Cuối Trời Lửa Đạn - Chương 1
ẨN SỐ CUỘC ĐỜI
Tám giờ sáng, tôi có hai cú điện thoại.
Một của Tám Điền, Ban liên lạc cựu chiến binh: “Mấy thằng Xê 37 cũ kêu tao mần thịt con chó nhậu chơi. Tới nghen!”. Vụ này phải có mặt, dù mắc công chuyện gì thì cũng tạm bỏ đó. Anh em đơn vị cũ, toàn những thằng sống chết có nhau. Thông lệ là: “Xê 37 gọi, sẵn sàng!”.
Một cú điện thoại nữa của ông già Lâm Khươl người Tà Mun: “Chú Hai ơi! Cậu Tư nhà tôi chết rồi!”. Cổ họng tôi chợt cứng ngắc như vọp bẻ, ngáp ngáp. Tư Nhân mà chết hả? Bữa qua chả còn rủ tôi chủ nhật này qua nhậu chơi mà? Nhưng ông Lâm Khươl đã nói là chính xác. Ổng là người coi rẫy cao su cho Tư Nhân, chung thủy với chả mười mấy năm nay. Tôi cứng họng nên không hỏi được gì, xách xe chạy qua tòa án huyện nơi Tư Nhân đang làm việc. Mấy chú cảnh sát bảo vệ tất bật giải tán đám người hiếu kỳ bu kín sân. Pháp y chuẩn bị khám nghiệm tử thi. Chú Chiến bảo vệ nói, chiều qua thấy Tư Nhân lái chiếc Toyota bốn chỗ của Út Tần về sân cơ quan. Trước đó cả tháng, chả có nói với tôi là sẽ mua xe hơi, đi kiểm tra rẫy cao su cho tiện, chắc là mượn xe Út Tần tập lái. Sáng nay chú Chiến tò mò ngó vô xe, thấy Tư Nhân ngồi úp mặt lên vô lăng. “Ủa! Ông này ngủ cả đêm trong xe hả?”. Chú gõ hoài cửa kính gọi Tư Nhân, không thấy chả tỉnh dậy…
Tư Nhân có đầy đủ họ tên là Trần Hữu Nhân, quê ngoài Huế. Chả có đi bộ đội, nhưng thuộc quân chủ lực. Giải phóng Sài Gòn xong, chuyển ngành qua tòa án rồi ở lại miền Đông luôn. Trừ những người trong cơ quan hoặc bạn bè như tôi, không ai biết Tư Nhân là người của tòa án, nơi mà người ta có thể chấm dứt sinh mạng hay đưa một người vô tù hoặc cứu rỗi cả đời người. Hồi tôi mới quen chả, thấy anh chàng người miền Trung này thuộc “thành phần cơ bản”. Lúc nào gặp chả, cũng thấy loàng xoàng bộ đồ cũ, chạy chiếc xe Cub cánh én bạc màu. Một bữa chạy xe kiếm chả đi nhậu, thấy chả trong rẫy mì đang tay cuốc, tay rựa giẫy cỏ. “Ủa! Cũng có đất giẫy sao cha?”. Chả cười hiền: “Thì cũng trồng bậy mẫu mì kiếm tiền xài!”. Nói tía con kỳ nhông không nghe được. Chả mần việc Nhà nước, tháng nào có lương tháng đó, lại một thân một mình, tiền xài sao cho hết mà bày đặt trồng mì. Tôi cho rằng do bản tính người miền Trung siêng việc của chả. Mà cũng lạ, từ hồi bộ đội chuyển qua tòa án, chả sống độc thân, không vợ con. Tôi hỏi, chả nói trước kia thì có, nhưng trong chiến tranh ly tán hết không còn ai. Lại hỏi sao không kiếm vợ mới lo cơm nước, nhà cửa cho khỏe thân. Chả lắc đầu: “Phiền lắm! Biết sống được bao năm nữa mà vợ con cho khổ người ta”.
Bây giờ thì chả chết thiệt. Bất đắc kỳ tử. Không ai thân thích bên cạnh. Đến như ông già Tà Mun - Lâm Khươl gắn bó với chả như vậy mà cũng không kịp nghe chả dặn dò một tiếng về công việc vườn rẫy. Trong lòng tôi chợt nhói lên nỗi thương cảm. Tôi nhớ người bạn nhậu “nhím bà cố”, nhưng hay mời tôi ngồi lai rai. Giờ mới hay những lúc đó chả buồn dữ lắm. Ngồi uống rượu với dĩa hột vịt chiên, rau kèo nèo, đọt bông súng, dăm trái đậu rồng, vẻ mặt Tư Nhân quàu quạu, mấy cọng râu mới nhú đâm tua tủa dưới cằm, ánh mắt xa xăm buồn hiu. Có lần tôi cắc cớ, hỏi: “Bộ Nhà nước trả lương ông không đủ sống sao? Vườn rẫy chi cho cực thân”. Chả cười bâng quơ, chậm rãi chân tình: “Thiệt với mi, ngoài miền Trung cực lắm! Vô đây thấy đất đai mà ham. Đồng tiền đâu có dư, mình không xài mai mốt con cháu xài!”. Tôi ngạc nhiên vì câu trả lời. Chả có vợ con đâu mà trông người thừa kế. Hình như hiểu được cái nhìn của tôi, chả nói: “Con cháu chừ chưa có, mai mốt có. Gấp chi!”.
Tôi cũng lăm le mua đất trồng cao su. Thứ đàn ông như tôi, có đồng nào chưa nóng túi là vô quán nhậu hoặc lén vợ đi “o mèo” hết, mạt kiếp đừng mơ tới cao su. Nhưng số tôi hên, mới được ba má vợ chia cho nửa tỉ đồng hồi môn. Ông bà già sanh hai mụn con gái. Căn nhà ba tầng dưới thành phố, vợ chồng chị Hai cứ chực giành xin, nên ba vợ tôi bán phứt, chia cho mỗi người một mớ. Bọc tiền từ trên trời rớt xuống làm tôi suýt ngất xỉu. Bà xã tôi gởi gấp vô ngân hàng, rồi hối tôi đi tìm mua đất cao su. Chính Tư Nhân là người chỉ mối cho tôi lô cao su bốn tuổi tại một xã giáp biên giới. Một mẫu giá bốn trăm tám chục triệu đồng, thủ tục giấy tờ mình tự lo. Tư Nhân rỉ tai tôi: “Rẻ! Mua liền đi. Chỗ đó xa quá, chớ gần đất tao, mi đâu còn cơ hội”. Từ bữa đó, tôi mới biết Tư Nhân cũng có cao su. Hỏi chả, rẫy cao su có rộng bằng rẫy tôi không? Chả ầm ừ: “Thì cũng cỡ đó…”.
Thời gian sau, tôi ngại ngồi cùng Tư Nhân, vì thấy con người chả tầm thường quá. Thậm chí có lúc tôi thấy tự mãn vì mình áo quần bảnh bao, lịch sự hơn chả nhiều. Mang tiếng người Nhà nước, mà ngó chả lôi thôi quá sức. Giờ tôi có rủng rỉnh tiền bạc. Mẫu cao su đang kỳ cho mủ, mỗi ngày bỏ vô tủ gần hai triệu bạc chớ giỡn hả? Tôi ra đường, vênh vang như một đại gia, kiếm mối những đại gia bự hơn làm thân, kết bạn. Một lần tôi mời Tư Nhân đi nhậu món kỳ đà với rượu Tây, cho chả biết thế nào là cách ăn chơi của nhà giàu, chứ cứ ngày nào cũng hột vịt chiên như chả, “chết sướng hơn”. Ai ngờ chả tỉnh queo, đánh bứt chai rượu giá triệu hai của tôi. “Mi tưởng tao chưa biết ba thứ ni hả? E tao nhậu nhiều hơn mi nữa. Nhưng ai mời thì tao nhậu, chớ ngu chi phá gia chi tử như mi”. Tôi nóng no trong bụng mà không biết nói sao. Từ bữa đó từ mặt chả.
Duyên nợ không cho tôi chia tay Tư Nhân, bởi tôi lại một lần phải tìm tới chả nhờ vả. Lần đó nhằm Tết Đoan Ngọ, “Xê 37” gọi, tôi không được vắng mặt dù “bất cứ lý do gì”. Tám Điền kiếm về mớ thằn lằn núi làm mồi nhậu. Chưa vô mâm, thằng Tám đã chỉ mặt tôi: “Mầy chơi thân với Tư Nhân ở tòa án phải hông? Giúp tao chút việc coi!”. Mẹ họ! Việc nhà nó mà ra lịnh cho con người ta như trong quân ngũ. “Trước tao hay nhậu với chả, giờ nghỉ chơi rồi”. “Kỳ vậy?”. “Tướng tá chả ngó bầy hầy quá, ngồi chung hoài, mắc cỡ”. Tám Điền vươn cổ ọe một tiếng, nhìn tôi khinh khỉnh. “Nói nghe mắc ói! Đồ đàn ông tối ngày bám váy vợ như mầy mà dám chê người ta. Tao đang tính nhờ mầy tới chả giúp con em gái nè”. “Việc chi? Tư Nhân chỉ rành ba vụ xử án với mua bán bất động sản thôi đó nghen”. Tám Điền ngoác cái miệng trống huếch hàng tiền đạo, cười phun cả nước miếng vô mặt tôi: “Thì đó! Tao cần ba vụ đó, chớ hổng lẽ cần ba thằng nhậu “banh ta lông” như mầy?”.
