Đọc Sách Như Một Nghệ Thuật - Chương 18

18 Cách đọc sách triết học

Trẻ em luôn đặt những câu hỏi kỳ diệu như: Tại sao là con người? Cái gì làm cho con mèo chạy được? Tên ban đầu của thế giới là gì? Thượng đế có lý do để tạo ra trái đất không? Đó là cách thể hiện sự tìm kiếm tri thức của trẻ em. Theo Aristotle, triết học bắt nguồn từ sự thắc mắc và bắt đầu từ thời thơ ấu, mặc dù đối với đa số chúng ta triết học cũng đã chất dứt từ thời thơ ấu.

Bản tính của trẻ em là thích đặt câu hỏi. Không phải số lượng câu hỏi mà chính bản chất của câu hỏi khiến trẻ em khác người lớn. Người lớn không đánh mất sự tò mò vốn là một đặc tính của con người, nhưng sự tò mò của người lớn thoái hoá dần về số lượng. Họ muốn biết liệu một điều gì đó có đúng là như vậy không, chứ không để ý đến lý do tại sao. Nhưng các câu hỏi của trẻ em thì không hạn chế ở những điều mà một cuốn bách khoa toàn thư có thể trả lời.

Một trí óc không được kích thích bằng những câu hỏi hay tồn tại nhưng chúng ta phải nhìn theo cách nhìn của trẻ em, thắc mắc như cách trẻ em thường làm và hỏi như chúng hỏi. Sự phức tạp của cuộc sống người lớn đã cản trở sự thật. Các triết gia vĩ đại luôn thành công trong việc gạt phăng đi những điều phức tạp và nhìn nhận những điều đơn giản. Nếu chúng ta noi gương họ, chúng ta cũng phải đơn giản như con trẻ khi đặt câu hỏi và thông thái, già dặn khi trả lời.

Câu hỏi của các triết gia

Những câu hỏi “đơn giản kiểu trẻ con” mà các triết gia hỏi là gì? Khi viết ra, dường như chúng chẳng đơn giản tí nào bởi vì trả lời chúng không dễ. Tuy nhiên, sự đơn giản của nó nằm ở chỗ nó mang tính cơ bản, nền tảng.

Ví dụ, ta có thể đặt những câu hỏi về sự tồn tại như: sự khác biệt giữa tồn tại và không tồn tại là gì? Điều gì chung cho tất cả những gì tồn tại và mọi thứ tồn tại có những đặc tính nào? Có những cách tồn tại khác nhau không? Có điều gì chỉ tồn tại trong trí óc hay phục vụ trí óc không và chúng ta có biết chúng hay khám phá chúng không? Mọi thứ tồn tại có tồn tại hữu hình không hay có những thứ tồn tại không phụ thuộc vào vật chất? Có phải tất cả mọi thứ đều thay đổi không hay có vật nào đó không bao giờ thay đổi? Có cái gì tồn tại vì cần thiết không? Có phải phạm vi của những thứ có thể tồn tại lớn hơn phạm vi của những thứ thật sự tồn tại không?

Đây chính là những câu mà một triết gia hỏi khi muốn khám phá bản chất của sự vật và phạm vi của sự tồn tại. Không khó để nêu lên hay để hiểu những câu hỏi này, nhưng để trả lời chúng thì rất khó. Khó đến mức có những triết gia, nhất là những người thuộc các thế hệ gần đây cho rằng không ai có thể trả lời chúng một cách thoả đáng được.

Ngoài những câu hỏi về sự tồn tại, còn có hàng loạt câu hỏi triết học khác liên quan đến sự thay đổi hay biến chuyển. Những điều mà bằng kinh nghiệm của mình, chúng ta nói rằng chúng tồn tại nhưng chúng cũng có thể thay đổi – Chúng ra đời và mất đi, di chuyển từ nơi này đến nơi khác trong quá trình tồn tại và nhiều thứ thay đổi cả về số lượng và chất lượng để trở nên to hơn hay nhỏ hơn, nặng hơn hay nhẹ hơn hoặc thay đổi màu sắc…

Điều gì liên quan đến sự thay đổi? Trong quá trình biến đổi, có điều gì không thay đổi cũng như có khía cạnh nào của vật không thay đổi đó chịu sự thay đổi không? Khi bạn học được một điều mà trước đây bạn chưa biết, chắc chắn bạn sẽ thay đổi một chút nào đó về kiến thức nhưng bạn vẫn chỉ là bạn như trước đây. Tất nhiên là có những thay đổi tuyệt đối như sự ra đời và chết đi đồng thời cũng có những thay đổi tương đối như chuyển động tại chỗ, sự lớn lên hay sự thay đổi về chất lượng. Có bao nhiêu loại thay đổi? Có phải các yếu tố hay điều kiện cơ bản đều có mặt trong mọi quá trình biến đổi và trong mọi trường hợp các nguyên nhân đều giống nhau không? Chúng ta ngụ ý gì khi nói nguyên nhân thay đổi? Có các loại nguyên nhân khác nhau gây thay đổi? Các nguyên nhân gây thay đổi có giống các nguyên nhân tồn tại không?

Những câu hỏi kiểu này được các triết gia nêu lên, hướng sự chú ý từ sự tồn tại đến sự thay đổi và cố gắng liên hệ sự thay đổi với sự tồn tại. Giống các câu hỏi về sự tồn tại, chúng là những câu hỏi không khó đặt ra và không khó hiểu nhưng để trả lời chúng rõ ràng và hoàn hảo thì vô cùng khó.

Bên cạnh hai loại câu hỏi trên, có những câu hỏi về sự cần thiết và tính ngẫu nhiên; về vật chất và phi vật chất; vật lý và phi vật lý, tự do và không xác định; về năng lực của trí tuệ con người; bản chất và mức độ kiến thức của nhân loại; về sự tự do của ý chí. Tất cả đều mang tính suy luận hay lý thuyết. Nhưng triết học không hạn chế ở những câu hỏi lý thuyết.

Lấy ví dụ về cái tốt và cái xấu. Trẻ em rất quan tâm đến sự khác nhau giữa cái xấu và cái tốt vì nếu chúng phạm sai lầm thì rất dễ bị phạt. Nhưng khi đã lớn, chúng ta vẫn thắc mắc về sự khác nhau đó. Có sự phân biệt rõ ràng, rộng khắp giữa cái tốt và cái xấu không? Có điều nào luôn luôn tốt và điều luôn luôn xấu trong mọi trường hợp không? Hay Hamlet đã đúng khi nhắc lại lời Montaigne rằng: “Chẳng có gì tốt hay xấu, chỉ có sự suy nghĩ làm cho nó trở nên tốt hay xấu mà thôi”?

