Cuộc Nổi Dậy Ở Phố Wall - Chương 7
Hợp nhất lực lượng
Sáng ngày 11 tháng 9 năm 2001, cũng như mọi ngày, Zoran Perkov bắt chuyến tàu điện ngầm từ nhà mình ở Queens tới Phố Wall. Như thường lệ, anh chụp tai nghe nhạc, vờ như những người khác trên tàu không tồn tại. Sự khác biệt giữa buổi sáng hôm đó với những buổi sáng khác là anh đi làm muộn và khó lờ những người trên tàu khi đó hơn thường lệ. Họ đang nói chuyện với nhau. “Bình thường chẳng ai nói chuyện với nhau,” Zoran nói. “Đó là cảm giác kỳ cục, khi ta cảm thấy có gì đó không ổn.” Năm đó Zoran 26 tuổi, cao lớn, với đôi mắt lúc nào cũng sùm sụp, không nhìn mọi thứ trong sắc xám này thì cũng là trong sắc xám kia. Sinh ra ở Croatia, trong một gia đình có truyền thống đánh bắt cá và làm thợ đá, anh theo cha mẹ sang Mỹ từ khi còn rất nhỏ. Anh lớn lên ở Queens và làm ở bộ phận hỗ trợ công nghệ cho một công ty có cái tên bí ẩn Wall Street Systems (tạm dịch, Hệ thống Phố Wall), tại số 30 phố Broad, ngay sát Sàn Giao dịch Chứng khoán New York. Công việc này làm anh buồn chán. Việc chính xác mà anh làm tại phòng hỗ trợ công nghệ của Wall Street Systems chẳng quan trọng gì. Anh sẽ không làm việc này lâu. Và trong vài giờ tới, anh sẽ khám phá ra lý do để làm việc khác. Khám phá này − và ý thức mục đích rõ ràng đi cùng với nó − sẽ đẩy anh vào một tiến trình rất có lợi cho Brad Katsuyama.
Chiếc xe điện ngầm là một bộ phim câm. Zoran thấy mọi người trên đó nói chuyện với nhau suốt dọc tuyến đường đến Phố Wall. Trồi ra khỏi miệng đất, ngay trước Nhà thờ Tam vị, trong ánh sáng của buổi sớm mai, anh để ý thấy những cái cổ rụt lại và những đôi mắt trố lên. Anh cũng ngước mắt nhìn lên, đúng khoảnh khắc chiếc máy bay thứ hai đâm vào tòa tháp phía nam. “Ta không thể nhìn thấy chiếc máy bay,” anh nói. “Ta chỉ nhìn được vụ nổ thôi.”
Anh bỏ tai nghe ra và nghe thấy nhiều âm thanh. “Xung quanh tôi, tất cả mọi người đều gào khóc, la hét và nôn mửa.” Anh thấy mọi người chạy lên phố Broadway. Anh băng qua đường, đi tới chỗ làm. “Lúc này với tôi, chỗ làm không còn là chỗ làm nữa,” anh nói. “Tôi có những người bạn ở đó. Tôi đến để xem chuyện gì đang diễn ra.” Ngoài cửa trước, anh thấy người phụ nữ xinh đẹp với điếu thuốc lá mà anh luôn nhìn thấy mỗi khi đi vào tòa nhà. (“Ông biết đấy, một cô nàng nóng bỏng của tòa nhà.”) Cô ta vừa hút thuốc vừa khóc. Anh lên lầu, kiểm tra tình hình những người bạn của mình và gọi cho những người bạn từ thời thơ ấu hiện đang làm việc trên Phố Wall hoặc loanh quanh đó. Một người trong bọn làm việc ở tòa tháp đôi − tòa nào thì Zoran không nhớ nữa. Hai người khác làm việc ở các tòa nhà lân cận. Anh gọi được cho họ, và họ đồng ý lấy văn phòng anh làm điểm gặp mặt. Khi người bạn ở tòa tháp đôi của anh đến, anh ta kể, trên đường rút ra, anh ta đã nghe thấy tiếng những thi thể rơi xuống đất.
Nhóm năm người bạn bắt đầu lên kế hoạch tháo chạy. Họ bàn chiến lược. Zoran ủng hộ việc đi bộ ra, ngược lên phố Broadway; những người khác thì lại chọn đi xe điện ngầm. “Dân chủ thắng thôi,” Zoran nói và họ quay trở xuống ga Phố Wall. Hóa ra không phải chỉ mình họ mới có ý tưởng này. Đám đông ở đó buộc họ phải tách ra; ba người bị nhồi vào một xe, trong khi Zoran và một người khác bị đẩy vào xe khác. “Đó đúng thật là một đám đông hỗn độn,” Zoran kể, “chứ không phải đám đông đi tàu điện ngầm như thường ngày.” Có đủ mặt dân Phố Wall: anh chàng từ sàn giao dịch chứng khoán trong bộ com-lê màu mè; những người mà ta chưa bao giờ nhìn thấy ở đó. Chiếc xe lắc lư ra khỏi ga và đi vào đường hầm tối đen, rồi khựng lại. “Đó là lúc tai tôi đặc lại,” Zoran nói. “Giống như khi bơi dưới nước.”
Đường hầm đầy khói. Zoran không biết chuyện gì đã xảy ra − tại sao tai anh lại đặc lại, tại sao đường hầm lại đầy khói − nhưng anh để ý thấy một anh chàng đang cố mở cửa, và anh phải la lớn để anh ta dừng lại. “Ai cho anh quyền?” Tay này hét lại với Zoran. “Có khói,” Zoran hét lên. “Hít đi rồi chết. Đơn giản thế thôi.” Cửa vẫn đóng kín, nhưng chiếc xe vẫn cứng đầu và lắc lư. Chiếc xe chở những người bạn của anh thì yên ả. Mọi người quỳ xuống và cầu nguyện.
Người bán vé xuất hiện và thông báo xe phải quay trở lại ga Phố Wall. Trước nỗi lo lắng chung của mọi người, người lái đi từ toa trước sang toa sau, làm tất cả những gì cần thiết để chiếc xe có thể đi sang phần đường không dành cho mình trong đường hầm và quay trở lại chỗ khởi hành. Nhưng mọi chuyện không dừng lại ở đó: chỉ có hai toa xe đầu được đi vào sân ga. Những người đang ở chỗ mà giờ là phía đuôi phải đi thành hàng qua các toa để tới được chỗ ra.
Đó là khi Zoran để ý thấy ông già kia − người hàng xóm của anh trong đám đông đang cố xếp thành hàng ra khỏi xe. “Ông ấy chống gậy,” Zoran nói. “Ông ấy mặc bộ com-lê cũ − người ông đã ốm và nhỏ hơn, nên bộ com-lê không còn vừa nữa. Tôi nhớ lúc đó mình đã nghĩ: Có lẽ mình nên che chắn để ông ấy không bị xô lấn. Vì vậy, tôi giữ ông ấy đi trước mình. Tôi cảm thấy mình phải có trách nhiệm với ông ấy.” Vừa dẫn đường cho ông già nọ, anh vừa từ từ tìm đường trở lên các bậc thềm của ga tàu điện ngầm và lên Phố Wall. Rồi tất cả tối đen. “Chúng tôi lên đến mặt Phố Wall và tôi phải cố lắm mới nhận ra đó là mặt phố,” Zoran nói. “Rồi tôi mất dấu ông già. Từ lúc đó, tôi chú ý tới mọi thứ xung quanh mình.”
Lúc này anh không thể nhìn thấy gì, nhưng có thể nghe thấy tiếng mọi người la hét. “Bên này! Bên này!” Anh nghe ai đó hét lên. Anh và người bạn đi chung chuyến xe điện ngầm đi theo tiếng nói, bước vào chỗ mà hóa ra là tòa nhà American Express – phải mãi cho đến khi vào bên trong được một phút, Zoran mới nhận ra nó. Thứ đập vào mắt anh là một người phụ nữ mang bầu, ngồi bệt dưới sàn, lưng dựa vào tường. Anh tiến đến chỗ chị, kiểm tra để đảm bảo chị ta chưa sắp sinh, rồi đưa cho chị ta chiếc điện thoại vẫn còn hoạt động của mình. Bầu không khí tối đen bên ngoài bắt đầu lấy lại sắc. “Chẳng hiểu vì sao mọi thứ lại có tông màu be như thế,” anh nhớ lại. Bây giờ thì anh có thể thấy ít nhiều họ đang ở đâu và xác định được phương hướng. Một viên cảnh sát bên trong tòa nhà nói: “Các bạn cần ở nguyên đây.” Zoran chộp lấy bạn mình và bỏ đi. Họ đi về phía đông bắc cho đến khi đến chỗ mấy khu căn hộ ở The Lower East Side37. “Có các dự án ở đó,” Zoran nói, “và mọi người xuất hiện với những cốc nước, điện thoại không dây. Để giúp đỡ. Đó là lúc tôi bắt đầu khóc.”
Cuối cùng, họ cũng đến Đại lộ FDR và tiếp tục đi về phía bắc. Có lẽ đấy mới là cảm giác kỳ cục nhất trong cả buổi sáng hôm ấy: cuộc cuốc bộ dọc Đại lộ FDR. Họ chỉ có một mình. Con đường tĩnh lặng. Suốt khoảng thời gian dài đến kinh ngạc, người duy nhất mà họ gặp là một tay cảnh sát chưa mặc xong cảnh phục, đang rú máy qua họ trên chiếc xe máy phóng về hướng thảm họa. Sau đó, giấy tờ bắt đầu rập rờn bay xuống. Zoran có thể đọc được địa chỉ của Trung tâm Thương mại Thế giới trên những tờ giấy đó.
Nói Zoran thấy phấn khích với tất cả những gì mình vừa kinh qua không hẳn đúng, khi kể lại câu chuyện, anh đã nói “ở một mức độ nào đó, tôi cảm thấy có lỗi khi kể chuyện này ra.” Đúng hơn là không có một khoảnh khắc nào anh cảm thấy không biết phải làm gì tiếp theo. Anh đã bị kéo vào một kiểu nhận thức mới, mối quan tâm đến những người xung quanh mình và anh thích cảm giác đó. Những phản ứng đó khiến anh ngạc nhiên quan sát bản thân mình. “Tôi thấy lạ là mình không suy sụp,” anh nói. “Tôi không dùng nó để biện minh cho bất cứ chuyện gì. Điều mà câu chuyện đó nói với tôi là tôi không sợ những tình huống kiểu này. Tôi thích ở trong một tình huống kịch tính.” Anh thậm chí còn có thể chỉ ra khoảnh khắc anh nhận ra mình phù hợp với khủng hoảng hơn so với mình tưởng. “Đó là khi tôi nhận ra tôi bắt đầu quan tâm đến người khác,” anh nói.
Hai ngày sau đó, anh quay trở lại làm việc, nhưng anh đã bị tống ra khỏi con đường sự nghiệp lờ mờ để sang một con đường khác, sáng rõ hơn. Anh muốn làm một công việc buộc anh phải thực hiện nó trong khủng hoảng. Nếu làm công nghệ ở Phố Wall và tìm kiếm áp lực, thì việc mà ta nên làm là điều hành một thị trường chứng khoán điện tử. Đến đầu năm 2006, đó chính là việc mà Zoran làm − ở Nasdaq. “Họ để tôi ngồi trước 4 chiếc máy tính với những cái nút có năng lực phá hỏng mọi thứ,” anh nói. “Đó là công việc tuyệt nhất thế giới. Mỗi ngày là một trận tranh cúp Super Bowl. Giá trị của những gì ta làm mang lại cảm giác phấn khích cực độ.” Rất khó để nói rõ cảm giác đặc biệt mà công việc này mang lại với một người không phải là dân công nghệ, nhưng chắc chắn là có tồn tại một thứ cảm xúc đối với nó. “Nói thế này,” Zoran nói. “Nếu làm hỏng cái gì, tôi sẽ xuất hiện trên báo. Tôi là người duy nhất có thể làm nó hỏng, và nếu nó hỏng, tôi là người duy nhất có thể sửa nó.”
Hẳn nhiên, anh đã phải học ra trò. Sau khi đầu quân cho Nasdaq không lâu, anh đã phá hỏng một thị trường. (Nasdaq sở hữu vài thị trường − Nasdaq OMX, Nasdaq BX, INET, PSX.) Chuyện xảy ra khi anh chuyển đổi hệ thống trong giờ giao dịch. Anh nhập lệnh vào, rồi thấy mọi người xung quanh hoảng loạn; nhưng anh không thể ngay lập tức kết nối các sự kiện với nhau. Một đồng nghiệp cũ của anh ở Nasdaq nhớ lại cảnh hỗn loạn kéo theo sau đó: “Tôi thấy mọi người chạy vòng quanh và hét lên khi chuyện xảy ra.” Zoran ngước mắt nhìn thị trường chứng khoán trên màn hình máy tính của mình: Nó đang chết cứng. Phải mất vài giây anh mới nhận ra, thứ mà anh đang xử lý đáng lẽ không có bất kỳ mối liên hệ nào với thị trường trong thời gian thực, nhưng chẳng hiểu làm thế nào anh đã đóng cửa toàn bộ thị trường của mình. Phải mất thêm vài giây nữa anh mới biết đích xác mình đã làm việc đó như thế nào. Sau đó, anh khắc phục và thị trường giao dịch trở lại. Từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc, cuộc khủng hoảng đó kéo dài 22 giây. Trong suốt thời gian đó, mọi giao dịch đã bị ngừng lại. “Tôi ngồi đó mà nghĩ: Mình tiêu rồi,” Zoran kể. “CTO [Giám đốc công nghệ] đã cứu tôi. Ông ấy bảo ‘Làm sao mà ta có thể loại bỏ một tay mắc lỗi, nhưng biết chặn lỗi rồi sửa nó kia chứ?’”
Tuy nhiên, biến cố này có ảnh hưởng lớn tới anh. “Tôi tự nhủ, ‘Làm sao để mình không bao giờ lặp lại chuyện này nữa?’” Zoran nói. “Tôi bắt đầu nhảy vào tìm hiểu các cách kiểm soát những hệ thống phức hợp, có quy mô lớn. Tôi trở thành người nghiền ngẫm tính phức hợp − được định nghĩa như thứ gì đó mà ta không thể đoán trước. Làm sao để ta có được sự ổn định trong một hệ thống mà về bản chất là không thể dự đoán được?” Anh đọc mọi thứ có thể tìm thấy về chủ đề này. Một trong những cuốn sách yêu thích nhất của anh là cuốn Complexity (tạm dịch: Phức hợp) của Mitchell Waldrop. Bài báo mà anh thích phát tán nhất là “Cách các hệ thống phức hợp đổ bể,” đó là một bản tóm tắt gồm 18 điểm của Richard I. Cook, hiện đang là giáo sư về sự an toàn của hệ thống chăm sóc sức khỏe ở Thụy Điển. (Điểm #6: Thảm họa luôn núp trong góc). “Mọi người thường nghĩ rằng phức hợp là trạng thái cấp cao của sự phức tạp,” Zoran nói. “Không phải vậy. Chiếc chìa khóa xe đơn giản. Chiếc xe thì phức tạp. Một chiếc xe đang lưu thông thì phức hợp.”
Thị trường chứng khoán là một hệ thống phức hợp. Có một định nghĩa cho rằng hệ thống phức hợp là nơi mà, nói như Zoran, “thứ vớ vẩn sẽ hỏng và ta chẳng thể làm gì để khắc phục.” Người làm công việc đảm bảo thứ vớ vẩn không hỏng sẽ gặp phải hai kiểu rủi ro nghề nghiệp: rủi ro thứ đó hỏng trong tầm kiểm soát của anh ta, và rủi ro thứ đó hỏng vượt quá khả năng kiểm soát của anh ta. Zoran tiếp tục điều hành một thị trường của Nasdaq. Cuối cùng, công ty trao cho anh các thị trường lớn hơn để quản lý; và rủi ro quản lý chúng cũng tăng theo. Đến cuối năm 2011, anh trở thành người giám sát mọi hoạt động quản lý thị trường của Nasdaq. (Chức danh của anh là Giám đốc Vận hành Toàn cầu). Suốt 6 năm làm việc ở đây, anh đã dành phần lớn thời gian gia tăng thêm tính phức hợp vào các thị trường này, vì những lý do mà không phải lúc nào anh cũng hiểu hết. Những người làm kinh doanh quyết định thực hiện thay đổi nào đó, và nhiệm vụ của anh là triển khai. “Kiểu lệnh chỉ đăng là thứ đầu tiên làm tôi muốn phát điên,” Zoran nói về kiểu lệnh được thiết kế với mục đích chỉ thực hiện nếu nhà giao dịch nhận được hoa hồng từ sàn giao dịch. “Mục đích của lệnh chỉ đăng là cái quái gì vậy?” Hãng muốn anh xử lý những lệnh được các khách hàng lớn nhất (các hãng giao dịch cao tần) thực hiện trên thị trường của hãng, đồng thời giữ cho những thị trường này hoạt động an toàn và ổn định. Cứ như thể đội trực trên đường pit38 được yêu cầu phải lột chiếc xe đua sao cho gọn, vứt bỏ khung ghế và làm tất cả những gì có thể để chiếc xe chạy nhanh hơn − đồng thời phải làm giảm nguy cơ lái xe thiệt mạng. Chỉ có điều là trong trường hợp này, nếu tài xế mất mạng, trách nhiệm về cái chết của anh ta sẽ được gán, một cách tùy tiện, cho một thành viên nào đó trong đội trực. Và kẻ đó chính là anh.
