranh,” anh nói. “Tôi nên kết thúc và cố gắng vượt qua nó vì quả thật nó là một thử thách lớn.”

Anh ngạc nhiên khi thấy rằng chí ít cũng có một cách để anh tìm được sự hòa hợp ở đây: Hơn một nửa lập trình viên ở Goldman là người Nga. Người Nga có tiếng là những lập trình viên giỏi nhất Phố Wall, và Serge nghĩ anh biết lý do: họ buộc phải học lập trình máy tính mà không có được sự xa xỉ là thời gian sử dụng máy tính vô tận. Nhiều năm sau này, khi có vô khối thời gian dùng máy tính, Serge vẫn viết các chương trình mới trên giấy trước khi đánh chúng vào máy. “Ở Nga, thời gian dùng máy tính được tính bằng phút,” anh nói. “Khi viết chương trình, ta sẽ được cho một khoảng thời gian cực ít ỏi để thao tác cho nó chạy. Vậy nên chúng tôi học cách viết mã theo những cách làm sao để giảm thời gian gỡ lỗi xuống tối thiểu. Và vì vậy, ta phải nghiền ngẫm nó thật kỹ trước khi viết nó ra giấy. Thời gian sử dụng máy tính dư dả tạo ra phương thức làm việc đặc thù: có ý tưởng là gõ ngay vào máy tính và có thể xóa nháp cả 10 lần. Các lập trình viên giỏi người Nga, ai cũng từng có thời kinh qua chuyện chỉ được dùng máy tính trong khoảng thời gian hạn hẹp.

Anh trở lại nếm thêm vòng phỏng vấn nữa của Goldman, vòng quay này kết thúc trong văn phòng của một nhà giao dịch cao tần cấp cao − cũng là một người Nga, tên là Alexander Davidovich. Vị giám đốc điều hành này của Goldman có hai câu hỏi cuối cùng dành cho Serge, cả hai đều nhằm kiểm tra khả năng giải quyết vấn đề của anh. Câu hỏi đầu tiên: 3.599 có phải là số nguyên tố không?

Serge nhanh chóng nhận thấy có điều gì đó lạ lùng ở con số 3.599: Nó rất gần với 3.600. Anh nảy ra các phương trình sau:

3599 = (3600 – 1) = (60² – 1²) = (60 – 1) (60 + 1) = 59 × 61

3599 = 59 × 61

Không phải số nguyên tố.

Bài toán không khó, nhưng như anh nói “nó sẽ khó hơn khi ta phải giải thật nhanh.” Anh mất khoảng chừng 2 phút để hoàn thành bài toán. Câu hỏi thứ hai mà vị giám đốc Goldman hỏi anh phức tạp và hấp dẫn hơn. Anh ta tả cho Serge nghe một căn phòng − một khối hộp chữ nhật − và cho anh biết số đo ba chiều của nó. “Anh ta nói có một con nhện trên sàn nhà, và cho tôi tọa độ. Ngoài ra, trên trần nhà có một con ruồi. Anh ta cũng cho tôi tọa độ của con ruồi đó. Sau đó, anh ta đặt câu hỏi: Hãy tính khoảng cách ngắn nhất để con nhện có thể tới được chỗ con ruồi.” Con nhện không thể bay hay đu người; nó chỉ có thể bò trên các bề mặt. Con đường ngắn nhất giữa hai điểm là đường thẳng, và vì vậy, Serge phát hiện ra rằng, đây là vấn đề mở hộp, biến một vật thể ba chiều thành một bề mặt hai chiều, rồi dùng định lý Pythagore để tính khoảng cách. Anh mất vài phút mới giải xong câu đố này; khi anh hoàn thành, Davidovich mời anh về làm cho Goldman Sachs. Mức lương khởi điểm có cộng thưởng của anh là 270.000 đô-la.

* * *

Serge gia nhập Goldman vào thời khắc thú vị trong cả lịch sử của hãng nãy, cũng như lịch sử của Phố Wall. Giữa năm 2007 là thời điểm mà phòng giao dịch trái phiếu của Goldman đang hỗ trợ và khích động một cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, nổi tiếng nhất là việc giúp chính phủ Hy Lạp gian lận sổ sách và ngụy trang các khoản nợ, đồng thời thiết kế các chứng khoán thế chấp dưới chuẩn để kiếm chác chút ít khi mua các chứng khoán này. Đây cũng là thời gian phòng cổ phiếu của Goldman đang phải thích ứng với những thay đổi triệt để trên thị trường chứng khoán Mỹ − vừa khi thị trường này chuẩn bị đổ sụp.Cái thị trường èo uột thiểu số bán, chỉ có Nasdaq và Sàn Giao dịch Chứng khoán New York thống lĩnh giờ nhanh chóng chuyển mình thành một thứ gì đó khác hẳn. Mười ba sàn giao dịch cổ phiếu đại chúng ở New Jersey đều giao dịch các cổ phiếu giống hệt nhau. Rồi chỉ trong vòng vài năm sau đó sẽ có hơn 40 mạng lưới giao dịch chứng khoán khối lượng lớn trong bóng tối, hai trong số đó thuộc sở hữu của Goldman Sachs, cũng chỉ giao dịch những cổ phiếu này.

Sự phân mảnh của thị trường chứng khoán Mỹ được tiếp sức phần nào bởi bộ luật Reg NMS, bộ luật này cũng kích thích một khối lượng giao dịch đáng kể trên thị trường chứng khoán. Phần lớn khối lượng giao dịch mới này không phải do các nhà đầu tư kiểu cũ tạo ra, mà bởi những chiếc máy tính cực nhanh do các hãng giao dịch cao tần điều khiển. Về cơ bản, khi càng có nhiều nơi để giao dịch cổ phiếu, cơ hội để các nhà giao dịch cao tần xen vào giữa người mua ở sàn này và người bán ở sàn khác càng cao. Chuyện này có phần ngược đời. Lời hứa hẹn lúc đầu của công nghệ máy tính là loại bỏ lớp trung gian ra khỏi thị trường tài chính hay chí ít là giảm bớt khối lượng mà trung gian có thể kiếm chác từ thị trường. Thực tế hóa ra lại là lộc trời cho các trung gian tài chính − con số nằm đâu đó trong khoảng từ 10 tỉ đô-la đến 22 tỉ đô-la mỗi năm, tùy theo việc ta muốn tin theo ước tính nào. Đối với Goldman Sachs, một trung gian tài chính, điều đó chỉ có tốt mà thôi.