Tất nhiên, tốt và xấu không thể giống như đúng và sai. Hai cặp từ này dường như đề cập đến hai loại sự vật khác nhau. Cụ thể, cho dù chúng ta cảm thấy những gì đúng là tốt, chưa chắc ta đã cho rằng những gì sai là xấu. Nhưng làm cách nào để phân biệt chính xác giữa hai điều này?

“Tốt” là một thuật ngữ triết học quan trọng và cũng là một từ quan trọng trong ngôn ngữ hàng ngày của chúng ta. Cố gắng định nghĩa từ này là một vấn đề gây nhức đầu và bạn phải tìm hiểu sâu về triết học để hiểu được vấn đề. Có thể sắp xếp trật tự của những cái tốt không khi mà có nhiều cái cùng tốt? Có cái tốt nào quan trọng hơn cái nào không? Có cái nào phụ thuộc cái nào không? Có trường hợp nào những cái tốt xung đột với nhau khiến bạn phải lựa chọn cái này và gạt bỏ cái kia không?

Trên thực tế, có những câu không chỉ hỏi về cái tốt và cái xấu, cái đúng, cái sai và trật tự của những cái tốt mà còn về nghĩa vụ và ràng buộc; đức hạnh và tội lỗi, hạnh phúc, mục tiêu của cuộc sống; công bằng và quyền lợi trong các mối quan hệ của con người và tương tác xã hội; nhà nước và mối quan hệ của nó với các cá nhân, về một xã hội tốt, một chính thể công bằng và một nền kinh tế công bằng, về chiến tranh và hoà bình.

Những câu hỏi liên quan đến sự tồn tại và thay đổi (giải quyết những cái tồn tại hay xảy ra trong cuộc sống) thuộc về phần nhánh triết học lý thuyết hay suy luận. Các câu hỏi liên quan đến cái tốt và cái xấu, hay cái đúng và cái sai (giải quyết những gì nên làm và nên tìm kiếm) thuộc phân nhánh triết học thực tiễn hay quy phạm. Những sách chỉ dẫn cho bạn cách làm gì đó, ví dụ như sách dạy nấu ăn hay sách hướng dẫn lái xe, không tranh luận rằng bạn phải trở thành một đầu bếp hay tài xế giỏi, chúng chỉ bày cho bạn cách thành công. Ngược lại, sách triết học quy phạm quan tâm chủ yếu đến các mục tiêu mà mọi người nên tìm kiếm như sống tốt hay xây dựng một xã hội tốt. Không giống sách hướng dẫn, sách triết học quy phạm dùng các từ phổ biến mô tả phương thức nên sử dụng để đạt các mục tiêu này.

Một tác phẩm triết học suy luận hay lý thuyết sẽ mang tính siêu hình nếu nó chủ yếu bàn đến các câu hỏi về sự tồn tại. Nó sẽ là một tác phẩm triết học về bản chất nếu nó liên quan đến sự thay đổi, bản chất và loại thay đổi, các điều kiện và nguyên nhân của chúng. Nếu mối quan tâm chính của cuốn sách là kiến thức thì đó là một tác phẩm về nhận thức luận – cách gọi khác của lý thuyết về kiến thức.

Triết học hiện đại và truyền thống hào hùng

Chúng tôi gọi những câu hỏi về sự tồn tại và những điều xảy ra trên thế giới hay về những điều mà con người nên làm hay nên tìm kiếm là “các câu hỏi hạng nhất”. Có “câu hỏi hạng nhất” thì sẽ có “các câu hỏi hạng hai”. Đó là các câu hỏi về kiến thức hạng nhất của chúng ta, về suy nghĩ của chúng ta khi cố gắng trả lời các câu hỏi hạng nhất, về cách thức chúng ta diễn tả những suy nghĩ đó trong ngôn ngữ.

Sự phân biệt giữa câu hỏi hạng nhất và hạng hai giúp chúng ta giải thích những gì đã xảy ra với triết học trong những năm qua. Đa số các triết gia chuyên nghiệp ngày nay không còn tin rằng họ có thể trả lời các câu hỏi hạng nhất. Đa số họ chỉ chuyên tâm vào các câu hỏi hạng hai và thường là những câu liên quan đến ngôn ngữ diễn đạt suy nghĩ.

Vấn đề nằm ở chính việc gạt bỏ hoàn toàn các câu hỏi triết học hạng nhất vốn rất được độc giả bình thường quan tâm. Trên thực tế, ngày nay triết học cũng như khoa học và toán học không được viết dành cho độc giả bình thường. Người ta cho rằng các câu hỏi hạng nhất là những câu hỏi ít người quan tâm. Và các triết gia chuyên nghiệp như các nhà khoa học thì không quan tâm đến quan điểm của ai khác ngoài quan điểm của các chuyên gia.

Điều này khiến cho triết học hiện đại rất khó đọc đối với các độc giả không chuyên. Việc đọc sách khoa học đối với những người không làm khoa học cũng diễn ra tương tự như vậy. Trong cuốn sách này, chúng tôi không khuyên các bạn các đọc triết học hiện đại vì nó chỉ liên quan đến các câu hỏi hạng hai. Tuy nhiên, cũng có những sách triết học mà bạn có thể và nên đọc. Chúng hỏi các câu hỏi hạng nhất và được viết chủ yếu dành cho các độc giả bình thường chứ không phải chỉ riêng cho các triết gia.

Cho đến năm 1930 và vài năm sau đó, sách triết học vẫn được viết cho độc giả bình thường. Các triết gia vừa muốn các đồng nghiệp đọc sách của mình, vừa muốn các độc giả thông minh khác cũng đọc chúng. Vì những câu hỏi và trả lời là mối quan tâm của mọi người nên họ nghĩ mọi người cần biết suy nghĩ của họ.

Tất cả các tác phẩm triết học kinh điển từ Plato trở đi đều được viết trên quan điểm này. Độc giả bình thường trong đó có bạn có thể tiếp cận các tác phẩm đó. Mọi điều chúng tôi đã nói trong chương này đều nhằm giúp bạn làm việc đó.

Về phương pháp triết học

Giả sử bạn là một triết gia đang băn khoăn với một trong những câu hỏi đơn giản của con trẻ như nói ở trên, bạn sẽ trả lời thế nào?