Tình thế này khiến đội trực đường pit cảm thấy bất mãn. Mọi chuyện không đơn giản là các hãng giao dịch cao tần đòi hỏi những thay đổi thị trường chỉ có lợi cho họ: hành động thay đổi hệ thống thuần túy làm gia tăng rủi ro cho tất cả những người sống dựa vào nó. Thêm mã và tính năng vào một hệ thống giao dịch cũng giống như thêm lượng lưu thông trên đường cao tốc: ta không thể dự đoán được hệ quả của việc mình làm; tất cả những gì ta biết là ta đã làm cho tình huống trở nên khó hiểu hơn. “Không ai lại đi cố kiểm soát cái mà mình không biết,” Zoran nói. “Mà những gì họ không biết thì ngày càng nhiều.” Anh tự thấy mình là người giỏi xoay sở trong khủng hoảng, nhưng anh không nhìn thấy được mục đích của việc tạo ra các cuộc khủng hoảng, để anh có thể thể hiện được sự điêu luyện của mình. Anh cũng không phù hợp với việc quản lý một nhóm người điều khiển thị trường, mà chỉ thích tự mình điều khiển một thị trường. Anh không có khiếu với mấy trò chính trị doanh nghiệp. Mỗi ngày, anh lại kém mặn mà với công việc của mình đi một chút − cho đến tháng 3 năm 2012, anh bị sa thải, đó là khi anh nhận được cuộc gọi của Don Bollerman. Don muốn anh vận hành thị trường cho IEX. “Tôi sẽ không thuyết phục anh ngay bây giờ đâu, chủ yếu là vì chúng tôi chưa có tiền và chúng tôi thậm chí còn không biết sẽ làm gì,” Don nói. “Nhưng có thể sau này tôi sẽ thuyết phục anh.” Don biết, Zoran là nạn nhân của một trận chiến chính trị văn phòng, thêm nữa, anh chàng này có lẽ là người vận hành sàn giao dịch giỏi nhất mà anh biết. “Anh ta có mọi phẩm chất,” Don nói. “Đĩnh đạc ngay cả khi gặp áp lực. Khả năng hiểu một hệ thống lớn và phức tạp. Và có khả năng nghiền ngẫm nó − hình dung nó − một cách chính xác. Chẩn đoán và dự đoán các vấn đề.”
Điều hơi đáng lo là các chuyên gia công nghệ hiện đang vận hành thị trường tài chính còn được kỳ vọng phải có sự can trường của một viên phi công lái thử. Nhưng đến thời điểm Don tiếp cận Zoran, rõ ràng công chúng đầu tư đã mất niềm tin vào thị trường chứng khoán Mỹ. Kể từ sau cú sụp chớp nhoáng hồi tháng 5 năm 2010, chỉ số S&P đã tăng 65%, nhưng khối lượng giao dịch lại giảm 50%: Lần đầu tiên trong lịch sử, mong muốn giao dịch của các nhà đầu tư đã không tăng theo giá thị trường. Trước khi cú sụp chớp nhoáng xảy ra, 67% hộ gia đình Mỹ có sở hữu cổ phiếu; đến cuối năm 2013, con số này giảm xuống chỉ còn 52% hộ: thị trường Bò39 tuyệt vời sau khủng hoảng đáng chú ý ở chỗ rất nhiều người Mỹ đã chọn không tham gia vào đó. Không khó để thấy được tại sao niềm tin mà họ dành cho thị trường tài chính lại suy giảm đến vậy. Khi thị trường chứng khoán Mỹ trở nên khó hiểu hơn, nó cũng nhiễu động theo cách kỳ lạ hơn. Không phải chỉ có giá thị trường là không thể dự đoán, mà bản thân thị trường cũng vậy − và sự thiếu ổn định mà nó tạo ra, chẳng sớm thì muộn, sẽ mở rộng tới các thị trường chứng khoán, thị trường trái phiếu, thị trường tùy chọn cổ phiếu, thị trường tiền tệ ở những nước đã học theo kết cấu của thị trường chứng khoán Mỹ.
Tháng 3 năm 2012, Sàn BATS phải hủy buổi chào bán ra công chúng lần đầu của chính mình vì “lỗi kỹ thuật”. Tháng tiếp theo, Sàn Giao dịch Chứng khoán New York hủy nhầm một lô lệnh vì một “sự cố kỹ thuật”. Tháng 5, Nasdaq xáo tung buổi chào bán cổ phiếu ra công chúng lần đầu của Facebook. Vì một số nhà đầu tư gửi lệnh mua những cổ phiếu này đã thay đổi quyết định trước khi giá được chốt − và những chiếc máy tính của Nasdaq không thể đấu với tốc độ thay đổi quyết định nhanh hơn mà những chiếc máy tính khác cho phép các nhà đầu tư thực hiện. Tháng 8 năm 2012, máy tính của hãng HFT khổng lồ Knight Capital dở chứng và thực hiện các giao dịch trên thị trường chứng khoán khiến Knight mất 440 triệu đô-la và khơi lên một cuộc bán tháo. Tháng 11, NYSE chịu một cú được gọi là “cú dừng máy khớp lệnh” và buộc phải hủy giao dịch của 216 cổ phiếu. Ba tuần sau, một nhân viên của Nasdaq nhấn nhầm vào biểu tượng trên màn hình máy tính và khiến cuộc chào bán cổ phiếu ra công chúng của một công ty tên là Whitehorse Finance phải ngừng lại. Đầu tháng 1 năm 2013, BATS tuyên bố, vì một lỗi máy tính không xác định nào đó, từ năm 2008 đến nay sàn đã vô tình cho phép các giao dịch diễn ra một cách trái phép với mức giá xấu hơn nhiều (cho nhà đầu tư) so với mức giá đặt bán và đặt mua tốt nhất toàn quốc.
Đây chỉ là những mẫu được lấy trong đúng một năm của cái thường được mô tả là “sự cố kỹ thuật” trên thị trường chứng khoán mới, tự động của Mỹ: Tính tổng cộng lại, 2 năm sau cú sụp chớp nhoáng, những sự cố mà thị trường chứng khoán Mỹ gặp phải đã tăng gấp đôi so với 10 năm trước đó. Đi cùng các sự cố kỹ thuật là những biến động khó lường gây hoang mang không kém trong giá cổ phiếu. Chẳng hạn, tháng 4 năm 2013, giá cổ phiếu của Google rơi từ 796 đô-la xuống còn 775 đô-la trong ba phần tư giây, sau đó bật trở lại mức 793 đô-la trong giây tiếp theo. Tháng 5, ngành dịch vụ công ích của Mỹ trải qua một cú sụp nhẹ diễn ra chớp nhoáng, chỉ trong vài giây, giá cổ phiếu giảm 50% trước khi bật trở lại mức giá cũ. Những cú sụp chớp nhoáng nho nhỏ của các cổ phiếu riêng lẻ xảy ra khá thường xuyên như vậy rất ít khi được chú ý và nhắc đến.40
Zoran cho rằng thật ra năm 2012 có ít, chứ không phải nhiều, “sự cố kỹ thuật” hơn so với năm 2006 − chỉ có hệ quả tài chính của các cú hỏng hóc hệ thống là gia tăng. Anh cũng có vấn đề với từ “sự cố” (“Đấy là từ chán nhất trên đời”). Khi một chiếc máy nào đó không hoạt động tốt và thị trường chứng khoán bị đưa vào tầm ngắm, người đứng đầu thị trường thường không có manh mối nào để biết chuyện gì đã xảy ra, hoặc làm sao để khắc phục nó: ông ta phải dựa vào các chuyên gia công nghệ của mình. Tuy nhiên, ông ta phải nói điều gì đó [với công chúng], và vì vậy, ông ta nói rằng có một “sự cố kỹ thuật”. Cứ như người ta chẳng thể nào giải thích được cách thức mà thị trường tài chính thật sự vận hành − hay không vận hành − mà không dùng đến các hình ảnh ẩn dụ lờ mờ và những từ vô nghĩa.41 Nếu có thể quy giản các vấn đề liên quan đến máy tính trên thị trường chứng khoán về một từ duy nhất, Zoran thích gọi nó là “tai nạn thông thường” hơn.42
Khi Bollerman gọi lại cho anh cuối mùa hè năm 2012, IEX đã có ý tưởng và có tia sáng hy vọng đầu tiên là sẽ tìm được vốn. Việc ý tưởng đó tràn đầy tinh thần lý tưởng làm Zoran hoài nghi; anh không chắc người ta có thể làm cho một thị trường tài chính trở nên công bằng. Mặc dù vậy, anh rõ là rất thích ý tưởng điều hành một thị trường mà anh góp một tay thiết kế − để hạn chế số lượng những thứ mà anh không thể kiểm soát trong đó. Anh đến IEX gặp Brad, Rob, John Schwall và Ronan. Brad và Schwall và Rob đều thích anh, Ronan thì không thích lắm. “Điều khiến tôi lần khân là anh ta không ngậm được cái mồm lại,” Ronan nói.
Những tháng đầu làm việc, Zoran làm mọi người thật sự khó chịu. Thiếu khủng hoảng thị trường, Zoran bắt tay tạo ra khủng hoảng xã hội. Mọi người nói với anh ta về một tính năng mới nào đó mà họ nghĩ đến chuyện sẽ tích hợp vào hệ thống và hỏi “Cái này có làm hệ thống khó quản lý hơn không?” Và Zoran đáp, “Còn tùy anh định nghĩa thế nào là ‘khó hơn’”. Hoặc họ hỏi anh liệu một thay đổi nhỏ nào đó trong hệ thống có khiến hệ thống trở nên kém ổn định hay không − với câu này, anh ta đáp: “Còn tùy anh định nghĩa thế nào là ‘ổn định’”. Với mọi câu hỏi, Zoran đều đáp lại bằng một cái cười mỉm khiến người khác bực bội, theo sau đó là một câu hỏi khác. Một ngoại lệ hiếm hoi xảy ra khi anh được hỏi “Tại sao anh luôn trả lời một câu hỏi bằng một câu hỏi khác?” “Cho rõ ràng,” anh đáp.
Zoran dường như cũng giả định các đồng nghiệp mới của mình không hiểu được sự khác biệt giữa cái mà anh có thể kiểm soát và cái anh không thể. Trong thời gian 30 ngày, sau khi gia nhập IEX, anh đã bắn đi 14 e-mail về đúng một chủ đề này − để quai thật chắc sự bí hiểm cố hữu trong bất kỳ lỗi công nghệ nào trên thị trường chứng khoán. Anh thậm chí còn mời một diễn giả đến để củng cố cho thật chắc điểm này. “Đó là một trong vài lần ít ỏi mọi người trong phòng nhảy vào họng nhau,” Brad nói. “Mấy cậu công nghệ đều đồng tình với anh ta, còn dân kinh doanh thì nói ‘Nếu có thứ gì đó hỏng, làm sao nó lại không phải là lỗi của ai được?’” Điểm tới hạn của Brad đến sau khi diễn giả khách mời ra về, và Zoran lại bắn đi một bài viết trên blog có tên “Truyện ngắn về lỗi con người”. Ý chính của câu chuyện đó là khi các hệ thống phức hợp hỏng hóc, đó chẳng phải là lỗi của ai cả. Bài viết kể lại một thảm họa máy tính nào đó và rồi kết luận “… bạn sẽ để ý thấy rằng không phải là một chi tiết nhỏ bé nào đó đã gây ra nó. Không phải là do lập trình viên tình cờ xóa nhầm bảng. Chính nhiều nguyên nhân đã kết hợp lại, cùng nhau đánh một cú thật mạnh, trong một tổ chức, tất cả chúng đều có thể trở thành vấn đề trậm trọng hơn so với rắc rối từ một cá nhân.” Đến lúc này, Brad cũng buộc phải bước từ bàn làm việc của mình sang bàn của Zoran và hét lên: “Cậu thôi cái trò gửi mấy cái e-mail chết tiệt này đi!”
May sao cuối cùng anh chàng cũng thôi. “Tôi biết phải làm gì khi mọi thứ đang nổ tung xung quanh mình,” sau này anh nói. “Nhưng khi chẳng có gì nổ tung, tôi sẽ bắt đầu suy nghĩ thái quá.”
Lúc đầu, Brad hoang mang: làm sao một anh chàng làm việc tốt dưới áp lực lại sợ bị khiển trách nếu có chuyện bất thường xảy ra đến vậy? “Anh ta rất giỏi xoay sở trong khủng hoảng,” sau này Brad nói. “Trong các tình huống đấu trí có giới hạn thời gian. Dưới áp lực. Tôi thấy được điều đó. Nhưng như thể trong trận đấu anh ta là tiền vệ chơi xuất sắc, rồi cả 6 ngày sau đó anh ta cất công đi giải thích vì sao đấy không phải là lỗi của anh ta nếu anh ta chặn ai đó. ‘Anh bạn, tỷ lệ chuyền bóng (passing rate) chính xác của anh là 110. Thôi đi.’” Rồi Brad cũng nhận ra: Nguyên do là ở cảm giác bất ổn xuất phát từ thực tế rằng anh ta sẽ dễ được công nhận khi mọi thứ bất ổn hơn là trong điều kiện mọi thứ bình thường.” Brad cũng nhận ra thêm rằng vấn đề này không chỉ xuất hiện ở riêng Zoran, nó là vấn đề chung của tất cả các chuyên gia công nghệ trên Phố Wall. Thị trường hiện đang do công nghệ vận hành, nhưng các chuyên gia công nghệ vẫn bị đối xử như những công cụ. Không ai buồn giải thích cho họ nghe về ngành, nhưng họ lại buộc phải thích nghi với các đòi hỏi của nó và bị chỉ trích khi nó sai hỏng − và có lẽ đây là lý do tại sao có nhiều sai hỏng dễ thấy đến vậy. (Ngoại lệ là các hãng giao dịch cao tần, trong đó, chuyên gia công nghệ là ông hoàng. Nhưng các hãng HFT thì lại không có khách hàng). Các kỹ sư nổi tiếng, những tài năng của Nasdaq là một ví dụ nghiêng hẳn về một thái cực trên Phố Wall. Áp lực không ngừng buộc các anh chàng công nghệ của Nasdaq phải điều chỉnh bộ mã vận hành thị trường chứng khoán theo nhu cầu của các nhà giao dịch cao tần đã tạo ra một môi trường làm việc khốn khổ, bị chính trị hóa. Dân kinh doanh ở Nasdaq áp đặt tất cả những đòi hỏi phi lý này lên các anh chàng công nghệ, và rồi khi đòi hỏi đó làm hỏng hệ thống, họ lại quay sang trách móc các anh chàng. Tất cả các anh chàng kết cục đều có cảm giác của một con vật bị bóc lột. “Ta phải phá giải cảm giác bóc lột ở bọn họ,” Brad giải thích, “và cho bọn họ biết rõ họ sẽ không bị khiển trách chỉ vì có thứ gì đó bất ổn.” Tất cả chúng ta đều biết rằng sẽ có thứ bất ổn và đó không hẳn là lỗi của ai.
Rob và John Schwall có vẻ đồng tình rằng phương pháp đúng đắn khi làm việc với các nhân viên tuyển từ Nasdaq là: liên tục nói với họ rằng họ sẽ không bị khiển trách vì bất cứ chuyện gì xảy ra, cho họ tham gia các cuộc họp kinh doanh để họ có thể thấy tại sao họ lại là một phần trong đó, v.v... Ronan thì không có sự kiên nhẫn cho chuyện đó. “Thôi nào, họ từng làm việc trong giới doanh nghiệp Mỹ,” anh nói. “Họ có đến từ trại tập trung đâu kia chứ.” Mặt khác, đến lúc đó, ngay cả Ronan cũng thấy rằng Zoran sở hữu những phẩm chất hữu ích mà ban đầu anh không nhận thấy. “Người giỏi vận hành thị trường − để được như thế ta cần phải là kẻ đa nghi nhất thế giới,” Ronan nói. “Và anh ta đúng là một kẻ như vậy. Anh ta nghĩ xa cả thước về những gì có thể chệch hướng − vì anh ta nghĩ đến những gì có thể xảy đến với mình nếu nó chệch hướng. Anh ta thật sự giỏi việc đó.”
