Đời Ngắn Lắm Đừng Làm Việc Vô Nghĩa - Chương 7

NHỮNG ẢNH HƯỞNG VỀ MẶT CHÍNH TRỊ VÀ GIẢI PHÁP

Tôi tin rằng ở tận cùng vấn đề thì cái bản năng đã giúp kiểu công việc vô ích mãi tồn tại là vì nỗi sợ quần chúng nhân dân. Dân chúng là những động vật bậc thấp đến mức họ sẽ trở nên nguy hiểm nếu có thời gian rảnh rỗi; sẽ an toàn hơn khi giữ họ thật bận rộn để họ khỏi suy nghĩ.

– George Orwell

Down and Out in Paris and London

Tôi muốn kết thúc cuốn sách này với một vài suy nghĩ về ý nghĩa chính trị của tình hình việc làm hiện nay, và gợi ý một lối thoát khả thi. Những gì tôi đã mô tả trong hai chương vừa qua là các lực lượng kinh tế đã thúc đẩy tình trạng công nợ với người nghèo và thất nghiệp vì những người này bị coi là kẻ ăn cắp vặt và ăn bám. Người bị mắc kẹt trong công việc vô nghĩa thấy phẫn nộ với người có làm việc thực sự hoặc làm việc có ích, và những người làm việc thực sự hoặc có ích lại bị trả lương thấp, bị coi thường, không được đánh giá cao, và họ ngày càng thấy phẫn nộ với những người được coi là độc chiếm một số ít loại công việc vừa có lương cao vừa hữu ích cho đời, cần trí tuệ cao hoặc thú vị. Và tất cả mọi người đều cùng thấy ghê tởm tầng lớp chính trị gia, những người được coi (một cách chính xác) là tham nhũng, nhưng đến lượt các chính trị gia lại thấy những hình thức thù hận trống rỗng này vô cùng thuận tiện vì nó đánh lạc hướng người dân khỏi sự chú ý đến tầng lớp chính trị.

Một số hình thức oán giận khá quen thuộc và bạn đọc sẽ nhận ra được ngay lập tức; một số hình thức khác ít được biết đến hơn và cũng hơi khó hiểu. Thật dễ dàng hình dung tại sao những công nhân ở một nhà máy trà tại Pháp có thể phẫn nộ với những nhà quản lý cấp trung vô dụng mới được áp đặt lên họ. Nhưng chuyện lại rất khó hiểu tại sao những người quản lý cấp trung này nên thấy phẫn nộ với công nhân của nhà máy. Có thể đơn giản là vì công nhân có lý do chính đáng để tự hào về công việc của họ? Một lý do quan trọng để biện minh cho việc trả lương thấp cho những người lao động như vậy là lòng đố kị.

Tính ghen tị về đạo đức là một hiện tượng thiếu căn cứ. Tôi không chắc có bất cứ ai đã từng viết một cuốn sách nào về nó hay chưa. Tuy nhiên, tính ghen tị rõ ràng là một yếu tố quan trọng trong vấn đề con người. Khi nói “ghen tị về đạo đức”, tôi đang đề cập đến cảm giác ghen tị và oán giận đối với người khác không phải vì người đó giàu có, hay có năng khiếu, hay may mắn, mà bởi vì hành vi của người bị ghen tị được coi là có tiêu chuẩn đạo đức cao hơn tiêu chuẩn của người ghen tị. Cảm tính cơ bản dường như là “Làm sao người đó dám khẳng định là họ giỏi hơn tôi (nhờ họ hành động theo cách mà tôi thực sự thừa nhận là tốt hơn tôi)?”. Tôi nhớ lần đầu tiên tôi bắt gặp thái độ này là ở trường đại học, khi một người bạn đã nói với tôi rằng anh ta không còn tôn trọng một nhà hoạt động nổi tiếng nữa kể từ khi anh ta biết người này giữ lại một căn hộ đắt tiền ở New York cho vợ cũ và con của mình. “Thật là một kẻ đạo đức giả!”, người bạn của tôi phẫn nộ, “Ông ta có thể đưa số tiền đó cho người nghèo!”. Khi tôi chỉ ra rằng nhà hoạt động đó đã cống hiến gần hết gia sản cho người nghèo, anh bạn của tôi vẫn không thay đổi. Khi tôi chỉ ra cho anh ta thấy rằng bản thân anh ta không nghèo nhưng dường như cũng không đóng góp gì cho việc từ thiện thì anh ta lại thấy mình như bị xúc phạm. (Thực tế là, tôi không chắc rằng từ đó đến nay anh ấy có nói chuyện với tôi một lần nào nữa không). Từ đó đến nay tôi đã gặp kiểu thái độ này nhiều lần. Trong một cộng đồng những người làm điều tốt, bất cứ ai là hình mẫu của các giá trị được cả cộng đồng thừa nhận thì đều bị coi là mối đe dọa. Hành vi tốt vượt trội thường bị coi là một thách thức về đạo đức. Người bị đặt vấn đề ở đây có là người hoàn toàn khiêm nhượng và nhún nhường hay không cũng không quan trọng – thực tế, điều đó thậm chí có thể làm cho chuyện tồi tệ hơn vì sự khiêm tốn có thể bị xem là một thách thức về đạo đức đối với những người thầm cảm thấy họ không đủ khiêm tốn.

Ghen tị về đạo đức kiểu này đầy rẫy trong cộng đồng những người hoạt động xã hội hay tôn giáo. Điều tôi muốn nêu ra ở đây là nó cũng hiện diện một cách tinh tế hơn trong lĩnh vực chính trị xoay quanh vấn đề công việc. Giống như sự tức giận đối với người nhập cư thường liên quan đến lời buộc tội rằng những người mới đến làm việc cả quá nhiều lẫn quá ít, sự phẫn nộ đối với người nghèo tập trung đồng thời vào những người không làm việc – vì họ bị hình dung là lười biếng, và những người làm việc – vì ít nhất công việc của họ cũng không nhảm nhí (trừ khi họ bị lôi kéo vào một hội chợ việc làm nào đó). Ví dụ, tại sao những người bảo thủ ở Hoa Kỳ lại rất thành công trong việc khơi dậy sự phẫn nộ chống lại liên hiệp bệnh viện hoặc công nhân sản xuất xe? Trong cuộc giải cứu năm 2008 của ngành tài chính, trong khi có sự phản đối công khai đối với các khoản tiền thưởng hàng triệu đô-la cho chủ ngân hàng, nhưng không có lệnh trừng phạt thực tế nào được thi hành; thì gói cứu trợ hậu quả của ngành công nghiệp ô-tô đã kéo theo các biện pháp trừng phạt đối với công nhân dây chuyền lắp ráp. Họ bị lên án là đã được nuông chiều vì có hợp đồng công đoàn cho phép họ có chương trình lương hưu và trợ cấp hưu trí, kỳ nghỉ và mức lương 28 đô-la mỗi giờ, và công nhân bị buộc phải hoàn lại những khoản tiền khổng lồ, còn những người thuộc bộ phận tài chính văn phòng của cùng những công ty đó, những người thực sự gây ra vấn đề, lại không bị yêu cầu thực hiện sự hy sinh tương tự (mà họ chỉ ngồi không và không làm gì cả).