Nếu câu hỏi mang tính khoa học, bạn biết rằng để trả lời nó bạn phải tiến hành một nghiên cứu hay một thí nghiệm hoặc quan sát một loạt hiện tượng. Nếu câu hỏi mang tính lịch sử, bạn biết bạn cũng phải tiến hành nghiên cứu dù theo một cách khác. Nhưng không có thí nghiệm nào cho bạn biết những điểm chung của tất cả các sự vật đang tồn tại. Không có hiện tượng đặc biệt nào mà bạn có thể quan sát, không có tài liệu nào mà bạn có thể tìm đọc để tìm ra sự thay đổi là gì và tại sao sự vật lại thay đổi. Tất cả những gì bạn có thể làm là suy nghĩ về câu hỏi.

Khi mang tính tích cực, triết học không đơn thuần là suy luận, tức là suy nghĩ mà không có kinh nghiệm. Bạn không thể tuỳ tiện sắp xếp ý tưởng. Có những bài kiểm tra chặt chẽ về giá trị các câu trả lời của các câu hỏi triết học, nhưng chúng chỉ dựa trên kinh nghiệm của một người bình thường chứ không phải của một triết gia. Thông qua kinh nghiệm thường ngày, bạn cũng quen với các hiện tượng thay đổi như bao người khác. Mọi thứ xung quanh bạn đều có thể thay đổi. Chỉ khi những kinh nghiệm về sự thay đổi mất đi. Lúc đó bạn mới suy nghĩ về bản chất và nguyên nhân của sự thay đổi như cách các triết gia vĩ đại vẫn làm. Điều phân biệt giữa chúng ta với các triết gia là các triết gia thường suy nghĩ một cách mạch lac, họ đặt những câu hỏi có tính tìm tòi và suy nghĩ kỹ về các kinh nghiệm để tìm ra câu trả lời.

Nhưng không phải tất cả các câu hỏi do triết gia hỏi và trả lời đều thật sự mang tính triết học. Bản thân triết gia không phải lúc nào cũng nhận thức được điều này. Nó khiến những độc giả không chuyên cảm thấy rất khó khăn. Vì thế, bạn cần phải phân biệt các câu hỏi thật sự mang tính triết học và các câu hỏi khác mà một triết gia có thể bàn đến.

Một ví dụ minh chứng cho điều này là câu hỏi của các triết gia cổ đại về sự khác nhau giữa vật thể trên mặt đất và vật thể trên bầu trời. Theo quan sát của họ (không dùng kính viễn vọng), dường như các thiên thể chỉ thay đổi vị trí, chúng dường như không sinh ra và cũng không mất đi như cây cỏ hay muông thú, chúng cũng không thay đổi về kích thước và chất lượng trong khi tất cả các vật thể trên trái đất đều thay đổi về nhiều khía cạnh chứ không phải chỉ về vị trí. Vì thế, họ kết luận rằng các vật thể trên trời được cấu tạo từ một loại vật chất khác. Họ đã không giả định rằng nếu quan sát bằng kính viễn vọng, họ sẽ thấy sự biến đổi của các thiên thể vượt ra ngoài những gì chúng ta biết bằng kinh nghiệm bình thường. Do đó họ đã đặt những câu hỏi mà đáng lẽ nên để lại cho các nghiên cứu khoa học sau này. Những nghiên cứu như thế bắt đầu với việc Galileo sử dụng kính viễn vọng và ông đã phát hiện ra “những mặt trăng” của Sao Mộc. Sự kiện này dẫn đến việc Kepler đưa ra một nhận định mang tính cách mạng rằng vật chất các thiên thể hoàn toàn giống vật chất của các vật thể trên trái đất.

Khi đọc một tác phẩm triết học, những gì chúng ta quan tâm chính là các câu hỏi triết học chứ không phải câu hỏi khoa học hay lịch sử. Một lần nữa, chúng tôi nhấn mạnh rằng để trả lời các câu hỏi đó ngoài suy nghĩ ra thì không có cách nào khác.

Không phải chỉ có các triết gia mới phạm những sai lầm như trên. Giả sử một nhà khoa học cũng băn khoăn với câu hỏi về kiểu sống của con người. Đây là câu hỏi mang tính trính triết học quy phạm và cách duy nhất để trả lời là phải suy nghĩ. Nhưng nhà khoa học có thể không nhận thức được điều đó nên ông giả định rằng một loại thí nghiệm hay nghiên cứu nào đó sẽ cho ông câu trả lời. Ông quyết định hỏi 1.000 người về kiểu sống mà họ muốn rồi dựa trên câu trả lời đó để đưa ra câu trả lờì mình. Câu trả lời của ông do đó cũng không phù hợp giống như trường hợp suy đoán của Aristotle về vật chất của các thiên thể.

Các phong cách triết học

Có ít nhất năm cách trình bày phương pháp triết học được các nhà triết học vĩ đại của phương Tây sử dụng. Sinh viên hay độc giả đọc triết học cổ nên phân biệt những ưu điểm và nhược điểm của từng loại.

1. Hội thoại triết học: Đây là phương thức trình bày triết học đầu tiên tính theo thời gian (không phải theo tính hiệu quả) và được Plato dùng trong tác phẩm Dialogues (Những cuộc hội thoại). Văn phong được dùng ở đây là đối thoại, thảo luận một đề tài giữa một số người với Socrates (sau đó là với một diễn giả ở Athen). Sau một hồi thăm dò, Socrates đưa ra một loạt câu hỏi và nhận xét làm sáng tỏ vấn đề. Dưới bản tay bậc thầy của Plato, văn phong này giúp phát triển sự tìm tòi, giúp người đọc tự mình khám phá. Khi được hỗ trợ bởi tính cao trào, kịch tính trong câu chuyện của Socrates, văn phong này càng trở nên hiệu quả.

Không ai có thể làm như Platon. Các nhà triết học khác như Cicero và Berkeley cũng đã cố gắng dùng đối thoại nhưng không mấy thành công. Những đoạn đối thoại của họ cứ đều đều, buồn tẻ và hầu như không thể đọc được. Sự vĩ đại của Plato chính là ở chỗ ông viết được những mẩu đối thoại mang tính triết học mà vẫn có sự hài hước, hấp dẫn và chiều sâu có thể sánh ngang với bất kỳ cuốn sách nào về bất cứ đề tài nào của bất cứ ai.