Nhà Tám Điền khá giả, có cô em Út lấy chồng cho ở rể. Thằng rể học giỏi, có khiếu kinh doanh, được bên vợ o bế quá nhiều. Tám Điền chưa nhậu miếng nào mà mặt đỏ phừng phừng. “Mạ nó chớ! Thằng rể cà trớn nầy tao muốn uýnh quá. Cả nhà tao góp tiền vàng cho nó mở công ty “vô trách nhiệm vô hạn” gì đó. Ai dè giàu có rồi, nó bỏ em gái tao đi nuôi bồ nhí. Con Út muốn ly hôn, mà tài sản thằng kia giành hết, giờ làm sao đây? Mầy hỏi giùm tao, cha tòa án kia có cách gì hông?”. Tôi đến nhà Tư Nhân ngay buổi chiều đó. Chả ngồi xổm trên chiếc giường tre, chậm rãi ăn cơm. Mâm cơm đúng chỉ có dĩa hột vịt chiên vàng, thêm món đậu bắp luộc chấm nước tương. Bữa nay râu ria chả nhẵn nhụi, tóc hớt ngắn, coi sạch sẽ hơn. “Bộ bữa nay đi xử án hả ông Tư?”. “Ừ! Nhưng tao chỉ ngồi thơ ký thôi”. Chả kể lể với tôi, rằng “đừng coi ngành tòa án là sướng, là oai nhứt. Cái nghề bạc lắm mi ơi. Mấy ông chánh án, đụng vụ mô lớn, có án tử là lo toát mồ hôi đó. Mình đặt bút ký án tử cũng là gián tiếp tiêu diệt một mạng người, tổn đức tổn thọ lắm. Bởi vậy mỗi lần xử án tử, mấy ông chánh án chỗ tao về nhà thắp nhang cúng bái liền liền. Tao không ham làm chánh án, thẩm phán. Cứ loong toong thơ ký được rồi”. Tôi sốt ruột ngắt lời chả: “Có con em gái thằng bạn tôi muốn li hôn, ông giúp được hôn?”. Chả nheo nheo con mắt. “Li hôn mà phải nhờ tao, chắc mắc mớ phần tài sản chớ chi?”. Tôi chịu chả nói trúng, liền kể nội vụ em gái Tám Điền, còn thòng thêm một câu: “Nó hứa sẽ hậu tạ ông!”. Tư Nhân gật gật đầu: “Theo phần X điều Y Luật hôn nhân gia đình. Theo điều A, điều B Bộ Luật dân sự, con nhỏ phải làm đơn gửi chỗ này, chỗ kia…”. Tôi nghe ù hết hai tai. “Thôi! Phải làm sao ông làm giùm đi. Nghe mấy điều luật tôi sắp phát khùng nè”. “Biểu nó tới gặp tao!”. - Tư Nhân nói.
Không biết Tư Nhân bày vẽ cho con Út ra sao, nhưng nghe con nhỏ nói rất tự tin rằng sẽ cho thằng chồng vô tù vì tội lừa đảo và vi phạm chế độ một vợ, một chồng. Rồi nghe đâu thằng chồng cũng chạy tới Tư Nhân nhờ cứu giúp. Rồi nghe tin vợ chồng con Út trở về với nhau. Tư Nhân làm cách gì, tụi tôi vô phương biết. Chỉ biết sau vụ đó, chả có tiền mua thêm một mẫu cao su nữa. Vợ tôi gom tiền bán mủ, mượn thêm nhạc phụ mớ tiền, cũng mua thêm một mẫu cao su mới trồng. Vậy là tôi với Tư Nhân đất đai chẳng ai hơn ai. Tôi ít qua lại chơi với chả. Với lại năm rồi, cán bộ nhân viên tòa án huyện ngày nào cũng lu bu cả chục vụ án kiện thưa của dân với doanh nghiệp vì tranh chấp đất, thời gian đâu mà nghỉ ngơi. Tư Nhân có ông già Lâm Khươl trông coi rẫy cao su cho nên cũng rảnh mà lo việc Nhà nước. Mới đây, gặp nhau trong quán cà phê, Tư Nhân trách tôi sớm quên bạn nhậu. Tôi cũng nói thiệt, nhậu hột vịt hoài như chả tôi chịu không thấu. Tư Nhân cười khó hiểu, rồi mời tôi chủ nhật tới đi nhậu đặc sản rừng một bữa. “Mi yên tâm! Tao đủ tiền đãi bạn. Nói cho mi hay, 10 mẫu cao su của tao cho mủ hết rồi!”. Tôi choáng, suýt lộn từ trên xe Honda xuống đất. “Mèng đéc ơi! Thằng chả là người hay là ma? Xạo!”. “Chả xạo chơi để giễu tôi chớ gì? Có ngon, nhậu xong đưa tôi đi hết mười mẫu đất coi”.
Vậy mà Tư Nhân chết mới đau chớ. Pháp y khám nghiệm tử thi, kết luận chả bị biến chứng não, nếu đưa đi cấp cứu kịp thời thì chưa chết. Chả ngồi trong xe hơi, ai biết mà cứu? Thôi! Cứ coi như cái số kiếp con người ta vậy. Tối nay tôi qua nhà Tư Nhân thắp cho chả nén nhang. Ông già Lâm Khươl về ít bữa coi nhà cho chủ. Rẫy cao su ông vừa mới bàn giao cho bên tòa án quản lý. Ông biểu, bữa cơ quan tới nhà lập biên bản kiểm kê tài sản, thấy trong tủ của Tư Nhân có ba sổ tiết kiệm, mỗi sổ 350 triệu đồng. Dưới tấm đệm chả nằm còn giấu hơn 400 triệu nữa, chắc tiền bán mủ chưa kịp gửi ngân hàng. Trong tủ còn 10 sổ đỏ, tương đương với 10 héc-ta đất trồng cao su. Tôi thấy mồ hôi chảy ướt sau lưng áo khi nghe những lời ông già kể lại. “Mèng đéc ơi! Tư Nhân ơi là Tư Nhân! Sao ông quá giỏi?”. Tôi nhìn tấm hình có bộ mặt quạu đeo của chả trên bàn thờ, cảm thấy mình mắc cỡ muốn chui xuống lỗ nẻ. Mà sao kỳ vậy cha? Một người có tỉ rưỡi tiền cao su như ông sao mà cực khổ như dân mần mướn. Ông già Lâm Khươl bảo tôi: “Còn mớ giấy tờ nữa, cậu Tư bỏ vô thùng đạn đại liên biểu tôi cất giùm, đừng đưa cho ai. Nay cậu mất rồi, chú coi là thứ gì, có cần nộp cho cơ quan không?”. Lệt sệt lôi cái thùng đạn đại liên của Mỹ dưới gầm giường ra, ông già mở nắp, đưa tôi quyển sổ úa vàng và xấp giấy tờ bỏ trong bọc ni lông. “Sổ sách chi vậy?”. Tôi thờ ơ hỏi. Ông già lắc đầu: “Tôi không biết coi cái chữ”. Đó là cuốn sổ nửa như nhật ký, nửa để ghi chép của Tư Nhân. Nét chữ của Tư Nhân thẳng thớm, rõ ràng, loại chữ của những người có học hành tử tế. Đọc mấy trang đầu, tôi bỗng lại bị chứng cứng hàm, á khẩu. Tôi muốn la lên với ông già Tà Mun: “Tư Nhân có vợ con!”, nhưng quai hàm cứng ngắc. Thì ra bao nhiêu năm nay chả giấu giếm tung tích vợ con vì sợ bị liên quan, sợ bị đuổi việc. Vợ chả có cái tên đặc Huế là Công Tằng Tôn Nữ Ngọc Mai. Con gái lớn là Trần Ngọc Lan, con trai là Trần Đức Nghĩa. Cả ba hiện đang định cư bên Mỹ, cô con gái đã có chồng, còn cậu con trai theo học ngành Luật. Sở dĩ Tư Nhân giấu nhẹm vụ này, vì bà vợ là con gái một sĩ quan chế độ cũ. Chính viên trung tá đã bảo lãnh cho con gái và cháu ngoại sang Mỹ.
Lần đầu tiên tôi đề xuất họp “Xê 37” gấp. Món nhậu hôm nay tôi mang tới là thịt trâu nhúng mẻ. Tám Điền lại cười văng nước miếng: “Bộ muốn tụi tao sung như trâu hay sao mà thằng Hai lo món nầy. Bữa nay có vụ chi đây? Khao anh em vì mua được cao su nữa hả?”. “Thôi tụi bay ơi! Nói tới vụ làm giàu tao rầu muốn chết. Cha Tư Nhân hàng xóm của tao đó, nằm chết trên 10 mẫu cao su và tỉ rưỡi bạc kìa”. Cả đám lặng đi, hình như cùng cảm thấy cuộc sống này nhiều cái quý hơn tiền bạc. Tôi bảo với anh em: “Tư Nhân xa xứ vô đây, cũng cảnh lính tráng như anh em mình. Chả chết để lại một núi của, giờ tòa án huyện phải quản lý giúp, chờ thân nhân tới nhận. Tao biết vợ con chả ở đâu rồi. Anh em mình có cách chi gọi họ về thừa kế tài sản, chứ hổng lẽ giao cho Nhà nước?”. “Hổng được đâu! Lấy gì chứng minh là vợ con người ta. Lý lịch cán bộ ổng không khai có vợ con, giờ nhào vô hốt của đâu có được”. “Xì! Dễ ợt! Luật quy định có quyền nhận cha mẹ đó. Làm cái đơn rồi đi xét nghiệm a-đê-en là xong”. Tám Điền ngó về phía cuối: “Thằng nào có ý kiến hay vậy ta?”. “Dạ tôi! Trung ròm bên trinh sát đây!”. “Nhưng vợ con chả ở đâu thằng Hai?”. Tôi vội nói: “Bên Mỹ lận! Có cái địa chỉ toàn tiếng Mỹ tao đọc hổng được”. “Vậy kêu họ về đi! Mà nè. Thư gửi nước ngoài hao tiền dữ đó nghe mậy”. Vụ này tôi lo được. Mình cũng là chủ điền cao su chứ bộ, dù chỉ bằng một góc Tư Nhân.
Ly rượu chuyền tay từng người, từng người. Vòng một rồi vòng hai, rồi vòng thứ mấy không nhớ nổi. Một nỗi buồn trĩu đè xuống mâm nhậu. Ôi cuộc đời. Vay trả đến khi nào mới hết. Ly này tôi uống là để nhớ tới anh đây, Tư Nhân à!
CẬU KHÙNG
Miệng gọi “chúc chúc”, tay bọ Quang vung nắm ngô vàng lấp lánh xuống sân. Đàn gà vàng, đen, đỏ, tía như đám cờ sặc sỡ chạy túa đến, tranh mổ lia lịa. Trong lều, một làn khói mỏng manh len qua mái tranh, uốn lượn bay lên. Vậy là cậu Khùng dậy rồi, nó đang nhóm lửa nấu nước. Đó! Bắt đầu ăn thuốc lào. Chiếc điếu cày lúc đầu còn rụt rè kêu hai tiếng một. Lách tách! Lách tách! Lách tách. Sau tiếng xì mạnh, sái thuốc văng khỏi nõ điếu, bắt đầu là chuỗi dài rít lên roen roét, thích thú. Bây giờ là lúc nó đờ người ra lơ mơ, hai tay bắt chuồn chuồn, đầu dựa vào chiếc cột gỗ bạch đàn, thở cả miệng lẫn mũi. Bọ Quang cười lụm cụm, nụ cười giãn cả khuôn mặt đầy nếp nhăn màu đồng hun. Bọ thương cậu Khùng hơn cả ruột thịt. Trời Phật chiều lòng bọ, suốt đời tưởng cô đơn không vợ con, năm 80 tuổi bỗng có cậu Khùng tìm đến làm bạn.