Tin buồn là Goldman vẫn chưa kiếm chác được gì mấy từ nguồn tiền mới này. Cuối năm 2008, họ thông báo cho các lập trình viên giao dịch cao tần của mình biết, đơn vị giao dịch của họ có lợi nhuận ròng vào khoảng 300 triệu đô-la. Cùng năm đó, bộ phận giao dịch cao tần của quỹ đầu tư mạo hiểm Citadel kiếm được 1,2 tỉ đô-la. Dân HFT vốn nổi tiếng là hay giấu lợi nhuận, nhưng một vụ kiện giữa một người trong bọn, một anh chàng người Nga tên là Misah Malyshev và ông chủ cũ của mình, Citadel, đã hé lộ rằng, trong năm 2008, Malyshev đã được trả 75 triệu đô-la tiền mặt. Có những lời đồn râm ran − và hóa ra là đúng − về chuyện hai anh chàng bỏ Knight về làm cho Citadel với lời đảm bảo tiền lương 20 triệu đô-la một năm cho mỗi người. Một công ty săn đầu người đứng giữa thị trường và nhìn thấy những gì mà các hãng trả cho các nhân tài công nghệ đã nói: “Goldman mới bắt đầu tìm hiểu, nhưng thật ra họ vẫn chưa biết. Họ còn không có mặt trong tốp 10.”

Lý do đơn giản giải thích tại sao Goldman không kiếm được khoản kếch xù mà các hãng khác hiện đang kiếm được trên thị trường chứng khoán là thị trường này đang trở thành cuộc chiến robot, và robot của Goldman thì chậm chạp. Nhiều chiến lược kiếm chác là kiểu được ăn cả, ngã về không. Khi mọi người chơi đều cố thực hiện cùng một việc, người ôm được toàn bộ số tiền là người có những chiếc máy tính có thể lấy dữ liệu và hành động trước tất cả những người khác. Trong đủ kiểu đua tranh đang diễn ra, Goldman hiếm khi là người cán đích đầu tiên. Đó là lý do vì sao họ lại tìm đến Serge Aleynikov trước tiên: để cải thiện tốc độ cho hệ thống của mình. Như Serge thấy, hệ thống này có nhiều vấn đề. Đó đúng là một mớ hổ lốn chứ không phải một hệ thống. “Các cách dựng mã ở IDT có tổ chức và cập nhật hơn ở Goldman nhiều,” anh nói. Lõi hệ thống được Goldman mua từ 15 năm trước, khi mua lại một trong các hãng giao dịch điện tử thời kỳ đầu, Hull Trading. Khối lượng mã cồng kềnh trong phần mềm cũ (Serge đoán rằng toàn bộ nền tảng này có cỡ chừng 60 triệu dòng mã) và 15 năm sửa chữa các kiểu đã tạo ra một dạng thức máy tính giống như quả bóng quấn dây cao su để vá víu khổng lồ. Khi một sợi dây cao su trong số đó đứt, người ta muốn Serge tìm ra và nối nó lại.

Goldman Sachs thường lấy phức hợp làm lợi thế. Chẳng hạn, hãng thiết kế những chứng khoán thế chấp dưới chuẩn dạng phức hợp mà không ai hiểu, rồi sau đó lợi dụng sự thiếu hiểu biết mà mình đã đưa vào thị trường. Sự tự động của thị trường chứng khoán tạo ra một kiểu phức hợp khác hẳn, với nhiều hệ quả vượt ra khỏi dự liệu của Goldman Sachs. Chẳng hạn như một ví dụ nhỏ là hoạt động giao dịch của Goldman trên Sàn Nasdaq. Năm 2007, Goldman sở hữu tòa nhà gần Nasdaq nhất. Tòa nhà này là nơi án ngữ mạng lưới giao dịch chứng khoán khối lượng lớn trong bóng tối của Goldman. Khi Serge đến, có hàng vạn thông điệp trên giây đang bay qua bay lại giữa các máy tính nằm trong hai tòa nhà. Anh nghĩ, khoảng cách gần hẳn phải mang lại cho Goldman Sachs lợi thế nào đó − suy cho cùng, tại sao hãng phải mua tòa nhà nằm gần sàn này nhất? Nhưng khi xem xét kỹ, anh thấy rằng, để băng qua con phố, từ chỗ Goldman sang chỗ Nasdaq, tín hiệu cần 5 mili giây, tức gần bằng khoảng thời gian mà hai năm sau đó một tín hiệu cần để di chuyển trên mạng lưới nhanh nhất từ Chicago tới New York. “Giới hạn lý thuyết [của việc gửi tín hiệu] từ Chicago tới New York và đi ngược trở lại là khoảng chừng 7 mili giây,” Serge nói. “Tất cả những con số cao hơn thế là do ma sát mà con người tạo ra.” Ma sát có thể sinh ra do khoảng cách vật lý − chẳng hạn, trong trường hợp tín hiệu băng qua một con phố ở Carteret phải đi qua một đường không thẳng lắm. Nó có thể là do phần cứng máy tính. Song nó cũng có thể là do phần mềm chậm chạp và cồng kềnh gây ra − và đây chính là vấn đề của Goldman. Nền tảng giao dịch cao tần của họ được thiết kế, đúng phong cách điển hình của Goldman, như một hệ thống ra lệnh tập trung. Mọi tín hiệu gửi đi đều phải qua máy mẹ ở Manhattan rồi mới ra thị trường. “Nhưng độ trễ [5 mili giây] chủ yếu không phải là do khoảng cách vật lý,” Serge nói. “Đó là vì lưu lượng đi qua tầng tầng thiết bị chuyển đổi trong hãng.”