2. Chuyên luận mang tính triết học: Aristotle là học trò giỏi nhất của Plato. Ông đã học thầy mình trong suốt 20 năm. Người ta cho rằng ông cũng đã viết những mẩu đối thoại nhưng không có cái nào tồn tại được lâu. Những gì trường tồn lại là những chuyên luận rất khó về một số chủ đề khác nhau. Aristotle là người luôn suy nghĩ rạch ròi, nhưng mức độ khó trong các tác phẩm còn tồn tại của ông khiến các học giả cho rằng chúng chính là những ghi chú cho các bài diễn thuyết, sách, hoặc là những ghi chú của chính Aristotle hay của một sinh viên nào đó ghi lại những lời dạy của thẩy mình. Có thể chúng ta không bao giờ biết được sự thật, nhưng dù sao những chuyên luận của Aristotle vẫn là một kiểu văn phong mới trong triết học.

Những vấn đề Aristotle bàn đến trong các chuyên luận và những cách hành văn khác nhau mà ông dùng để trình bày những phát hiện của mình đã giúp tạo nên một số chuyên ngành và cách tiếp cận môn triết học ở những thế kỷ tiếp theo. Trong các chuyên luận đó, có những tác phẩm được cho là thông dụng và đa số chúng là các đoạn đối thoại. Sau đó là các bộ sưu tập tư liệu với tác phẩm chính mà chúng ta biết là bộ sưu tập 158 hiến pháp của các bang thuộc Hy Lạp cổ. Cuối cùng là những bài luận chính, hoàn toàn mang tính triết học lý thuyết hay quy phạm về vật lý, siêu vật lý, đạo đức, chính trị và thi ca. Một số tác phẩm khác như cuốn On the Soul (Nói về linh hồn) là sự pha trộn giữa lý thuyết triết học và khám phá khoa học đầu tiên. Ngoài ra còn một số bài luận về sinh học, chủ yếu là các tác phẩm khoa học về lịch sử tự nhiên.

Immanuel Kant, đã đi theo phương thức của Aristotle mặc dù về phương diện triết học ông chịu ảnh hưởng của Plato nhiều hơn. Những bài luận của ông là những tác phẩm nghệ thuật hoàn chỉnh, không giống như Aristotle. Các tác phẩm của ông trước tiên nêu lên vấn đề chính, đi sâu vào vấn đề một cách kỹ lưỡng và nghiêm túc, sau đó mới bàn đến các vấn đề đặc biệt. Có thể nói, sự rõ ràng của Kant và Aistotle nằm ở trật tự bố cục mà họ đưa vào một đề tài bao gồm phần mở đầu, thân bài và kết luận. Về phương diện nào đó, văn phong của bài luận cũng giống văn phong của đoạn hội thoại. Nhưng yếu tố kịch bị mất đi trong những bài luận của Kant hay Aristotle. Họ trình bày thẳng thắn về các quan điểm triết học chứ không đưa ra các mâu thuẫn về ý kiến hay giả thuyết như của Platon.

3. Trả lời những phản đối: Văn phong mang tính triết học phát triển vào thời Trung cổ và được thể hiện rõ trong tác phẩm Summa Theologica (Thần học Summa) của Thánh Thomas Aquinas. Văn phong của Aquinas cũng có những điểm tương đồng với hai kiểu trên. Như đã nói, Plato nêu lên những vấn đề triết học trường tồn; Socrates thông qua các mẩu đối thoại đã nêu lên những câu hỏi tuy đơn giản nhưng sâu sắc như trẻ em thường hỏi; Aristotle thì nhìn nhận những phản đối của các nhà triết học khác và trả lời họ.

Văn phong của Aquinas là sự kết hợp giữa việc đặt câu hỏi và trả lời những phản đối. Tác phẩm Thần học Summa được chia làm nhiều phần, nhiều bài luận, các câu hỏi và các bài viết. Hình thức các bài viết đều giống nhau: nêu lên các câu hỏi, đưa ra các câu trả lời sai; viện dẫn những lý lẽ để ủng hộ câu trả lời sai; sau đó có một bài viết đáng tin cậy phản lại những lý lẽ đó (thường là một bài từ Kinh Thánh). Cuối cùng, Aquinas đưa ra câu trả lời hay giải pháp của riêng ông. Sau khi nêu ra quan điểm của mình về vấn đề đó, ông trả lời đáp lại mỗi lý lẽ sai của câu trả lời sai.

Sự khúc triết và trật tự của văn phong này được những người có tư duy rõ ràng ưa thích, nhưng đó không phải là nét quan trọng nhất trong cách tranh luận của Thomas Aquinas. Chính sự nhìn nhận công khai những mâu thuẫn, việc ghi lại những quan điểm khác nhau và nỗ lực đưa ra những giải pháp cho mọi vấn đề có thể xảy ra mới là nét nổi bật của Aquinas. Việc cho rằng sự thật sẽ mở ra qua những chống đối và xung đột là một cách nghĩ khá thông dụng thời Trung cổ. Các nhà triết học thời Aquinas chấp nhận như lẽ đương nhiên rằng họ cần sẵn sàng bảo vệ chính kiến của mình trong những cuộc tranh luận công khai khi có rất nhiều sinh viên và những người quan tâm tham dự. Nền văn minh Trung cổ chủ yếu dựa trên văn nói vì sách thời đó rất hiếm và khó tìm. Một giả thuyết không thể được xem là đúng nếu nó không chịu được thử thách của các cuộc tranh luận công khai. Như Sorattes nói: “Nhà triết học không suy nghĩ đơn độc mà phải đối diện với các đối thủ trên một thị trường trí tuệ”. Vì thế, tác phẩm Thần học Summa thấm đẫm tinh thần tranh luận và bàn bạc.

4. Hệ thống hoá triết học: Vào thế kỷ XVII, một kiểu trình bày khác của triết học ra đời nhờ công của hai nhà triết học nổi tiếng là Descartes và Spinoza. Họ đã cố gắng tổ chức triết học giống như cách họ làm với toán học.

Descartes là một nhà toán học vĩ đại và cũng là một nhà triết học đáng kính. Những gì ông đã gắng sức cơ bản là khoác lên triết học “bộ áo quần” của toán học, đem lại cho nó sự chắc chắn và cấu trúc chính thống như Euclid đã làm với hình học trước đó 2.000 năm. Descartes không hoàn toàn thất bại. Xét về một số phương diện, yêu cầu của ông về sự rõ ràng và phân biệt rạch ròi trong suy nghĩ là chính đáng trong bầu không khí hỗn loạn của các ý tưởng thời bấy giờ. Ông cũng viết những bài luận về triết học mang hơi hướng truyền thống gồm một loạt câu trả lời cho những lý lẽ phản đối quan điểm của ông.