Một lý do khiến các công nhân ngành ô-tô ở Mỹ có những chương trình bảo hiểm tương đối hào phóng so với công nhân các ngành khác trước hết là vì họ đóng vai trò thiết yếu trong việc sản xuất ra xe hơi, thứ mà người dân Mỹ thực sự cần, và hơn nữa, được công nhận là quan trọng về mặt văn hóa (xe hơi thực sự là trung tâm ý thức của người Mỹ). Thật khó để thoát khỏi ấn tượng rằng đây chính xác là những gì mà người khác phẫn nộ về các công nhân ngành ô-tô. “Họ có thể làm ra xe hơi! Chẳng phải vậy là quá đủ cho họ rồi sao? Tôi phải ngồi điền vào các biểu mẫu ngu ngốc cả ngày, và những tên khốn đó còn muốn xát thêm muối bằng cách đe dọa đình công để có thêm bảo hiểm nha khoa, hoặc hai tuần nghỉ hè để đưa con cái đến Grand Canyon hoặc Colosseum ư?”

Cùng lúc, ở Mỹ còn có sự thù địch chống lại các giáo viên tiểu học và trung học mà không sao giải thích được. Dĩ nhiên, các giáo viên được định nghĩa là những người đã chọn một công việc có giá trị xã hội cao và có đầu óc với sự hiểu biết đầy đủ rằng nghề giáo viên có lương thấp và môi trường làm việc nhiều căng thẳng. Người ta trở thành giáo viên vì họ muốn tác động tích cực đến cuộc sống của người khác. Tuy nhiên, một lần nữa, đây dường như là điều khiến cho các giáo viên trở thành đối tượng phù hợp trong mắt tất cả những người tố cáo họ là kẻ phá hoại, có quyền, được trả mức lương khá cao so với chủ nghĩa nhân văn thế tục chống Mỹ. Người ta có thể hiểu tại sao các nhà hoạt động của Đảng Cộng hòa nhắm vào công đoàn giáo viên; công đoàn giáo viên là một trong những trụ cột hỗ trợ cho Đảng Dân chủ. Nhưng công đoàn giáo viên bao gồm cả thầy cô giáo và các nhà quản lý ở trường học, mà những người sau mới thực sự chịu trách nhiệm cho hầu hết các chính sách mà Đảng Cộng hòa phản đối. Vậy tại sao người ta không tập trung vào các nhà quản trị thay vì giáo viên? Sẽ dễ dàng hơn nhiều khi nói rằng các nhà quản lý tại trường học là những ký sinh trùng được trả lương quá cao thay vì nói giáo viên là những người hay đòi hỏi và phá hoại. Như Eli Horowitz đã lưu ý trong bài viết No Offense Meant to Individuals Who Work With Bovine Feces:

Đáng chú ý là Đảng Cộng hòa và những người bảo thủ khác thực sự đã phàn nàn về các nhà quản lý ở trường học – nhưng sau đó họ đã dừng lại. Vì bất kỳ lý do gì, những lời phản đối đó (vốn đã ít và kín đáo) đã giảm dần đến mức không còn tồn tại nữa. Cuối cùng, chính các giáo viên hóa ra là mục tiêu chính trị phù hợp hơn mặc dù công việc họ làm có giá trị hơn.

Một lần nữa, tôi nghĩ rằng vấn đề này chỉ có thể giải thích bằng “lòng ghen tị về đạo đức”. Các giáo viên được coi là những người thể hiện bản thân như người hy sinh, có tinh thần vì cộng đồng vì họ muốn trở thành người nhận được cuộc gọi từ học sinh cũ của mình sau hai mươi năm và nói “Cảm ơn, cảm ơn vì tất cả những gì thầy đã làm cho em”. Nếu những người như vậy thành lập công đoàn, đe dọa đình công và yêu cầu điều kiện làm việc tốt hơn, họ sẽ bị coi là đạo đức giả.

***

Bất cứ ai theo đuổi một loại hình công việc hữu ích hoặc cần có đầu óc, đồng thời mong đợi nhận được mức lương xông xênh và nhiều phúc lợi thì họ sẽ trở thành mục tiêu chính đáng của sự oán giận, đây là quy tắc. Nhưng, quy tắc này không áp dụng cho binh lính hoặc bất kỳ ai làm việc trực tiếp cho quân đội – những người lính không bao giờ bị oán giận, họ đứng trên sự phê bình.

Tôi đã từng nhắc đến ngoại lệ này rồi nhưng có thể hữu ích khi nhắc lại luận điểm này lần nữa bởi vì tôi nghĩ rằng chúng ta không thể thực sự hiểu được chủ nghĩa dân túy cánh hữu (right-wing populism) nếu chúng ta không hiểu rõ vấn đề ngoại lệ này. Hãy để tôi lấy trường hợp của nước Mỹ bởi vì tôi quen thuộc với nó nhất (mặc dù tôi đảm bảo lập luận này mở rộng ra thì áp dụng được ở bất cứ đâu, từ Brazil đến Nhật Bản). Đặc biệt đối với những người theo chủ nghĩa dân túy cánh hữu, quân nhân là những người hoàn toàn tốt. Người ta phải “ủng hộ quân đội”; đây là một lệnh tuyệt đối; bất cứ ai làm ngược lại hoặc phá hoại mệnh lệnh này bằng bất cứ cách nào thì người đó đơn giản là kẻ phản bội. Trái ngược lại, những kẻ xấu xa nhất trong xã hội là tầng lớp trí thức. Ví dụ, hầu hết những người bảo thủ ở tầng lớp lao động không được các giám đốc điều hành của công ty trọng dụng, nhưng thường họ cũng không thấy ghét các giám đốc đó. Lòng căm thù của họ thực sự nhắm vào giới “tinh hoa tự do” (giới này lại chia thành nhiều nhóm khác nhau: “giới tinh hoa Hollywood”, “giới tinh hoa báo chí”, “giới tinh hoa của trường đại học”, “các luật sư hào nhoáng” hoặc “cơ sở y tế”). Đối với tôi, dường như có hai điều ẩn sau sự phẫn nộ này: (1) rằng các thành viên của giới tinh hoa này coi những người lao động bình thường như một nhóm những người tiền sử thô lỗ, và (2) rằng những người ưu tú này tạo thành một nhóm cao cấp ngày càng khép kín, và nếu những đứa trẻ của tầng lớp lao động muốn gia nhập vào tầng lớp này thì chúng sẽ gặp khó khăn hơn rất nhiều so với việc gia nhập vào giai cấp các nhà tư bản.