Nói chung, Serge được tuyển về để giải quyết ba vấn đề, tương ứng với ba giai đoạn của một giao dịch điện tử. Đầu tiên là tạo ra thứ được gọi là cây tín hiệu điện báo, tức một phần mềm chuyển dịch dữ liệu từ mười ba sàn giao dịch đại chúng thành một luồng dữ liệu đơn nhất. Luật Reg NMS buộc các ngân hàng lớn phải thực hiện một bổn phận mới: lấy thông tin từ mọi sàn để đảm bảo rằng họ đang tiến hành lệnh của khách hàng theo giá tốt nhất chính thức trên thị trường − giá NBBO. Nếu Goldman Sachs mua cho khách hàng 500 cổ phiếu của IBM với giá 20 đô-la một cổ phiếu trên Sàn Giao dịch Chứng khoán New York mà không mua 100 cổ phiếu của IBM được bán với giá 19,99 đô-la trên Sàn BATS trước, thì họ đã phạm luật. Giải pháp dễ dàng và ít tốn kém nhất để giải quyết vấn đề này đối với các ngân hàng lớn là sử dụng luồng dữ liệu kết hợp mà các sàn giao dịch đại chúng tạo ra − SIP. Một vài ngân hàng chỉ làm có vậy. Nhưng để làm dịu bớt mối lo ngại của khách hàng rằng SIP quá chậm và chỉ cho họ thấy khung nhìn cũ về thị trường, một vài ngân hàng đã hứa hẹn tạo ra một luồng dữ liệu nhanh hơn − nhưng đương nhiên không một thứ gì họ tạo cho các lệnh của khách hàng có thể nhanh bằng thứ họ tự tạo ra cho mình.

Serge chẳng dính đến bất cứ thứ gì mà khách hàng của Goldman sử dụng. Công việc của anh là xây dựng hệ thống mà các nhà giao dịch độc quyền của Goldman Sachs sử dụng trong các hoạt động của mình − và mọi chuyện cứ thế diễn ra mà không cần một lời nào về việc nó cần nhanh hơn bất cứ thứ gì mà các khách hàng sử dụng. Việc đầu tiên và rõ ràng nhất mà anh thực hiện để các robot của Goldman hoạt động nhanh hơn chính là việc anh đã làm ở IDT để hàng triệu cuộc gọi điện thoại có thể tìm thấy tuyến đường rẻ nhất: anh phân tán hệ thống của Goldman. Thay vì để các tín hiệu đi từ nhiều sàn khác nhau phải quay trở lại trung tâm của Goldman, anh thiết lập các tiểu trung tâm riêng trên mỗi sàn. Để thu thập thông tin từ các cây tín hiệu điện báo riêng này, Goldman cần đặt máy tính của mình gần với máy khớp lệnh của các sàn hết sức có thể. Phần mềm lấy thông tin từ cây tín hiệu điện báo và dùng nó để tìm ra các giao dịch thông minh trên thị trường là giai đoạn hai của quá trình. Serge viết lại nhiều đoạn mã để phần mềm có thể chạy nhanh hơn. Giai đoạn thứ ba được gọi là “nhập lệnh”. Đúng như tên gọi, đây là phần mềm gửi các giao dịch trở lại thị trường để chúng được thực thi trên đó. Serge cũng xử lý giai đoạn này. Mặc dù anh không nghĩ theo hướng này, nhưng quả thực anh đã xây dựng một hãng giao dịch cao tần trong lòng Goldman Sachs. Tất nhiên, tốc độ mà anh tạo ra cho Goldman Sachs có thể dùng cho nhiều mục đích khác nhau. Nó có thể đơn giản được các giao dịch viên độc quyền ở Goldman sử dụng để triển khai những chiến lược khôn ngoan của mình một cách nhanh nhất có thể. Nó cũng có thể được chính các giao dịch viên độc quyền này sử dụng để trục lợi từ lệnh của khách hàng trên thị trường đại chúng khi những lệnh này còn đang di chuyển chậm chạp trong mạng lưới giao dịch chứng khoán khối lượng lớn trong bóng tối. Chẳng hạn, tốc độ mà Serge mang lại có thể được họ sử dụng để bán cho Rich Gates cổ phiếu của Chipotle Mexican Grill với giá cao trong mạng lưới giao dịch chứng khoán khối lượng lớn trong bóng tối, trong khi cùng lúc mua được nó từ chính anh với giá thấp hơn trên sàn giao dịch đại chúng.

Thật ra Serge không biết tốc độ này được các nhà giao dịch độc quyền của Goldman sử dụng với mục đích gì. Khi bắt tay vào làm, anh mới dần nhận ra hố sâu hiểu biết giữa anh và công ty của mình. Những người mà anh làm việc cùng ở Goldman hiểu tác động của việc anh làm, nhưng lại không biết mục đích sâu xa của nó. Chẳng hạn, không ai ở đây có tầm nhìn toàn cầu về phần mềm máy tính của hãng: anh phát hiện ra điều này ngay ngày đầu tiên, khi họ yêu cầu anh xem xét cơ sở mã và tìm hiểu xem các thành phần khác nhau này giao tiếp với nhau như thế nào. Khi làm vậy, anh nhận thấy tài liệu mà những người viết mã để lại ít đến không ngờ, và không ai ở Goldman có thể giải thích được mã đó cho anh. Đến lượt, anh cũng không được cho biết công việc của mình có tác động thương mại như thế nào − anh phần nào cảm thấy lý do là vì các cấp trên không muốn anh biết. “Tôi nghĩ rằng họ cố ý làm vậy,” anh nói. “Ta càng không biết họ kiếm tiền bằng cách nào thì càng tốt với họ.”