Buổi sáng ngày 25 tháng 10 năm 2013, Zoran Perkov bắt xe điện ngầm từ nhà mình ở Queens tới Phố Wall như mọi ngày. Giống như thường lệ, anh đọc một cuốn sách hoặc một bài viết chính sách và cố gắng vờ như tất cả những người quanh mình không tồn tại. Sự khác biệt giữa buổi sáng hôm đó với các buổi sáng khác là anh đi sớm và có một thị trường chứng khoán để mở − và nó không giống như bất kỳ thị trường nào anh từng vận hành. Gọn gàng, trong sạch, chỉ chuyên tâm theo đuổi một mục đích duy nhất và được xây dựng hoàn toàn từ đầu bởi những con người mà anh không chỉ ngưỡng mộ mà giờ đây còn tin tưởng. “Mỗi sáng, hệ thống đều ở trạng thái trống không,” anh nói về các máy khớp lệnh trên các sàn giao dịch nói chung. “Nó không biết mình sẽ làm gì. 99% thời gian đó sẽ là những việc tương tự như những việc mà nó làm ngày hôm trước.” Nhưng ngày hôm nay, điều này có lẽ không đúng, vì máy khớp lệnh của IEX chưa bao giờ thật sự làm một việc gì. Zoran ngồi xuống bàn làm việc của mình trong văn phòng IEX, nhấn mạnh một vài nút và xem mã đổ xuống màn hình. Anh lôi ra một con chuột máy tính cũ, đã tã, rồi phát hiện ra nó đã chết ngắc từ bao giờ. Anh nhăn mặt. “Đó là con chuột chiến của tôi,” anh nói. “Tất cả những thị trường mà tôi mở trong 10 năm qua đều là với con chuột này.” Anh đập nó xuống bàn, rồi nhận ra rằng có thể pin của nó đã hết và băn khoăn, rất nhanh, làm sao để thay thế nó. “Vợ tôi hay nhạo tôi vì tôi không thể vận hành được chiếc lò vi sóng, nhưng lại có thể vận hành thị trường,” anh nói. Anh đổi con chuột chiến của mình lấy con khác và kiểm tra màn hình máy tính. Từng giây tích tắc trôi qua; sắp tới 9 giờ 30 sáng, thời điểm thị trường chứng khoán Mỹ mở cửa và, cùng với nó, là thị trường mới trong lòng nó, với mục đích thay đổi nó. Anh chờ đợi và theo dõi xem có gì bất thường không. Không.
Còn một phút nữa là 9 giờ 30 phút, Brad bước lại bàn Zoran: Theo sự đồng thuận của mọi người, ngày đầu tiên đó, Brad sẽ là người mở thị trường. Anh nhìn xuống bàn phím, bối rối.
“Tôi sẽ làm gì đây?” anh hỏi.
“Chỉ cần nhấn Enter thôi,” Zoran nói.
Cả phòng đếm ngược những giây cuối cùng trước giờ mở cửa.
“Năm… bốn… ba… hai… một.”
Sáu tiếng rưỡi sau đó, thị trường đóng cửa. Zoran không biết cuối cùng ngày hôm đó cả thị trường lên hay xuống. Mười phút sau, người ta có thể thấy anh, một mình, bước đi bên ngoài đài tưởng niệm 11/9, vừa đi vừa hút thuốc. “Đây giống như là ngày đầu tiên của cuộc chiến chống lại cảm giác bằng lòng, tự mãn vậy,” anh nói.
Hai tháng rưỡi sau, 16 người – bao gồm các giám đốc điều hành và các trưởng nhóm giao dịch của một số hãng quản lý tài chính lớn nhất trên thị trường chứng khoán − tập hợp tại một phòng họp nằm ở tầng trên cùng của một tòa nhà chọc trời ở Manhattan. Họ bay đến đây từ khắp nơi trên nước Mỹ để nghe Brad trình bày về những gì anh biết về thị trường chứng khoán Mỹ kể từ khi IEX mở cửa giao dịch. Từ hoạt động giao dịch, anh đã thu được thông tin mới. Việc cung cấp cho những người quan tâm đến sự thật dù chỉ là cái nhìn thoáng qua về nó được coi là có phần nổi loạn.43 “Đây là vị thế hoàn hảo để tìm hiểu toàn bộ câu chuyện,” Brad nói. “Không giống như việc ta có thể đứng ngoài và theo dõi. Ta phải vào trận thì mới thấy được nó.”
16 nhà đầu tư này đang kiểm soát vụ đầu tư chứng khoán có giá trị cỡ khoảng 2,6 nghìn tỉ đô-la, tức khoảng 20% thị trường Mỹ. Tổng cộng, tất cả họ đã trả cho các ngân hàng lớn trên Phố Wall khoảng 2,2 tỉ đô-la trong số 11 tỉ đô-la mà các ngân hàng này kiếm được mỗi năm từ tiền hoa hồng giao dịch.44 Không phải tất cả đều có cùng chung suy nghĩ hay tinh thần. Một vài người trong số họ có đầu tư trên IEX, tuy nhiên, đa phần thì không. Một hai người giữ quan điểm hiểu biết và có vẻ chín chắn rằng chỉ có kẻ khờ mới nghĩ rằng chủ nghĩa lý tưởng có thể gây ra bất kỳ tác động nào lên Phố Wall. Một vài người thì nghĩ điều quan trọng là cần nhớ rằng công nghệ đã giúp giảm chi phí giao dịch so với cách đây vài chục năm – vậy nên, họ cứ mắt nhắm mắt mở trước những trò mà các trung gian Phố Wall sử dụng với ý định ngăn công nghệ làm giảm các chi phí này thêm nữa. Nhưng bất kể họ có khuynh hướng như thế nào, tất cả họ chí ít đều phần nào tức giận, vì suốt vài năm qua tất cả họ đã nghe những trình bày của Brad về cơ chế hoạt động bên trong của thị trường chứng khoán Mỹ. Giờ thì họ không nghĩ anh là một tay đang cố bán thứ gì đó nữa, mà coi anh như một đối tác, trong một nỗ lực có lẽ viển vông nhằm khắc phục hệ thống tài chính đang ngày càng hỏng nặng. “Ta biết chuyện gì đang diễn ra, nhưng ta không có lời giải thích xác đáng cho nó,” một người nói. “Anh ta cho chúng tôi lời giải thích đó.” Người thứ hai nói, “Đây không phải là chuyện thực thi. Đây là chuyện phong trào. Tôi mệt mỏi và chán bị phỉnh phờ rồi. Khi bước vào thị trường, tôi muốn biết nó có sạch hay không.” Người thứ ba bổ sung, “bỗng nhiên tất cả thị trường lại xoay quanh thuật toán và các bộ định tuyến. Thật khó mà hiểu được chuyện này. Ta chẳng có cuốn sách nào để đọc. Ta chỉ có thể gọi cho mọi người và nói chuyện với họ. Từ dân ngân hàng, ta sẽ không thể nhận được câu trả lời trung thực cho bất kỳ câu hỏi nào. Ta nói ‘Bầu trời có màu xanh dương.’ Họ nói ‘Bầu trời xanh lá.’ Và thái độ của ta kiểu như ‘Anh đang nói về cái gì vậy?’ Và sau nửa tiếng thì hóa ra là họ đã thay đổi định nghĩa ‘bầu trời’. Ta biết ta đang hỏi gì. Họ biết ta đang hỏi gì. Mặc dù vậy, họ không muốn trả lời. Lần đầu tiên tôi nói chuyện với Brad và anh ta nói cho tôi biết toàn bộ guồng máy đấy thật sự vận hành như thế nào, tôi đã ngã bật ngửa.”
Một nhà đầu tư khác thì lại có câu hỏi về Brad. “Tại sao một người lại chọn cho mình con đường khó đi hơn? Chuyện này khác hẳn với những gì ta thường thấy. Nếu nó vận hành suôn sẻ, anh ta sẽ kiếm được. Nhưng kể cả thế thì số tiền anh ta kiếm được sẽ vẫn ít hơn so với khi anh ta ở lại làm cho RBC.”
Tất cả 16 người đều là nam giới. Hầu hết đều mặc vest, với đường ly cứng trên lưng áo, trông như thể chúng được tạo thành bằng chiếc roi nài. Họ khác với những anh chàng làm việc ở các ngân hàng trên Phố Wall và khác với dân HFT. Nhìn họ là thấy khả năng nhảy việc của họ thấp hơn nhiều − và nhiều khả năng họ có một sự nghiệp ở một nơi nhất định hơn. Họ cũng biệt lập hơn: họ không biết rõ về nhau, và trước khi Brad đề xuất, họ không có bất kỳ lý do gì để tổ chức thành một lực lượng chiến đấu. Nhiều người chỉ vừa mới hạ cánh xuống New York và một số trông rõ mệt mỏi. Giọng điệu của họ thân thuộc và ít câu nệ, không có chiêu trò bịp bợm hòng củng cố địa vị như thường thấy. Không phải ai trong số họ cũng có khả năng nổi giận, nhưng tất cả đều có khả năng hiếu kỳ.
Ở một mức độ nào đó, tất cả họ giờ đây đều nhận thấy anh chàng 35 tuổi người Canada này, bằng cách nào đó, đã đưa mình vào vị thế hiểu thị trường chứng khoán Mỹ theo cách mà có lẽ chưa có ai từng hiểu thị trường này đến thế. “Cuộc chơi giờ đã trở nên rõ ràng hơn với tôi,” Brad nói. “Giờ thì chẳng có thông cáo báo chí nào là tôi không hiểu.” Ngày 22 tháng 8, sàn Nasdaq phải đóng cửa 2 tiếng đồng hồ vì cái mà họ gọi là sự cố kỹ thuật trong giá SIP. Brad nghĩ anh hiểu tại sao chuyện này lại xảy ra: Nasdaq đã dồn cực nhiều nguồn lực vào công nghệ mới hay ho mà các hãng HFT sử dụng để tăng tốc giao dịch, nhưng lại đầu tư quá ít cho hoạt động thăm dò cơ bản trên thị trường mà các nhà đầu tư thường sử dụng. “Nasdaq có cơ sở tối tân cho giao dịch HFT,” anh nói. “Những chiếc tủ 17 kilowatt được làm lạnh, các kết nối chéo khắp mọi nơi và tất cả những thứ điên rồ ấy, rồi họ có một điểm nghẽn trong toàn bộ thị trường − giá SIP − và họ chẳng thèm để tâm đến nó. Những người đang vận hành nó chỉ là đội hình B.” Bốn ngày sau, hai sàn giao dịch đại chúng, BATS và Direct Edge, tiết lộ ý định sáp nhập. Ở một ngành bình thường, mục đích sáp nhập của hai công ty có chức năng hoạt động giống nhau sẽ là củng cố hoạt động − tức cắt giảm chi phí. Song, như thông cáo báo chí được đưa ra sau đó giải thích, cả hai sàn này có ý định hoạt động đồng thời sau khi sáp nhập. Đối với Brad, lý do rất rõ ràng: cả hai sàn chí ít đều phần nào thuộc sở hữu của các hãng giao dịch cao tần, và quan điểm của các hãng HFT là càng nhiều sàn, càng tốt.
Một vài tuần sau đó, cả Nasdaq và Sàn Giao dịch Chứng khoán New York đều ra tuyên bố, họ đã mở rộng đường ống chứa thông tin giao dịch giữa các máy tính HFT và máy khớp lệnh của mỗi sàn. Giá thuê đường ống mới là 40.000 đô-la một tháng, tăng từ con số 25.000 đô-la một tháng mà các hãng HFT hiện đang trả cho đường ống cũ. Tốc độ sẽ nhanh hơn 2 micro giây. Brad hiểu lý do của việc này không phải là thị trường sẽ khởi sắc nếu HFT có thông tin nhanh hơn 2 micro giây so với trước đó, mà là hãng giao dịch cao tần nào cũng sợ mình chậm chân hơn đối thủ, và các sàn đã tìm ra cách trục lợi từ mối lo âu này. Trong một thị trường chứng khoán được định nghĩa bằng các tai nạn công nghệ hiện nay, chẳng có gì thực sự tình cờ xảy ra: luôn có lý do cho những sự kiện kỳ cục nhất. Chẳng hạn, một ngày, các nhà đầu tư tỉnh dậy và phát hiện ra mình đã mua cổ phiếu của một công ty nào đó với giá 30,0001 đô-la. Tại sao lại như vậy? Làm sao người ta có thể trả đến phần vạn xu cho một thứ nào đó? Đơn giản thôi: Các hãng giao dịch cao tần đã đòi có một kiểu lệnh cho phép họ thay đổi các chữ số bên phải dấu thập phân, sao cho họ có thể vào hàng, trước những người đang cố trả ở mức giá 30,00 đô-la. Lý do vì sao phải thay đổi hiếm khi được giải thích: thay đổi đơn giản là cứ thế xảy ra. “Cần phải báo động để mọi người biết đây là một ngành quá đỗi mù mờ,” Brad nói. “Chuyện những người đang kiếm chác được nhiều nhất muốn mọi thứ càng kém rõ ràng càng tốt − cũng cần được báo động nốt.”
Tất cả những gì mà anh làm với sàn giao dịch mới của mình đều nhằm khiến nó sáng sủa hơn và buộc Phố Wall phải làm theo. 16 nhà đầu tư hiểu chiến lược thương mại cơ bản của IEX: mở như một thị trường chứng khoán tư và chuyển đổi thành sàn giao dịch đại chúng khi khối lượng giao dịch đủ để gánh hàng triệu đô-la tiền phí mà họ sẽ phải trả theo luật. Mặc dù từ góc độ kỹ thuật mà nói đây là một mạng lưới giao dịch chứng khoán khối lượng lớn trong bóng tối, song IEX sẽ làm một việc mà chưa một mạng lưới giao dịch chứng khoán khối lượng lớn trong bóng tối nào trên Phố Wall từng làm: Công khai quy định của mình. Các nhà đầu tư, lần đầu tiên, có thể thấy kiểu lệnh nào được phép thực hiện trên sàn này và liệu có bất kỳ nhà giao dịch nào có quyền tiếp cận đặc biệt không. Vì là một mạng lưới giao dịch chứng khoán khối lượng lớn trong bóng tối, nên IEX sẽ cố xác lập một tiêu chuẩn minh bạch mới − và có lẽ sẽ khiến những sàn giao dịch khác xấu hổ mà phải noi theo. Hoặc có thể không. “Tôi từng nghĩ đến chuyện một mạng lưới giao dịch chứng khoán khối lượng lớn trong bóng tối nào đó sẽ theo sau chúng tôi và công khai các quy định của mình,” lúc này Brad mới nói với các nhà đầu tư. “Chắc phải có ai đó chẳng có thứ gì để giấu. Tôi đã đoán là có 6 hoặc 7 trên tổng số 44 sàn sẽ làm thế. Nhưng không ai cả. Không một ai. Hiện có khoảng 45 thị trường. Trên 44 thị trường trong số đó, không ai hay biết họ giao dịch như thế nào. Có bất kỳ ai từng lóe lên ý nghĩ rằng việc nói cho mọi người biết thị trường vận hành thế nào có thể là một ý tưởng hay chưa? Người ta có thể nhìn lại cuộc khủng hoảng tài chính và nói ‘làm sao người ta có thể cho vay thế chấp mà không có tài liệu nào? Chuyện đấy phi lý quá.’ Tuy nhiên, các ngân hàng đã làm như vậy. Và bây giờ hàng nghìn tỉ đô-la giao dịch đang được tiến hành trên những thị trường mà không ai hay biết nó hoạt động ra sao, bởi chẳng có tài liệu nào ghi lại. Chuyện đó nghe có quen không?”
Rồi anh giải thích các thị trường này muốn ẩn mình trong tối đến độ nào − và những người đứng ở chính tâm điểm của nó muốn IEX thất bại ra sao. Ngay trước khi IEX mở cửa, các hãng môi giới của các ngân hàng lớn tại Phố Wall đã lao vào tìm cách phá họ. Một nhà đầu tư gọi cho Brad thông báo một đại diện của Ngân hàng Mỹ vừa nói với ông, IEX thuộc sở hữu của các hãng giao dịch cao tần. Buổi sáng đầu tiên IEX mở cửa, giám đốc của một quỹ đầu tư có tên là ING đã gửi một loạt e-mail mà đọc lên như thể là được một ai đó ở một ngân hàng lớn Phố Wall thay mặt chị viết ra: “Với việc IEX sắp mở cửa, chúng tôi yêu cầu không tiến hành giao dịch cổ phiếu nào của ING trên IEX… Tôi vẫn nghi ngờ xung đột lợi ích cố hữu trong mô hình kinh doanh của họ. Vì vậy, tôi yêu cầu loại bỏ các giao dịch trên IEX.”