Tôi cho rằng các cử tri bảo thủ có xu hướng phẫn nộ với giới trí thức nhiều hơn là giới người giàu, bởi vì họ có thể hình dung ra một kịch bản trong đó bản thân họ hoặc con cái họ có thể trở nên giàu có, nhưng họ không thể tưởng tượng được một viễn cảnh trong đó họ có thể trở thành thành viên của giới tinh hoa văn hóa. Nếu nghĩ kỹ thì bạn sẽ thấy suy nghĩ này không phải là vô lý. Con gái một tài xế xe tải ở Nebraska có thể không có nhiều cơ hội trở thành triệu phú – nước Mỹ hiện có khả năng dịch chuyển xã hội thấp nhất trong thế giới phát triển – nhưng điều đó là có thể xảy ra. Nhưng hầu như không có cách nào để chính cô con gái đó trở thành một luật sư nhân quyền quốc tế, hay nhà phê bình cho tờ New York Times. Ngay cả khi cô ấy có thể vào học đúng trường thì chắc chắn cô cũng không có cách nào để tiếp tục sống ở New York hoặc San Francisco trong những năm thực tập không lương. Ở đây, quả thực có cả ngàn rào cản vô hình.

Nếu chúng ta quay trở lại sự đối lập của “giá trị” và “các giá trị” trong chương trước, thì chúng ta có thể đặt vấn đề theo cách này: Nếu bạn chỉ muốn kiếm được nhiều tiền, có thể có cách để bạn làm điều đó. Mặt khác, nếu mục đích của bạn là theo đuổi bất kỳ loại giá trị nào khác – cho dù đó là sự thật (báo chí, học thuật), mỹ thuật (thế giới nghệ thuật, xuất bản), công lý (hoạt động, nhân quyền), từ thiện,... – và bạn thực sự muốn được trả một mức lương đủ sống cho việc đó, thì trừ khi bạn sở hữu một khối tài sản nhất định, có các mối quan hệ xã hội và vốn văn hóa, còn không thì đơn giản là bạn không có cách nào cả. Giới “tinh hoa tự do” chính là những người đã đặt một ổ khóa bền vững trước các vị trí công việc mà người ta có thể được trả tiền để làm việc vì bất kỳ lý do nào khác ngoài tiền. Họ được xem là cố gắng, và hầu như là đã thành công trong việc biến mình thành một dạng quý tộc mới của Mỹ – độc quyền nối nghiệp đối với tất cả những công việc mà người ta có thể sống tốt, đồng thời vẫn cảm thấy mình đang phục vụ mục đích cao cả – thứ mà ta có thể nói là đem đến cảm giác cao quý.

Tất nhiên là tại Mỹ, tất cả những điều này rất phức tạp bởi di sản nô lệ và nạn phân hiệt chủng tộc của đất nước. Chủ yếu là tầng lớp lao động da trắng thể hiện sự phẫn nộ giai cấp bằng cách nhắm vào giới trí thức; người Mỹ gốc Phi, người nhập cư và con cái của họ có xu hướng từ chối chính trị “chống trí thức”, và vẫn xem hệ thống giáo dục là phương tiện tiến bộ xã hội nhất cho con cái họ. Điều này khiến người da trắng nghèo dễ dàng thấy mình bị đối xử bất công trong mối quan hệ với những người da trắng theo chủ nghĩa tự do và giàu có.

Nhưng tất cả những điều này có liên quan gì đến việc “ủng hộ quân đội”? Nếu cô con gái người lái xe tải kia hoàn toàn quyết tâm tìm một công việc cho phép cô theo đuổi thứ gì đó không ích kỷ mà cao thượng, đồng thời vẫn trả tiền thuê nhà và được đảm bảo chăm sóc y tế đầy đủ, cô ấy thực sự có những lựa chọn nào? Nếu cô ấy yêu thích lĩnh vực tôn giáo, cô ấy có thể có vài khả năng phát triển việc làm ở nhà thờ địa phương nơi cô ấy sinh sống, nhưng những công việc như vậy rất khó để có được. Chủ yếu là cô ấy có thể gia nhập quân đội.

Một chuyện có thật về tình huống này lần đầu tiên xảy ra với tôi hơn một thập kỷ trước, khi tôi tham dự một bài giảng của Catherine Lutz, một nhà nhân chủng học đang thực hiện một dự án nghiên cứu về quần đảo các căn cứ quân sự của Mỹ ở nước ngoài. Bà đưa ra nhận xét thú vị rằng hầu hết các căn cứ quân sự này đều tổ chức những chương trình tiếp cận cộng đồng, trong đó các binh sĩ mạo hiểm đi ra khỏi căn cứ để sửa chữa phòng học hoặc kiểm tra nha khoa miễn phí tại các thị trấn và làng mạc gần đó. Lý do được nêu ra cho các chương trình này là để cải thiện mối quan hệ với dân địa phương, nhưng chúng hiếm khi mang lại kết quả theo mục đích này. Tuy nhiên, ngay cả sau khi quân đội phát hiện ra điều đó, họ vẫn duy trì chương trình vì chúng có tác động tâm lý rất lớn đến những người lính, nhiều người trong số họ sẽ hưng phấn khi mô tả về chúng, ví dụ như: “Đây là lý do tôi gia nhập quân đội”, “Đây là những gì nghĩa vụ quân sự thực sự hướng tới – không chỉ bảo vệ đất nước của bạn, mà còn giúp đỡ mọi người!”. Họ thấy rằng những người lính được phép thực hiện nhiệm vụ công ích có khả năng đăng ký tái nhập ngũ nhiều gấp hai hoặc ba lần.

Bằng cách đưa ra lời kêu gọi “ủng hộ quân đội” cộng với việc lên án “giới tinh hoa tự do”, phe cánh hữu đang thành công trong việc “dán nhãn” phe cánh tả là những kẻ đạo đức giả. Họ nói rằng: “Những người cấp tiến tuyên bố họ đang cố gắng tạo ra một xã hội mới, trong đó mọi người đều có thể là những người theo chủ nghĩa lý tưởng, sống hạnh phúc trong sự thịnh vượng vật chất, nơi mà dưới chủ nghĩa Cộng sản sẽ không còn sự phân biệt giữa giá trị và các giá trị mà tất cả sẽ hoạt động vì lợi ích chung – nhưng tất cả những gì họ thực sự đã làm là đảm bảo bất kỳ loại công việc nào khiến cho người thực hiện nó thấy thích thú thì loại công việc ấy chỉ dành riêng cho những đứa con hư hỏng của họ”.