Nhưng ngay cả nếu họ muốn cho anh biết họ làm ra tiền bằng cách nào, cũng không rõ Serge có quan tâm hay không. “Tôi thấy các vấn đề kỹ thuật thú vị hơn hẳn mấy chuyện kinh doanh,” anh nói. “Tài chính chỉ là việc ai có được tiền. Cuối cùng, nó sẽ vào túi phải hay vào túi trái? Nó ngẫu nhiên đến độ các công ty kiếm được tiền sẽ là những công ty như Goldman Sachs. Ta không thể thật sự thắng trò này nếu ta không thuộc một trong số đó.” Anh hiểu rằng các chuyên gia tài chính của Goldman luôn mơ đến những chiến lược giao dịch mới, dưới dạng các thuật toán, cho các robot của anh thực hiện, và những anh chàng giao dịch này là những người cực kỳ khôn ngoan. Anh cũng hiểu thêm nữa rằng “mọi thuật toán đều dựa trên một dạng dự đoán nào đó − dự đoán điều gì đó sẽ xảy ra ở một giây tới.” Tuy vậy, chỉ cần quan sát cú sụp của thị trường chứng khoán năm 2008 từ trong lòng Goldman Sachs, như Serge, ta sẽ thấy rằng những gì có vẻ như có thể dự đoán được lại thường là không. Ngay sau ngày biến động của tháng 9 năm 2008, các nhà giao dịch được cho là sáng láng của Goldman đã làm mất hàng chục triệu đô-la. “Tất cả các kỳ vọng đều không hoạt động,” Serge nhớ lại. “Bọn họ cứ nghĩ mình kiểm soát thị trường, nhưng đó chỉ là ảo tưởng mà thôi. Mọi người đến chỗ làm và bị đánh gục tại trận bởi thực tế rằng họ chẳng kiểm soát được bất cứ thứ gì... Tài chính là một trò bài bạc cho những người ưa bài bạc.” Bản tính anh không phải là người có máu đỏ đen. Anh thích thế giới lập trình tất định, hơn là thế giới suy đoán giả tất định, và anh chẳng bao giờ hiểu hết được mối liên hệ giữa công việc của mình và công việc của cánh giao dịch ở Goldman.

Điều mà Serge biết về hoạt động kinh doanh của Goldman là vị thế của hãng trong giới giao dịch cao tần khá bấp bênh. “Cánh giao dịch ở đây luôn sợ các hãng HFT nhỏ,” anh nói. Anh đã làm cho hệ thống cồng kềnh, thiếu hiệu quả của Goldman trở nên nhanh hơn, nhưng anh không bao giờ có thể khiến nó nhanh như một hệ thống được xây dựng mới hoàn toàn, không phải chịu sức nặng của 60 triệu dòng mã cũ. Hay một hệ thống mà, để thay đổi nó theo bất kỳ cách trọng yếu nào, cũng không đòi hỏi 6 vòng họp và các tài liệu có chữ ký của các nhân viên bảo mật thông tin. Goldman đi săn trong cùng một khu rừng với các hãng HFT nhỏ, nhưng hãng này không bao giờ có thể lanh lẹ như các hãng kia: Không một ngân hàng lớn nào trên Phố Wall có thể. Lợi thế duy nhất mà một ngân hàng có được là mối quan hệ đặc biệt với con mồi: các khách hàng của mình. (Như giám đốc một hãng giao dịch cao tần đã nói, “Khi một tay ở các ngân hàng này phỏng vấn chúng tôi, ông ta luôn nói về việc các thuật toán của ông ta thông minh ra sao, nhưng chẳng chóng thì chầy, ông ta sẽ nói với ta rằng nếu không có khách hàng thì ông ta không kiếm được đồng nào.”)

Sau một vài tháng làm việc trên tầng 42 của tòa nhà One New York Plaza, Serge đi đến kết luận rằng điều tốt nhất mà họ có thể làm với nền tảng giao dịch cao tần của Goldman là vứt nó đi và xây dựng một hệ thống hoàn toàn mới. Các cấp trên của anh không hứng thú với ý tưởng này. “Mô hình kinh doanh của Goldman Sachs là nếu có cơ hội kiếm tiền ngay, thì làm thôi,” anh nói. “Nhưng nếu phải về lâu về dài mới thấy lợi, họ sẽ chẳng quan tâm.” Thường có điều gì đó làm thay đổi thị trường chứng khoán − chẳng hạn, có một sàn giao dịch giới thiệu một nguyên tắc mới, phức tạp − và thay đổi đó sẽ tạo ra một cơ hội kiếm tiền ngay lập tức. “Họ muốn làm việc đó ngay lập tức,” Serge nói. “Nhưng nếu suy nghĩ một chút, ta sẽ thấy nó chỉ đơn thuần là vá víu lại hệ thống hiện có hết lần này đến lần khác. Cơ sở mã hiện tại đã trở thành một con voi kềnh càng, khó điều khiển.”