Hôm ấy đang hè, trời nắng. Mụ Phan nhà dưới Cồn Miếu tất tưởi dẫn theo một người đàn ông rách rưới, vai đeo nhẹ tênh chiếc ba lô lính bạc phếch, đến nhà lão Quang. “Bọ Quang ơi bọ Quang! Có người hỏi bọ nì!”. Đang nằm khểnh dưới hai gốc thông hóng chút gió, bọ Quang ngồi dậy chớp chớp đôi mắt mờ. “Ai rứa?”. “Tui không biết! Hắn cứ hỏi Rú Chuông. Người Bắc bọ nờ”. Lạ rứa hè! Hỏi chi không hỏi, cứ hỏi Rú Chuông. Người đàn ông mồ hôi nhễ nhại, ném chiếc ba lô xuống tấm vạt tre. “Đây là Rú Chuông phải không ông?”. “Ờ! Ờ! Mà chú hỏi ai?”. “Con hỏi Rú Chuông!”. Bọ Quang lắc đầu, quay sang hỏi mụ Phan: “Có giống cha thằng Bắc không?”. Mụ Phan lắc đầu. Năm nay 56 tuổi, mụ Phan không lấy chồng. O Phan sinh thằng Bắc năm 23 tuổi, khi đang là dân quân xã. Cấp trên kiểm điểm tội “chửa hoang”, o khai đó là con anh Thịnh, người miền Bắc. Cuối năm “bảy hai”, đơn vị Thịnh đi B có trú lại nhà cô một đêm. Mối tình choáng váng làm cả hai người không còn giữ gìn được nữa. Anh Thịnh hứa xong chiến dịch sẽ quay ra cưới Phan. Tới khi thằng Bắc ba tuổi, vẫn không thấy cha nó tìm về. O Phan thấy đoàn bộ đội, thương binh nào ra Bắc đi qua làng là bám theo đến hết tỉnh lộ 2, hỏi từng người một xem họ có biết anh Thịnh ra chưa. “Thịnh Vĩnh Phúc”, cái tên ấy ai biết được trong hàng trăm ngàn người lính ra trận. “Hy sinh rồi!”. “Bị thương ra Bắc rồi!”, thậm chí: “Nó chiêu hồi theo địch rồi em ơi!”. O Phan và bây giờ là mụ Phan không tin những gì mình nghe được. Mụ nhất định rằng Thịnh sẽ quay lại tìm hai mẹ con. Đến bây giờ, cứ có đàn ông lạ tìm đến làng là mụ Phan nhào ra đầu tiên, nhìn chăm chăm vào mặt mũi, đầu tóc người ta mà soi mói, tìm kiếm.
Mụ Phan dặn bọ Quang cho người đàn ông ăn cơm với, hắn đi đường xa chắc đói hung rồi. Còn người đàn ông, sau khi quẳng chiếc ba lô thì chạy vụt vô rú, luồn lách qua những hàng thông và bạch đàn, miệng gọi to: “Vũ ơi! Hạ ơi! Tiềm ơi! Chúng mày ở đâu?”. Bọ Quang chép miệng, nói với mụ Phan: “Tội nghiệp! Hay hắn khùng! Chắc tuổi cùng lứa với mi chứ chi. Ngày xưa chắc đi bộ đội, có qua đây”. Một lúc sau, người đàn ông quay lại, mặt đỏ bừng. “Ông nói thế nào chứ…! Đây không phải Rú Chuông. Rú Chuông ở đâu?”. Bọ Quang rót cho hắn bát nước chè tươi, nhẹ nhàng. “Đây là Rú Chuông đó em. Em đã tới Rú Chuông lần mô chưa?”. “Đơn vị con trú quân ở đó có một đêm. Đêm đó B-52 ném bom nhiều lắm!”. Bọ Quang cười buồn. “Làng ni, B-52 hắn đánh nát bấy mấy lần, còn chi. Vợ con lão cũng bị bom chết hết rồi!”. Sau này, khi đã ở lại Rú Chuông, cậu Khùng làm bọ ngạc nhiên vì trí nhớ của một người thần kinh không bình thường. Cuối tháng Chạp, bọ Quang làm mâm cơm cúng vợ con. Bọ kể cho cậu Khùng nghe cái đêm cuối năm kinh hoàng đó, B-52 hắn lẻn vô ném bom rải thảm. Làng này chết mấy chục người. Đang nghe, chợt cậu Khùng cất tiếng khẳng định: “Tám mươi người!”. “Cậu nghe ai nói rứa?”. “Con ở đó mà! Đơn vị phải giúp địa phương chôn cất cả đêm. Mờ sáng là hành quân luôn, có được ngủ nghê gì đâu!”.
Cậu Khùng thường cằn nhằn. Rú Chuông trước kia toàn những cây gì to lắm, cành lá xum xuê, chứ có loe hoe như bây giờ đâu. Bọ Quang gật đầu. Mấy chục năm trước, Rú Chuông rộng mênh mông, sừng sững toàn những cây huỵnh, cây táu cổ thụ. Thời kháng chiến chống thực dân Pháp, rừng Rú Chuông che giấu bộ đội chống càn. Một bên Cồn Miếu, một bên Cồn Tranh, cùng với Rú Chuông tạo thành cụm cao điểm chiến lược luôn bất ngờ chụp lửa xuống đầu giặc. Thời chống Mỹ, cứu nước Rú Chuông là nơi xe tải, bộ binh ta từ Bắc vào Nam trú ẩn, tránh máy bay địch, cũng là trạm giao liên quan trọng của các đơn vị từ phía Bắc vô, nghỉ ngơi một đêm rồi hành quân theo hai ngả chiến trường. Sau hòa bình, phần rừng rú bị bom đạn tàn phá xơ xác, phần bị người ta khai thác hết cây to, Rú Chuông đâu còn như ngày xưa. Mới đây, địa phương mới tổ chức trồng lại một số vạt thông, bạch đàn. Bọ Quang nhận trông coi Rú Chuông, phải gắng lắm mới giữ cho cây khỏi bị chặt trộm. Cậu Khùng run run cầm chiếc điếu cày. Lách tách! Lách tách, rồi rít lên như giận dữ: “Thảo nào con tìm mãi không ra chúng nó!”. Đêm ấy, bọ Quang mộng mị gần sáng mới chợp mắt. Bọ nghe rõ ràng tiếng chân rậm rịch, tiếng thì thào cố nén. Cả vùng Rú Chuông rì rào, rì rào như sắp có cơn mưa. Mấy chục năm trước, đêm nào cũng vậy, cũng những âm thanh ấy. Đó là lúc các đơn vị bộ đội chuẩn bị hành quân, sau một đêm ngủ lại Rú Chuông.
Lúc trời sáng hẳn, không thấy bếp lửa cháy tí tách như mọi ngày, bọ bước xuống phản ngó sang bộ vạt tre cậu Khùng nằm, thấy trống trơn. Nó đi mô sớm rứa? Bọ bước ra bãi đất trống được hai người cuốc lên trồng sắn. Đất lổn nhổn dưới chân, khô khốc. Những mầm sắn nhu nhú vừa đội đất, xanh nhợt nhạt. Hắn đi mần cỏ sớm dữ hè. “Khùng ơi! Mi ở mô? Khùng ơi! Cái thằng… lạ rứa”. Nhìn về phía khu mộ liệt sĩ trắng vôi đằng xa, đôi mắt mờ của lão hình như thấy nhòe nhoẹt một chấm đen phủ phục. Trời ơi! Có phải cậu Khùng! Lão chạy tấp tểnh, thở đứt quãng. Đằng ấy là khu mộ liệt sĩ vô danh. Hắn tìm ai? Cậu Khùng ngái ngủ, ngơ ngác mở mắt nhìn bọ Quang, hai tay vẫn ôm một ngôi mộ: “Bọ đi tìm con à?”. “Chớ tìm ai? Răng lại ngủ ngoài ni?”. “Đêm qua, con thấy thằng Vũ với thằng Hạ, thằng Tiềm đến tìm. Chúng nó rủ con về nhà chơi, còn mang lương khô 702 và thịt hộp ra liên hoan. Tối quá, con ngủ lại nhà chúng nó luôn”. Trưa đó, bọ Quang mua một túi thanh long mang ra ngôi mộ mà cậu Khùng ôm ngủ hồi đêm, thắp hương cho tất cả bảy chục ngôi mộ. “Anh em linh thiêng, về chỉ lối đưa đường cho người thân tới nhận hài cốt mang về quê!”. Lão bật khóc hù hụ. Ước chi lão có phép thần, để biết được tên tuổi những người nằm dưới mộ kia.
Cậu Khùng bị cảm, sốt hầm hập. Bỏ buổi làm cỏ sắn, bọ Quang vô rú tìm lá nấu nồi nước xông. Mụ Phan chạy tới. Không hiểu cách răng biết tin nhanh rứa. “Có mấy cái trứng gà, để tui nấu cho cậu Khùng nồi cháo giải cảm. Vườn bọ còn tía tô chớ!”. Cậu Khùng nằm li bì, tai vẫn nghe bùng nhùng tiếng hai người trao đổi. Kể cũng lạ. Cậu gắn bó với bọ Quang mấy năm nay, đương nhiên được coi như người nhà, vậy mà không ai hỏi được cậu người tỉnh nào. Hỏi quê quán, cậu chỉ nói: “Ngoài Bắc! Vào tìm mấy thằng bạn”. Có điều lạ là cậu dò dẫm đi hỏi khắp người già trong vùng, xem cây huỵnh nó như thế nào. Ở đâu có cây huỵnh con, cậu bứng về trồng trong Rú Chuông. Số cây huỵnh được trồng có đến hàng trăm rồi, đang lấn mất một phần diện tích đất trồng sắn của bọ Quang, nhưng lão không nói chi, chỉ cười thích thú. Cậu Khùng thường lảm nhảm với bọ. “Trồng lại rừng huỵnh như xưa, nhất định con tìm thấy ba thằng bạn!”.