Các nhân viên của IEX đã liều lĩnh đặt cược cả sự nghiệp của mình để tấn công vào các xung đột lợi ích trên thị trường chứng khoán. Họ từ chối dòng vốn dễ dàng từ các ngân hàng lớn trên Phố Wall − để tránh xung đột lợi ích. Và để tránh xung đột lợi ích, các nhà đầu tư hỗ trợ IEX cũng tái cơ cấu hoạt động đầu tư của mình sao cho cá nhân họ không có lợi nhuận khi gửi giao dịch tới sàn: Lợi nhuận từ thương vụ đầu tư của họ sẽ chảy về túi những người mà họ đang thay mặt quản lý tài chính. Các nhà đầu tư này cũng kiên quyết chỉ nắm tối đa 5% cổ phần trong sàn, để tránh khả năng nắm quyền kiểm soát sàn. Trước khi IEX mở cửa, Brad đã dứt khoát từ chối lời đề nghị của InterContinentalExchange (tức ICE), những người chủ mới của Sàn Giao dịch Chứng khoán New York, khi họ đề nghị mua lại IEX với giá hàng trăm triệu đô-la − và bỏ qua cơ hội làm giàu nhanh chóng. Để lợi ích của mình phù hợp với lợi ích của thị trường rộng lớn hơn, IEX đã lên kế hoạch giảm phí khi khối lượng giao dịch tăng − để mọi người đều có thể lên sàn. Ấy vậy mà vào ngày IEX mở cửa giao dịch, vị giám đốc ở ING − người trước đó đã từ chối gặp họ để họ có thể giải thích cho chị hiểu về sàn − đã loan đi tin đồn rằng IEX có xung đột lợi ích.45
Nhưng rồi những hành vi kỳ lạ đủ kiểu đã theo sau sự xuất hiện của IEX trên thị trường chứng khoán Mỹ. Ronan dự một cuộc hội thảo giao dịch bí mật − vắng bóng giới truyền thông, nhưng lại có nhiều nhân vật cốt cán trên Phố Wall. Đây là lần đầu tiên anh được mời tham dự một sự kiện đặc biệt và anh định ngồi im. Khi anh đang ở ngoài hành lang, rảo bước về phía nhà vệ sinh, thì ai đó nói, “anh biết không, trong đó họ đang nói về IEX đấy.” Ronan quay trở lại phòng hội thảo và lắng nghe phát biểu của những nhân vật đứng đầu một số sàn giao dịch chứng khoán đại chúng lớn của Mỹ đang ngồi trên hàng ghế chủ tọa. Tất cả đều đồng ý rằng IEX sẽ chỉ góp phần vào vấn đề lớn nhất trên thị trường chứng khoán Mỹ: sự phân mảnh của thị trường. Thị trường hiện đã có 13 sàn giao dịch đại chúng và 44 sàn giao dịch riêng: Ai cần thêm một sàn khác nữa? Đến lượt khán giả phát biểu ý kiến, Ronan tìm được một cái mic. “Xin chào, tôi là Ronan và tôi nghĩ mình đã đi tiểu không đúng lúc,” anh nói và rồi làm một bài phát biểu ngắn. “Chúng tôi không như các vị,” anh kết luận. “Hay bất kỳ ai khác trên thị trường. Chúng tôi là một lực lượng thống nhất như một.” Anh nghĩ rằng mình đã điềm tĩnh và chừng mực, nhưng đám đông, bằng tiêu chuẩn của mình, thì cuồng lên − nói cách khác, họ quả thật đã vỗ tay hoan hô. “Trời, tôi cứ tưởng anh chuẩn bị tung một cú đấm rồi chứ,” một nhân vật sau đó có nói.
Các sàn giao dịch chứng khoán không thích IEX vì những lý do mà ai cũng thấy rõ, các ngân hàng lớn Phố Wall thì có những lý do kém rõ ràng hơn. Nhưng khi các ngân hàng lớn càng cảm thấy Brad đang được các nhà đầu tư lớn coi là quan tòa phán xử hành vi trên Phố Wall bao nhiêu, họ càng cẩn trọng hơn khi đối đầu với anh bấy nhiêu. Thay vì trực tiếp phản đối anh, họ thường buông ra những lời chỉ trích mà họ nói là nghe được từ các ngân hàng lớn khác. Một ông ở Deutsche Bank sẽ nói rằng một ông ở Citigroup khó chịu với việc IEX đang chỉ cho các nhà đầu tư biết cách ràng buộc làm sao để ngân hàng phải định tuyến lệnh đến IEX − đại loại như vậy. “Khi tôi tới thăm, tất cả họ đều thân tình,” Brad nói. “Điều đó làm tôi cảm thấy kế hoạch của họ là làm cho chúng tôi phải đói rã mà chết.” Nhưng họ lại không tỏ ra là mình đang làm như vậy. Một ngày trước khi sàn mở cửa giao dịch, một người ở Ngân hàng Mỹ gọi cho Brad và nói: Này, anh bạn, mọi chuyện thế nào rồi? Tôi sẽ rất cảm kích nếu anh nói là chúng tôi ủng hộ các anh. Ngân hàng Mỹ là ngân hàng đầu tiên nhận được tài liệu cần thiết để kết nối với sàn, và vào ngày mở cửa, họ vẫn ì ạch chưa thiết lập kết nối. Brad từ chối giúp Ngân hàng Mỹ thoát khỏi thế kẹt. “Hổ thẹn là chiến thuật quan trọng mà chúng tôi phải triển khai,” anh nói.
9 tuần sau khi IEX mở cửa, mọi sự đã rõ là các ngân hàng không làm theo yêu cầu của khách hàng: gửi lệnh tới sàn mới. Một vài nhà đầu tư ngồi trong phòng hôm đó đã biết điều này; số còn lại lúc này mới biết. “Khi chúng tôi nói với họ rằng chúng tôi muốn định tuyến tới IEX,” một người kể, “họ nói, ‘Tại sao các ngài lại muốn vậy? Chúng tôi không thể làm thế!’ cụm từ ‘những con lợn kêu eng éc’ xuất hiện trong đầu tôi.” Sau 6 tuần đầu tiên kể từ khi IEX chào đời, UBS, ngân hàng lớn của Thụy Sĩ, tình cờ tiết lộ với một nhà đầu tư lớn rằng mình không định tuyến một lệnh nào đến IEX − dù nhà đầu tư đó đã có yêu cầu rõ ràng về việc này. Giám đốc của một quỹ tương hỗ lớn khác đoán chừng, khi ông yêu cầu các ngân hàng lớn định tuyến đến IEX, “nhiều nhất là 10% thời gian” họ mới làm theo yêu cầu của ông. Một nhà đầu tư khác được ba ngân hàng khác nhau cho biết họ không muốn kết nối với IEX vì họ không muốn trả phí kết nối 300 đô-la một tháng.
Trong số tất cả các ngân hàng ì ạch lê chân sau khi khách hàng yêu cầu họ gửi lệnh giao dịch chứng khoán tới IEX, Goldman Sachs có lý do hay nhất: họ sợ phải yêu cầu hệ thống máy tính của mình làm bất kỳ việc gì mà nó chưa từng làm trước đó. Tháng 8 năm 2013, hệ thống giao dịch tự động của Goldman tạo ra một lô những giao dịch điên rồ và đáng xấu hổ, khiến họ mất hàng trăm triệu đô-la (cho đến khi, ngạc nhiên là, các sàn giao dịch chứng khoán đại chúng đồng ý hủy các giao dịch này). Goldman muốn tránh đưa lệnh mới cho các máy giao dịch của mình đến khi hãng tìm ra lý do mình phải ngừng làm theo kiểu cũ. Có điều gì đó trong cách mà Goldman đối xử với Brad khi anh tới văn phòng của họ − họ lắng nghe những gì anh nói, đẩy anh lên dần trong chuỗi lệnh, thay vì ra khỏi cửa − khiến anh tin vào lý do của họ. Anh cảm thấy họ nghiêm túc cân nhắc những điều anh nói. Chẳng hạn, sau cuộc gặp đầu tiên của anh với bộ phận chứng khoán của họ, các chuyên gia phân tích của Goldman thông báo tới các khách hàng rằng họ cần thận trọng hơn khi đầu tư vào Nasdaq.
Các ngân hàng khác − trừ Morgan Stanley và J. P. Morgan − chủ yếu là tránh đối đầu trực tiếp, nhưng cũng có khi họ xấn xổ tấn công. Nhân viên của Credit Suisse loan đi tin đồn rằng IEX thật ra không hoạt động độc lập, mà thuộc quyền sở hữu của Ngân hàng Hoàng gia Canada − và vì vậy sàn chỉ là công cụ của một ngân hàng lớn. Một đêm, tại một quán bar ở Manhattan, một nhân viên của IEX tình cờ gặp một giám đốc cấp cao của Credit Suisse. “Sau khi các anh thất bại, hãy đến chỗ tôi, tôi sẽ bố trí cho anh một chỗ làm,” ông ta nói. “Đợi đã, không, mọi người ghét cả lũ các anh, vì vậy tôi sẽ không đời nào.” Giữa ngày giao dịch đầu tiên, một nhân viên của IEX nhận được cuộc gọi từ một nhà điều hành cấp cao của Ngân hàng Mỹ, ông này nói rằng một đồng nghiệp của anh có “mối liên hệ với giới xã hội đen Ireland,” và “anh sẽ không muốn làm những tay đó điên lên đâu.” Nhân viên đó tới chỗ Brad và anh đáp “thằng cha đó vớ vẩn đấy”. Nhân viên đó không chắc lắm và sau cuộc gọi là một tin nhắn.
Nhân viên IEX: Tớ có nên lo không?
Nhân viên Ngân hàng Mỹ: Có.
Nhân viên IEX: Cậu nghiêm túc đấy chứ?
Nhân viên Ngân hàng Mỹ: Đùa đấy.
Nhân viên IEX: Không thấy có tay Ireland nào đi theo tớ cả.
Nhân viên Ngân hàng Mỹ: Ờ nhưng lần sau, trước khi chui vào xe, cứ nhớ cẩn thận cho chắc.
Nhân viên IEX: May là tớ không có xe.
Nhân viên Ngân hàng Mỹ: À, thì có thể xe của bồ cậu.
Brad cũng nghe được những điều mà các ngân hàng lớn Phố Wall nói với các nhà đầu tư của mình để thuyết phục họ không gửi lệnh tới IEX: Nó quá chậm. Suốt nhiều năm, các ngân hàng đã bán tốc độ và sự hùng hổ trong các thuật toán giao dịch của mình, cùng với ý tưởng rằng, đối với một nhà đầu tư, chậm hơn đồng nghĩa với tệ hại hơn. Họ dường như cũng tự thuyết phục mình rằng tốc độ mới của các thị trường thực ra có ích cho khách hàng. Họ thậm chí còn mơ đến một cái tên nghe có vẻ chuyên môn cho sự thiếu vắng tốc độ: “rủi ro về mặt thời gian”. (“Nếu ta làm cho nó nghe có vẻ chính thức, mọi người sẽ tin rằng đó là thứ thật sự cần quan tâm đến,” Brad giải thích). Khoảng trễ 350 micro giây mà IEX đưa ra để chặn những kẻ săn mồi trên thị trường chứng khoán bằng khoảng một phần nghìn thời gian của một cái chớp mắt. Song, suốt nhiều năm, các nhà đầu tư đã được dẫn dắt để đi đến chỗ tin rằng một phần nghìn thời gian của một cái chớp mắt có thể quan trọng với họ và rằng việc cực kỳ quan trọng là phải làm sao để lệnh của họ đi nhanh và hùng hổ hết sức có thể. Du kích! Đột kích! Cái kiểu nhấn mạnh như vậy đến tốc độ thật phi lý: Bất kể nhà đầu tư di chuyển nhanh đến thế nào, anh ta cũng chẳng bao giờ địch lại được các hãng giao dịch cao tần. Việc tăng tốc lệnh giao dịch chứng khoán chỉ giúp giảm thời gian anh ta lọt vào những cái bẫy khác nhau của các nhà HFT mà thôi. “Nhưng làm sao ta chứng minh được một mili giây đó không thích đáng?” Brad đặt câu hỏi.
Anh chuyển vấn đề này cho các Bậc thầy Giải đố. Đội đã mở rộng, có thêm Larry Yu, thường làm Brad nghĩ đến hình ảnh một anh chàng lúc nào cũng thủ sẵn một khối rubik dưới bàn làm việc của mình. (Khối rubik 3x3 thường thấy, anh ta có thể phá trong vòng chưa đầy 30 giây, và vì vậy anh ta phải dùng dầu Wd-40 tra thêm để có thể dễ dàng xoay nó nhanh hơn. Hộp rubik của anh ta có những khối rubik khó phá hơn: một khối 4x4, một khối 5x5 và một khối khổng lồ có hình dạng khác lạ, v.v...) Yu lập ra hai biểu đồ và Brad phóng chúng lên màn hình cho các nhà đầu tư xem.
Để thấy bất cứ thứ gì trên thị trường chứng khoán, ta phải từ bỏ nỗ lực cố xem chúng bằng mắt thường, thay vào đó nỗ lực hình dung ra chúng như khi chúng xuất hiện trước máy tính, nếu máy tính có mắt. Biểu đồ đầu tiên cho các nhà đầu tư thấy hoạt động giao dịch cổ phiếu năng động nhất của một công ty cụ thể (Tập đoàn Ngân hàng Mỹ) trên tất cả các sàn giao dịch chứng khoán đại chúng ở Mỹ xuất hiện như thế nào trước mắt thường trong khoảng thời gian là 10 phút, theo từng khối một giây tăng dần. Hoạt động có vẻ như liên miên, thậm chí điên rồ. Gần như mỗi giây lại có một điều gì đó xảy ra: một giao dịch, hoặc phổ biến hơn, một lệnh mua hoặc một lệnh bán mới. Biểu đồ thứ hai minh họa cũng chính hoạt động này trên mọi sàn giao dịch chứng khoán đại chúng ở Mỹ như khi nó xuất hiện trước máy tính, trong thời gian một giây, theo từng khối mili giây tăng dần. Toàn bộ hoạt động thị trường trong một giây đó tập trung − vào đúng 1,78 mili giây − đến độ trên biểu đồ nó giống như một tòa tháp nổi lên sừng sững giữa sa mạc hoang vắng. Trong 98,22% mili giây còn lại, chẳng có gì xảy ra trên thị trường chứng khoán Mỹ. Đối với máy tính, thị trường của cổ phiếu được giao dịch năng động nhất là một chốn gần như im lìm, chẳng có hoạt động nào diễn ra. “Nhưng, mắt của ta lại cho rằng thị trường đang chuyển động nhanh,” Brad nói. “Chúng không chuyện động nhanh như thế.” Khả năng một nhà đầu tư bỏ lỡ thứ gì đó quan trọng trong một phần ba giây gần như bằng 0, thậm chí với cả cổ phiếu giao dịch năng động nhất thế giới. “Tôi biết lo lắng về từng mili giây là chuyện vớ vẩn,” Brad nói, “bởi nếu mili giây thích đáng đến vậy, thì tất cả các nhà đầu tư sẽ ở New Jersey hết.”
“Vậy cột nhọn kia là cái gì?” một nhà đầu tư hỏi, chỉ vào cột thẳng đứng.
“Đó là khi lệnh của ông tiếp đất,” Brad nói.