Điều này có một số ý nghĩa rất quan trọng đối với bản chất của các xã hội chúng ta đang sống. Nó gợi ý một điều về chủ nghĩa tư bản nói chung, đó là các xã hội đều dựa trên lòng tham. Thậm chí, nó còn gợi ý rằng con người vốn ích kỷ và tham lam, và cũng chính con người đang nỗ lực bình ổn loại hành vi này; dẫu vậy, con người không thực sự tin vào điều đó, và họ bí mật xem quyền cư xử vị tha như một phần thưởng. Chỉ những người có thể chứng minh sự hăng hái của mình với sự ích kỷ mới có đủ quyền được trở nên vị tha, hoặc đó là cách mà trò chơi diễn ra. Nếu bạn chịu đựng, lập mưu và thực hiện âm mưu đó để tích lũy đủ giá trị kinh tế, thì bạn được phép kiếm tiền và biến hàng triệu đô của bạn thành một thứ gì đó độc đáo, đẹp đẽ hoặc cao cấp hơn – nghĩa là biến “giá trị” thành “các giá trị”. Bạn gom một bộ sưu tập tranh của Rembrandt, hoặc những chiếc xe đua cổ điển. Hoặc là bạn lập một quỹ và dành phần đời còn lại cho hoạt động từ thiện. Bỏ qua và đi thẳng đến bước cuối cùng rõ ràng là gian lận.

Chúng ta trở lại vòng đời phục vụ thời trung cổ, với một chút điều chỉnh là bây giờ, phần lớn chúng ta chỉ có thể mong đợi được trải nghiệm thứ giống như “tuổi trưởng thành đầy đủ” khi nghỉ hưu, nếu như ta có tuổi hưu.

Cuộc khủng hoảng robot hóa

Chủ nghĩa Thanh giáo: Nỗi ám ảnh rằng ở đâu đó, có thể có ai đó đang hạnh phúc.

—H. L. Mencken

Nền chính trị của các quốc gia giàu có đang ngày càng được định nghĩa bằng cơn phẫn nộ chồng chéo giữa các tầng lớp trong xã hội. Đây là một tình trạng thảm họa.

Theo tôi, tất cả những điều này làm cho câu hỏi của cánh tả rằng “mỗi ngày chúng ta thức dậy và cùng nhau tạo nên thế giới, nhưng ai trong chúng ta quyết định được rằng họ muốn tạo ra một thế giới như thế này?” trở nên phù hợp hơn bao giờ hết. Trong nhiều khía cạnh, những câu chuyện khoa học viễn tưởng đầu thế kỷ XX đã thành hiện thực. Chúng ta không thể tức thời di dân và thiết lập các thuộc địa trên sao Hỏa, nhưng chúng ta có thể dễ dàng sắp xếp lại các vấn đề theo cách sao cho hầu hết mọi người trên Trái đất đều sống thoải mái và dễ chịu. Về mặt vật chất, điều này không có gì quá khó khăn. Cùng với những tiến bộ trong khoa học vật liệu, con người đang mở ra thời đại của robot mà trong đó, một tỷ lệ rất lớn các công việc buồn tẻ và mệt mỏi nhất có thể bị loại bỏ thực sự. Điều này có nghĩa là công việc sẽ ngày càng ít giống như những gì chúng ta nghĩ về lao động “có tính sản xuất”, đồng thời ngày càng giống hơn với lao động “có tính chăm sóc” – vì xét cho cùng, chăm sóc chủ yếu bao gồm hầu hết các loại công việc mà chúng ta ít muốn để cho máy móc thực hiện nhất.

Đã có rất nhiều câu chuyện kinh dị về sự nguy hiểm của cơ giới hóa. Hầu hết đều đi theo con đường mà Kurt Vonnegut đã vạch ra trong cuốn tiểu thuyết Player Piano (1952) của ông. Khi gần như toàn bộ các hình thức lao động tay chân bị loại bỏ, các nhà phê bình cảnh báo rằng xã hội lúc ấy nhất định sẽ chia thành hai tầng lớp: một tầng lớp ưu tú giàu có, sở hữu và thiết kế các robot; một tầng lớp lao động cũ hốc hác và chán nản, những người dành cả ngày để chơi bida và uống rượu vì không có gì khác để làm. (Tầng lớp trung lưu sẽ phân chia vào hai tầng lớp này). Điều này rõ ràng không chỉ hoàn toàn bỏ qua các khía cạnh chăm sóc của lao động thực tế mà nó còn cho rằng quan hệ tài sản là không thể thay đổi, và con người – ít nhất là không phải các nhà văn khoa học viễn tưởng – hoàn toàn không có trí tưởng tượng đến mức ngay cả khi không bị giới hạn thời gian thì họ cũng không thể nghĩ ra bất cứ điều gì thú vị để làm. Nhiều nhà cách mạng thập niên sáu mươi đã giơ cao khẩu hiệu: “Hãy để máy móc làm tất cả!”. Chính điều này đã dẫn đến một phản ứng dữ dội, với việc giảng giải đạo đức về công việc như một giá trị của chính nó mà chúng ta đã gặp trong Chương 6 – cùng lúc với việc xuất khẩu công việc nhà máy sang các nước nghèo, nơi mà lao động vừa rẻ vừa vẫn do con người thực hiện. Chính trong trào lưu phản ứng của những năm sáu mươi mà vào những năm bảy mươi và tám mươi, làn sóng đầu tiên của chế độ quản lý kiểu phong kiến và sự nhảm nhí cực độ của việc làm bắt đầu tự hình thành.

Làn sóng robot hóa mới nhất đã gây ra những khủng hoảng và hoảng loạn đạo đức tương tự như những năm sáu mươi. Sự khác biệt thực sự duy nhất là việc người ta giả định nhóm 1% dân số sẽ tập trung được nhiều tài sản và quyền lực hơn. Ví dụ như trong tài liệu The Rise of the Robots của Martin Ford, đề cập đến chuyện sau khi khiến cho hầu hết công nhân cổ cồn xanh trở nên dư thừa, Thung lũng Silicon đang nhắm đến các mục tiêu ở lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, giáo dục và các ngành nghề tự do. Ông dự đoán rằng kết quả có thể sẽ là “chế độ phong kiến kỹ thuật”. Đá công nhân ra khỏi công việc họ đang làm, hoặc làm khó họ bằng cách buộc họ phải cạnh tranh với máy móc sẽ gây ra vấn đề nghiêm trọng. Ông lập luận: Hãy nghĩ xem nếu không có tiền lương thì ai sẽ mua các món đồ chơi hào nhoáng và dịch vụ hiệu quả do robot cung cấp? Đây có thể là một bản tóm tắt đơn giản đầy tàn khốc, nhưng nó giúp chỉ ra những gì mà tôi nghĩ là còn thiếu trong các lập luận như thế – rằng những dự đoán về việc robot thay thế con người luôn đi rất xa, và rồi dừng lại. Chẳng hạn, các nhà tương lai học có thể tưởng tượng robot thay thế các biên tập viên thể thao, nhà xã hội học hoặc môi giới bất động sản, nhưng tôi vẫn chưa thấy một ai gợi ý các chức năng cơ bản của nhà tư bản mà máy móc có thể làm thay, vì các chức năng này chủ yếu bao gồm việc tìm ra cách tối ưu để đầu tư nguồn lực nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng hiện tại hoặc tiềm năng trong tương lai.