Mụ Phan tất tưởi chạy vô rú, tay le te chiếc nón lá rách. Bọ Quang đang chăm đàn gà. Trong nhà vang lên tiếng điếu cày roen roét. “Bọ Quang! Bọ Quang! Nguy hung rồi”. “Chi rứa?”. “Ngoài xã đang họp bàn cho người ta đấu thầu Rú Chuông để trồng rừng mới”. “Họ đấu thầu thì tau cũng đấu, sợ chi hè…?”. Cậu Khùng thò cổ trong lều nhìn ra, hai mắt mở to. Mụ Quang thở hí hóp. “Biết rứa! Nhưng bọ lấy tiền mô mà thầu?”. Bọ Quang ngắc ngứ nhìn cậu Khùng, như muốn hỏi có đúng rứa không? Răng đấu thầu mà lại phải trả tiền? Cậu Khùng vội bước ra sân, vẻ mặt lo lắng. Lần thứ hai cậu nói như một người tỉnh táo. “Đúng đó bọ ạ! Đấu thầu là phải nộp tiền hàng năm cho địa phương. Ai bỏ thầu cao hơn thì được nhận thầu”.
Chiều, bọ Quang và cậu Khùng đi bộ bảy cây số xuống ủy ban xã. Anh Hùng cán bộ địa chính niềm nở mời hai người uống nước. “Lâu ni bọ có khỏe không? Hai người trồng được nhiều sắn lắm hỉ?”. Bọ Quang hỏi ngay: “Nghe nói xã sắp lấy đất Rú Chuông trồng rừng mới?”. Anh Hùng cười tươi rói: “Dạ! Cũng tính bữa mô vô thăm bọ, thông báo chuyện nớ. Bọ đừng lo. Tụi con sẽ cắt cho bọ miếng đất thổ cư gần đó”. Cậu Khùng đỏ mặt: “Bọ muốn trồng lại rừng huỵnh. Không muốn trồng cây khác anh ạ!”. Anh Hùng không buồn nhìn tới cậu Khùng. Đồ khùng biết chi. Địa phương cho ở lại là tốt lắm rồi. Anh thân mật vỗ vai bọ Quang. “Chủ trương của địa phương rứa bọ ơi. Thông cảm cho tụi con hỉ!”. Chợt anh cười, nói vui: “Hay bọ cũng tham gia đấu thầu. Biết đâu...!”. “Tui đăng ký!”. Bọ Quang nói, rồi dắt tay cậu Khùng về.
Bực bội thì nói vậy, chứ tiền mô mà đấu thầu. Trong bụng bọ Quang rối bời như cái đêm làng bị B-52 ném bom. Dù sao cậu Khùng cũng động viên bọ bằng câu nói như dao chém đá: “Đấu thầu thì đấu thầu, sợ quái gì!”. Nói rồi lăn ra ngủ. Mụ Phan lập lòe đèn pin tới hỏi thăm. “Làm răng đây bọ? Rời rú ra ngoài tê, lấy gì bọ với cậu Khùng nuôi nhau?”. Bọ Quang bó gối nhìn lên bầu trời le lói ánh sao. “Tau cũng mạnh mồm nói rứa. Nói cho vui chớ tiền mô!”. Mụ Phan ngẫm nghĩ hồi lâu rồi quả quyết. “Nếu căng quá. Con đón bọ với cậu Khùng về ở chung bên nớ cho vui. Thằng Bắc làm công nhân trong Đà Nẵng, cả năm mới về một lần”.
Mụ Phan ra xã nghe ngóng. Hình như tiền nộp đấu thầu cả hai chục triệu. Rồi trong 20 năm, mỗi năm phải nộp 5 triệu nữa. “Hay mình bán con bò cho bọ Quang vay tiền? Nhưng tiền bán bò chắc chỉ hơn mười triệu, chỗ tiền thiếu tính răng?”. Đang buồn rầu vì chuyện tiền đấu thầu, mụ Phan hoảng hồn khi nghe bọ Quang thông báo, cậu Khùng bỏ đi đâu mất từ hai ngày nay. Mụ Phan khóc thầm: “Ai bảo là cậu nớ khùng. Khôn ngoan nên mới bỏ đi. Tại mình không nói sớm với họ là sẽ đón hai người về bên ni. “Để con đi tìm xem cậu ấy đi mô!” - Mụ Phan nói với bọ Quang, xăm xăm dắt chiếc xe đạp cũ ra. “Thôi mụ nờ! Chắc hắn buồn bỏ đi mô đó vài bữa lại về. Tìm kiếm chi mất công”.
Xã gửi giấy mời bọ Quang tới tham dự buổi đấu thầu Rú Chuông. Mụ Phan đòi bán con bò. Bọ Quang nhất định không chịu, ngồi thở dài. “Thôi mi nờ! Để mà lo mai tê cưới vợ cho thằng Bắc. Thiệt lòng, cậu Khùng bỏ đi rồi tau cũng nỏ cần chi nữa. Chỉ tiếc mấy trăm cây huỵnh nó trồng, đã cao ngang đầu rồi”. Đêm chuyển gió, trời tưởng mưa ngay mà mây dần tản đi. Mụ Phan ảo não ra về, cái bóng nghiêng ngả lối mòn.
“Bọ ơi! Còn cơm không cho con ăn với?”. Bọ Quang vùng nhổm dậy. Tiếng cậu Khùng. Nó về rồi! Nó về rồi! Cậu Khùng chẳng đợi người mở cửa, xô tấm liếp che ra một bên, bước vô nhà. Bọ Quang ôm chầm lấy cậu, giọng nghẹn ngào: “Con đi mô mấy bữa ni? Tưởng bỏ tau rồi chứ!”. Cậu Khùng giơ hai tay đưa chiếc ba lô lính bạc phếch cho bọ Quang. “Bọ cất đi! Tiền đấu thầu đấy! Cậu cúi xuống gầm phản tìm chiếc điếu cày. Tiếng điếu rít lên giòn giã trong căn lều trống. “Bọ đừng nhìn con như thế! Không phải tiền ăn trộm đâu mà sợ. Tiền trợ cấp thương binh từ lâu lắm con vẫn gửi người ta. Gần năm mươi triệu bọ ạ! Họ đấu thầu thì mình cũng đấu. Sợ gì!”. Mụ Phan đến từ lúc nào, ngồi phệt trước cửa. “Mừng hung! Nhận đi bọ! Mai mốt bọ già, đã có con với... anh Khùng chăm sóc. Bọ cho anh Khùng làm cha thằng Bắc nghe bọ!”.
CHIỀU ẤY CÓ CƠN BÃO
Bốn giờ sáng, Huệ khều khều nách chồng: “Dậy cưng! Chụm lẹ cái bếp lò. Má đang ho kìa!”. Phòng trong, tiếng ho của bà Mười khúc khắc, thúc giục. Đực xoãi tay chân, ngáp. Mệt không muốn dậy. Vụ dậy trễ là tại bà xã nghen. Con thì ai không ham, nhưng phải từ từ chớ. Mới cưới hơn năm, gấp gì? Một đêm dồn ba trận, trâu cũng oải nữa chớ người ta.
Mọi bữa, ba giờ sáng là vợ chồng đã dậy, người chụm củi nồi nước lèo, người chạy xe ra nhà lồng chợ lấy thịt, chuẩn bị bán hủ tíu. Khoảng bốn giờ, đám làm công bốc vác dưới bến kéo lên ăn uống, nổ như bắp rang, toàn chuyện đàn bà. Khu phố thức giấc, bắt đầu từ quán hủ tíu, lấn qua cà phê Tú mập, sang vựa rau Năm Hùng, cuối cùng tới quán tạp hóa ông giáo về hưu, vừa đúng sáu giờ. Sự thức giấc quay trở lại nhà bà Mười. Út Lan không thể nằm nướng thêm chút nào nữa. Tiếng bà Mười gắt gỏng: “Đồ con gái hư! Mặt trời xỏ lỗ tai hổng thèm dậy. Mai mốt thằng nào thèm cưới mới lạ”. Út Lan uể oải ngồi dậy, uể oải bước vô toalet, uể oải ôm cặp bước ra khỏi cửa. “Ăn tô hủ tíu rồi đi học nghen Út?”. “Khỏi! Hủ tíu hoài, ngán muốn chết”. Qua chỗ chị bán hàng, cô chu mỏ: “Bà già trù tôi ế chồng hoài. Chờ đó! Mai mốt tôi cưới thằng Việt kiều cho coi!”. Khách trong quán cười rần rần: “Đúng đó cô Út! Khi nào đám cưới nhớ mời hết tụi nầy nghen”.
Ngoài kia, đã lao xao tiếng người: “Út Đực đâu gồi? Hồi khuya “sập hầm” sao mà trễ vậy?”. Tiếng Huệ giả lả: “Đâu có! Mấy chú, mấy anh ngồi uống nước chờ chút đi. Có hủ tíu liền hà!”. Gần hai năm lên phố ở rể, Đực không quen nổi nếp sống thức khuya, dậy sớm. Dưới quê, đi làm về là nhào ra sau nhà, tắm mát. Ăn cơm xong lúc sáu giờ chiều, coi truyền hình tới tám giờ tối, vô mùng ngủ thẳng giấc tới sáu giờ sáng. Ngày nào cũng vậy, chỉ khi nào mùa vụ gấp quá mới làm trễ tới bảy giờ tối hoặc thức giấc lúc bốn, năm giờ sáng. Ở đây, thức dậy đúng giờ, nhưng đi nghỉ không có giờ. Bữa nào bán hết sớm, cũng bảy, tám giờ tối. Bữa nào ế, cù cưa cù nhằng tới nửa đêm, không theo quy luật, nên Đực luôn đói ngủ.
Năm đó, đò ghe rình rang rước dâu từ Cần Thơ về Long Phú. Đám cưới xong, ba ngày sau hai vợ chồng Út Đực lại tay xách nách mang đồ đạc, quà mừng từ Long Phú về Cần Thơ. Hai Huệ còn chưa kịp nhớ mặt bốn người anh chị bên chồng. Ai cũng mừng cho chú rể thoát cảnh tối ngày chân tay, mặt mũi sình bám. Đừng có nói “chó chui gầm chạn” nghen. Ở rể có cái hay của ở rể. Má chồng nàng dâu không có cơ hội mà gầm ghè nhau. Lúc đầu nghe bà nhạc nói với ba má, rằng: “Ông nhà tui mất sớm. Nhà mấy má con đều đàn bà. Anh chị sui có thương thì cho thằng Út gởi rể, nếu không được...”. Ba má chịu liền. Nhà năm đứa con, hai con chị theo chồng không tính, chớ ba thằng đực rựa, lo cưới vợ, cất nhà cho tụi nó, muốn khùng. Đực tính thầm trong bụng, nếu ba má không cho ở rể, nó cũng theo vợ, vì thương Huệ dữ lắm. Duyên nợ từ kiếp nào, chớ khi không người ở phố, người cù lao làm sao gặp nhau mà nên vợ chồng?