Một số nhà đầu tư cựa mình trên ghế. Giờ đây, họ ngày càng thấy rõ, nếu thị trường chứng khoán là một bữa tiệc thì họ chính là chiếc bát pha rượu bân. Họ khó có thể bỏ lỡ bất kỳ hành động nào vì trễ mất một phần ba giây. Họ là lý do cho toàn bộ hành động đó! “Mỗi khi một giao dịch xảy ra trên sàn, nó tạo ra một tín hiệu,” Brad nói. “Trong 55 giây cho đến lúc đó − là sự yên ắng hoàn toàn. Rồi một sự kiện xảy ra. Rồi có phản ứng ồ ạt này. Rồi một phản ứng với phản ứng đó. Các thuật toán HFT ở phía bên kia dự đoán ta sẽ làm gì tiếp theo dựa trên những gì ta vẫn làm.” Hoạt động này đạt đỉnh khoảng 350 giây sau khi lệnh của nhà đầu tư kích hoạt cơn nạp nhiên liệu điên cuồng, tức thời gian mà nhà giao dịch HFT phải bỏ ra để gửi lệnh từ sàn giao dịch chứng khoán mà nhà đầu tư hạ cánh tới tất cả các sàn khác. “Mắt ta sẽ không bao giờ biết được chuyện gì đang thật sự xảy ra,” Brad nói. “Ngay cả nếu ta có là kẻ nửa người nửa máy đi chăng nữa, ta cũng không thấy nó. Nhưng nếu không có giá trị để phản ứng, tại sao có người nào đó lại phản ứng?” Sự xuất hiện của con mồi khiến kẻ săn mồi thức tỉnh, kẻ này triển khai các chiến lược của mình, buôn chênh giá ăn hoa hồng, buôn chênh giá thời gian chờ và buôn chênh giá trên thị trường chậm. Brad không cần nhắc đi nhắc lại những điều này; anh đã dẫn từng nhà đầu tư đi qua những khám phá ban đầu của mình. Điều anh muốn họ tập trung vào là những phát hiện mới của anh.46
Vào ngày IEX mở cửa − ngày mà sàn chỉ giao dịch chừng nửa triệu cổ phiếu − luồng lệnh qua các máy tính của sàn nhanh đến độ mắt thường không thể hiểu được. Cả tuần đầu tiên, Brad dính chặt vào máy tính, cố gắng xem mình có thể thấy bất cứ sự kiện nào không. Thậm chí trong tuần đầu tiên đó, anh cũng cố gắng hiểu các dòng đang xổ xuống màn hình máy tính của mình với tốc độc 50 dòng một giây. Cảm giác giống như ta đang đọc thật nhanh cuốn Chiến tranh và Hòa bình trong vòng chưa đầy một phút. Tất cả những gì anh có thể nhìn thấy là có nhiều lệnh đến không ngờ được các ngân hàng trên Phố Wall gửi đến IEX theo lô nhỏ 100 cổ phiếu. Các hãng HFT dùng lô 100 cổ phiếu làm mồi câu trên các sàn, để chớp lấy thông tin về thị trường trong khi vẫn đảm bảo mình chỉ phải chịu rủi ro thấp nhất có thể. Nhưng đây không phải là lệnh từ các hãng HFT; chúng là lệnh từ các ngân hàng lớn. Cuối ngày, anh yêu cầu thông tin về số lượng lệnh của một ngân hàng: 87% số lệnh đó được chia thành những lô nhỏ 100 cổ phiếu. Tại sao lại như vậy?
Một tuần sau khi Brad nghỉ việc ở Ngân hàng Hoàng gia Canada, bác sĩ để ý thấy huyết áp của anh giảm về mức gần như bình thường và số thuốc anh phải uống giảm một nửa. Bây giờ, khi đối mặt với tình huống mà mình không hiểu nổi, Brad lại bị đau đầu và huyết áp của anh lại tăng. “Tôi căng ra khi nhìn thấy các xu hướng” anh nói. “Các xu hướng đang được xuất ra trước tôi, nhưng mắt tôi không bắt được chúng.”
Một buổi chiều, một nhân viên IEX tên là Josh Blackburn tình cờ nghe thấy Brad đề cập đến vấn đề của mình. Josh là người trầm lặng − anh không đơn thuần là người kín tiếng, anh còn kín tiếng quá mức − lúc đầu, anh chẳng nói gì. Nhưng anh nghĩ mình biết cách giải quyết vấn đề này. Bằng các hình ảnh.
Giống như Zoran, sự nghiệp của Josh cũng lần ngược về ngày 11 tháng 9 năm 2001. Anh vừa mới vào đại học thì một người bạn nhắn tin bảo anh bật tivi lên và anh đã chứng kiến cảnh tòa tháp đôi đổ sụp. “Khi chuyện đó xảy ra, tôi bàng hoàng tự hỏi Mình có thể làm gì?” Vài tháng sau, anh đến trung tâm tuyển binh của lực lượng ở địa phương và ghi danh. Họ bảo anh chờ tới khi học xong năm nhất. Cuối năm học, anh quay trở lại. Không quân cử anh tới Qatar, ở đây một vị đại tá đã phát hiện ra rằng anh có tài viết mã đặc biệt; chuyện này đưa tới chuyện kia, và hai năm sau anh có mặt ở Baghdad. Ở đây, anh đã tạo ra một hệ thống nhận thông điệp từ mọi đơn vị xa xôi và một hệ thống lập bản đồ như Google, trước khi các bản đồ của Google tồn tại. Từ Baghdad, anh tới Afghanistan, ở đây cuối cùng anh làm nhiệm vụ phụ trách lấy dữ liệu từ mọi đơn vị quân sự Mỹ trên tất cả các chiến trường và chuyển chúng thành một hình ảnh duy nhất mà các vị tướng có thể dùng để ra quyết định. “Nó cho họ thấy tất cả những gì đang diễn ra, trong thời gian thực, trên một bản đồ treo tường cao 6m,” Josh nói. “Ta có thể thấy các mẫu hành vi. Ta có thể thấy nơi xuất phát của các cuộc tấn công tên lửa. Ta có thể thấy các mẫu hành vi khi chúng xuất hiện − các cuộc tấn công vào doanh trại Chiến thắng [căn cứ quân sự của Mỹ] sẽ diễn ra sau giờ cầu nguyện buổi chiều. Ta có thể phán đoán [các cuộc tấn công có thể xảy ra ở đâu, vào thời điểm nào] và so sánh những phán đoán này với vị trí thực sự xảy ra các cuộc tấn công.” Việc này không đơn giản là viết mã để biến thông tin thành hình ảnh, mà là tìm ra những hình ảnh tốt nhất để vẽ − những hình dáng và màu sắc giúp đầu óc nắm bắt ý nghĩa nào đó. “Khi ta đặt mọi thứ lại gần nhau và thể hiện nó theo cách chuẩn xác nhất có thể, ta có thể tìm thấy các xu hướng,” Josh nói.
Việc này khó, nhưng hóa ra khi đã làm rồi, việc thôi không làm nó nữa còn khó hơn. Khi đợt nghĩa vụ đầu tiên kết thúc, Josh lại ghi danh tòng quân và khi đợt đó kết thúc, anh lại đăng ký lần nữa. Khi đợt nghĩa vụ thứ ba kết thúc, anh thấy cuộc chiến đã đỡ căng hơn và anh không còn đắc dụng như trước. “Thật khó quay về,” Josh nói. “Bởi ta đã nhìn thấy tác động của việc mình làm. Sau đó, tôi không thể tìm thấy niềm say mê trong bất kỳ việc gì mình làm, bất kỳ ý nghĩa nào nữa.” Trở về nhà, anh tìm một nơi triển khai kỹ năng của mình − và một người bạn làm tài chính nói với anh về việc mở một hãng giao dịch cao tần mới. “Trong chiến tranh, ta cố gắng sử dụng hình ảnh mình tạo ra để lợi dụng kẻ thù,” Josh nói. “Trong trường hợp này, ta lại cố gắng để lợi dụng thị trường.” Anh làm việc cho hãng HFT đó 6 tuần thì hãng đóng cửa, nhưng anh không vừa ý với công việc.
Anh đến với IEX theo cách thông thường: John Schwall tìm thấy anh khi đang rập rình trên LinkedIn và mời anh tới phỏng vấn. Lúc đó, Josh đang bị ngập lụt trong lời mời của các hãng giao dịch cao tần khác. “Có rất nhiều hãng có suy nghĩ ‘chúng tôi là tinh hoa,’” anh nói. “Họ cứ nhấn mạnh vào chuyện tinh hoa.” Anh không quan tâm nhiều như vậy đến chuyện thuộc giới tinh hoa; anh chỉ muốn công việc của mình có ý nghĩa nào đó. “Tôi đến phỏng vấn vào ngày thứ Sáu. Thứ Bảy thì họ mời tôi về làm. Brad nói, chúng ta sẽ thay đổi cách thức mọi thứ vận hành. Nhưng tôi không thật sự biết Brad đang nói về chuyện gì.” Từ khi gia nhập, anh chỉ im lặng và đặt bản thân vào chốn mà mình thích, trong hậu trường. “Tôi chỉ cố gắng thu nạp những gì mà mọi người nói và lắng nghe những điều mọi người phàn nàn Tôi ước thế này, tôi ước thế kia, rồi kết hợp chúng lại với nhau và tìm ra giải pháp,” anh nói.
Brad biết rất ít về quá khứ của Josh − anh chỉ biết rằng bất cứ cái gì Josh làm cho quân đội Mỹ dường như đều là thứ mà anh ta không thể đề cập đến. “Tất cả những gì tôi biết là anh ta từng ngồi trong một chiếc xe rơ-moóc ở Afghanistan, làm việc với các tướng lĩnh,” Brad nói. “Khi tôi kể cho anh ta nghe vấn đề của mình − là tôi không thể thấy dữ liệu − anh ta chỉ nói ‘nhấn refresh đi.’”
Một cách âm thầm, Josh đã tiến hành và tạo lập cho Brad những hình ảnh về hoạt động trên IEX. Brad nhấn refresh; màn hình lúc này được tổ chức thành các hình khối và màu sắc khác nhau. Những giao dịch theo lô 100 cổ phiếu kỳ quặc đột nhiên được gộp lại với nhau và được làm nổi bật lên theo những cách hữu ích: anh có thể thấy các mẫu hành vi. Và trong các mẫu hành vi này, anh có thể thấy hoạt động săn mồi mà cả anh lẫn các nhà đầu tư chưa bao giờ hình dung ra.
Những hình ảnh mới này cho anh thấy các ngân hàng lớn Phố Wall thường xử lý lệnh giao dịch chứng khoán của nhà đầu tư như thế nào. Mọi chuyện diễn ra như sau: Giả sử bạn là một nhà đầu tư lớn − một quỹ tương hỗ hoặc một quỹ hưu trí − và bạn quyết định đầu tư mạnh tay vào Procter & Gamble. Bạn đại diện cho những người Mỹ bình thường, những người đã phó thác khoản tiết kiệm của mình cho bạn để bạn quản lý giùm họ. Bạn gọi cho một nhà môi giới nào đó − như Ngân hàng Mỹ, chẳng hạn − và nói với họ rằng bạn muốn mua 100.000 cổ phiếu của Procter & Gamble. Cổ phiếu của P&G hiện đang được giao dịch ở mức, giả sử là 82,95-82,97, với 1.000 cổ phiếu niêm yết ở mỗi phía. Bạn nói với ngân hàng lớn ở Phố Wall kia là bạn sẵn sàng trả tới, chẳng hạn, 82,97 đô-la cho một cổ phiếu. Từ đó trở đi, về cơ bản bạn không biết lệnh của bạn − và thông tin mà nó nắm giữ − được xử lý như thế nào. Giờ thì Brad thấy: việc đầu tiên nhà môi giới làm là gửi lên IEX một lệnh mua 100 cổ phiếu để xem trên IEX có người bán hay không. Việc này hoàn toàn có thể hiểu được: ta sẽ không muốn tiết lộ mình có một khách hàng lớn cho đến khi ta tìm thấy người bán. Điều khó hiểu hơn nhiều là việc mà phần lớn các nhà môi giới làm sau khi họ tìm thấy người bán: Họ né anh ta.
Chẳng hạn, giả sử IEX thực sự có người bán đang đợi khách mua trên đó − một người bán 100.000 cổ phiếu với giá 82,96 đô-la. Thay vì bước vào và mua một lô P&G lớn hơn hẳn, ngân hàng lớn kia lại chỉ gửi lên IEX những lệnh 100 cổ phiếu nhỏ giọt − hoặc biến mất dạng. Nếu ngân hàng gửi lên IEX một lệnh mua 100.000 cổ phiếu của P&G với giá 82,97 đô-la, nhà đầu tư sẽ mua được toàn bộ số cổ phiếu mà mình mong muốn mà không đẩy giá tăng lên. Thay vào đó, ngân hàng lại gửi nhỏ giọt và − bằng kiểu khăng khăng tiết lộ lệnh ồn ào như thế − ngân hàng đã làm tăng giá cổ phiếu của P&G, với phần thiệt thuộc về nhà đầu tư mà về lý ngân hàng là người đại diện cho lợi ích của họ. Ngoài vết thương đó, ngân hàng còn kết thúc bằng việc chỉ mua một phần nhỏ cổ phiếu mà khách hàng mong muốn. “Nó hé lộ một địa hạt hoạt động hoàn toàn mới mà cá nhân tôi thấy cực kỳ điên rồ,” Brad nói với các thính giả đang lắng nghe mình. Cứ như thể các ngân hàng lớn trên Phố Wall đang trông chờ xem liệu IEX có người bán lớn nào không để tránh giao dịch với anh ta. “Tôi đã nghĩ, Tại sao lại có người làm việc này? Tất cả những gì người đó làm là tăng thêm nguy cơ một hãng HFT chớp được tín hiệu của mình.”
Không phải tất cả đều hành xử như vậy: có hai ngân hàng lớn sau khi gửi những lệnh 100 cổ phiếu đã mua gọn cả lô theo lệnh mua và thực hiện giao dịch mà khách hàng đề nghị họ. (Ngân hàng Hoàng gia Canada là ngân hàng hành xử tử tế hơn hẳn các ngân hàng khác). Nhưng nhìn chung những ngân hàng lớn trên Phố Wall có kết nối với IEX − trong tuần giao dịch đầu tiên không có Ngân hàng Mỹ và Goldman Sachs trong nhóm này − đều kết nối không đều. Cứ như thể họ muốn tỏ ra mình đang tương tác với toàn bộ thị trường chứng khoán, trong khi kỳ thực họ đang cố ngăn bất kỳ giao dịch nào diễn ra bên ngoài các mạng lưới giao dịch chứng khoán khối lượng lớn trong bóng tối của riêng mình.
Giờ thì Brad có thể giải thích cho các nhà đầu tư, những người hẳn nhiên là nạn nhân phải trả giá cho hành vi này, tại sao các ngân hàng lại hành xử như vậy. Lý do thấy rõ nhất là để tối đa hóa cơ hội thực hiện các lệnh giao dịch chứng khoán mà nhà đầu tư ủy thác trong mạng lưới giao dịch chứng khoán khối lượng lớn trong bóng tối của riêng họ. Một ngân hàng càng ít trung thực khi tìm kiếm cổ phiếu P&G ở ngoài mạng lưới giao dịch chứng khoán khối lượng lớn trong bóng tối của mình bao nhiêu, khả năng ngân hàng đó tìm được nó càng thấp bấy nhiêu. Chính kiểu lẩn tránh này đã giải thích cho khả năng không ngờ tới của ngân hàng trong việc tìm thấy phía còn lại của bất kỳ giao dịch nào trong mạng lưới giao dịch chứng khoán khối lượng lớn trong bóng tối của riêng họ. Một ngân hàng kiểm soát chưa đầy 10% lệnh giao dịch cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Mỹ bằng cách nào đó có thể thực hiện được hơn một nửa lệnh do khách hàng ủy thác mà không cần phải rời mạng lưới giao dịch chứng khoán khối lượng lớn trong bóng tối. Tổng cộng, các ngân hàng đã di chuyển thành công 38% thị trường chứng khoán Mỹ hiện đang được giao dịch trong các mạng lưới giao dịch chứng khoán khối lượng lớn trong bóng tối của họ − và đây chính là cách họ tiến hành. “Nhìn bề ngoài thì thị trường trông như được liên kết với nhau,” Brad nói.
Các ngân hàng lớn trên Phố Wall muốn giao dịch trong mạng lưới giao dịch chứng khoán khối lượng lớn trong bóng tối không chỉ vì nếu làm thế, họ sẽ kiếm được thêm − ngoài tiền hoa hồng giao dịch − nhờ việc bán cho các hãng HFT quyền khai thác lệnh trong mạng lưới giao dịch chứng khoán khối lượng lớn trong bóng tối. Họ muốn giao dịch các lệnh trong mạng lưới giao dịch chứng khoán khối lượng lớn trong bóng tối để thúc đẩy khối lượng giao dịch trong quỹ − tạo nên vẻ hiệu quả. Các con số thống kê được sử dụng để đo lường hiệu quả hoạt động của mạng lưới giao dịch chứng khoán khối lượng lớn trong bóng tối, cũng như hiệu quả hoạt động của các sàn giao dịch chứng khoán đại chúng, đều kỳ cục. Thị trường chứng khoán được đánh giá bằng khối lượng giao dịch diễn ra trên nó và bản chất của khối lượng đó. Chẳng hạn, nhiều người tin rằng quy mô giao dịch trung bình trên một sàn càng lớn, thị trường cho nhà đầu tư càng tốt. (Nếu yêu cầu sàn giao dịch phải hoàn tất lệnh mua hoặc bán bằng ít giao dịch ít, khả năng sàn có thể tiết lộ ý định của nhà đầu tư cho hãng giao dịch cao tần cũng giảm). Tất cả các mạng lưới giao dịch chứng khoán khối lượng lớn trong bóng tối và tất cả các sàn giao dịch chứng khoán đều tìm thấy những cách thức để xào nấu các con số thống kê tự tạo của mình; nghệ thuật tra tấn dữ liệu này có lẽ chưa bao giờ được tiến hành tinh vi như thế. Ví dụ, để thể hiện rằng mình có khả năng xử lý những giao dịch lớn, các sàn sẽ công bố số lượng các “khối” lệnh từ 10.000 cổ phiếu trở lên mà mình đã thực hiện. Sàn Giao dịch Chứng khoán New York đã gửi cho IEX một báo cáo về 26 giao dịch nhỏ mà mình thực hiện sau khi IEX định tuyến một lệnh tới đó − và sau đó, công bố kết quả trên dải băng dưới màn hình như thể đây là một khối 15.000 cổ phiếu đơn nhất. Các mạng lưới giao dịch chứng khoán khối lượng lớn trong bóng tối thậm chí còn tệ hơn, bởi không ai ngoài các ngân hàng điều hành có cái nhìn rõ ràng về những gì xảy ra bên trong chúng. Ngân hàng nào cũng công bố con số thống kê tự tạo trên các mạng lưới giao dịch chứng khoán khối lượng lớn trong bóng tối của chính mình: ngân hàng nào cũng xếp mình là số 1. “Cả ngành tung hô dữ liệu một cách thái quá, bởi dữ liệu là thứ dễ chơi gian và khó thu thập,” Brad nói.