Spinoza đưa khái niệm này đi xa thêm một bước nữa. Tác phẩm Ethics (Đạo đức) của ông được viết theo kiểu hoàn toàn toán học với những định đề, chứng minh, hệ quả, bổ đề, chú giải… Tuy nhiên, phong cách này không thể giải quyết ổn thoả chủ đề về siêu vật lý và đạo đức. Nó có thể phù hợp với các chủ đề hình học và toán học nhưng lại không phù hợp với các chủ đề về triết học. Dấu hiệu của phong cách này là khi bạn đọc các tác phẩm của Spinoza, bạn có thể bỏ qua rất nhiều giống như cách bạn đọc tác phẩm của Newton. Bạn không thể nhảy cóc khi đọc các tác phẩm của Kant và Aristotle vì tư duy nối tiếp liên tục. Bạn cũng không thể nhảy cóc khi đọc tác phẩm của Plato giống như đọc một vở kịch hay một bài thơ.

Có lẽ không có quy tắc tu từ tuyệt đối nào. Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra vẫn là liệu có thể viết một tác phẩm triết học hay theo kiểu toán học như Spinoza từng làm hay viết một công trình khoa học theo kiểu đối thoại như Galileo đã cố thử không? Sự thật cho thấy, về phương diện nào đó, cả hai người đều đã thất bại trong việc truyền đạt những gì họ muốn truyền đạt và dường như chính hình thức họ chọn là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thất bại.

5. Văn phong cách ngôn: Văn phong cách ngôn cũng là một kiểu trình bày triết học đáng chú ý, mặc dù nó không quan trọng như những hình thức kia. Nó được Nietzsche và một số nhà triết học người Pháp hiện đại khác dùng trong các tác phẩm như Thus Spake Zarathustran (Zarathustra đã nói thế). Nguyên nhân làm cho văn phong này trở nên phổ biến trong thế kỷ qua có lẽ do các độc giả phương Tây tỏ ra đặc biệt thích thú các tác phẩm nói về sự thông thái của phương Đông được viết theo kiểu cách ngôn. Cũng có thể, văn phong này được ưa thích nhờ tác phẩm Pensees của Pascal (tất nhiên, Pascal không hề có ý định để tác phẩm của mình trở thành những câu nói ngắn và bí hiểm. Ông đã qua đời trước khi hoàn thành cuốn sách theo kiểu viết luận).

Ưu điểm lớn của hình thức cách ngôn trong triết học là nó khiến người đọc phải suy nghĩ. Người đọc có cảm giác tác giả muốn nói nhiều hơn những gì được viết ra vì họ phải suy nghĩ rất nhiều và liên kết các câu, dựng nên những lý lẽ để đưa ra lý luận của riêng mình. Tuy nhiên, đây đồng thời cũng là điểm bất lợi của văn phong này vì nó không hề mang tính trình bày. Tác giả đề cập đến một đề tài rồi chuyển ngay sang một đề tài khác mà không biện hộ cho những gì mình đã nói. Vì thế, cho dù văn phong cách ngôn được những người yêu thích thi ca ngưỡng mộ nhưng lại làm bực mình những nhà triết học nghiêm túc vốn muốn theo dõi và phê bình dòng suy tưởng của tác giả.

Trong năm hình thức trên, có lẽ phổ biến nhất từ trước đến nay là kiểu viết theo kiểu chuyên luận hay bài luận. Các tác phẩm viết theo kiểu này có thể là các công trình có tính trang trọng và khó đọc như các tác phẩm của Kant hay các bài luận triết học thông thường. Văn phong hội thoại rất khó viết, còn văn phong hình học thì vừa khó viết lại vừa khó đọc. Theo quan điểm triết học, văn phong cách ngôn hoàn toàn không phù hợp. Còn văn phong theo kiểu của Thomas không được sử dụng nhiều trong thời gian gần đây.

Những gợi ý khi đọc sách triết học

Đến đây, chúng ta thấy rõ rằng điều quan trọng nhất khi đọc bất cứ tác phẩm triết học nào là phát hiện vấn đề mà tác phẩm đó đang cố gắng trả lời. Vấn đề có thể được nêu lên một cách rõ ràng hay thể hiện ngầm. Trong trường hợp nào, bạn cũng phải tìm được các vấn đề đó.

Cách tác giả trả lời những vấn đề này phụ thuộc rất nhiều vào các nguyên tắc chủ đạo của họ. Những nguyên tắc này có thể được nêu lên, nhưng không phải ở mọi nơi mọi lúc. Bên cạnh những lý lẽ, chúng tôi đã trích dẫn lời của Basil Willey về sự khó khăn và tầm quan trọng của việc tìm ra những giả thuyết ngầm của một tác giả. Điều này đúng với bất kỳ cuốn sách nào, đặc biệt là với các tác phẩm triết học.

Chúng ta không thể lên án các triết gia vĩ đại vì họ đã tìm cách giấu kín các giả thuyết của mình hay đưa ra những định nghĩa và nhận định mập mở. Điểm dễ nhận thấy của một triết gia tài năng là họ có thể làm nổi bật những điều này hơn các nhà văn. Tuy nhiên, các triết gia vĩ đại đều có những nguyên tắc chủ đạo làm nền tảng cho những tác phẩm của mình. Những nguyên tắc này rất dễ thấy nếu họ nêu lên trong cuốn sách bạn đang đọc. Nhưng có thể họ không làm vậy mà lại đưa chúng sang một tác phẩm khác. Hoặc họ không bao giờ trình bày các nguyên tắc đó một cách rõ ràng mà cứ để chúng lan toả trong các tác phẩm của mình.