Tại thời điểm này, bản năng của tôi là chuyển cảm hứng từ Vonnegut sang một nhà văn khoa học viễn tưởng khác, Stanislaw Lem. Ông kể câu chuyện về người du hành vũ trụ Ijon Tichy mô tả chuyến viếng thăm đến một hành tinh, nơi đó có một loài mà tác giả đặt cho cái tên khá không tinh tế là Phools22. Vào thời điểm Ijon Tichy đến thăm, hành tinh Phools đang trải qua một cuộc khủng hoảng sản xuất quá mức đúng theo kiểu cổ điển của những người theo học thuyết Marx. Theo truyền thống, người dân ở Phools đã được chia thành Spiritors (Linh mục), Eminents (Quý tộc) và Drudgelings (Công nhân), như lời giải thích của một người bản địa:

“Qua nhiều thời đại, các nhà phát minh đã chế tạo ra những cỗ máy để đơn giản hóa công việc. Và với những công việc vào thời cổ đại cần đến hàng trăm Drudgelings còng lưng đổ mồ hôi, thì sau nhiều thế kỷ, chúng tôi chỉ cần một vài người đứng cạnh một cỗ máy. Các nhà khoa học của chúng tôi đã cải tiến máy móc và mọi người đều vui mừng vì điều này. Tuy nhiên, những sự kiện xảy ra tiếp theo đã cho thấy sự tàn khốc của việc ăn mừng quá sớm ấy.”

Cuối cùng, các nhà máy trở nên quá hiệu quả, và một ngày nọ, một kỹ sư đã tạo ra những cỗ máy có thể hoạt động mà không cần sự giám sát nào cả:

“Khi Cỗ Máy Mới xuất hiện trong các nhà máy, vô số Drudgelings mất việc và không nhận được tiền lương, họ phải đối mặt với nạn đói.

“Xin lỗi, Phool, nhưng còn những lợi nhuận mà nhà máy tạo ra thì sao?”, tôi hỏi.

“Lợi nhuận”, ông trả lời, “tất nhiên là đã chuyển đến các chủ sở hữu hợp pháp. Bây giờ, như tôi đã nói, mối đe dọa hủy diệt đang treo lơ lửng...”.

“Bạn đang nói gì vậy, Phool quý mến!”, tôi thốt lên. “Tất cả những gì phải làm là biến các nhà máy thành tài sản chung, và Cỗ Máy Mới sẽ trở thành một phước lành cho các bạn!”

Giây phút tôi nói điều này, Phool run rẩy, chớp mười con mắt của anh ta đầy lo lắng và lắng tai để xác định xem có bất kỳ bạn đồng hành nào của anh ta đang lảng vảng gần cầu thang đã nghe lỏm lời nhận xét của tôi không.

“Bằng mười cái mũi của Phool, tôi cầu xin bạn, người lạ ơi, đừng thốt ra những lời dị giáo ghê tởm như vậy, nó tấn công vào nền tảng tự do của chúng tôi! Luật tối cao của chúng tôi, nguyên tắc của Sáng Kiến Công Dân, tuyên bố rằng không ai có thể bị ép buộc, bị ràng buộc hoặc thậm chí dỗ dành để làm những gì anh ta không muốn. Ai là người sẽ dám chiếm đoạt các nhà máy của Eminents, đó là ý muốn của họ để tận hưởng sở hữu chúng ư? Đó sẽ là sự vi phạm tự do khủng khiếp nhất có thể tưởng tượng. Bây giờ thì quay lại những gì tôi đang nói, Cỗ Máy Mới đã tạo ra vô số hàng hóa cực kỳ rẻ và thực phẩm ngon tuyệt, nhưng Drudgelings không mua gì vì họ không có cách nào mà thanh toán…”23

Chẳng bao lâu sau, Drudgelings gục ngã như rạ mặc dù họ hoàn toàn tự do làm những gì họ muốn miễn là họ không can thiệp vào quyền sở hữu của bất kỳ ai khác. Nhiều cuộc tranh luận sôi nổi xảy ra sau đó, và một loạt các biện pháp thất bại. Plenum Moronicum, hội đồng cấp cao của Phools, đã cố gắng thay thế vai trò người tiêu dùng của Drudgelings bằng cách tạo ra robot có thể ăn, sử dụng và thưởng thức tất cả các sản phẩm mà Cỗ Máy Mới đang sản xuất ngày càng nhiều hơn so với bất kỳ sinh vật nào có thể làm được. Nhưng điều này cũng không giải quyết được tận gốc vấn đề. Cuối cùng, khi người dân Phools hiểu rằng một hệ thống mà cả sản xuất và tiêu thụ đều được thực hiện bằng máy móc là khá vô nghĩa, thì họ kết luận giải pháp tốt nhất là cho toàn bộ dân chúng tự trở về trạng thái như cũ, một cách hoàn toàn tự nguyện.

Câu chuyện của Lem, và những người khác tương tự, vẫn cho rằng “công việc” có nghĩa là công việc ở nhà máy, hoặc công việc “có tính sản xuất”, và bỏ qua hầu như mọi công việc thực thụ khác mà tầng lớp lao động làm – ví dụ, các công nhân “phòng vé” ở tàu điện ngầm London không chỉ ở đó để soát vé mà còn là để tìm những đứa trẻ bị lạc và khuyên giải người say rượu. Các robot có thể thực hiện các chức năng như vậy còn rất lâu mới có, mà nếu như có thì đa số chúng ta cũng không muốn các công việc đó lại được thực hiện theo kiểu của robot.

Vì vậy, càng có nhiều quá trình tự động hóa, chúng ta càng thấy rõ giá trị thực tế xuất hiện từ yếu tố “chăm sóc” trong công việc. Tuy nhiên, điều này dẫn đến một vấn đề khác. Giá trị chăm sóc của công việc dường như chính là cái yếu tố không thể định lượng được trong lao động.