Các ngân hàng không chỉ thuần túy thao túng các số liệu thống kê liên quan trong mạng lưới giao dịch chứng khoán khối lượng lớn trong bóng tối của mình; họ còn thường tìm cách làm giảm giá trị số liệu thống kê của đối thủ cạnh tranh. Đó là lý do khác lý giải cho việc các ngân hàng gửi tới IEX những lệnh nhỏ giọt 100 cổ phiếu: để làm giảm quy mô giao dịch trung bình trên thị trường cạnh tranh với các mạng lưới giao dịch chứng khoán khối lượng lớn trong bóng tối của mình. Quy mô giao dịch trung bình thấp sẽ khiến số liệu thống kê của IEX trông tệ hại − như thể IEX chật ních các nhà giao dịch cao tần. “Khi khách hàng đến gặp nhà môi giới của mình và hỏi: ‘Chuyện quái gì đã xảy ra vậy? Tại sao tôi lại có tất cả những lệnh 100 này?’ nhà môi giới có thể dễ dàng đáp lại, ‘Chà, tôi đưa lệnh lên IEX đấy,’” Brad nói. Chiến lược này khiến khách hàng mất tiền và cơ hội mua cũng như bán cổ phiếu, nhưng khách hàng sẽ không biết gì: tất cả những gì họ thấy là quy mô giao dịch trung bình của IEX giảm.
Ngay sau khi mở cửa giao dịch, IEX công bố số liệu thống kê – với mục đích mô tả một cách khái quát những gì xảy ra trên thị trường của mình. “Vì mọi người đều đang hành xử theo một lối cụ thể, nên ta không thể thấy bất kỳ ai hành xử đặc biệt tệ hại,” Brad nói. Giờ thì ta có thể thấy. Mặc cho những nỗ lực hết mình của các ngân hàng trên Phố Wall, quy mô giao dịch trung bình của IEX vẫn tốt hơn nhiều quy mô giao dịch khá khẩm nhất của bất kỳ sàn giao dịch chứng khoán nào, bất kể sàn đại chúng hay sàn riêng. Quan trọng hơn, các giao dịch ở đây diễn ra ngẫu nhiên hơn, không có mối liên kết với hoạt động ở bất kỳ nơi nào khác trên thị trường chứng khoán: Chẳng hạn, tỷ lệ phần trăm giao dịch trên IEX theo sau thay đổi trong giá của một cổ phiếu nào đó bằng một nửa tỷ lệ giao dịch của các sàn khác. (Các nhà đầu tư đang bị vặt − như cách mà giám đốc quản lý tài chính Rich Gates ở West Chester, Pennsylvania đã bị vặt − trên những sàn không di chuyển lệnh hiện hành của họ đủ nhanh để theo kịp với sự thay đổi trong giá cổ phiếu). Khả năng các giao dịch trên IEX được giao dịch ở mức giá trung bình giữa giá chào bán và đặt mua hiện hành − mức giá mà đa phần mọi người phải đồng ý là công bằng − trên thị trường cũng cao gấp bồn lần tỷ lệ đó ở bất kỳ sàn nào khác. Mặc dù các ngân hàng lớn Phố Wall miễn cưỡng gửi lệnh tới đây, song sàn giao dịch mới này đã khiến các mạng lưới giao dịch chứng khoán khối lượng lớn trong bóng tối và sàn giao dịch đại chúng trông tệ hại, ngay cả theo những tiêu chuẩn lừa phỉnh của họ.47
Điểm yếu lớn nhất của Brad, trong vai trò nhà chiến lược, là anh không thể hình dung ra được người khác có thể chơi xấu đến độ nào. Anh có thể đoán được các ngân hàng lớn không muốn gửi lệnh tới IEX. Tuy nhiên, anh không hình dung được họ có thể dùng lệnh mua bán cổ phiếu của khách hàng để chủ động phá hoại một sàn giao dịch được lập ra với mục đích giúp khách hàng. “Ta muốn tạo ra một hệ thống trong đó việc cư xử phải phép sẽ được tưởng thưởng,” anh kết luận. “Thế mà hệ thống đó lại làm ngược lại. Việc một nhà môi giới hành xử tệ hại là điều có thể duy lý được.”
Hành vi tệ hại này nằm gọn trong lòng bàn tay của các hãng giao dịch theo những cách đặc biệt nhất. Một ngày, khi đang xem những hình ảnh mà Josh Blackburn làm cho mình, Brad thấy một ngân hàng xả một loạt lô 100 cổ phiếu vào IEX và đẩy giá cổ phiếu này tăng thêm 5 xu trong vòng 232 mili giây. Thủ thuật trễ của IEX − một phần ba mili giây − không giúp ngụy trang lệnh của nhà đầu tư nếu nhà môi giới nhất quyết gửi lệnh lớn mà mình kiểm soát trong khoảng thời gian lớn hơn hẳn: Các hãng HFT bắt được tín hiệu và chạy trước. Băn khoăn không biết liệu nhà môi giới này có loan tin về lệnh mua của mình ở đâu khác không, Brad chuyển sự chú ý tới dải băng tổng hợp mọi giao dịch diễn ra trên thị trường chứng khoán Mỹ. “Tôi chỉ băn khoăn: Có phải nhà môi giới này đang rắc tiêu lên cả phố, hay chỉ mình chúng tôi thôi?” anh kể cho khán phòng đầy các nhà đầu tư nghe. “Điều mà chúng tôi phát hiện thấy khiến chúng tôi choáng váng.”
Với mỗi giao dịch trên IEX, anh phát hiện ngay thấy một giao dịch gần như y hệt diễn ra gần như đồng thời trên một thị trường nào đó khác. “Tôi để ý thấy quy mô giao dịch lạ lùng này,” anh nói. Anh thấy trên IEX có một giao dịch cho 131 cổ phiếu, giả sử, của Procter & Gamble, sau đó anh nhìn thấy ở một thị trường khác, chính lượng giao dịch trên − 131 cổ phiếu Procter & Gamble − trong vòng vài mili giây, nhưng với mức giá hơi khác một chút. Chuyện này lặp đi lặp lại. Anh cũng để ý thấy rằng, trong mỗi trường hợp, đứng ở một đầu giao dịch là nhà môi giới đã cho hãng giao dịch cao tần thuê đường ống của mình.
Tận cho đến khi đó, hầu hết hoạt động săn mồi mà họ khám phá ra đều xảy ra khi giá cổ phiếu biến động. Cổ phiếu tăng hoặc giảm; các nhà giao dịch cao tần phát hiện ra trước tất cả những người khác và tận dụng chúng. Khoảng chừng hai phần ba giao dịch trên thị trường diễn ra mà không làm thay đổi giá cổ phiếu − giao dịch xảy ra ở mức giá chào bán của người bán, hoặc mức giá đặt mua của người mua, hoặc đâu đó ở giữa; sau giao dịch, mức giá chào bán và đặt mua vẫn y nguyên như trước đó. Những gì mà bây giờ Brad thấy là cách thức các hãng HFT với sự giúp sức của các ngân hàng có thể trục lợi từ các nhà đầu tư ngay cả khi giá cổ phiếu ổn định. Chẳng hạn, giả sử thị trường cho cổ phiếu của Procter & Gamble là 80,50-80,52 và giá niêm yết ổn định − hay nói cách khác, giá sẽ không thay đổi. Mức giá Đặt mua Tốt nhất Toàn quốc là 80,50 đô-la; còn Mức giá Chào bán Tốt nhất Toàn quốc là 80,52 đô-la và cổ phiếu này chỉ ở trong khoảng đó. Một người bán 10.000 cổ phiếu của Procter & Gamble xuất hiện trên IEX. IEX cố định giá các lệnh ở điểm giữa (mức giá công bằng) và vì vậy 10.000 cổ phiếu này hiện được bán với giá 80,51 đô-la. Một nhà giao dịch cao tần nào đó sẽ bước vào IEX − đó luôn là nhà giao dịch cao tần − và phá nhỏ lệnh: chỗ này 131 cổ phiếu, chỗ kia 189 cổ phiếu. Nhưng ở đâu đó khác trên thị trường, cũng chính nhà giao dịch HFT này đang bán cổ phiếu đó − 131 chỗ này, 189 chỗ kia, với giá 80,52 đô-la. Ngoài mặt, hãng HFT đang thực hiện một chức năng hữu dụng, xây dựng cầu nối giữa người mua và người bán. Nhưng bản thân cầu nối đó lại phi lý. Tại sao nhà môi giới nắm trong tay lệnh mua, không thay khách hàng đến IEX và mua cổ phiếu được chào bán với mức giá rẻ hơn nhiều?
Trở lại với thời điểm Rich Gates tiến hành các cuộc kiểm nghiệm của mình, anh đã để mình bị cướp trong các mạng lưới giao dịch chứng khoán khối lượng lớn trong bóng tối của Phố Wall, nhưng đó chỉ là sau khi anh tự thay đổi giá cổ phiếu (vì mạng lưới giao dịch chứng khoán khối lượng lớn trong bóng tối chậm đổi giá các lệnh mà anh gửi đến đây). Thế nhưng, những giao dịch mà Brad hiện đang thấy xảy ra mà không cần đến sự dịch chuyển nào của thị trường. Anh biết chính xác tại sao chúng lại xảy ra: Các ngân hàng trên Phố Wall không gửi lệnh của khách hàng đến những nơi còn lại trên thị trường. Nhà đầu tư giao cho một ngân hàng ở Phố Wall, chẳng hạn, lệnh mua 10.000 cổ phiếu của P&G. Ngân hàng gửi lệnh này tới mạng lưới giao dịch chứng khoán khối lượng lớn trong bóng tối của mình với chỉ dẫn giữ lệnh ở đó và đặt giá mạnh tay ở mức 80,52 đô-la. Ngân hàng thúc các số liệu thống kê trong mạng lưới giao dịch chứng khoán khối lượng lớn trong bóng tối − và tính phí một nhà HFT nào đó, thay vì trả phí cho sàn khác, không chỉ vậy ngân hàng còn lờ đi bất cứ chuyện gì xảy ra trên thị trường. Trong một thị trường hoạt động bình thường, các nhà đầu tư đơn giản là sẽ gặp gỡ giữa thị trường và giao dịch với nhau ở mức giá 80,51 đô-la. Giá cổ phiếu không cần dịch chuyển một xu. Sự dịch chuyển giá không cần thiết − do một thị trường chứng khoán tệ hại gây ra − cũng nằm trong tay của các hãng HFT. Do các nhà giao dịch cao tần luôn là người đầu tiên phát hiện ra bất kỳ biến động nào trong giá cổ phiếu, nên họ luôn có thể, bằng nhiều chiến lược khác nhau, lợi dụng sự mù tịt của nhà đầu tư thường trước thực tế rằng giá thị trường đã thay đổi. Mâu thuẫn ban đầu do ngân hàng lớn ở Phố Wall kia gây ra − hành động tránh thực hiện giao dịch bên ngoài mạng lưới giao dịch chứng khoán khối lượng lớn trong bóng tối − trở thành khúc dạo đầu cho một bản giao hưởng đầu cơ. “Chúng tôi gọi đây là ‘mua chênh giá trong mạng lưới giao dịch chứng khoán khối lượng lớn trong bóng tối,’” Brad nói.
IEX đã xây dựng một sàn giao dịch để loại bỏ khả năng xảy ra giao dịch săn mồi − ngăn chặn hành vi đối xử với các nhà đầu tư như những con mồi. Trong hai tháng đầu tồn tại, IEX không thấy hoạt động nào từ các nhà giao dịch cao tần trừ hoạt động này. Khi dừng lại để suy ngẫm, ta có thể không khỏi kinh ngạc trước cái kiểu hùng hổ bảo vệ trung gian tài chính của chủ nghĩa tư bản, ngay cả khi trung gian đó hoàn toàn chẳng cần thiết. Bằng một trò gần như ma thuật, các ngân hàng đã tạo ra nhu cầu trung gian tài chính − để bù trừ cho sự không sẵn lòng thực hiện công việc này một cách trung thực của chính mình.
Brad khơi mào phần hỏi đáp. Trong suốt vài phút đầu, các nhà đầu tư thi nhau xem ai có thể kiểm soát cơn giận của mình tốt nhất và thể hiện hành vi chừng mực vốn nổi tiếng ở các nhà đầu tư.
“Suy nghĩ của anh về các hãng HFT hiện có khác hơn so với trước khi anh mở sàn không?” một người hỏi.
Câu hỏi đó có lẽ tốt hơn là nên để Ronan, người vừa trở về sau chuyến thăm các hãng HFT lớn và hiện đang ngồi dựa vào tường ở một phía của căn phòng, trả lời. Brad đề nghị Ronan giải thích cho các nhà đầu tư nghe về các chi tiết kỹ thuật của chuyện này − làm sao IEX tạo được khoảng trễ 350 giây, chiếc hộp giày ma thuật, v.v… và kể lại chi tiết chuyến đi của mình. Ronan làm theo đề nghị. Nhưng về chủ đề HFT, anh kiềm mình lại. Để nói lên suy nghĩ của mình, Ronan cần cảm thấy là chính mình, nhưng lúc này anh đang bị kìm trong bộ com-lê xám và phát biểu trước một đám đông khán giả bán chính thức, nên rõ là anh không ở trong trạng thái đó. Nói cách khác: Thật khó để Ronan nói về những gì mà anh cảm thấy mà không buông tiếng chửi thề. Nhìn anh xâu chuỗi các câu lại với nhau mà không kèm tiếng chửi thề nào giống như xem ai đó đang cố bơi sang sông mà không dùng tay hay chân đạp nước. Kỳ lạ là, như sau này anh thừa nhận, anh không lo các vị khán giả cảm thấy bị xúc phạm vì ngôn từ tục tĩu của mình. “Lý do là vì một vài người trong số họ muốn là người đầu tiên chửi thề trong phòng,” anh nói. “Khi tôi nói ‘chết tiệt’, họ sẽ nghĩ tôi cướp tiết mục của họ − vì vậy khi đứng trước đám đông, tôi cố gắng nghiêm túc hết sức có thể.”
“So với lúc mới bắt đầu, tôi đã đỡ ghét họ hơn nhiều,” Brad nói. “Đây không phải là lỗi của họ. Tôi nghĩ hầu hết họ cũng chỉ duy lý rằng thị trường đang tạo ra những điểm thiếu hiệu quả và họ chỉ đang tận dụng chúng. Thật ra điểm nổi bật ở đây là những việc họ làm đều nằm trong khuôn khổ ràng buộc của các quy định. Họ không phải là những hung đồ như tôi nghĩ trước đây. Hệ thống này mới là thứ làm nhà đầu tư thất vọng.”
Một cảm thức khoan dung. Nhưng lúc đó các nhà đầu tư trong phòng dường như không có chung tâm trạng khoan dung như thế. “Tôi vẫn choáng váng khi biết các ngân hàng đang thông đồng lừa gạt chúng tôi như thế nào,” một nhà đầu tư sau đó nói. “Nó cho thấy tất cả đều là nhân vật phản diện. Và thêm chuyện khi ta yêu cầu họ định tuyến tới IEX và họ từ chối, mọi chuyện còn tồi tệ hơn. Dù đã được nghe phần nào trước đó, tôi vẫn điên tiết. Nếu đây là lần đầu tiên tôi nghe được chuyện này, tôi nghĩ mình sẽ phát điên lên mất.”
Một nhà đầu tư giơ tay và đề cập đến một vài con số mà Brad viết trên bảng trắng để minh họa cho việc một ngân hàng cụ thể có thể để nghiệp vụ mua chênh giá trong mạng lưới giao dịch chứng khoán khối lượng lớn trong bóng tối diễn ra như thế nào.
“Đó là ai?” ông hỏi, giọng có vẻ đã mất bình tĩnh.