Huệ học lớp mười, đúng năm ba bị bệnh ung thư bao tử, mất. Bà Mười buồn khóc cả tháng, làm cô con gái lớn phải nghỉ học ở nhà chăm má. Ngôi nhà vắng hoe, tầng trên có phòng của ông Mười, ít bước chân lai vãng. Không phải vợ con tệ bạc gì với ông, mà mỗi khi bước lên lầu là đau nhói trong lòng vì thương nhớ, cứ như là nghe tiếng ông cười rổn rảng bên chậu hoa giấy ngoài lan can. Ba người túm núm dưới tầng trệt, cũng là nơi bán hủ tíu. “Học nhiêu đó được rồi con Hai! Nhiều chữ rồi cũng đi lấy chồng. Ráng phụ má giữ tiệm hủ tíu, nó nuôi cả nhà đó, chớ ba mày lái xe tải, cất được cái nhà rồi bỏ đi sớm”. Lo đám tang cho ba xong, Huệ theo má về quê ngoại bên Phụng Hiệp, cô nói muốn đi chợ nổi. Chiếc xuồng ba lá róc rách sóng vỗ, mái dầm khỏa nước chầm chậm, len lỏi giữa rừng xuồng, ghe ken sin sít, ồn ào tiếng người, lan tỏa mùi bông, trái, bánh mứt... Cả khúc sông rực rỡ như vườn hoa trăm màu sắc. Mỗi xuồng, ghe lắc lư cây bẹo, cột lúc lỉu các sản vật. Khóm, chuối, xoài, chôm chôm, rau xanh, bầu bí, tỏi, ớt... giá bán một chục mười bốn, mặc sức lựa. Huệ ngắm nghía một hồi, chỉ chiếc xuồng kế bờ. “Kỳ vậy má?”. “Con nói gì?”. “Chiếc xuồng kìa! Trên ngọn cây cột chùm bông gì vậy?”. Cô gái lách qua những thân ghe, níu tay kéo xuồng về phía cây bẹo có chùm bông trắng sữa. Bà Mười bảo: “Bông so đũa! Từ hồi nào tới mới thấy có người dựng cây bẹo bán thứ này”. Chàng trai ngồi trên xuồng, ở trần, ngực nở thành múi, căng làn da nâu, mặt chữ điền tươi rói, pha chút ngờ nghệch. Ngày trẻ bà Mười cũng từng đi hái bông so đũa về nấu canh chua cá lóc, cá ngát, nhưng hái tới hai cần xé như cậu da nâu này thì chưa. “Dì với em có mua không? Sáng giờ tui bán được có mấy ký hà!”. Hai Huệ kéo đuôi tóc dài ra trước ngực. “Nhiều bông so đũa vậy, hái lâu mau anh Hai?”. “Tui thứ út, tên Đực, ở dưới An Thạnh Ba lận. Nghe nói chợ nổi Phụng Hiệp vui lắm, nên hái bậy mớ so đũa đem theo chớ buôn bán gì đâu. Trèo hái cũng hết cả buổi!”. Chàng nông dân ngó trân trân vô mặt Huệ, buông một câu: “Cô Hai đẹp dã man luôn!”. Trời đất! Ông nầy có khùng? Nói “đẹp dữ dằn” là dữ lắm rồi, còn khen con người ta “đẹp dã man” là sao? Nhìn Hai Huệ, da trắng, tóc dài, mắt xanh hồ nước, thân cong gợi qua bộ bà ba đen, rất nhiều ánh mắt nhìn theo thán phục, nhưng khen như chàng nông dân này thì có một. Mặt Huệ thoáng đỏ hườm vì chút mắc cỡ lẫn bực bội, cô mím môi: “Nịnh... thấy ghét!”. Cô ngợp trước tấm thân nâu bóng, cuồn cuộn sức lực đàn ông. “Hết hai cần xé này nhiêu?” - Cô hỏi sẵng. Út Đực gãi đầu: “Cô Hai tính mua mão hả?”. “Ừa! Mua hết luôn!”. Bà già ngạc nhiên nhìn con gái. Huệ cười giòn: “Mua hết luôn! Về muối để dành nấu canh chua dần”. Cô nhón một vốc bông so đũa đưa lên ngắm, cánh hoa trắng ngần, lấp ló mấy cái vòi cong đội phấn vàng. Út Đực ngẩn ngơ nhìn màu bông trắng nhòa trong năm ngón tay thon. “Trả tui hai chục ngàn được rồi!”. “Mèng đéc ơi! Bộ cậu nói chơi hả?”. Bà già la lên, làm mấy ánh mắt từ xuồng ghe khác đổ dồn qua. “Tui nói thiệt mà. Lấy đủ tiền đổ xăng chạy ko-le về thôi. Tui không có mang theo nhiều tiền”. Trong lúc chuyển hai cần xé qua xuồng khách, Út Đực như bị á khẩu, vậy mà còn kịp hỏi Hai Huệ nhà ở đâu, mua bông so đũa làm gì. Khi biết nhà cô cách bến Ninh Kiều không xa, chàng nông dân hăm hở: “Bữa nào quởn, tui chở lên tới Ninh Kiều bán cho cô Hai luôn”. Luýnh quýnh cầm tờ bạc năm chục ngàn, anh nói: “Cô đưa tui hai chục đi... không có tiền thối lại”. “Anh cầm luôn uống cà phê, bỏ bụng tô hủ tíu đi. Từ đây về Long Phú coi chừng đói. Lúc nào có bông so đũa, cứ mang tới tui nghen”.
Nói chơi cho vui, ai dè tháng sau Út Đực có mặt tại quán hủ tíu của Hai Huệ. Bữa đó, cô đang chạy bàn cho má đứng bếp, bỗng một chàng hai lúa đặc sệt, áo sơ mi sọc còn nguyên nếp gấp, bỡ ngỡ bước vô. “Dạ mời anh ngồi. Anh dùng hủ tíu xương hay hủ tíu giò?”. “Dà! Tui hỏi quán hủ tíu... Ủa! Là cô Hai đây mà! Tui kiếm muốn chết luôn”. Chừng tiếng đồng hồ sau, chàng hai lúa quay lại trên chiếc xe lôi chở kềnh càng hai cần xé bông so đũa. Bà Mười kêu trời: “Con Hai mày lạ thiệt. Nói giỡn chi ác nhơn, bắt tội con người ta chở bông so đũa từ Long Phú tới đây”. Sau phút đứng lặng người, Huệ mỉm cười. “Con nói thiệt chớ giỡn hồi nào”. Rồi cô quay qua, biểu Đực: “Mang vô sau bếp luôn cho em đi anh Út”. Trong đời trai của mình, Út Đực coi câu nói đó chính là lời tỏ tình đầu tiên.
Đực vặn mình răng rắc, ngồi xuống ghế nghỉ một lát. Chạy luôn chân từ bốn giờ tới tám giờ sáng, đã thấy tưng tức bắp vế, mỏi nhừ sau gáy. Huệ đặt trước mặt chồng tô hủ tíu có ngọn: “Ăn đi cưng! Chút em kêu cà phê cho”. Đực lơ đãng cầm đũa, bảo vợ: “Bữa nào nghỉ bán, về thăm ba má đi em. Lâu quá!”. Lại có khách vô quán. Huệ hất cằm ra hiệu cho chồng, rồi mang vội chiếc bao tay ni lông mỏng, bốc hủ tíu bỏ vô vợt trụng. Ba cô gái tóc vàng, nâu, mới ngồi xuống là lên cơn tám: “Mẹ! Cái thằng bụng bự chơi hổng đẹp. Tao đóng mộc vô mặt nó rồi, mai mốt có gặp, tụi bây đừng thèm tiếp nghen”. “Thôi đi bà! Bà có tử tế gì đâu mà rên hoài. Nguyên con “nó-kìa” của chả cũng mấy triệu bạc rồi”. “Ai biểu nó ngu... Trời ơi! Làm chi vậy ông?” - Tiếng cô gái la lảnh lót cùng một tiếng “choang” nhức nhối, nước nóng văng tùm lum. Cô mập tóc vàng vội lấy khăn giấy lau đôi giày cho cô ốm tóc nâu. Đực chết trân nhìn khách. Huệ nhào ra, kéo khăn ướt đưa cho cô gái: “Xin lỗi mấy cô. Tại ông xã tui ổng mệt quá, nên lỡ tay. Có sao không cô?”. Một cái mỏ đỏ chu ra, nhọn hoắt. “Hên đó nghen! Bữa nay ổng luộc tụi tui, đền sập tiệm”.
Tối, khi mọi việc xong xuôi, hai vợ chồng lên giường. Huệ quay qua ôm đầu chồng, ghì vô ngực mình: “Bữa nay chồng sao vậy? Giận em hả?”. Đực thấy cay con mắt. “Anh nhớ má... Nhớ chị Năm nữa, hổng biết chị hết bịnh đau ngực chưa”. “Thôi ngủ đi cưng! Em biết rồi. Bán hết ngày mai, ngày mốt thứ bảy Út Lan được nghỉ, nhờ nó với má coi giùm, mình thu xếp về bển hai ngày. Hén!”. Đực dụi dụi đầu, im lặng. Lát sau, tiếng ngáy nghèn nghẹn vang lên, lẫn trong tiếng thở dài nhẹ.