Khó có thể đưa ra các ví dụ về những nguyên tắc chủ đạo đó. Tuy vậy, chúng tôi có thể nhắc đến nguyên tắc chủ đạo của Plato là hội thoại về các chủ đề triết học có lẽ là hoạt động quan trọng nhất trong các hoạt động của loài người. Ý kiến này hiếm khi được nêu rõ trong các cuộc hội thoại, cho dù Socrates đã đề cập đến nó trong tác phẩm Apology (Lời tạ tội) khi ông khẳng định rằng cuộc sống không có kiểm soát thì không đáng sống. Plato cũng nhắc đến điều này trong tác phẩm Seventh Letter (Bức thư thứ bảy). Điều đáng nói là Plato thể hiện quan điểm này ở nhiều nơi, ví dụ như trong đoạn khán giả không đồng tình với việc Protagoras không muốn tiếp tục nói chuyện với Socrates trong tác phẩm Protagoras hoặc khi nhân vật Cephalus có việc đột xuất và phải đi ngay ở tập I cuốn Republic (Nền cộng hoà). Mặc dù không nói thẳng ra nhưng Plato dường như muốn nói rằng việc từ chối không tham gia hành trình tìm kiếm sự thật vì bất cứ lý do nào cũng chính là sự phản bội bản chất sâu xa nhất của con người. Tuy nhiên như chúng tôi đã lưu ý, đây không phải là chính kiến của Plato vì nó hiếm khi được nêu lên rõ ràng trong các tác phẩm của ông.

Một ví dụ khác là về Aristotle. Điều quan trọng đầu tiên cần biết khi đọc sách của Aristotle là ta phải nhận thức rằng những điều đề cập đến trong các tác phẩm khác đều liên quan đến cuộc thảo luận này. Vì thế, các nguyên tắc chủ đạo về logic được diễn giải trong tập sách Organon (Công cụ) cũng được đề cập trong cuốn Physics (Vật lý). Điều thứ hai, một phần do các chuyên luận không phải là các tác phẩm nghệ thuật trọn vẹn nên các nguyên tắc chủ đạo của chúng không phải lúc nào cũng được giải thích rõ ràng. Tác phẩm Đạo đức bàn về nhiều vấn đề: hạnh phúc, thói quen, đức hạnh, niềm vui,… Nhưng chỉ có những độc giả rất chú tâm mới có thể tìm ra ý tưởng chủ đạo. Đó là: “Hạnh phúc là bao hàm của những gì tốt đẹp nhất chứ không phải là điều quan trọng nhất trong những điều tốt đẹp”. Nhìn nhận điều này, chúng ta thấy rằng hạnh phúc không phải cốt ở sự tự hoàn thiện, mặc dù đây chính là điều quan trọng nhất trong những điều tốt đẹp. Như Aristotle đã nói hạnh phúc là chất lượng của toàn bộ cuộc đời. Khái niệm “toàn bộ” của ông không chỉ là thời gian mà còn về các khía cạnh khác của cuộc sống. Ngày nay, chúng ta thường nói người hạnh phúc là người hưởng trọn vẹn cuộc sống và suốt cả cuộc đời. Ý tưởng này mang tính chủ đạo bởi nó ảnh hưởng đến hầu hết các ý tưởng khác trong cuốn Đạo đức nhưng nó không được nêu rõ đến mức cần thiết.

Trên đây là tất cả những gì chúng tôi có thể nói về quan điểm chủ đạo trong một cuốn sách triết học. Chúng tôi không chắc rằng mình có thể chỉ cho các bạn cách tìm ra các nguyên tắc đó. Đôi khi phải mất hàng năm với nhiều lần đọc đi đọc lại mới tìm thấy. Tuy nhiên, đây chính là mục tiêu lý tưởng của việc đọc hiệu quả và đọc kỹ. Bạn nên tâm niệm rằng đây là điều mà bạn phải làm cho kỳ được nếu muốn hiểu tác giả. Dù việc tìm nguyên tắc chủ đạo có khó thế nào, chúng tôi cũng không khuyên bạn đi tắt bằng cách đọc các tác phẩm viết về các triết gia, cuộc đời và quan điểm của họ. Những khám phá do bản thân bạn tìm ra sẽ có giá trị gấp nhiều lần ý kiến của người khác.

Khi đã tìm ra nguyên tắc chủ đạo của một tác giả, bạn sẽ muốn biết họ có trung thành với nguyên tắc đó trong tất cả các tác phẩm của mình không. Thực tế những triết gia giỏi nhất cũng không làm được điều này. Emerson đã nói rằng sự nhất quán là con quỷ của những đầu óc hẹp hòi. Đó là một nhận định rất vô tư, nhưng bạn cần nhớ nó. Rõ ràng sự thiếu nhất quán của một triết gia là một điều nghiêm trọng. Nếu một triết gia thiếu nhất quán, bạn phải quyết định chuỗi nhận định nào là điều mà họ ngụ ý: hoặc là những nguyên tắc ban đầu họ nêu hay là những kết luận không tuân theo các nguyên tắc đã nêu ban đầu hoặc bạn có thể quyết định rằng không có cái nào có giá trị cả.

Việc đọc các tác phẩm triết học có những khía cạnh đặc biệt, liên quan đến sự khác nhau giữa triết học và khoa học. Ở đây, chúng tôi chỉ đề cập đến các tác phẩm lý thuyết trong triết học như các chuyên luận hay tác phẩm siêu hình về triết lý của tự nhiên.

Triết học phải giải thích bản chất của sự việc chứ không phải mô tả như khoa học. Triết học không chỉ quan tâm đến mối quan hệ của các hiện tượng mà còn phải hiểu thấu những nguyên nhân sâu xa và điều kiện dẫn đến các hiện tượng đó. Chỉ có thể khám phá đầy đủ các vấn đề này khi các câu trả lời được làm sáng tỏ bằng các lý lẽ và phân tích rõ ràng.

Vì thế, nỗ lực chủ yếu của độc giả là phải tìm hiểu các từ ngữ, đưa ra nhận định ban đầu. Mặc dù các triết gia cũng như các nhà khoa học có một kho thuật ngữ chuyên môn, nhưng các từ ngữ thể hiện ý tưởng của họ thường được lấy từ những câu nói thường ngày nhưng được dùng theo nghĩa đặc biệt. Điều này đòi hỏi độc giả phải rất chú ý. Nếu họ không thể khắc phục khuynh hướng dùng những từ ngữ quen thuộc theo cách thông thường, họ có thể làm cho cuốn sách trở thành vô nghĩa và vụng về.

Cũng như trong khoa học, các thuật ngữ cơ bản trong triết học rất trừu tượng. Cách duy nhất để diễn đạt các kiến thức tổng quát là dùng những từ ngữ trừu tượng. Từ trừu tượng được chúng ta sử dụng trong mọi cuộc đối thoại của cuộc sống hàng ngày. Tuy nhiên, cả từ trừu tượng và từ cụ thể cũng có lúc khiến nhiều người lúng túng.