Một cái nhìn lo lắng thoáng trên mặt Brad. Anh ngày càng nghe thấy câu hỏi này nhiều hơn. Chỉ riêng buổi sáng hôm đó, một nhà đầu tư giận dữ khi nghe anh tập dượt cho bài thuyết trình đã ngắt lời anh để hỏi: “Ngân hàng nào tệ nhất?”; “Tôi không thể nói với ông được,” anh nói và giải thích rằng thỏa thuận mà các ngân hàng lớn trên Phố Wall ký với IEX cấm IEX nói về bất kỳ ngân hàng nào nếu không được sự cho phép của ngân hàng đó.
“Anh có biết việc ngồi đây, nghe điều này và không biết tay môi giới đó là ai khó chịu như thế nào không?” một nhà đầu tư khác nói.
Thật chẳng dễ dàng khi là Brad Katsuyama − cố gắng tạo ra thay đổi thực tế nào đó mà không gây ra một vụ om sòm khi mà thay đổi, như ta thấy, là một cuộc đại tu triệt để trật tự xã hội. Bản chất Brad không phải là người cực đoan. Anh đơn giản là người nắm giữ các sự thật cực đoan.
“Điều mà chúng tôi muốn làm là làm nổi bật các nhà môi giới tốt,” Brad nói. “Chúng tôi cần làm sao để các nhà môi giới đang hành xử đúng được tưởng thưởng.” Đó là cách duy nhất để giải quyết vấn đề này. Brad đã xin phép các ngân hàng cho anh nêu tên những ngân hàng hành xử tương đối tốt và họ đồng ý. “Nói về ai đó theo hướng tích cực không vi phạm thỏa thuận không được nói về ai đó theo hướng tiêu cực,” anh nói.
Các khán giả cân nhắc điều này.
“Có bao nhiêu hãng môi giới tử tế?” rốt cuộc một nhà đầu tư hỏi.
“Mười,” Brad đáp. (IEX làm việc với 94 hãng môi giới). Mười hãng này gồm có Ngân hàng Hoàng gia Canada, Sanford Bernstein và một nhóm các hãng thậm chí nhỏ hơn nữa. “Ba có ý nghĩa,” anh bổ sung. Morgan Stanley, J. P. Morgan và Goldman Sachs.
“Tại sao lại có nhà môi giới hành xử tử tế?”
“Cái lợi xét trong dài hạn là khi chỗ phân đấy va trúng quạt, mọi người sẽ nhanh chóng thấy rõ ai đã ra quyết định tốt và ai ra quyết định tệ hại,” Brad nói.
Thường thì anh băn khoăn mọi chuyện sẽ như thế nào nếu và khi đống phân đang xét đến va phải quạt: thị trường chứng khoán ở đáy có bị gian lận không. Biểu tượng tư bản toàn cầu là một trò gian lận. Các chính trị gia liều lĩnh, các luật sư bên nguyên và các luật sư bang sẽ phản ứng như thế nào với tin này? Nghĩ đến chuyện đó quả thật làm anh chẳng vui vẻ gì. Thật ra, anh chỉ muốn khắc phục vấn đề. Ở một mức độ nào đó, anh vẫn không hiểu tại sao các ngân hàng tại Phố Wall cần phải làm cho nhiệm vụ đó của anh trở nên khó khăn như vậy.
“Anh có lo ngại rằng việc công khai sẽ tạo ra sự thù địch lớn hơn nữa không?” một người khác hỏi. Ông ta muốn biết liệu việc nói cho thế giới biết ai là nhà môi giới tử tế có khiến những kẻ xấu chơi trở nên tồi tệ hơn không.
“Các nhà môi giới xấu chơi không thể cố gắng để trở nên tệ hại hơn nữa,” Brad nói. “Một số đã đang cố ngoài khả năng của mình để bỏ không làm những việc mà khách hàng mong muốn họ làm.”
Một nhà đầu tư muốn trở lại với những con số nguệch ngoạc minh họa cách thức mà một ngân hàng cho phép nghiệp vụ buôn chênh giá trong mạng lưới giao dịch chứng khoán khối lượng lớn trong bóng tối diễn ra. “Vậy những tay đó nói gì khi anh cho họ xem thứ này?
“Một vài người nói ‘anh hoàn toàn đúng,’” Brad nói. “‘Chuyện chả ra gì này có xảy ra.’ Một người thậm chí còn nói: ‘Chúng tôi từng ngồi túm tụm lại cả buổi nói về cách chơi mạng lưới giao dịch chứng khoán khối lượng lớn trong bóng tối của kẻ khác.’ Một số thì nói ‘Tôi chả hiểu các anh đang nói gì. Chúng tôi có một đống dữ liệu thử và sai và một nghi thức rắc rối khác để xác định hướng định tuyến của mình.’”
“Đó là thuật ngữ kỹ thuật à? − ‘đống dữ liệu thử và sai và một nghi thức rắc rối khác’ ấy?” một nhà đầu tư hỏi. Một vài người bật cười.
Công nghệ đã va vào Phố Wall theo một kiểu rất riêng. Nó từng được sử dụng, như đáng lẽ nên được sử dụng, để gia tăng hiệu quả hoạt động. Nhưng nó cũng từng được sử dụng để đưa vào một kiểu thiếu hiệu quả thị trường đặc thù. Kiểu thiếu hiệu quả mới này không giống những kiểu thiếu hiệu quả mà thị trường tài chính có thể dễ dàng điều chỉnh. Chẳng hạn, sau khi một khách hàng lớn bước vào thị trường và đẩy giá cổ phiếu của Brent Crude Oil lên, diễn tiến lành mạnh và tốt đẹp là các nhà đầu cơ nhảy vào và đẩy cả giá dầu thô của North Texas lên theo. Diễn tiến lành mạnh và tốt đẹp là các nhà giao dịch nhìn thấy được mối quan hệ giữa giá dầu thô và giá cổ phiếu của các công ty dầu và đẩy các cổ phiếu này tăng giá. Thậm chí diễn tiến cũng lành mạnh và tốt đẹp là khi một nhà giao dịch cao tần nào đó suy đoán được mối quan hệ thống kê cần thiết giữa giá cổ phiếu của Chevron và Exxon và phản ứng khi có sự bất thường xảy ra. Diễn tiến không lành mạnh hay tốt đẹp khi các sàn giao dịch chứng khoán đại chúng tung ra các kiểu lệnh và ưu thế tốc độ mà nhà giao dịch cao tần có thể sử dụng để trục lợi từ tất cả những người khác. Kiểu thiếu hiệu quả này không biến mất khi người ta phát hiện ra và hành động dựa trên nó. Nó giống như một chiếc máy đánh bạc đã hỏng ở sòng, lần nào cũng nhả bộn tiền. Nó sẽ tiếp tục nhả bộn tiền cho đến khi có ai đó lên tiếng về tình trạng của nó, nhưng chẳng ai chơi ở chiếc máy đó lại muốn chỉ ra rằng nó đã hỏng.
Phần lớn những gì mà Phố Wall đã làm bằng công nghệ được thực hiện một cách thật đơn giản để một người trên thị trường tài chính có thể nắm bắt điều gì đó mà thế giới bên ngoài không tài nào biết được. Chính cái hệ thống từng cung cấp cho chúng ta những nghĩa vụ nợ thế chấp dưới chuẩn mà không nhà đầu tư nào có thể hiểu nổi, giờ lại đưa ra cho chúng ta những giao dịch xảy ra ở mức giá phần xu nào đó với một tốc độ cực kỳ nguy hiểm bằng những kiểu lệnh mà không nhà đầu tư nào có thể thật sự hiểu. Đó là lý do điểm nổi bật nhất ở Brad Katsuyama − khao khát muốn giải thích những thứ không phải chỉ cho bản thân mình hiểu mà còn để cho những người khác cùng hiểu − lại có tính nổi loạn đến vậy. Anh đã tấn công hệ thống tài chính mới được tự động hóa vào đúng điểm chí tử của nó: nguồn tiền mà nó kiếm được từ sự khó hiểu của mình.
Một nhà đầu tư, giữ im lặng mãi đến tận lúc đó, giơ tay phát biểu.
“Có vẻ như sẽ có rủi ro đi đầu cho ai cư xử phải đạo,” ông ta nói. Ông ta đúng: ngay cả những ngân hàng đang cư xử tương đối phải đạo không phải lúc nào cũng cư xử phải đạo như thế. Một ngân hàng lớn trên Phố Wall cho IEX thử tiến hành lệnh của khách hàng của mình sẽ bị sụt giảm khối lượng giao dịch trong mạng lưới giao dịch chứng khoán khối lượng lớn trong bóng tối và lợi nhuận. Những ngân hàng tệ hại sẽ bất ngờ tấn công ngân hàng tử tế và lập luận rằng vì mạng lưới giao dịch chứng khoán khối lượng lớn trong bóng tối của ngân hàng này tệ nhất, nên [khách hàng] không nên giao lệnh của mình cho ngân hàng đó trước. Điều đó, theo những gì Brad nói với các nhà đầu tư, có lẽ là lo ngại lớn nhất của anh. Liệu có bất kỳ ngân hàng lớn nào trên Phố Wall có khả năng chứng kiến vài năm tụt dốc và có đủ dũng khí để sẵn sàng đi đầu? Rồi anh nhấn vào một slide, trên đầu slide là dòng chữ: Ngày 19 tháng 12 năm 2013.
* * *
Có lẽ ta chẳng bao giờ có thể quả quyết đích xác chuyện gì đang xảy ra trong một ngân hàng thuộc tốp lớn nhất Phố Wall, nhưng coi một ngân hàng là một thực thể thống nhất đúng là sai lầm. Họ phân mảnh và có tinh thần chơi trò chính trị cực cao. Phần lớn chỉ nghĩ đến khoản thưởng cuối năm của mình, nhưng điều đó không có nghĩa là không có người nghĩ khác và chắc chắn nó không có nghĩa là tất cả mọi người trong ngân hàng đều có chung một động cơ. Một đô-la rơi vào túi người này, ở một vài nơi, sẽ là một đô-la ra khỏi túi người khác. Chẳng hạn, nhóm độc quyền giao dịch phản khách hàng trong mạng lưới giao dịch chứng khoán khối lượng lớn trong bóng tối của các hãng tự nhiên sẽ có mối quan tâm đến khách hàng khác với những người có nhiệm vụ là bán dịch vụ cho chính các khách hàng đó − nếu chẳng phải vì thế mà việc vặt một người ta thật sự cần gặp trực tiếp, mặt đối mặt lại khó hơn đó sao. Đó là lý do các ngân hàng thường cho đội giao dịch viên độc quyền và đội bán hàng ngồi ở hai tầng, thậm chí hai tòa nhà khác nhau. Việc đó không đơn giản là làm vui lòng nhà làm luật; tất cả những ai có liên can sẽ thích hơn khi không có cuộc chuyện trò nào giữa hai nhóm. Anh chàng chăm sóc khách hàng sẽ làm tốt công việc của mình − và có khả năng phủ nhận − nếu anh ta không biết những gì mà phía giao dịch độc quyền định làm. Sự xuẩn ngốc điên rồ của các bộ định tuyến lệnh và các thuật toán của Phố Wall đơn giản là sự mở rộng ra máy tính của sự thiếu hiểu biết có chủ ý từ phía nhân viên bán hàng.
Như Brad thấy, công việc của anh là thúc đẩy cuộc tranh luận giữa người bán hàng và các nhà giao dịch độc quyền − và trang bị cho đội bán hàng những lý lẽ thật sự xác đáng, trong đó bao gồm khả năng rõ ràng là các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán sẽ sớm nhận ra chuyện gì đang xảy ra với mình và tuyên chiến với những người gây ra chuyện đó. Trong hầu hết trường hợp, anh không biết liệu mình có thành công hay không, vậy nên, anh đã ngờ là mình không.
Ngay từ đầu, quan điểm từ trong Goldman Sachs không rối loạn như quan điểm từ trong lòng các ngân hàng lớn khác trên Phố Wall. Goldman không giống các ngân hàng khác; chẳng hạn, việc đầu tiên những người ở các ngân hàng khác thường làm khi gặp anh là nói với anh về sự thù địch của tất cả các ngân hàng khác đối với IEX và về sự kinh tởm ở các mạng lưới giao dịch chứng khoán khối lượng lớn trong bóng tối của các ngân hàng đó. Goldman thì khác biệt và có vẻ không quan tâm đến việc các đối thủ cạnh tranh nói hay nghĩ gì về IEX. Trong phòng giao dịch chứng khoán của họ và có lẽ trong cả các bộ phận khác nữa, Goldman đang trải qua thời kỳ chuyển đổi. Tháng 2 năm 2013, trưởng phòng giao dịch điện tử của hãng, Greg Tusar, nghỉ việc, chuyển sang làm cho Getco, hãng giao dịch cao tần lớn. Hai cộng sự được giao đi tìm vai trò của Goldman trên thị trường chứng khoán toàn cầu khi đó − Ron Morgan và Brian Levine − không phải là mẫu người làm giao dịch cao tần. Họ không phải chịu nhiều trách nhiệm cho bất kể việc gì mà các nhà giao dịch cao tần đã thực hiện trước khi đảm nhiệm công việc này. Morgan làm việc ở New York và phụ trách khối bán hàng; Levine, phụ trách khối giao dịch, làm việc ở London. Cả hai rõ ràng đều lo lắng trước những gì họ phát hiện ra khi bước vào vị trí mới. Brad biết điều này, bởi kỳ cục là Ron Morgan lại gọi điện cho anh. “Anh ta biết đến chúng tôi khi trao đổi với khách hàng về những điều mà họ mong muốn,” Brad nói. Một tuần sau khi gặp nhau lần đầu, Morgan mời Brad trở lại gặp một nhóm các nhà điều hành cấp cao hơn. “Chuyện đó không xảy ra ở bất kỳ nơi nào khác,” Brad nói. Sau khi ra về, anh được cho biết cuộc thảo luận sau đó sẽ lên đến “cấp cao nhất của hãng”.
Khi nhận công việc, Morgan và Levine được giao nhiệm vụ giải đáp một câu hỏi lớn mà các nhà điều hành Goldman Sachs đặt ra: Tại sao Morgan Stanley lại phát triển nhanh như vậy? Thị phần mà đối thủ cạnh tranh của họ đang nắm giữ đã bùng nở trong khi Goldman vẫn lẹt đẹt. Levine và Morgan làm những gì mà mọi người trên Phố Wall vẫn làm khi họ muốn tìm hiểu xem chuyện gì đang xảy ra ở ngân hàng cạnh tranh: họ mời một số nhân viên của ngân hàng kia đến phỏng vấn tuyển dụng. Các nhân viên của Morgan Stanley giải thích rằng hãng hiện đang giao dịch 300 triệu cổ phiếu một ngày − tương đương với 30% khối lượng giao dịch của Sàn Giao dịch Chứng khoán New York − qua một tuyến mà họ gọi là “tuyến cao tốc”. Tuyến cao tốc là dịch vụ mà Morgan Stanley cung cấp cho các nhà giao dịch cao tần. Morgan Stanley đã xây dựng một cơ sở hạ tầng giao dịch cao tần − thuê điểm chia chỗ tại các sàn khác nhau, xây dựng các tuyến đường nhanh nhất nối các sàn này và tuyến đường chạy thẳng vào mạng lưới giao dịch chứng khoán trong bóng tối của ngân hàng, v.v... − rồi sau đó quay lại, cho các hãng HFT nhỏ, những hãng không đủ tài lực để xây dựng hệ thống riêng, thuê cơ sở vật chất đã tạo dựng. Morgan Stanley thu được tiền và hoa hồng từ mọi hoạt động mà các hãng HFT tiến hành bên trong đường ống của mình. Những nhân viên Morgan Stanley đang cố xin việc ở Goldman Sachs cho các nhà điều hành Goldman biết tuyến cao tốc hiện đang mang lại cho Morgan Stanley 500 triệu đô-la mỗi năm và con số này vẫn tiếp tục tăng. Điều này đặt ra cho Goldman Sachs một câu hỏi rõ ràng: Chúng ta có nên tạo lập tuyến cao tốc của riêng mình không? Chúng ta có nên dấn sâu hơn vào giao dịch cao tần không?