Út Lan làm cả nhà choáng váng. Thấy em học xong lớp mười hai, Huệ hỏi nó thi vô trường đại học nào? Con nhỏ tuyên bố xanh rờn: “Học chi cho mệt! Cuối năm nay tui đám cưới!”. Bà Mười cười rổn rảng: “Nói xàm hoài. Mầy ngon cưới đi, tao cho ba cây vàng làm của hồi môn nè. Mà nói trước, lấy con gái tui phải gởi rể đó cô”. “Ô kê! Để tuần sau con kêu nó tới”. Chủ nhật, Út Lan sửa soạn đồ đẹp, quần Jean áo thun hở ngực, giày ba-ta, tay lăm lăm điện thoại đứng trước nhà. Lúc lại thấy nó mở máy, nhăn nhó chỉ đường. Tới mười giờ mà khách vẫn chưa tới, nhỏ nổi quạu, la um sùm: “Trời ơi! Không rành thì kêu taxi nó chở tới. Hỏi hoài!”. Cúp máy xong, nhỏ chửi: “Đúng là ngu như... Việt kiều”. Huệ đang tranh thủ rửa chén đũa, nghe vậy thì mừng: “Mầy cưới Việt kiều thiệt hả Út?”. Cô em nghinh mặt: “Thiệt chớ giỡn hả! Tui đã nói từ hồi nẳm lận mà. Cho má bả biết, con Út nầy đâu phải đồ cùi bắp”. “Nó Việt kiều nước nào?” - Huệ tò mò. “Hổng biết! Tên Tô-ni Hùng, đang mở công ty trên Sài Gòn. Hồi hè xuống Cần Thơ, gặp tụi tui đi píc-níc, thấy bản cô nương đây, thằng chả chết ngắc luôn”. Bà Mười bận bộ đồ lụa màu mỡ gà mới ngồi lặng phắc trên ghế xa lông, ánh mắt nửa mừng, nửa lo. Lát sau, chiếc xe Honda ôm thắng kít trước nhà. Thằng Việt kiều quần trắng, áo chim cò khệnh khạng bước xuống, trả tiền xe xong còn “thanh-kiu!”. “Ô! Em iu! Anh đến trễ. So-ry! So-ry!”. Thằng này già ngắc, chắc phải hơn bốn mươi tuổi. Nó ôm hôn nhỏ Út trước mặt Huệ, khinh khỉnh bước qua thau chén dơ, nhanh nhẹn tới trước mặt bà Mười, cúi đầu: “Con chào má!”. Hai Huệ giận sặc máu. Chưa làm rể, bày đặt chào má. Xạo!
Bà Mười gật gật đầu, rồi tiến hành cuộc “lấy cung” thằng rể tương lai, những điều bà sắp đặt suốt đêm qua. “Ờ ờ! Cháu tuổi con gì? Tía má còn hông? Làm việc chỗ nào, lương được bao nhiêu? Quen con Út nhà qua hồi nào? Tới Việt Nam mần việc rồi về nước, hay ở lại luôn?”. Thằng kia há miệng ú ớ. Út Lan tròn mắt, ghé tai má, rin rít: “Trời ơi! Bộ má là cán bộ hải quan hả? Nó chưa rành tiếng Việt, hỏi vậy ông cố nội nó cũng bó tay. Muốn gì, hỏi con nè”. Cuối cùng, những thông tin cần thiết của Tô-ni Hùng được thông qua miệng Út Lan. Thằng kia thở phào, mặt rạng rỡ, luôn miệng: “Ô-kê! Thanh-kiu!”. Sau cùng, nó hỏi Út Lan: “Chị Hai đâu?”. “Bả ngồi rửa chén đó!”. Tô-ni Hùng sải ba bước chân dài, tới bên Huệ, cúi đầu: “Chào chị Hai! So-ry”. Huệ liếc xéo, nhìn cọng dây chuyền to bằng sợi xích trên cổ thằng kia, miệng ừ hử: “Tưởng tui là ô-sin nhà nầy chớ gì! Xí”.
Đám hỏi, đám cưới làm ào ào, trong vòng một tuần. Thằng Việt kiều chịu gởi rể. Nó nói chỉ chịu gởi rể thôi, chớ không ở rể được vì còn phải chạy qua, chạy lại hai nước. Tiệc cưới đặt ở nhà hàng, đúng hai mâm. Bà Mười muốn mời bà con nội ngoại dưới quê lên dự cưới, thằng rể gạt đi: “Không nên làm phiền mọi người. Con còn ở đây, má cứ nhắn họ hàng lên chơi, con tặng quà sau”. Tài sản chỉ có cái nhà. Bà Mười chia cho vợ chồng Hai Huệ tầng trệt, vừa ở, vừa bán hủ tíu. Tầng lầu là của vợ chồng Út Lan. Bà lựa một phòng nhỏ gần toa-lét: “Tao già rồi, nằm đây đêm đi tiểu cho tiện”.
Sau tuần trăng mật ngoài Vũng Tàu, vợ chồng Út Lan hớn hở về lại Cần Thơ, da rám nắng, mặt ngời hạnh phúc. Tối, Út Lan ngồi ôm lưng má, thỏ thẻ: “Má! Chồng con ảnh tính đem văn phòng công ty về đây. Thành phố trực thuộc Trung ương rồi, nhiều cơ hội làm ăn lắm. Ảnh có công ty phát triển nguồn nhân lực, muốn về đây mở rộng địa bàn...”. Bà Mười nghe nói thằng rể có công ty riêng, mừng trong bụng. “Thì tầng lầu má chia cho tụi bay đó, làm gì đó thì làm”. Út Lan ngúng nguẩy, dài giọng: “Hổng... có... được! Bên dưới chị Hai bán hủ tíu, bên trên lập văn phòng, rồi... cán bộ, nhân viên, khách hàng làm sao đi lại?”. “Vậy làm sao? Hổng lẽ nói chị Hai bây chuyển nồi nước lèo lên tầng lầu, tụi bay mở văn phòng bên dưới. Mắc cười!”. “Giờ vầy nè! Má biểu vợ chồng chị Hai cho tụi con thuê lại tầng trệt, mỗi tháng chồng con trả hai triệu. Rồi chỉ kiếm chỗ khác mở quán hủ tíu được hông?”. Bà Mười nói để suy nghĩ thêm. Bữa sau Út Lan lại hối thúc, bà đem sự việc nói lại với vợ chồng Huệ: “Em nó muốn vậy, các con tính sao? Cũng như là giúp vợ chồng nó vậy mà. Có công ty của nó ở đây, nhà mình cũng đẹp mặt với hàng phố”. Đực mừng ra mặt. Hay mình về quê, mở quán hủ tíu đi em. Huệ im lặng đúng ba ngày. Ngày thứ tư, cô kêu chồng tới ngồi đối diện: “Em tìm kiếm mấy bữa nay, biết một ông già muốn sang lại tiệm mì Quảng gần bến đò qua cồn Ấu, giá mười triệu đồng”. “Xa nhà quá, xuống tận Cái Răng. Rồi tiền đâu sang tiệm?”. Huệ thò tay qua, nhéo má chồng: “Khờ quá đi! Vốn liếng nhà mình mấy cây vàng lận. Giờ để em nói dượng út nó trả trước nửa năm tiền thuê nhà là ổn. Yên tâm đi ông xã. Từ đó chạy xe Honda về má mấy hồi”. “Còn má tính sao?”. “Thì má ở nhà chứ đi đâu! Mai mốt, tụi nó không chăm được má, mình rước bả về dưới”.
Trời thương vợ chồng Hai Huệ. Tiệm hủ tíu mới mở đã đông khách. Cũng có nhiều khách quen từ trên Ninh Kiều qua cồn Ấu, thấy mối ruột thì ghé vô, vồn vã thân thiết như người nhà. Út Đực xuống đây, thoát cảnh phố phường, gặp sông nước như gặp lại quê nhà. Thấy mấy ông bợm nhậu một lần kêu than: “Sao không làm thêm nồi cháo cá lóc rau đắng đi Út Đực, cho tụi tao có ba hột chữa lửa chớ”. Út Đực vui miệng kể với vợ: “Mình chạy hủ tíu muốn sụm bà chè, mấy chả còn xúi nấu cháo cá lóc rau đắng. Ai rảnh”. Huệ nhìn chồng: “Thêm món đó cũng có lý đó ông xã”. Đực nhăn như khỉ ăn ớt: “Bán hủ tíu thôi, chạy muốn hết hơi. Giờ thêm cháo nữa, chắc xỉu”. “Thì mướn thêm người. Để em lo”. Tuần lễ, mười ngày, Huệ mới điện cho má một lần, lần nào cũng: “Má khỏe không? Vợ chồng Út Lan sao rồi?”. Những lần đầu, nghe bà Mười khoe: “Con Út làm ăn khá. Thấy đông khách quá trời. Toàn xe hơi tới không hà. Má khỏe. Thì rảnh việc thu dọn văn phòng phụ tụi nó vậy mà”. Mấy tháng sau, giọng bà lo lắng: “Thằng Tô nói cần vốn làm ăn, hỏi mượn má sổ đỏ thế chấp ngân hàng. Tại con Út khóc hoài, má chịu rồi. Nó vay bạc tỉ con ơi. Tao lo muốn chết”. Huệ trấn an: “Không sao đâu má. Lập công ty, vốn cần hàng chục tỉ chớ bộ. Lúc nào có vốn nó trả lại chớ gì. Nhưng mà con Út qua mặt vợ chồng con vậy là không được. Nhà đó của con một nửa mà”. Bà Mười sụt sịt: “Tại má con ơi! Má xin lỗi!”.