Anh đã dành phần lớn thời gian trong 2 năm của mình ở Goldman đi vá víu con voi đó. Để có vật liệu mà vá, ngày ngày anh và các lập trình viên khác của Goldman phải dùng đến phần mềm mã nguồn mở − phần mềm được tập thể các lập trình viên cùng nhau phát triển và được để sẵn dùng miễn phí trên Internet. Các công cụ và thành phần mà họ sử dụng không được thiết kế chuyên dùng cho thị trường tài chính, song có thể được điều chỉnh để vá các mối hàn trong bộ mã của Goldman. Serge không khỏi bất ngờ khi phát hiện ra rằng Goldman có mối quan hệ một chiều với mã nguồn mở. Họ lấy một lượng lớn phần mềm miễn phí từ đây, nhưng không trả lại nó sau khi anh điều chỉnh, ngay cả khi các điều chỉnh của anh rất nhỏ và vì mục đích sử dụng chung chung thay vì mục đích tài chính. “Có lần tôi xử lý một số thành phần mã nguồn mở, đóng gói chúng lại để cho ra một thành phần thậm chí còn không được sử dụng ở chính Goldman Sachs,” anh kể. “Về cơ bản, đó là cách để hai chiếc máy tính làm việc như một, để khi chiếc này trục trặc, chiếc kia có thể nhảy vào và thực hiện nhiệm vụ.” Anh tạo ra một cách thức gọn gàng để một chiếc máy tính hoạt động như là máy thế thân cho máy kia. Anh tả lại niềm vui mà đổi mới này mang lại như sau: “Việc đó tạo ra một thứ từ hỗn độn. Khi ta tạo ra thứ gì đó từ hỗn độn, về cơ bản ta đã giảm bớt được entrophy26 trên thế giới này.” Anh gặp cấp trên, một anh chàng tên là Adam Schlesinger và hỏi liệu anh có thể công bố nó về lại dạng mã nguồn mở, như ý định của anh không. “Anh ta nói giờ nó đã là tài sản của Goldman rồi,” Serge nhớ lại. “Trông anh ta căng thẳng lắm.”

Mã nguồn mở là một ý tưởng dựa trên sự hợp tác và chia sẻ, từ lâu Serge đã tham gia đóng góp cho cộng đồng này. Anh không hiểu hết làm sao Goldman có thể nghĩ rằng việc hưởng lợi to lớn từ công trình của người khác, rồi sau đó hành xử ích kỷ như vậy là bình thường. Ta chẳng tạo ra tài sản trí tuệ gì, mà ta chỉ tạo ra một chương trình thực hiện một công việc gì đó,” anh nói. Nhưng kể từ đó, theo yêu cầu của Adam Schlesinger, anh coi mọi thứ trên máy chủ của Goldman Sachs, ngay cả khi nó được đưa chuyển từ mã nguồn mở qua đó, như là tài sản của Goldman Sachs. (Sau này, trong phiên tòa xử anh, luật sư của anh đã cho chiếu hai trang mã máy tính: bản gốc, với giấy phép mã nguồn mở trên đầu và bản sao, với giấy phép mã nguồn mở bị gỡ ra và thay vào đó là giấy phép của Goldman Sachs).

Điều khôi hài là Serge thật sự quý Adam Schlesinger và phần lớn những người mà anh làm việc cùng ở Goldman. Môi trường làm việc mà hãng tạo ra thì anh không thích được như thế. “Mọi người sống vì con số cuối năm,” anh nói. “Ta sẽ hài lòng khi con số thưởng lớn và ngược lại. Mọi thứ ở đó đều mang tính sở hữu cao.” Anh không hiểu được làm sao người ta lại được thưởng cá nhân cho những thành tích có thể thấy rõ là của tập thể. “Tinh thần cạnh tranh ở đó rất cao. Ai cũng cố chứng tỏ đóng góp cá nhân của họ hữu ích như thế nào đối với nhóm. Lý do là vì đội thì không được thưởng, nhưng cá nhân thì có.”

Ngoài điểm đó ra, anh cũng cảm thấy môi trường mà Goldman tạo ra cho các nhân viên của mình không khuyến khích lập trình hiệu quả, vì lập trình hiệu quả đòi hỏi sự hợp tác. “Về cơ bản thì mối liên kết giữa mọi người ở đó chỉ dừng ở mức tối thiểu,” anh nói. “Ở ngành viễn thông thường có hình thức hiệp lực nào đó giữa mọi người. Họp hành là để trao đổi ý tưởng. Họ không gặp phải sức ép theo kiểu ở đây. Ở Goldman, mọi chuyện luôn là ‘có thành phần nào đó đã hỏng, vì thế mà chúng ta mất tiền. Hãy khắc phục nó ngay đi.’” Các lập trình viên được giao nhiệm vụ sửa mã ngồi trong các ca-bin và gần như chẳng nói với nhau câu nào. “Khi hai người muốn trao đổi với nhau, họ sẽ không đơn giản nói với nhau ở ngoài hành lang,” Serge nói. “Họ sẽ vào một phòng nào quanh đó và đóng cửa lại. Tôi chưa từng có trải nghiệm đó ở môi trường viễn thông hay học thuật.”

Đến khi khủng hoảng tài chính xảy ra, Serge đã nổi danh mà không hề hay biết: với các doanh nghiệp tuyển dụng ngoài Goldman, anh được biết đến như là một lập trình viên giỏi nhất hãng. “Trên Phố Wall có 20 người có thể làm những việc mà Serge làm,” một chuyên gia săn đầu người chuyên tuyển dụng cho các hãng giao dịch cao tần cho biết. “Và anh ta là một trong những tay giỏi nhất, nếu không muốn nói là tay giỏi nhất.” Goldman cũng nổi tiếng trên thị trường tài năng lập trình − vì giỏi làm cho các lập trình viên hoàn toàn mù mịt về giá trị của họ đối với các hoạt động giao dịch của hãng. Mẫu người làm lập trình rất khác mẫu người làm giao dịch. Mẫu người làm giao dịch nhận thức rõ về bức tranh toàn cảnh và bối cảnh của mình hơn hẳn. Họ biết từng xu giá trị của mình trên thị trường. Họ hiểu mối liên hệ giữa công việc mình làm và số tiền mình kiếm được, và họ giỏi phóng đại tầm quan trọng của mối liên hệ đó. Serge lại không như thế. Anh là người chỉ để ý đến bức tranh con con, người giải quyết vấn đề hẹp.

“Tôi nghĩ là anh ta không biết giá trị của mình,” nhà tuyển dụng kia nói. “Anh ta làm trong chuyên ngành hẹp, và anh ta bù đắp cho việc đó bằng cách làm thật tốt. Anh ta khá vậy đó.”