Bất cứ khi nào bạn nói về điều gì đó một cách chung chung tức là bạn đang dùng những từ ngữ trừu tượng. Nhưng những gì bạn tiếp nhận thông qua các giác quan lại luôn luôn cụ thể và cá biệt, còn những gì bạn dùng trí óc suy nghĩ luôn luôn trừu tượng và chung chung. Để hiểu một từ trừu tượng, bạn phải biết nó diễn đạt điều gì. Khi bạn nói biết một điều gì đó tức là bạn hiểu một khía cạnh chung chung nào đó của những sự việc mà bạn đã trải nghiệm. Bạn không thể nhìn thấy, chạm vào hay tưởng tượng ra khía cạnh chung chung đó. Nếu làm được điều này thì không còn gì khác biệt giữa các giác quan và trí óc. Những ai cố tưởng tượng xem các ý tưởng nói đến điều gì chỉ làm cho mình mụ mị đi và cuối cùng, chỉ cảm thấy vô vọng về các từ ngữ trừu tượng.

Đối với sách triết học, bạn cũng nên quan tâm đặc biệt đến các nguyên tắc của các triết gia. Đó có thể là những điều mà triết gia muốn bạn cùng đặt giả thuyết giống họ, hoặc là những vấn đề mà họ cho là hiển nhiên. Đặt giả thuyết không phải là việc khó. Bạn cứ đặt giả thuyết và sau đó xem điều gì xảy ra. Giả vờ tin điều mà bạn thật sự không tin là một bài tập trí óc đáng làm. Bạn càng tỏ tường về những luận điểm của mình thì bạn càng ít đánh giá sai quan điểm của người khác.

Phần lớn sách triết học đều nêu lên một số giả thuyết mà các tác giả cho là hiển nhiên. Những giả thuyết như thế được rút ra trực tiếp từ kinh nghiệm chứ không phải được chứng minh từ những giả thuyết khác. Bạn nên nhớ những kinh nghiệm để rút ra các giả thuyết đó không giống những kinh nghiệm đặc biệt của các nhà khoa học mà là kinh nghiệm chung của mọi người. Các triết gia không làm việc trong phòng thí nghiệm, cũng không nghiên cứu thực địa. Vì vậy, để hiểu và kiểm nghiệm các nguyên tắc chủ đạo của các triết gia, bạn không cần sự trợ giúp của các kinh nghiệm đặc biệt có được từ việc nghiên cứu kỹ lưỡng mà chỉ cần bạn dùng chính lẽ thường và những quan sát hàng ngày về thế giới mà bạn đang sống.

Nói cách khác, phương pháp đọc sách triết học cũng giống phương pháp viết sách triết học. Khi đối mặt với một vấn đề, một triết gia chỉ có cách duy nhất là suy nghĩ về vấn đề đó. Khi đối diện với một cuốn sách triết học, độc giả cũng không còn cách nào khác là phải đọc nó, nghĩa là suy nghĩ về nó. Không có sự giúp đỡ nào khác ngoài trí óc.

Quyết định của bạn

Một tác phẩm triết học lý thuyết hay thì không cần có yếu tố hùng biện và tuyên truyền. Bạn không cần quan tâm đến nhân cách của tác giả hay tìm hiểu hoàn cảnh xã hội và kinh tế của họ. Tuy nhiên, sẽ có lợi hơn nếu bạn đọc các tác phẩm của các triết gia khác - những người đã bàn về các vấn đề của tác giả mà bạn đang đọc. Bạn nên lắng nghe cuộc thảo luận của họ trước khi quyết định về những điều mà một người trong số họ trình bày.

Bạn cũng không nên lo lắng khi các triết gia không nhất trí với nhau bởi hai lý do. Tthứ nhất, việc bất đồng quan điểm nếu kéo dài dai dẳng cho thấy có một vấn đề lớn chưa được hoặc không giải quyết được. Quan trọng là phải biết những điều bí ẩn thật sự nằm ở đâu. Thứ hai, việc mọi người bất đồng quan điểm không có gì quan trọng. Trách nhiệm của bạn là tự quyết định. Trong suốt cuộc tranh luận của các triết gia, bạn phải đánh giá điều gì là đúng và điều gì sai. Khi bạn đọc và hiểu một cuốn sách triết học, bạn đã đạt tới vị thế của người phán xét.

Đương nhiên, mỗi người phải tự mình trả lời các câu hỏi về triết học. Lấy ý kiến của người khác không phải là trả lời mà là lẩn tránh các câu hỏi. Các câu trả lời của bạn phải có cơ sở vững chắc với sự hỗ trợ của những lý lẽ, tức là bạn không thể dựa vào sự xác nhận của các chuyên gia như khi đọc sách khoa học.

Lưu ý về thuyết thần học

Có hai loại thuyết thần học: thuyết thần học tự nhiên và thuyết thần học giáo điều. Thuyết thần học tự nhiên là một bộ phận của triết học, là chương cuối cùng trong thuyết siêu hình. Ví dụ, nếu bạn hỏi thuyết nhân quả có phải là một tiến trình vô tận không, có phải mọi thứ đều có nguyên nhân của nó không và câu trả lời là có thì bạn có thể rơi vào một vòng luẩn quẩn vô tận. Vì thế, có thể bạn phải thừa nhận một nguyên nhân khởi phát nào đó mà bản thân nó không có nguyên nhân. Aristotle gọi nguyên nhân hiểu này là một bước chuyển tại chỗ.

Thuyết thần học giáo điều khác triết học ở chỗ các nguyên tắc đầu tiên của nó là những bài viết về tín ngưỡng được một số nhà truyền giáo sử dụng. Một tác phẩm thần học giáo điều luôn lệ thuộc vào các tín điều và quyền lực của nhà thờ tuyên bố các tín điều đó.

Nếu bạn không theo tín ngưỡng đó, không là con chiên của nhà thờ đó, bạn khó có thể đọc tốt một cuốn sách thần học giáo điều bằng cách xem các tín điều trong sách giống cách bạn nhìn nhận những giả thuyết của một nhà toán học. Nhưng bạn phải luôn nhớ rằng tín điều không phải là điều mà tín đồ giả định. Đức tin, đối với những ai có lòng tin, là sự chắc chắn nhất của kiến thức chứ không phải là một ý kiến mang tính thăm dò.