Tôi sẽ nói rằng phần lớn sự nhảm nhí của các công việc, và phần lớn lý do cho việc mở rộng lĩnh vực nhảm nhí nói chung, là kết quả trực tiếp từ nỗi mong muốn có thể định lượng thứ vốn không thể định lượng được. Nói một cách thẳng thắn, tự động hóa làm cho một số nhiệm vụ hiệu quả hơn, nhưng đồng thời nó làm cho các nhiệm vụ khác kém hiệu quả hơn. Điều này là do nó đòi hỏi một số lượng lớn sức lao động của con người được dùng để tạo ra các quy trình, nhiệm vụ và kết quả của bất cứ thứ gì có giá trị chăm sóc thành một hình thức nào đó mà máy tính có thể nhận diện. Bây giờ, con người có thể chế tạo robot biết phân loại một đống trái cây thành chín, sống và thối. Đây là một chuyện tốt vì công việc phân loại trái cây rất nhàm chán, đặc biệt là khi phải làm liên tục trong nhiều giờ. Nhưng chúng ta không thể chế tạo một robot biết đọc qua hàng tá danh sách khóa học lịch sử và quyết định khóa học nào là tốt nhất. Sở dĩ chúng ta cần robot phân loại trái cây là vì chúng ta muốn có thêm thời gian để nghĩ ngợi về các khóa học lịch sử, hoặc làm những việc không thể định lượng khác như quyết định màu tóc nhuộm phù hợp chẳng hạn. Tuy nhiên, nếu chúng ta muốn giả định rằng máy tính có thể tự quyết định khóa học lịch sử tốt nhất thì lý do của chúng ta hẳn là vì chúng ta quyết định con người cần phải có các tiêu chuẩn chất lượng thống nhất, có thể định lượng để áp dụng trên khắp các trường đại học. Và trong trường hợp như vậy, cũng không có cách nào để máy tính có thể tự nó thực hiện kiểu nhiệm vụ như thế. Với trái cây, bạn có thể chỉ cần gom tất cả vào một thùng; còn với khóa học lịch sử, nó đòi hỏi con người phải nỗ lực rất lớn để biến vật liệu thành các đơn vị mà máy tính có thể bắt đầu biết phải làm gì với nó.

Để hiểu được ý nghĩa những gì xảy ra, bạn hãy xem xét các sơ đồ minh họa sự khác biệt trong quy trình in bài kiểm tra hoặc tải giáo trình giữa Đại học Queensland, Úc (ở đây, tất cả các giáo trình phải có định dạng thống nhất) với một khoa học thuật truyền thống (xem Hình 8.1 – 8.4).

Hình 8.1. Quy trình đăng tải giáo trình khóa học (được quản lý)

Hình 8.2. Quy trình đăng tải giáo trình khóa học (không có quản lý)

Hình 8.3. Quy trình tạo bài kiểm tra (được quản lý)

Hình 8.4. Quy trình tạo bài kiểm tra (không có quản lý)

Điều quan trọng trong sơ đồ này là mỗi bước công việc không phải do máy tính thực hiện mà đều do con người thực hiện.

***

Ít nhất là từ cuộc Đại suy thoái, chúng ta đã nghe cảnh báo rằng quá trình tự động hóa sắp sửa khiến hàng triệu người mất việc. Thời điểm đó, Keynes đã đặt ra thuật ngữ “thất nghiệp công nghệ” – technological unemployment, và nhiều người cho rằng thất nghiệp hàng loạt trong những năm 1930 chỉ là một dấu hiệu của những điều sắp xảy ra. Nhưng dự báo đó đã hoàn toàn chính xác. Tự động hóa thực sự dẫn đến nạn thất nghiệp hàng loạt, và chúng ta đã chặn đứng tình trạng này bằng cách tạo ra các công việc “giả tạo”. Đó là một sự kết hợp của áp lực chính trị của cánh tả lẫn cánh hữu, một cảm nhận phổ biến rằng chỉ cần đi làm và được trả lương cũng có thể khiến người ta trở nên có đạo đức, và một nỗi sợ hãi của giới thượng lưu vốn đã được George Orwell ghi nhận vào năm 1933 về những gì mà quần chúng lao động có thể làm được nếu họ có quá nhiều thời gian rảnh rỗi. Tất cả đã đảm bảo rằng khi nói đến số liệu chính thức những người thất nghiệp ở các nước giàu thì chỉ số không bao giờ vượt ra khỏi phạm vi 3-8% bất kể thực tế ra sao. Nhưng nếu người ta loại bỏ toàn bộ các công việc vô nghĩa và những loại công việc chỉ tồn tại để hỗ trợ cho các công việc vô nghĩa, thì người ta có thể nói rằng thảm họa thất nghiệp được dự đoán trong những năm 1930 thực sự đã xảy ra. Lúc ấy, sẽ có từ 50% đến 60% dân số bị mất việc làm.

Vậy thì, lý do để lao động hiện nay được phân bổ theo cách mà chúng ta đang thấy không liên quan gì đến kinh tế hay thậm chí là bản chất con người. Nó cuối cùng cũng thuộc về chuyện chính trị. Không có lý do gì chúng ta phải cố gắng định lượng giá trị của lao động chăm sóc. Không có lý do thực sự để chúng ta phải tiếp tục làm như vậy. Chúng ta có thể dừng lại. Nhưng trước khi chúng ta phát động một chiến dịch để khôi phục lại công việc và cách chúng ta coi trọng nó như thế nào, tôi nghĩ chúng ta cần một lần nữa cân nhắc cẩn thận đến các lực lượng chính trị đang tham gia cuộc chơi.

Một cách để suy nghĩ về những gì đã xảy ra là quay trở lại sự đối lập giữa “giá trị” và “các giá trị”, thông qua quan điểm đó thì tất nhiên những gì chúng ta đang thấy là một nỗ lực buộc người này phải tuân theo logic của người khác.