Với tính cách và vị thế của mình, chẳng có gì ngạc nhiên khi thị trường tiếp tục tìm kiếm Serge Aleynikov và nói với anh, anh giá trị như thế nào, thay vì để anh yên. Sau khi anh bắt tay vào công việc được vài tháng, tuần nào các công ty săn đầu người cũng gọi cho anh. Sau một năm làm công việc mới, anh được UBS, ngân hàng Thụy Sĩ mời về làm việc với lời hứa đẩy lương của anh lên 400.000 đô-la một năm. Serge không đặc biệt muốn rời Goldman Sachs chỉ để đi và làm việc cho một hãng lớn khác trên Phố Wall, vì vậy khi Goldman đưa ra mức lương tương ứng với con số mời chào kia, anh ở lại. Nhưng đầu năm 2009, anh nhận được một cuộc gọi khác, với một kiểu đề nghị khác: xây dựng một nền tảng giao dịch hoàn toàn mới cho một quỹ đầu tư mạo hiểm do Misha Malyshev sáng lập.

Triển vọng tạo ra một nền tảng mới, thay vì liên tục vá víu nền tảng cũ, làm anh phấn khích. Cộng thêm đó, Malyshev sẵn sàng trả anh hơn 1 triệu đô-la một năm cho vị trí này, và anh ta ngỏ ý rằng bọn họ thậm chí có thể mở cho Serge một văn phòng gần nhà anh ở New Jersey. Serge chấp nhận lời mời, và thông báo với Goldman rằng anh sẽ nghỉ. “Khi tôi nộp đơn xin nghỉ,” anh nói, “tất cả mọi người đến gặp tôi, từng người từng người một. Cảm nhận chung là nếu họ có cơ hội thích hợp để bỏ Goldman, họ sẽ làm ngay lập tức.” Một vài người còn ngầm ngụ ý với anh rằng họ muốn làm cùng anh ở công ty mới của anh biết bao.

Các cấp trên hỏi họ có thể làm gì để thuyết phục anh ở lại. “Họ cố kéo tôi vào một cuộc nói chuyện tiền bạc,” Serge nói. “Tôi nói với họ vấn đề không phải là tiền. Đó là cơ hội được xây dựng một hệ thống hoàn toàn mới.” Anh nhớ môi trường làm việc viễn thông của mình. “Trong khi ở IDT tôi thật sự thấy được kết quả công việc mình làm, thì ở đây ta có hệ thống cồng kềnh này và ta vá nó chỗ này một chút, chỗ kia một chút. Không ai cho ta thấy bức tranh toàn cảnh. Tôi có cảm giác rằng không ai ở Goldman thật sự biết toàn bộ bộ máy đó vận hành như thế nào, họ đơn giản là không thấy thoải mái nếu phải thừa nhận điều đó.”

Anh đồng ý ở lại thêm 6 tuần và hướng dẫn những người khác ở Goldman tất cả những gì mà anh biết, để họ có thể tiếp tục tìm và sửa các dải bị hỏng trong quả bóng cao su khổng lồ của mình. Trong suốt tháng cuối cùng đó, có bốn lần anh tự gửi cho mình mã nguồn đang làm. Các file này chứa nhiều mã nguồn mở mà anh đã làm việc và chỉnh sửa trong 2 năm qua, kết hợp với những mã không phải mã nguồn mở, mà rõ ràng là thuộc quyền sở hữu của Goldman Sachs. Anh hy vọng có thể tách chúng ra trong trường hợp anh cần nhớ mình đã làm gì với mã nguồn mở; có thể anh sẽ cần làm lại việc đó. Anh gửi các file này như cách anh vẫn tự gửi file cho mình gần như mỗi tuần kể từ tháng đầu tiên anh làm việc ở Goldman. “Chưa có ai từng nói với tôi một lời về chuyện đó,” anh nói. Anh kéo trình duyệt của mình ra và gõ vào đó những từ sau: “free subversion repository” (kho dữ liệu phiên bản con miễn phí). Nhảy ra là một danh sách những nơi lưu mã miễn phí và tiện lợi. Anh nhấn vào đường liên kết đầu tiên trong danh sách. Việc tìm một nơi gửi các mã này mất khoảng 8 giây. Và sau đó, anh làm việc mà anh luôn làm kể từ lần đầu lập trình máy tính: anh xóa lịch sử làm việc − những lệnh mà anh đã đánh vào bàn phím máy tính của anh ở Goldman. Để sử dụng máy tính, anh buộc phải nhập mật khẩu. Nếu anh không xóa lịch sử làm việc, mật khẩu của anh sẽ được lưu lại ở trên đó và bất kỳ ai truy cập hệ thống đều có thể thấy nó.

Đó không phải là một hành động hoàn toàn ngây thơ. “Tôi biết họ sẽ không vui với chuyện này,” anh nói, bởi anh biết họ quan niệm bất cứ thứ gì diễn ra trên máy chủ của Goldman đều là tài sản thuộc toàn quyền sở hữu của Goldman Sachs − ngay cả khi chính Serge là người lấy những đoạn mã đó từ mã nguồn mở. Khi được hỏi anh cảm thấy như thế nào khi làm vậy, anh nói “Cảm giác như khi lái quá tốc độ. Lái quá tốc độ trong chính chiếc xe của mình.”