Một khách hàng của Goldman đã đưa cho Ronnie Morgan danh sách 33 nhà đầu tư lớn mà anh nên nói chuyện trước khi đưa ra quyết định. Vị khách hàng đó không biết liệu Morgan có nói chuyện với những người ngoài danh sách không, nhưng ông tự mình xác nhận rằng Morgan đã nói chuyện riêng với từng người một trong danh sách 33 nhà đầu tư đó. Cùng lúc đó, Morgan và Levine bắt đầu đặt ra một số câu hỏi rõ ràng về hoạt động kinh doanh chứng khoán của Goldman Sachs. Goldman có thể nhanh chân hay khôn ngoan bằng các hãng giao dịch cao tần lanh lẹ hơn kia không? Nếu Goldman chỉ kiểm soát 8% lệnh trên thị trường chứng khoán, thì tại sao hãng lại có thể giao dịch hơn một phần ba số lệnh đó trong mạng lưới giao dịch chứng khoán khối lượng lớn trong bóng tối của mình? Trong điều kiện Goldman chỉ có luồng lệnh mỏng như thế, khả năng để một lệnh giao dịch của khách hàng có được mức giá tốt nhất từ một khách hàng khác của Goldman là bao nhiêu? Các mạng lưới giao dịch chứng khoán khối lượng lớn trong bóng tối của Phố Wall tương tác với nhau và với các sàn giao dịch như thế nào? Cái thị trường tài chính ngày càng phức hợp này ổn định đến độ nào? Việc xuất khẩu mô hình thì trường chứng khoán Mỹ sang các nước và các thị trường tài chính khác có phải là chuyện hay không? Họ đã biết hoặc có thể đoán được hầu hết các câu trả lời; đối với những câu hỏi vẫn còn để ngỏ, các nhà đầu tư chỉ hai người tới một anh chàng hiểu biết và thẳng thắn đến kỳ lạ mà họ biết và tin tưởng, người đang khởi tạo một sàn giao dịch chứng khoán mới: Brad Katsuyama.
Điều làm Brad ngạc nhiên trong chuyến tới Goldman Sachs không chỉ là việc Levine và Morgan sẵn sàng dành thời gian nói chuyện với anh, mà là họ đưa những ý tưởng trong các trao đổi giữa hai bên lên cấp cao hơn. Levine dường như đặc biệt quan tâm đến sự bất ổn định của thị trường chứng khoán. “Trừ phi có một số thay đổi, còn không sẽ có một cú sụp hàng loạt,” anh nói “một cú sụp chớp nhoáng với quy mô lớn gấp 10 lần.” Trong các cuộc trao đổi và trong các bài thuyết trình, anh nhấn mạnh điểm này đối với các nhà điều hành cấp cao của Goldman và cũng đặt ra câu hỏi: “Các ngài có thật sự cần yếu tố khác biệt duy nhất của mình trên thị trường phải là tốc độ hay không? Bởi hiện tại có vẻ là vậy.” Các nhà điều hành Goldman Sachs dễ dàng thấy được nguồn cơn của vấn đề, hay thấy được tại sao không ai trong hệ thống này quan tâm tới việc chỉ ra nó. “Việc đó chẳng mang lại lợi lộc gì − đó là lý do không ai bước ra,” Levine nói. “Mọi người đều có rủi ro nghề nghiệp. Và chẳng ai nghĩ xa hơn về tương lai. Họ chỉ nhìn vào khoản lương tháng tới.”
Một chuỗi dài dằng dặc các quyết định thiển cận đã tạo ra những rủi ro mới trên thị trường chứng khoán Mỹ. Tính phức hợp của nó chỉ là một biểu hiện của vấn đề, nhưng trong nó, cả hai cộng sự của Goldman đều cảm thấy chắc chắn có tiềm ẩn tai ương nào đó. Các sự cố công nghệ kỳ cục không phải là bất thường mà là các triệu chứng. Và những lời chỉ trích khi một tai ương xảy ra trên thị trường chứng khoán, theo cả Ron Morgan và Brian Levine, sẽ nhắm vào các ngân hàng lớn trên Phố Wall nói chung và Goldman Sachs nói riêng. Goldman kiếm được 7 tỉ đô-la một năm từ dịch vụ chứng khoán; hoạt động kinh doanh đó sẽ rơi vào rủi ro nếu một cuộc khủng hoảng xảy ra.
Không chỉ dừng lại đó. Ở tuổi 48 và 43, Morgan và Levine, theo chuẩn mực của Phố Wall, đã là những ông già. Morgan bắt đầu làm việc cho Goldman từ năm 2004, còn Levine là năm 2006. Cả hai đều giãi bày với bạn bè rằng IEX đã cho họ một lựa chọn, vào thời khắc có lẽ là khoảnh khắc quyết định trong lịch sử tài chính. Một nhà đầu tư biết Ron Morgan cho biết, “Ronnie đã tự hỏi, ‘Với kinh nghiệm 25 năm trong ngành này, phải bao lâu mình mới có cơ hội tạo ra sự khác biệt?’” Brian Levine thì nói, “Tôi nghĩ đây là một quyết định kinh doanh. Tôi cũng nghĩ đây là một quyết định đạo đức. Tôi nghĩ rằng đây là cú thử của chúng tôi. Và tôi nghĩ Brad là người thích hợp. Đó là lợi thế tốt nhất mà chúng tôi có để khắc phục vấn đề này.”
* * *
Trước khi mở thị trường của mình vào ngày 25 tháng 10 năm 2013, 32 nhân viên của IEX, mỗi người đều có những dự đoán riêng về số lượng cổ phiếu mà họ sẽ giao dịch trong ngày đầu tiên và tuần đầu tiên. Dự đoán trung vị là 159.500 cổ phiếu trong ngày đầu tiên và 2,5 triệu cổ phiếu trong tuần đầu tiên. Matt Trudeau là người đưa ra ước đoán thấp nhất, anh là người duy nhất trong đội từng xây dựng một thị trường chứng khoán mới hoàn toàn: 2.500 cổ phiếu cho ngày đầu tiên và 100.000 cổ phiếu cho tuần đầu tiên. Trong 94 hãng môi giới chứng khoán đang ở các giai đoạn đồng ý kết nối với IEX, hầu hết đều là các tổ chức nhỏ và chỉ có khoảng 15 tổ chức sẵn sàng kết nối trong ngày đầu tiên. “Các nhà môi giới nói với khách hàng rằng họ sẽ kết nối, nhưng chúng tôi chẳng nhận được giấy tờ gì từ họ,” Brad nói. Khi được hỏi sàn có thể phát triển đến tầm mức nào vào thời điểm cuối năm đầu tiên, Brad đoán, hoặc có lẽ hy vọng, sàn sẽ giao dịch khoảng 40 đến 50 triệu cổ phiếu một ngày.
Để có thể bù cho chi phí điều hành, họ cần giao dịch được khoảng 50 triệu cổ phiếu một ngày. Nếu không bù được chi phí điều hành, câu hỏi họ có thể tồn tại bao lâu sẽ được đặt ra. “Đây là vấn đề có tính hai mặt,” Don Bollerman nói. “Hoặc là chúng tôi thành công vang dội, hoặc là chúng tôi thất bại toàn tập. Chúng tôi sẽ xong đời trong khoảng từ 6 đến 12 tháng. Sau 12 tháng, tôi sẽ biết liệu mình có cần đi kiếm việc khác hay không.” Brad thì nghĩ, nỗ lực tạo ra một tấm gương thị trường tài chính công bằng − và có thể thay đổi văn hóa Phố Wall − của họ có thể kéo dài hơn và bề bộn hơn. Anh đoán năm đầu tiên của họ sẽ giống như một cuộc chiến bên các chiến hào của thế kỷ XIX hơn là một cuộc tấn công không người lái của thế kỷ XXI. “Chúng tôi chỉ mới đang thu thập dữ liệu,” anh nói. “Ta không thể đưa ra lý lẽ mà không có dữ liệu được. Và ta sẽ chỉ có dữ liệu cho đến khi ta có giao dịch.” Ngay cả Brad cũng đồng ý rằng: “Mọi chuyện sẽ kết thúc khi chúng tôi cạn túi.”
Ngày đầu tiên, họ giao dịch được 568.524 cổ phiếu. Hầu hết khối lượng giao dịch là từ các hãng môi giới khu vực và những hãng môi giới Phố Wall không có mạng lưới giao dịch chứng khoán khối lượng lớn trong bóng tối − Ngân hàng Hoàng gia Canada và Sanford Bernstein. Tuần đầu tiên, họ giao dịch được hơn 12 triệu cổ phiếu. Những tuần sau đó, mỗi tuần khối lượng giao dịch lại tăng lên một chút, cho đến tuần thứ ba của tháng 12, mỗi tuần họ đã giao dịch được khoảng 50 triệu cổ phiếu. Thứ Tư, ngày 18 tháng 12, họ giao dịch được 11.827.232 cổ phiếu. Đến thời điểm đó, Goldman Sachs đã kết nối với IEX, nhưng các lệnh của hãng này đến sàn với tinh thần ngờ vực y hệt như tinh thần của các ngân hàng lớn khác trên Phố Wall: theo lô nhỏ, chỉ ở lại vài mili giây rồi rời đi.
Lệnh giao dịch đầu tiên trông có vẻ khác mà Goldman gửi tới IEX xuất hiện lúc 3 giờ 9 phút 42 giây chiều ngày 19 tháng 12 năm 2013, lệnh đó dừng lại 662 mili, 361 micro và 406 nano giây. Bất cứ ai có mặt trong văn phòng một phòng của IEX khi lệnh này xuất hiện đều biết có điều gì đó lạ lùng đang xảy ra. Các màn hình máy tính nhảy giật khi thông tin đổ vào thị trường theo kiểu chưa từng có. Các nhân viên, từng người một, đứng bật dậy khỏi ghế; trong vài phút tạo thành đợt trỗi dậy, tất cả trừ Zoran Perkov, đều đứng hẳn lên. Rồi họ bắt đầu hét vang.
“Chúng ta đạt mốc 15 triệu rồi!” Ai đó hét lên, sau 10 phút kể từ lúc giao dịch bước vào đợt dâng trào. Trong 331 phút trước đó, họ giao dịch được khoảng 5 triệu cổ phiểu.
“20 triệu!”
“Ôi mẹ ơi! Goldman Sachs!”
“30 triệu!”
Sự phấn khích này không được tập dượt trước, nó gần như là phi tự nhiên. Cứ như thể có một giếng dầu phun thủng nền nhà giữa lúc một câu lạc bộ cờ vua đang tụ tập đánh cờ.
“Chúng ta vừa vượt qua AMEX,” John Schwall hô lên, anh nhắc tới sàn giao dịch chứng khoán Mỹ. “Thị phần của chúng ta đã vượt AMEX.”
“Và chúng ta chấp họ chạy trước 120 năm,” Ronan nói, nhắc chút đến lịch sử. Ai đó đã tặng cho Ronan một chai Champagne giá 300 đô-la. Anh nói với Schwall rằng nó chỉ có giá 40 đồng, vì Schwall không muốn người IEX lại nhận quà có giá trị quá 40 đô-la từ bất kỳ ai ngoài sàn. Giờ thì Ronan đang mò món hàng lậu đó dưới bàn và tìm thấy vài cái cốc giấy.
Một người khác vừa gác điện thoại và nói “J. P. Morgan, họ hỏi ‘Chuyện gì đang xảy ra thế?’ Họ bảo có thể họ phải làm gì đó.”
Don bỏ điện thoại xuống. ““Là Goldman. Họ nói thế vẫn chưa lớn lắm. Họ sẽ chơi lớn vào ngày mai.”
“40 triệu!”
Ở bàn mình, Zoran vẫn ngồi điềm tĩnh, theo dõi các xu hướng lưu chuyển. “Đừng nói với ai nhé, nhưng chúng tôi vẫn đang buồn chán đấy,” anh nói. “Thế này chưa là gì cả.”
55 phút sau khi Goldman Sachs thử cú thành thực đầu tiên với lệnh mua bán của các khách hàng, thị trường chứng khoán Mỹ đóng cửa. Brad bước ra khỏi sàn và đi vào văn phòng nhỏ, có kính bao quanh. Anh suy ngẫm về những gì vừa xảy ra. “Chúng tôi cần một người đồng tình và nói ‘Anh đúng,’” anh nói. “Điều đó có nghĩa là Goldman Sachs đã đồng ý với chúng tôi.” Rồi anh ngẫm nghĩ kỹ hơn. Goldman Sachs không phải là thực thể đơn nhất; đó là một nhóm người không phải lúc nào cũng đồng ý với nhau. Hai trong số đó được trao cho thẩm quyền mới và họ đã dùng nó để thực hiện một phương pháp khác, dài hạn hơn bất kỳ thứ gì mà một ai hình dung Goldman Sachs có khả năng làm được. Hai người đó đã tạo nên tất cả sự khác biệt này. “Tôi may mắn vì Brian là Brian và Ronnie là Ronnie,” Brad nói. “Chuyện này là nhờ họ. Giờ thì những kẻ khác không thể lờ chuyện này đi. Không thể gạt nó ra lề.” Rồi anh chớp mắt. “Quái thật, giờ tôi có thể khóc ấy chứ,” anh nói.
Anh đã được hé cho nhìn thoáng về tương lai − và anh cảm thấy tin chắc vào tương lai đó. Goldman Sachs đang nhất quyết cho rằng thị trường chứng khoán Mỹ cần thay đổi và IEX là nơi để thay đổi nó. Nếu Goldman Sachs sẵn lòng thừa nhận với các nhà đầu tư rằng thị trường mới này là cơ hội tốt nhất cho sự công bằng và ổn định, các ngân hàng khác sẽ chịu áp lực phải đi theo. Càng có nhiều lệnh đổ về IEX, trải nghiệm dành cho nhà đầu tư càng tốt và các ngân hàng khác sẽ càng khó lẩn tránh thị trường mới, công bằng này. Khoảnh khắc đó, khi các lệnh của Goldman đổ vào IEX, thị trường chứng khoán giống như con sông muốn chồm lên khỏi bờ. Trước đây, tất cả những gì người ta cần là một người cầm cây xẻng đào một khúc mương nhỏ ngay chỗ con đê, và áp lực của luồng nước sẽ hoàn thành nốt phần việc − đó là lý do vì sao những người đào xới những khúc mương nhất định dọc sông Mississippi lại bị bắn ngay tại trận khi bị phát giác. Brad Katsuyama là người cầm cây xẻng, đứng ở đúng khúc quanh nguy hiểm nhất của con sông. Và Goldman xuất hiện, cùng với khối thuốc nổ, để giúp anh.
Ba tuần sau, anh đứng trước một nhóm các nhà đầu tư, những người mà nếu cùng nhau hành động có thể thúc đẩy thay đổi trên Phố Wall. Để cho họ thấy thay đổi là có thể, anh đã chiếu lên màn hình lớn, dữ liệu từ những gì xảy ra trong 51 phút ngày 19 tháng 12. Ngoài những điều khác, dữ liệu này còn cho thấy sức mạnh của niềm tin. Ngày trước đó, ngày 18 tháng 12, quả thật Goldman đã gửi tới IEX nhiều lệnh hơn. Nhưng khối lượng lớn hơn hẳn đã được giao dịch trong ngày 19 tháng 12, bởi ngày đó, chỉ trong 51 phút, Goldman đã tin tưởng, ủy nhiệm cho họ xử lý hầu hết các lệnh của mình trong thời gian tối thiểu là 10 giây. được giao dịch trong ngày 19 tháng 12, bởi ngày đó, chỉ trong 51 phút, Goldman đã ủy nhiệm cho họ hầu hết các lệnh của mình trong thời gian tối thiểu là 10 giây. Niềm tin đó đã được tưởng thưởng: thị trường cảm nhận được sự công bằng; 92% các lệnh này được thực hiện ở mức giá trung bình − mức giá công bằng − so với 17% lệnh được giao dịch ở mức giá trung bình trong các mạng lưới giao dịch chứng khoán khối lượng lớn trong bóng tối ở Phố Wall. (Con số trên các sàn giao dịch đại chúng thậm chí còn thấp hơn). Quy mô giao dịch trung bình của họ lớn gấp hai lần quy mô giao dịch trung bình của thị trường, bất chấp nỗ lực phá hoại từ các ngân hàng khác trên Phố Wall.
IEX đại diện cho một lựa chọn. IEX cũng cho thấy rõ: người ta có thể hiểu được thị trường đã trở nên phức tạp một cách có chủ ý và thái quá này. Rằng để hoạt động đúng, một thị trường tài chính tự do không nhất thiết phải gian lận với sự thiên vị thấy rõ dành cho ai. Nó không cần đến, theo những cách quái đản, những khoản hoa hồng, thanh toán cho chuyển lệnh, cho điểm chia chỗ và đủ mọi dạng lợi thế bất công ưu ái một nhóm nhỏ các nhà giao dịch. Tất cả những gì nó cần là những nhân vật đang ngồi trong căn phòng này và các nhà đầu tư giống họ nhận lấy trách nhiệm hiểu nó và rồi giành quyền kiểm soát nó. “Sức mạnh thị trường là khi các nhà đầu tư cùng nhau giao dịch,” Brad nói.
Khi anh kết thúc bài nói chuyện của mình, một nhà đầu tư giơ tay. “Họ đã làm thế vào ngày 19 tháng 12,” ông ta hỏi. “Rồi sau đó thì sao?”