Trước cuộc cách mạng công nghiệp, hầu hết mọi người làm việc tại nhà. Có lẽ chỉ từ năm 1750 hoặc thậm chí 1800, cách người ta nghĩ về xã hội dường như mới bắt đầu giống với cách nghĩ của chúng ta ngày nay, như thể chuyện đó được hình thành từ một tập hợp của các nhà máy và văn phòng (“nơi làm việc”) và một tập hợp nhà cửa, trường học, nhà thờ, công viên, và những thứ tương tự. Nếu công việc là lĩnh vực của “sản xuất”, thì “nhà” là lĩnh vực của “tiêu thụ” đồng thời là lĩnh vực của “các giá trị” (nghĩa là nếu những công việc mà mọi người làm thuộc lĩnh vực này thì họ chủ yếu làm miễn phí). Nhưng bạn cũng có thể nhìn xã hội từ quan điểm ngược lại. Vâng, từ góc độ kinh doanh, thì nhà cửa và trường học chỉ là nơi chúng ta sản xuất, nuôi dưỡng và đào tạo lực lượng lao động có năng lực. Nhưng xét từ góc độ con người, điều đó thật điên rồ khi tạo ra một triệu robot để tiêu thụ thực phẩm mà mọi người không còn đủ khả năng ăn cho hết, hoặc cảnh báo các nước châu Phi (như Ngân hàng Thế giới thỉnh thoảng làm) rằng họ cần phải làm nhiều hơn để kiểm soát HIV vì nếu mọi người đều chết, nó sẽ có tác động xấu đến nền kinh tế. Như Karl Marx đã từng chỉ ra: trước cuộc cách mạng công nghiệp, dường như chưa từng có ai nghĩ đến việc viết một cuốn sách để hỏi rằng điều kiện nào sẽ tạo ra nhiều của cải nhất. Tuy nhiên, nhiều người đã viết sách về những điều kiện để tạo ra những con người tốt nhất – nghĩa là xã hội nên được sắp xếp như thế nào để tạo ra loại con người mà họ muốn có, như bạn bè, người yêu, hàng xóm, họ hàng hoặc đồng bào? Đây là loại câu hỏi khiến Aristotle, Khổng Tử và Ibn Khaldun băn khoăn, và nó thực sự vẫn là câu hỏi quan trọng duy nhất. Cuộc sống của con người là một quá trình mà con người chúng ta tạo ra lẫn nhau; ngay cả những người theo chủ nghĩa cá nhân cực đoan nhất cũng chỉ trở thành cá nhân thông qua sự chăm sóc và hỗ trợ của gia đình và xã hội; và cuối cùng thì “nền kinh tế” chỉ là cách chúng ta cung cấp cho mình những điều khoản vật chất cần thiết để làm điều đó.

Thu nhập Cơ bản có phải là một giải pháp triệt để?

Tôi thường không thích đưa các khuyến nghị chính sách trong sách của mình. Một lý do là vì tôi hiểu quá rõ nếu một tác giả phê phán các thỏa thuận xã hội hiện tại thì các nhà phê bình sẽ đáp trả bằng một câu hỏi “vậy thì anh có đề xuất gì cho chuyện này?”, sau đó họ tìm kiếm trong sách cho đến khi tìm thấy điều gì đó có vẻ như là một đề xuất chính sách, rồi hành động như thể đó là những gì mà cuốn sách muốn nói. Vì vậy, nếu tôi đưa ra gợi ý rằng việc giảm số giờ làm việc hoặc chính sách thu nhập cơ bản nhìn chung có thể có hiệu quả để giải quyết các vấn đề được mô tả ở cuốn sách này, thì họ sẽ coi đây là một cuốn sách về giảm giờ làm việc hoặc về thu nhập cơ bản, và đối xử với nó như thể nó tồn tại dựa vào tính khả thi của chính sách mà tôi đã đề xuất.

Điều đó không đúng. Đây không phải là một cuốn sách về một giải pháp cụ thể, mà nó là cuốn sách bàn luận về một vấn đề – một chuyện mà hầu hết mọi người không nghĩ là nó có tồn tại.

Một lý do khác khiến tôi ngần ngại đưa ra các đề xuất chính sách là tôi nghi ngờ về chính ý tưởng của chính sách. Chính sách ngụ ý sự tồn tại của một nhóm ưu tú – điển hình là các quan chức chính phủ – quyết định một điều gì đó (“chính sách”) mà sau đó họ dùng nó để áp đặt lên những người khác. Có một mẹo nhỏ về tinh thần mà chúng ta thường tự áp lên mình khi thảo luận những vấn đề như vậy. Ví dụ, khi nói rằng “chúng ta sẽ làm gì với vấn đề của X?” thì chúng ta hành xử như thể “chúng ta” ở đây là cả một xã hội, và bằng cách nào đó tự chúng ta hành động. Nhưng thực tế là, trừ khi chúng ta là một phần của nhóm ưu tú chiếm 3-5% dân số có ảnh hưởng thực sự đến các nhà hoạch định chính sách, còn không thì đây hoàn toàn là một trò chơi giả tạo: Chúng ta đang cố làm cho giống với những người đang cai trị mình, trong khi thực tế chúng ta là những người bị cai trị. Đây là những gì xảy ra khi chúng ta nghe một chính trị gia phát biểu trên truyền hình rằng: “Chúng ta sẽ làm gì với những người kém may mắn hơn?”, dù rằng ít nhất một nửa trong số chúng ta gần như chắc chắn có thể nằm trong cái nhóm người kém may mắn đó.

Bản thân tôi thấy những trò chơi như vậy đặc biệt nguy hiểm vì tôi không thích có “những người ưu tú lập chính sách” chút nào. Cá nhân tôi là một người vô chính phủ, tôi thích giải pháp cho các vấn đề trước mắt mà không mang lại nhiều quyền lực hơn cho các chính phủ hoặc tập đoàn, mà thay vào đó, giải pháp sẽ cung cấp cho mọi người phương tiện để quản lý công việc của họ.

Khi đối mặt với một vấn đề xã hội, tôi không bị thôi thúc phải hình dung là mình chịu trách nhiệm và phải suy nghĩ về những giải pháp để áp dụng sau này, mà tôi bị thôi thúc phải tìm kiếm một phong trào nào đó đã có sẵn, đã cố gắng giải quyết vấn đề và tự tạo các giải pháp. Vấn đề của việc làm nhảm nhí lại đưa ra những thách thức bất thường trong việc này. Chúng ta không có phong trào nào chống lại công việc nhảm nhí. Điều này một phần là do đa số mọi người không đồng ý thừa nhận sự phổ biến của các công việc nhảm nhí là một vấn nạn, nhưng cũng bởi vì ngay cả khi họ có làm vậy, thì cũng rất khó để tổ chức một phong trào xung quanh vấn đề này. Ai có thể đề xuất một phong trào như thế chứ? Người ta có thể tưởng tượng các công đoàn hoặc các tổ chức công nhân khác sẽ đưa ra sáng kiến chống lại sự nhảm nhí tại nơi làm việc của họ, hoặc thậm chí là chống lại sự nhảm nhí trong các ngành nghề cụ thể nào đó. Nhưng có lẽ, người ta sẽ lại kêu gọi loại bỏ những công việc thực thụ thay vì sa thải những người ở các vị trí không cần thiết.

Vẫn không rõ ràng là liệu một chiến dịch rộng lớn hơn chống lại các công việc nhảm nhí và vô nghĩa sẽ trông như thế nào. Người ta có thể cố gắng rút ngắn thời gian làm việc và hy vọng mọi thứ sẽ tự giải quyết. Nhưng có vẻ họ cũng sẽ không làm như thế. Ngay cả khi chiến dịch làm việc mười lăm giờ một tuần thành công thì cũng khó có thể khiến các công việc và ngành nghề thừa thãi bị loại bỏ một cách tự nhiên. Đồng thời, nếu người ta kêu gọi chính phủ thành lập một bộ máy hành chính mới để đánh giá tính hữu ích của các loại công việc thì chắc chắn bộ máy đó sẽ tự biến thành một cỗ máy chế tạo sự nhảm nhí. Chương trình bảo đảm việc làm cũng cho ra hệ quả tương tự.