Mấy bữa rày, Huệ than mệt. Buổi tối đang rửa chén, bỗng ngồi sụp ôm bụng mắc ói. Hôm sau, ráng bò dậy chụm lửa mà không được, cô bảo chồng: “Ông xã gọi điện kêu má xuống phụ. Em bịnh rồi”. Bà Mười chửi con rể: “Thằng cù lần, ngu quá đi. Vợ mầy có bầu, chớ gì mà quýnh lên vậy. Mai mốt vợ chồng con Út về, má xuống liền”. Cả tuần không thấy má tới, Huệ thấy người còn choáng váng, nhưng vẫn đứng bán hàng. Đực giành hết những việc lấy củi, rửa chén, lúc vắng khách thì chạy lại đứng đấm lưng, bóp vai cho vợ. Huệ cười rạng rỡ: “Nịnh thấy... ghét!”. “Ủa! Câu nầy mình có nghe ở đâu rồi ta?”. Đực đứng ngẩn ngơ. Chiều, trời vần vũ cơn mưa lớn, gió giật ù ù, bẻ gãy ngọn ô môi sau nhà, Huệ dẹp tiệm, nghỉ. Bà Mười gọi điện tới, lập cập kêu trong mưa gió: “Làm sao bây giờ Hai ơi! Người ta kéo tới kiếm thằng Tô rần rần. Má gọi điện cho con Út, nó bảo từ từ về giải quyết, giờ còn đang bận hội nghị ở Sinh”. “Nó xạo má đó! Ở nước ngoài làm sao nghe điện thoại. Để con về coi sao”. Vừa tới, vợ chồng Huệ đụng ngay cả đống xe máy, xe du lịch đậu trước nhà. Cửa khóa im ỉm, chắc má trốn bên trong. Tội nghiệp bà già không chớ! Cả chục mạng đàn ông, đàn bà trong quán cà phê Tú mập nhào ra, níu áo Huệ: “Cô Hai! Thằng rể Việt kiều nhà cô đâu rồi? Nó lừa tụi tui, làm hợp đồng đưa người đi lao động nước ngoài, thu hàng trăm ngàn đô rồi lặn mất tăm”. Huệ tá hỏa. Thằng nầy Việt kiều dỏm rồi: “Bà con cô bác ráng chờ họ về đi. Vợ chồng tui đâu có rành vụ nầy”. Tiếng người nhao nhao: “Thì cô cũng phải biết nó ở đâu chớ, chỉ giùm đi. Nó lên trời tui lôi xuống đất, chui xuống đất tui đào nó lên”. Huệ quay qua năn nỉ: “Cô bác chờ ít bữa đi. Vợ chồng tui ở Cái Răng, tới thăm má thôi. Mà má tui đâu?”. Mấy người nói từ sáng giờ thấy cổng khóa trong, có ai ra vô đâu. Huệ đập cổng rầm rầm: “Má! Má ơi! Má đâu hả má?”. Đực nghe vợ hối, liền trèo lên lan can tầng lầu, tông cửa xuống nhà dưới: “Vô đưa má đi cấp cứu em ơi! Bả xỉu rồi!”. Loáng cái, mấy chục chiếc xe nổ máy đi hết.
Hoàng hôn hồng rực cuối sông. Bà Mười thấy người đã khỏe, ra nằm trước võng hóng gió sông. Đực thu dọn cây ô môi gãy sau nhà, miệng ư ử câu Dạ cổ hoài lang: “Từ là từ phu tướng/ Bảo kiếm... sắc phong lên đàng/ Vào ra luống trông tin nhạn/ Năm... ơ canh mơ màng...”. Anh đang nghĩ đến thằng con trong bụng vợ. Huệ chụm lửa nấu nồi cháo cá lóc rau đắng, miệng nhắc bà Mười. “Má kêu con Út thôi chồng càng sớm càng tốt. Về đây, con nuôi xong đại học, rồi kiếm việc mà làm. Má cứ ở với tụi con, vụ nợ ngân hàng từ từ tính. Kẹt quá mình cất nhà mới chớ gì”.
Bà già im lặng, nhìn mông lung về phía hoàng hôn. Chấp chới vài cánh chim mải miết bay về cù lao xa.
Ngày 19-5-2013
ĐÒ CHIỀU
Từ bao đời, vẫn con sông, bến đò đó. Bên này là xóm Cây Bần, lơ thơ, rải rác hai chục nóc nhà lợp tôn. Bên kia con lộ trải nhựa chạy từ biên giới về huyện lỵ, ồn ào chợ ngày, lô nhô nhà tường. Cách một dòng sông, mà khung cảnh, cuộc sống khác biệt. Hình ảnh con đò trong trí nhớ của mỗi người cũng khác. Những ông lão ngẩn ngơ tóc bạc, có dịp gặp lại dòng sông dập dềnh lục bình, chợt nhớ mái dầm khua nhịp bì bõm và dáng cô Tám Lụa thấp, tròn lẳn bộ bà ba đen. Những người trạc năm, sáu chục tuổi, mỗi lần ngồi trong quán cà phê Út Tâm, nhìn con đò lầm lũi chạy ngang, thường hồi tưởng một thời tiếng máy kole phành phạch của Tư Rỗ, vốn là con trai thứ tư của bà Tám Lụa ngày nào. Bây giờ, tiếng máy chạy dầu sùng sục kia là của vợ chồng Bảy Nga, gái và rể Tư Rỗ. Người qua đò cũng thay đổi dáng vóc theo thời gian. Ngày xa xưa, những dáng dấp nông dân đầu quấn khăn rằn, quần xắn tới bẹn, leng cuốc lấm bùn. Ngay đâu đây, những gánh hàng khô, hàng chè, bánh, những bao sọc đỏ sọc xanh dưa hấu, dưa leo, thóc gạo chen chúc nhau dọc hai bên sườn đò, những chiếc xe đạp dựa hờ hững phía sau lái. Con đò bây giờ, ngồn ngộn những thùng to, thùng nhỏ, máy móc, ti vi, xe máy, heo gà, lại cả những đứa trò lớn quần xanh áo trắng, lẵng nhẵng túi cặp tới khoeo chân. Hằng ngày, con đò bị lèn chật cứng vào hai buổi sớm và chiều.
Bảy Đờn là dân xóm Cây Bần chánh hiệu. Mỗi khi qua bên kia khu chợ ồn ào, ông thường lựa những chuyến đò lối từ chín giờ sáng đến ba giờ chiều. Lúc đó không phải chen chúc, chờ đợi, không sợ đò đầy. Ông già tía Bảy Đờn hồi còn sống vẫn dạy con: “Đi đò đừng vội. Thấy đông quá thì chờ chuyến sau. Quá độ mạc tranh tiền... Nên thận trọng”. Chuyện qua đò từ xóm Cây Bần sang bên lộ nhựa, có chuyện chi gấp gáp? Mấy công lúa tới vụ mới thu gặt, muốn bán chút đỉnh thêm tiền mua phân, mua dầu... một buổi trưa là xong. Lúc đó đò của vợ chồng Bảy Nga ế nhệ, ngồi ngáp ruồi chớ gì.
Chiều nay, đò Bảy Nga chuẩn bị rời bến. Chồng nó xoa tảng ngực trần đỏ au, ngạc nhiên hỏi ngược bờ:
- Ủa! Chú Bảy cũng qua hả?
- Ờ! Ờ! Chờ tao chút, chồng con Nga.
Chiếc đò nghềnh ngàng lùi đít vô bờ, cây sào dài chống lút bùn. Bảy Đờn tay xách dép, tót lên, miệng hối:
- Lẹ lên mầy! Sắp tối rồi đó.
Lần qua sông này, ông Bảy Đờn không mang theo cây đờn cò. Vậy là ở bển không có người mới qua đời. Nhiều người ngạc nhiên thấy Bảy Đờn qua sông tay không, lại nhằm chuyến đò chiều.
- Đi chơi tối vậy ông Bảy? Lóng rày còn đờn đám hông?
Có ba, bốn người mở miệng hỏi cắc cớ. Ông Bảy chỉ búng búng ngón tay, mỉm cười. Ngu gì bỏ nghề? Cái nghề vừa vui, vừa được chia sẻ, lại được tiền bộn. Bữa nay thì khác. Không bán thóc, đậu, gà vịt gì, cũng không chơi đờn đám ma. Ông Bảy đi đâu mà phá lệ giờ giấc? Ai biết chết liền! Vụ đi đò chiều nầy, ông Bảy Đờn giấu nhẹm không cho ai hay, kể cả mấy ông bạn nhậu. Những ý tưởng cao xa, cứ một thời gian lại lóe trong đầu ông, hối thúc. Giấc mộng dài lượt thượt nửa thế kỷ, nay rùng mình bừng tỉnh. Bảy Đờn nhìn cuộc đời, nhìn xã hội, nhìn từ xóm Cây Bần qua bên kia sông, bao nhiêu đổi thay lớn lao, cần bắt nhịp mau lẹ.
Ráng chiều rơi rớt sau lưng, óc ách sóng nước mạn đò, những hình khối, khuôn mặt khách đi đò nhòe dần, tụ thành một đám chật chội, mờ xám. Bờ bến trước mặt đã lấp ló ánh sáng điện. Một giọng ca nam bất chợt vang lên giữa dòng: “Ầu ơ... Con chim đa đa đậu nhánh đa đa... Chồng gần à... không lấy... mà lấy chồng xa. Lỡ mai cha yếu ơ mẹ già. Chén cơm đôi đũa à... ơ... bộ kỷ trà ai... dâng”. Lòng Bảy Đờn chợt trĩu buồn. Hơn một năm nay, con Ba nhà ông sống với chồng bên Đài Loan chưa được về thăm nhà như lời hứa của thằng rể ngoại. Tiền nó cũng mới gửi về cho vợ chồng ông một mớ, gọi là thơm thảo. Chắc chúng nó cũng phải mần ăn từ từ rồi mới có tiền gởi về nhiều. Chuyện quyết định cho con Ba lấy chồng ngoại cũng nằm trong những ý tưởng mới của Bảy Đờn. Sanh ra một bầy bốn đứa con gái, ông Bảy nghĩ nát bấy đầu óc về việc mình phải làm gì cho thoát khỏi câu “thập nữ viết vô” của miệng đời. Thì đây, cho nó đi lấy chồng ngoại quốc, mang tiền về xây cất nhà cửa, nuôi dưỡng ba má già. Mấy đứa kia, ông cũng cho đi lấy chồng ngoại... tỉnh hết, không để đứa nào phải cực nhọc như má nó trên xóm Cây Bần, cái xóm chỉ nghe tên thôi cũng thấy não lòng.
Bản thân ông Bảy, đêm nằm trên võng, ngắm đom đóm bay lập lòe từ chuồng trâu ra tới hàng rào ô rô, từ đám dưa bay qua ruộng lúa, trong đầu ông cũng lập lòe nhiều toan tính. Giữa đám nhậu vui ngất trời, cây đờn cò có lúc ngưng nửa chừng, cái đầu lại hướng về bên kia bờ sông, nơi người ta kiếm tiền dễ như lượm lá. Xóm Cây Bần bắt đầu thay đổi từ khi có điện lưới. Những chiếc đèn dầu chỉ còn tồn tại trên bàn thờ mỗi nhà. Những chiếc cát-xét chạy pin nằm chỏng chơ làm đồ chơi cho con nít. Nhà nào cũng ti vi màu, đầu đĩa, loa thùng, nhiều nhà khá giả, đã dám mua tủ lạnh. Hiện giờ mọi thứ đều sáng choang, mới coong, nhưng rồi chống mắt lên coi, bọn chúng sẽ giở chứng, kiếm chuyện hư hỏng chỗ này, chỗ kia. Cho nên, sau chuyến đò chiều ấy, dân cư xóm Cây Bần ngạc nhiên thấy trước cổng nhà Bảy Đờn treo tấm biển bự chảng Nhận sửa chữa điện gia dụng. Dân xóm thì mừng húm, chẳng ai nghi ngờ gì về khả năng nghề điện của Bảy Đờn. Có người còn binh ông: “Ổng kéo đờn cò hay vậy, lại có thằng rể ngoại, việc gì mà không làm được”.