Dường như, nhiều độc giả ngày nay thấy điều này rất khó hiểu. Họ thường phạm một hay cả hai sai lầm khi đối mặt với thuyết thần học giáo điều. Sai lầm đầu tiên là không chịu chấp nhận, dù chỉ là tạm thời, rằng các tín điều vốn là các nguyên tắc đầu tiên của tác giả. Kết quả là, độc giả cứ mãi đánh vật với những nguyên tắc đầu tiên mà không thật sự chú ý đến chính bản thân cuốn sách. Sai lầm thứ hai là họ giả định rằng vì các nguyên tắc đầu tiên mang tính giáo điều nên các lý lẽ dựa trên các nguyên tắc đó, cách tư duy mà chúng ủng hộ và các kết luận mà chúng đưa ra đều mang tính giáo điều. Tất nhiên, nếu một số nguyên tắc được chấp nhận và cách tư duy dựa trên các nguyên tắc đó có sức thuyết phục thì có cơ sở để chấp nhận các kết luận, ít nhất cũng như chấp nhận các nguyên tắc. Nhưng nếu cách tư duy sai thì những nguyên tắc được chấp nhận đầu tiên sẽ dẫn đến các kết luận vô căn cứ.

Ở đây, chung tôi đang nói đến những khó khăn phải đối mặt khi một độc giả không tin vào các tín điều của một tác phẩm thần học phải đối mặt. Độc giả đó có nhiệm vụ phải chấp nhận các nguyên tắc đầu tiên là đúng, sau đó phải đọc sách thật kỹ. Còn độc giả có đức tin đọc một tác phẩm quan trọng đối với tín ngưỡng của mình lại có những khó khăn khác. Tuy nhiên, những vấn đề này không chỉ có trong đọc sách thần học.

Cách đọc sách kinh điển

Có một loại sách và mộc cách đọc rất thú vị mà chúng tôi chưa bàn đến. Đó là sách kinh điển. Theo truyền thống, có thể gọi chúng là sách “linh thiêng” hay “thần thánh” nhưng những từ đó hiện nay không còn phù hợp với các tác phẩm loại này, mặc dù với một số tác phẩm chúng vẫn còn hiệu lực.

Ví dụ tiêu biểu nhất là cuốn Kinh Thánh. Người ta đọc nó không phải như đọc một tác phẩm văn học mà là đọc lời của Thượng đế ban phát cho nhân loại. Tuy nhiên, những người theo chủ nghĩa Marxists chính thống cho rằng các tác phẩm của Marx cũng phải được đọc theo cách mà những người Do Thái hay Cơ đốc giáo chính thống đọc Kinh Thánh. Cuốn Sách Đỏ của Mao Trạch Đông cũng có tính kinh điển như thế đối với một người cộng sản Trung Hoa trung thành.

Khái niệm sách kinh điển có thể vượt ra ngoài những ví dụ trên. Hãy nghĩ đến bất kỳ một tổ chức nào đó như nhà thờ, một đảng phái chính trị, một tổ chức xã hội. Ngoài các tổ chức khác thì các tổ chức trên vốn là một tổ chức giảng dạy, có một học thuyết để tuyên truyền và có các thành viên trung thành và phục tùng. Thành viên của các tổ chức đó thường đọc một cách sùng bái. Họ không, thậm chí là không thể chất vấn việc đọc các cuốn sách theo họ là kinh điển. Chính lòng trung thành đã tước đi của họ quyền tìm ra những lỗi sai hay những điều vô lý trong một cuốn sách “linh thiêng”.

Cách đọc như thế được những người Do Thái chính thống áp dụng khi đọc Kinh Cựu Ước; người Cơ đốc giáo áp dụng đọc Tân Cựu Ước; người Hồi giáo đọc Kinh Koran; người theo chủ nghĩa Marxists đọc các tác phẩm của Marx, Lenin và tuỳ thuộc vào tình hình chính trị họ đọc các tác phẩm của Stalin; các nhà tâm lý học theo trường phái Freud đọc các tác phẩm của Freud; các sĩ quan quân đội Hoa Kỳ đọc sách huấn luyện bộ binh…

Trên thực tế, đa số chúng ta đều đã gặp tình huống mà ta phải đọc sách theo kiểu kinh điển, ngay cả khi ta chưa đọc được theo kiểu đó. Một luật sư thiếu kinh nghiệm muốn vượt qua những kỳ thi luật phải đọc một số văn bản theo cách nào đó để được điểm cao. Các bác sĩ hay các chuyên gia và cả chúng ta khi còn là sinh viên, do sợ thi trượt nên phải đọc theo giải thích của giáo sư,…

Có thể tóm gọn các đặc điểm của cách đọc này trong từ “chính thống”. Từ này có gốc từ tiếng Hy Lạp nghĩa là “ý kiến đúng”. Những cuốn sách chính thống là những cuốn chỉ có một và chỉ một cách hiểu đúng. Đặc điểm này đi kèm với một sự bắt buộc. Đó là độc giả trung thành của cuốn sách kinh điển buộc phải tìm ra ý nghĩa của cuốn sách và nhận thấy nó đúng theo cách hiểu của từ “đúng”. Nếu bản thân họ không làm được điều này, họ phải tìm đến ai đó có thể làm được ví dụ như một tu sĩ hay giáo sĩ Do Thái hoặc người có chức vụ cao hơn họ trong tổ chức. Dù thế nào, họ cũng buộc phải chấp nhận giải pháp mà người khác đưa ra cho vấn đề của họ. Họ đọc mà không có sự tự do. Đổi lại, họ cảm thấy hài lòng – sự hài lòng khó có thể có được khi đọc các sách khác.

Các vấn đề gặp phải khi đọc sách Kinh Thánh là vấn đề khó nhất trong lĩnh vực đọc. Số sách viết về cách đọc Kinh Thánh nhiều hơn tổng số sách viết về tất cả các khía cạnh khác của nghệ thuật đọc sách. Lời của Chúa rõ ràng là tác phẩm khó nhất mà loài người có thể đọc. Nhưng nếu bạn tin đó chính là lời của Chúa, thì đó là tác phẩm quan trọng nhất bạn cần đọc. Nỗ lực của người trung thành tương xứng với độ khó của nhiệm vụ này. Người phương Tây có phần đúng khi nói rằng Kinh Thánh là cuốn sách có nhiều chứ không chỉ một ý nghĩa. Nó không những là cuốn sách được nhiều người đọc nhất mà còn là cuốn sách được đọc kỹ nhất trong tất cả các cuốn sách.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.