* * *

Anh ngủ trong gần suốt chuyến bay từ Chicago. Ra khỏi máy bay, anh để ý thấy có ba người trong bộ com-lê đen đang đợi anh ở góc cầu hàng không dành riêng cho xe đẩy và xe lăn. Họ xác nhận danh tính của anh, giải thích rằng họ là FBI, còng tay anh, lục soát túi của anh, tháo ba-lô của anh, bảo anh bình tĩnh và đứng chắn để tách anh ra khỏi những hành khách khác. Hành động cuối cùng không phải là chiến tích vẻ vang lắm. Serge cao 1m8 nhưng chỉ nặng khoảng 64kg: để giấu anh, chỉ cần đẩy anh một bên là xong. Anh không chống cự, nhưng quả thật là anh hoang mang. Những người đàn ông trong bộ đồ đen từ chối nói cho anh biết anh phạm tội gì. Anh cố đoán. Lúc đầu, anh đoán họ hẳn đã nhầm anh với một tay Sergey Aleynikov nào đó khác. Sau đó, anh lại nghĩ rằng ông chủ mới của mình, Misah Malyshev, khi đó đang bị Citadel kiện, có thể đã làm gì đó mờ ám. Cả hai đều sai. Chỉ cho đến khi máy bay trống không và họ dẫn anh vào sân bay Newark, họ mới nói cho anh biết anh mắc tội gì: trộm mã máy tính thuộc quyền sở hữu của Goldman Sachs.

Đặc vụ phụ trách vụ này, Michael McSwain mới gia nhập lực lượng chấp pháp. Kỳ cục là anh này đã có 12 năm, tính cho đến năm 2007, làm giao dịch tiền tệ trên Sàn Chicago Mercantile. Anh ta và những người giống mình bị đẩy khỏi ngành bởi Serge và những người giống anh − hay chính xác hơn là bởi những chiếc máy tính thay thế con người thực hiện giao dịch ở các sàn giao dịch trên khắp đất Mỹ. Không phải là ngẫu nhiên khi sự nghiệp trên Phố Wall của McSwain kết thúc vào đúng năm mà sự nghiệp của Serge bắt đầu.

McSwain dẫn Serge vào một chiếc xe màu đen và đưa anh đến tòa nhà FBI ở khu hạ Manhattan. Sau khi thực hiện màn trình diễn cất giấu súng, McSwain đưa anh vào phòng thẩm vấn, còng tay anh vào một tay đòn trên tường, cuối cùng đọc cho anh nghe quyền giữ im lặng và mời luật sư của anh. Sau đó, anh ta giải thích những gì mình biết, hoặc nghĩ là mình biết: Tháng 4 năm 2009, Serge nhận một công việc mới ở một hãng giao dịch cao tần, tên là Teza Technologies, nhưng vẫn làm việc tại Goldman trong 6 tuần sau đó. Giữa khoảng thời gian từ đầu tháng 4 đến ngày 5 tháng 6, khi Serge rời Goldman, anh đã gửi cho mình, thông qua một kho dữ liệu phiên bản con, 32 megabytes mã nguồn từ hệ thống giao dịch chứng khoán cao tần của Goldman. Rõ ràng, McSwain thấy điều nguy hại là trang web mà Serge dùng được gọi là kho “nổi dậy27” và trang này nằm ở Đức. Dường như anh này cũng cho rằng chi tiết Serge dùng một trang mà Goldman Sachs không chặn rất quan trọng, ngay cả sau khi Serge cố giải thích với anh ta rằng Goldman không chặn bất kỳ trang nào mà lập trình viên dùng, mà chỉ thuần túy chặn nhân viên vào các trang web sex và các trang mạng xã hội, hoặc các trang đại loại như vậy. Cuối cùng, anh chàng đặc vụ FBI này muốn anh thừa nhận rằng anh đã xóa lịch sử làm việc của mình. Serge cố giải thích tại sao anh luôn xóa lịch sử làm việc của mình, nhưng McSwain không quan tâm đến câu chuyện của anh. “Cái cách anh ta làm việc đó có vẻ thật bất chính,” đặc vụ FBI này sau đó đã khai như vậy.

Tất cả chuyện này đều đúng như những gì nó diễn ra, nhưng đối với Serge, mọi chuyện dường như không đi quá xa như vậy. “Tôi đã nghĩ chuyện này thật điên rồ,” anh nói. “Anh ta xâu chuỗi những từ ngữ chuyên ngành máy tính theo những cách không hiểu được. Anh ta dường như không biết tí gì về giao dịch cao tần hay mã nguồn.” Chẳng hạn, Serge không biết kho dữ liệu phiên bản phụ thật sự nằm ở đâu. Đó chỉ là một nơi trên Internet mà dân lập trình dùng để lưu mã mà họ đang làm việc. “Toàn bộ mục đích của Internet là trừu tượng hóa nơi đặt máy chủ khỏi địa chỉ logic của nó,” anh nói. Đối với Serge, McSwain giống như một anh chàng chỉ biết lặp lại liên hồi những cụm từ mà anh ta nghe được từ người khác mà chẳng hiểu gì.

Điều Serge không biết là Goldman mới chỉ phát hiện ra những dữ liệu mà anh tải về − những gì có vẻ như là mã mà họ dùng cho giao dịch cao tốc độc quyền trên thị trường chứng khoán − chỉ vài ngày trước đó, dù Serge đã gửi cho mình đợt mã đầu tiên từ nhiều tháng trước. Họ vội vàng gọi cho FBI và đẩy McSwain vào một khóa học cấp tốc về giao dịch cao tần và lập trình máy tính. Về sau, McSwain thừa nhận rằng anh ta đã không nhờ chuyên gia độc lập hỗ trợ khi tìm hiểu đoạn mã mà Serge Aleynikov lấy hay cố gắng tìm hiểu tại sao anh chàng kia lại lấy nó. “Tôi dựa vào tuyên bố của các nhân viên ở Goldman,” anh nói. Bản thân anh ta không biết giá trị của đoạn mã bị đánh cắp (“các đại diện ở Goldman nói với tôi rằng đoạn mã đó rất giá trị”), hoặc nếu có, thì phần nào trong đó mới thật sự quan trọng (“các đại diện của Goldman Sachs nói với chúng tôi rằng đoạn mã đó chứa bí quyết giao dịch”). Anh chàng đặc vụ này cũng để ý thấy các file của Goldman đều ở cả trên máy tính cá nhân và ổ cứng di động mà anh ta lấy được từ Serge ở sân bay Newark, nhưng anh ta không nhận thấy, những file này vẫn còn nguyên, chưa được mở ra (Nếu chúng quan trọng như vậy, tại sao suốt cả tháng trời kể từ khi nghỉ việc ở Goldman, Serge không để mắt đến chúng?) Cuộc điều tra của FBI trước vụ bắt giữ này gồm có việc Goldman giải thích cho McSwain vấn đề gì đó cực kỳ phức tạp đến độ anh chàng này thừa nhận mình không hiểu hết − nhưng tin tưởng rằng Goldman hiểu. 48 giờ sau khi Goldman gọi cho FBI, McSwain bắt Serge. Và thế là nhân viên duy nhất của Goldman Sachs bị FBI bắt giữ sau cuộc khủng hoảng tài chính mà Goldman góp quá nhiều lửa là nhân viên mà Goldman đề nghị FBI bắt giữ.