Khách hàng đầu tiên của Bảy Đờn là bà Út Riệc. Chiếc ti vi cũ thằng rể đem biếu bà, lâu nay chạy ngon, mấy bữa bỗng giở chứng cà chớp, cà nháy rồi kéo một vệt trắng ngang màn hình. Bảy Đờn đem đồng hồ điện ra, chọc chọc hai cái kim dài vô sau ti vi, gật gù:
- Về đi! Chiều mai tới lấy.
Đúng hẹn, bà Út Riệc ghé nhà Bảy Đờn, thấy ti vi nhà mình đang ca cải lương um sùm, màn hình sáng choang, không còn chớp nháy nữa, liền móc năm chục ngàn ra trả, mãn nguyện. Người thứ hai là cô Hai cà lăm, ôm chặt cái nồi cơm điện:
- Chu... ú... chú Bảy! C... c... cái nồ... nồi con mới mua. Tự dư... ư... ng...
- Biết rồi. Để đó tao coi lại!
Món nầy không cần hẹn, ông Bảy tìm ra bịnh liền, sửa ngon tại chỗ:
- Chớ con Hai đun nấu gì lâu, cháy sợi dây điện vậy?
Thì ra cô Hai thường dùng nồi cơm nấu nước tắm, dây điện quá tải, cháy mất một sợi. Bảy Đờn nối lại, lấy ni lông cuốn bên ngoài, bật hộp quẹt hơ nóng cho săn lại. Xong! Mười ngàn đồng. Nụ cười cô Hai tí tởn.
Bảy Đờn sắm bộ đồ pijama kẻ sọc, đôi dép xốp mang trong nhà, thêm chiếc kính lúp bự bằng cái chén. Giờ ông ngồi thảnh thơi trước hiên, nhâm nhi trà sáng, rượu chiều. Vợ chồng Bảy Nga thấy ông Bảy Đờn không còn qua đò theo giờ giấc. Bất kể lúc nào, cần qua sông là ông kêu đò, còn vác theo những bọc to nhỏ, cuốn trong tấm mền cũ màu sọc dưa.
Trưa nay, Bảy Đờn gặp ca bịnh khó. Ông Mười cô đơn nhà cuối xóm, kẽo kẹt xe đạp tới kiếm:
- Chú Bảy mầy tới sửa giùm tao cái đèn ống coi. Nó không chịu sáng nữa. Tao mới mua tháng nay chớ lâu lắc gì.
Ba thứ đèn tuýp, đèn “pắc” gì đó, coi như Bảy Đờn bó tay. Ông nhăn nhó, giả bộ đấm đấm lên đầu gối:
- Ôi! Ba vụ đèn đóm tui không làm nổi anh Mười ơi. Già rồi, xương cốt kêu rổn rảng, trèo leo gì được nữa.
Ông Mười cô đơn có tiếng là nóng tánh, nghe vậy liền đứng trước hàng rào ô rô, vạch quần đái một bãi, miệng chửi:
- Mẹ họ! Thầy thợ con...! Có cái đèn mà cũng không sửa được. Vậy mà cũng trương bảng lên.
Bảy Đờn kéo vội ông Mười cô đơn vô nhà, rót ra một ly rượu màu hổ phách:
- Từ từ rồi tính anh Mười. Làm tới ly rượu bìm bịp đi cha nội. Thứ nầy hay lắm đó. Uống vô hết đau xương cốt liền.
- Vậy sao chú không uống cho hết đau đầu gối đi, đặng tới sửa đèn giùm tao.
- E hèm! Cái đầu gối tui nó mắc bịnh khác anh ơi! Nó bị gút ghiếc gì đó, nhức thấy bà cố.
Bảy Đờn lo lắng. Giờ không sửa được cái đèn cho Mười cô đơn, chả đi rêu rao cùng xóm là mình mất mặt và mất khách. Thôi đành móc hầu bao ra mà giữ uy tín vậy. Sáng sau, Bảy Đờn qua đò sớm. Chiều về ôm nghềnh ngàng cây đèn thước hai, mang tới tận nhà ông Mười cô đơn.
- Tui tặng anh Mười cây đèn mới, cây đèn hư để đem về rảnh tôi sửa lại. Coi có thằng nhỏ nào tới nhờ nó treo lên giùm coi.
Hồi sáng ở tiệm điện bên chợ, ông Bảy nhờ chủ tiệm đấu sẵn dây dài ba mét vô cây đèn, nối với cái chuôi điện. Về nhà cứ cắm vô ổ điện là đèn sáng, khỏi công tắc gì cho tốn tiền. Vụ “từ thiện” nầy, mất đứt tám chục ngàn của Bảy Đờn, chưa kể tiền đò hai lượt. Bảy Đờn dựng cây đèn sát vách, cắm chuôi vô ổ điện. Đèn chớp chớp một hồi không sáng, làm Bảy Đờn toát mồ hôi. Rồi cây đèn cũng bừng lên, soi sáng khoảng vách nhà thưng bằng bồ trúc. Xoa tay phấn khích, Bảy Đờn ra lịnh:
- Kiếm thằng nhỏ nào lanh lẹn, nhờ nó máng đèn lên đi ông kẹ!
Thằng nhỏ hàng xóm chắc đang học bài, thấy ôm cả cuốn sách chạy qua.
- Con học lớp mấy? - Bảy Đờn hỏi chặn họng.
- Dạ lớp 9!
- Biết mắc điện hông?
- Dạ biết sơ sơ! Hồi lớp 7 tụi con có học rồi mà.
- Tốt! Giờ con cột giùm ông Mười cây đèn lên ngang cây xà kia. Cột cho chắc nghen, không lại hư nữa à.
Chiếc thang thì dài, mái nhà thấp, phải chỏi ngang xương, thằng nhỏ trèo lên, rung rinh nín thở. Hai ông già xúm vô đỡ mỗi người một bên thang.
- Ủa! Cây đèn trên nầy còn mới mà ông Mười.
- Ờ, thì mới. Nhưng nó hư rồi, có sáng nữa đâu.
- Mèng ơi! Chuột nó cắn đứt cọng dây đỏ nè. Ông Mười cúp cầu dao đi, để con nối lại cho.
Cây đèn cũ cũng chớp chớp một hồi, rồi sáng lên. Bảy Đờn ôm cây đèn mới về, trong bụng mừng rơn.
Những ngọn đèn đường phía chợ đồng loạt sáng lên. Tiếng ồn ã trong chợ không giảm đi, mà tăng lên. Bên phố nầy hay thiệt, tối xuống người ta mới ra khỏi nhà, la cà khắp nơi, không như bên xóm Cây Bần, giờ này nhà ai nấy chui vô, ngồi trước mâm cơm hoặc trước màn hình ti vi. Thằng chồng con Nga sốt ruột cắm cây sào, ngóng mắt vô chợ. Lát sau, ông Bảy Đờn khệ nệ ôm cái bọc vuông vức trùm tấm mền sọc dưa.
- Lẹ lên chú Bảy, tối hù rồi. Chút nữa thôi là tôi bỏ về trước đó.
Đò ra giữa sông, gió bất chợt lồng lộng thổi ngược. Con đò chòng chành, nghiêng ngả. Lòng đò chật cứng người, hàng hóa, xe cộ. Ai cũng thầm cầu trời đừng mưa bây giờ, chết lạnh chứ giỡn sao. Ông Bảy lên sau cùng, ngồi ngay mũi đò với cái bọc ôm khư khư phía trước. Ông nhấp nhổm, lo lắng. Giờ mà ông trời mưa xuống, là mình gặp kiếp nạn. Chiếc ti vi 21 “inh” của thằng Sáu nhờ sửa, nếu gặp nước mưa coi như xong đời. Đời nó cũng xong, mà đời mình cũng nhục. Lại bỏ ra mấy triệu mà đền cho người ta. Lắc rắc mấy hạt mưa dạo đầu, ông Bảy cuống quýt nhổm dậy. Thằng chồng con Nga hét lên:
- Ngồi im đi chú Bảy, đò đầy đừng có nhấp nhổm vậy.
- Cho tao gởi cái... cái nầy vô ca bin đi mày. Ướt bây giờ... chết tao.
Vừa ôm cái bọc dợm đứng lên, gió quất một nhát làm ông Bảy ngã kềnh, hai tay vội quàng được cái mỏ neo trước mũi đò. Mấy người ngồi gần nắm hai chân ông lắt lẻo ngoài mép đò, rị lên. Tiếng la mắng lao xao. Trời ơi! Ông già mắc dịch. Xém chút nữa rớt xuống sông chết ngắc còn gì. Ông Bảy thấy đau rát dưới bụng, thở hổn hển vì sợ. Người ta dồn chỗ, kéo ông xuống lòng đò. Định thần lại, Bảy Đờn hốt hoảng kêu lên:
- Má ơi! Chiếc ti vi đâu?
- Ti vi nào ông Bảy? Có cái bọc gì đó bay xuống sông rồi.
- Trời ơi! Chiếc ti vi của thằng Sáu nhờ sửa...
- Ông mở tiệm sửa tại nhà, còn ôm ti vi đi làm chi? Thôi, của đi thay người.
Bảy Đờn hình như khóc. Ông nín bặt cho tới lúc lên bến, lảo đảo về nhà.
Sau đó ít bữa, thấy tấm biển sửa chữa điện trước nhà Bảy Đờn bị hạ xuống. Ông không nhận hàng nữa, mà chỉ bà con ai có hư hỏng đồ điện, ráng đem qua tiệm điện Tư Sang bên kia sông. Tư Sang vừa sửa đồ vừa hỏi chuyện khách, rằng hồi này không ai nhờ ông Bảy Đờn đem đồ qua đây sửa nữa sao? Tội nghiệp ông già. Ổng nói thương bà con lu bu việc nhà, nên mang qua đây sửa giùm. Tư Sang cũng lấy giá hữu nghị thôi, đặng chừa ổng phụ tiền đò.
Sau vụ làm rớt chiếc ti vi 21 “inh” của khách xuống sông, không thấy Bảy Đờn đi đâu xa. Ông cũng bỏ luôn nghề kéo đờn đám ma. Tiếc quá trời!