Vào đêm bị bắt giữ, Serge từ chối quyền gọi luật sư. Anh gọi cho vợ, kể cho cô nghe những gì đã xảy ra và nói rằng có một nhóm đặc vụ FBI đang trên đường tới nhà họ để lấy máy tính và nói cô cứ để họ vào, dù họ không có lệnh khám nhà. Sau đó, anh ngồi xuống và cố gắng một cách lịch sự làm rõ sự mù mờ của anh chàng điệp viên đã bắt giữ anh mà không có lệnh. “Làm sao anh ta có thể tìm hiểu xem đó có phải là vụ trộm hay không nếu anh ta không hiểu thứ bị lấy đi là gì?” anh nhớ đã tự hỏi bản thân như thế. Việc anh làm, từ góc độ của anh, là bình thường; song những gì mà anh bị cáo buộc − vi phạm cả luật do thám kinh tế và luật ăn trộm tài sản quốc gia − nghe không thường chút nào. Tuy nhiên, anh cho rằng nếu anh chàng đặc vụ này hiểu máy tính và giao dịch cao tần thực sự vận hành ra sao, anh ta sẽ xin lỗi và ngừng ngay vụ này lại. “Lý do mà tôi giải thích cho anh ta là để cho anh ta thấy rằng mọi chuyện chẳng có gì,” anh nói. “Nhưng anh ta hoàn toàn không để tâm đến nội dung mà tôi nói. Anh ta chỉ nói đi nói lại với tôi rằng, ‘Nếu anh nói với tôi tất cả, tôi sẽ trình bày với thẩm phán và ông ta sẽ cân nhắc trường hợp của anh.’ Có vẻ như ngay từ đầu họ đã có thành kiến rất mạnh. Họ có mục tiêu mà họ muốn hoàn thành. Một trong số đó là có được lời nhận tội của tôi ngay lập tức.”

Trở ngại chính khiến FBI khó lấy được lời nhận tội của Serge, kỳ cục thay, lại không phải là do Serge không sẵn lòng, mà do sự mù tịt của điệp vụ FBI về hành vi mà Serge đang cố thừa nhận. “Trong tờ khai, anh ta mắc phải một số lỗi sai rất sơ đẳng về thuật ngữ máy tính, v.v...” Serge nhớ lại. “Tôi lúc nào cũng phải nhắc: ‘Anh ơi, cái này không đúng.’” Serge kiên nhẫn kể cho viên đặc vụ về từng hành động của mình. 1 giờ 43 phút sáng ngày 4 tháng 7, sau 5 giờ tranh cãi, McSwan gửi e-mail cho phòng Công tố Mỹ: “Lạy chúa tôi! Cuối cùng hắn đã ký biên bản nhận tội.”

Hai phút sau đó, anh ta đưa Serge vào một buồng giam trong Trung tâm Tạm giam Quận. Viên công tố, trợ lý Công tố viên Liên bang, Joseph Facciponti, cho rằng không nên để Serge Aleynikov đóng tiền tại ngoại. Anh chàng lập trình viên máy tính người Nga này đang nắm trong tay mã máy tính có thể dùng để “thao túng thị trường theo những cách không công bằng”. Biên bản nhận tội mà Serge đã ký, chằng chịt những cụm từ mà anh chàng đặc vụ phải gạch chân và viết lại, về sau biên bản này được các công tố viên trình cho thẩm phán như là sản phẩm của một tên ăn cắp cẩn trọng, thậm chí xảo quyệt, với từ ngữ của mình. “Không phải thế,” Serge nói. “Tài liệu đó do một người không hề có kiến thức chuyên môn về vấn đề này viết ra.”

Bản nhận tội mà Sergey Aleynikov ký là điều cuối cùng mà bất kỳ ai nghe được từ anh, chí ít là trực tiếp. Anh từ chối nói chuyện với phóng viên hay khai tại tòa. Anh có điệu bộ ngắc ngứ, giọng nói khôi hài, để râu và có dáng vẻ trông như được họa bởi El Greco28: Trong một hàng những người được chọn ngẫu nhiên trên Phố Wall, anh là kẻ người dễ bị nhận diện là gián điệp Nga, hoặc là một nhân vật trong những tập phim thời đầu của Star Trek nhất. Trong các cuộc thảo luận chuyên môn, anh có khuynh hướng nói bằng sự chính xác tuyệt đối, điều này dĩ nhiên là rất hay khi anh làm việc với những người bạn chuyên gia, nhưng lại là nhạt nhẽo với lớp khán giả bình dân. Trong một tòa án công khai ở Mỹ, anh không có khả năng tự bảo vệ mình, và vì vậy theo lời khuyên của luật sư, tốt nhất anh không nên nói gì. Anh giữ sự im lặng ngay cả sau khi bị kết án 8 năm tù ở nhà tù liên bang, với khả năng được phóng thích bằng 0.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.