Tôi chỉ có thể xác định một giải pháp hiện đang được các phong trào xã hội quảng bá, sẽ làm giảm thay vì làm tăng quy mô và sự xâm nhập của chính phủ. Giải pháp đó là Thu nhập Cơ bản chung (Universal Basic Income).

Hãy để tôi kết thúc với một lời chứng thực cuối cùng từ một người bạn của tôi. Mục đích chính trị của cô ấy là làm cho công việc nhảm nhí của cô trở nên không cần thiết. Leslie là một Cố vấn Lợi ích tại Anh, nghĩa là cô làm việc cho một tổ chức phi chính phủ với mục đích hướng dẫn công dân vượt qua các chướng ngại phức tạp mà các chính phủ đã liên tiếp tạo ra để gây khó khăn nhất có thể cho những người thất nghiệp, khiến họ khó lòng nhận được khoản tiền mà chính phủ tuyên bố là dành để hỗ trợ cho họ. Đây là lời chứng thực mà cô ấy đã gửi:

Leslie: Lẽ ra công việc của tôi không cần thiết, nhưng đó là vì đã có hàng đống việc nhảm nhí khác đã được phát minh ra trước đó, để giữ cho những người cần tiền không thể có được tiền. Cứ như thể việc nhận phúc lợi chưa đủ tính sỉ nhục với người nhận nên chính phủ còn muốn nó phải trở nên phức tạp đến khó tin. Ngay cả khi có ai được hưởng một cái gì đó thì quá trình đăng ký phức tạp đến mức người ta cần phải có sự giúp đỡ để hiểu các câu hỏi và quyền cá nhân của họ.

Leslie đã phải đối phó trong nhiều năm với sự điên rồ diễn ra khi người ta cố gắng giảm sự chăm sóc của con người xuống một định dạng có thể nhận diện bằng máy tính. Kết quả là cô ấy giống như Tania trong Chương 2, người đã phải dành hàng giờ để viết lại các hồ sơ xin việc cho ứng viên và huấn luyện họ về những từ khóa được sử dụng để “qua mặt máy tính”.

Leslie: Hiện tại trên phiếu đăng ký buộc phải có một số từ nhất định, tôi gọi đó là giáo lý, bởi nếu không có những từ đó thì yêu cầu nhận trợ cấp của họ có thể thất bại, nhưng chỉ có những ai đã được đào tạo và được tiếp cận với cẩm nang hướng dẫn như tôi mới biết những từ khóa đó. Và thậm chí sau đó, đặc biệt là đối với các khiếu nại về khuyết tật, người yêu cầu bồi thường thường phải đấu tranh với một tòa án để quyền lợi của họ được công nhận. Tôi có một chút háo hức mỗi khi chúng tôi giành chiến thắng cho ai đó. Nhưng điều này không thể bù đắp cho cơn tức giận của tôi đối với sự lãng phí khổng lồ thời gian của mọi người cho việc này. Sự lãng phí đối với nguyên đơn, đối với tôi, đối với các cơ quan khác nhau tại Sở Lao động và Lương hưu, với người giải quyết yêu cầu bồi thường, với các thẩm phán tại các tòa án, với các chuyên gia đã kêu gọi sự ủng hộ của hai bên. Không lẽ không có một thứ gì đó mang tính xây dựng hơn mà tất cả chúng ta có thể làm sao, như là lắp đặt các tấm pin mặt trời hay làm vườn chẳng hạn? Tôi cũng thường tự hỏi về người tạo nên các quy tắc này. Họ đã được trả bao nhiêu tiền để làm vậy? Mất bao lâu? Có bao nhiêu người đã tham gia? Theo suy nghĩ của họ, tôi đoán họ đã đảm bảo rằng người không đủ điều kiện thì không nhận được tiền... Và sau đó tôi nghĩ đến việc người ngoài hành tinh ghé thăm Trái đất đang cười nhạo chúng ta. Con người phát minh ra các quy tắc để ngăn chặn người khác tiếp cận với con người và tiền bạc – mà xét về bản chất thì mấy thứ này không phải khan hiếm gì.

Leslie kể với tôi về các nghiên cứu chứng minh rằng bất kỳ hệ thống phương tiện thử nghiệm nào đều cần có ít nhất 20% những người đủ điều kiện nhận trợ cấp hợp pháp phải bỏ cuộc và không đăng ký. Tỷ lệ này gần như chắc chắn nhiều hơn số lượng “người gian lận” có thể bị các quy tắc phát hiện ra. Trên thực tế, ngay cả khi đếm những người thực sự có nhầm lẫn, thì con số này vẫn chỉ có 1,6%. Con số 20% sẽ được áp dụng ngay cả khi không có ai thực sự bị từ chối lợi ích. Và tất nhiên, các quy tắc được thiết kế sao cho càng từ chối được nhiều người nộp đơn càng tốt. Giờ thì với các biện pháp trừng phạt và áp dụng nghiêm ngặt các quy tắc, chúng ta đã đạt mức 60% những người đủ điều kiện nhận trợ cấp thất nghiệp ở Anh đã không thể nhận được trợ cấp. Nói cách khác, tất cả mọi người mà cô mô tả, từ các quan chức viết ra các quy tắc, Sở Lao động và Lương hưu, các tòa án, đến những người ủng hộ và nhân viên làm việc cho các quỹ tài trợ chuyên xử lý các đơn xin của các tổ chức phi chính phủ,... tất cả họ đều là một phần của một bộ máy rộng lớn duy nhất tồn tại để duy trì ảo tưởng rằng con người về bản chất là lười biếng và không thực sự muốn làm việc – và do đó, ngay cả khi xã hội có trách nhiệm đảm bảo họ không đói đến chết theo nghĩa đen, thì cũng phải làm cho quá trình cung cấp các phương tiện sống càng khó hiểu, càng tốn thời gian và càng nhục nhã càng tốt.

Hàng nghìn người được duy trì mức lương thoải mái, lại được làm việc trong các văn phòng máy lạnh chỉ để đảm bảo rằng người nghèo tiếp tục cảm thấy tồi tệ về bản thân.

Leslie hiểu điều này hơn bất cứ ai vì cô ấy đã làm việc cho cả hai phía. Cô đã nhận phúc lợi trong nhiều năm vì làm mẹ đơn thân; cô biết chính xác mọi thứ trông như thế nào ở phần nhận đơn. Giải pháp của cô ấy? Loại bỏ hoàn toàn bộ máy. Cô tham gia vào phong trào Thu nhập Cơ bản chung, kêu gọi thay thế tất cả các phúc lợi xã hội bằng một khoản phí cố định, bằng nhau, được trả cho tất cả mọi công dân trong nước.

Candi, một nhà hoạt động cho phong trào Thu nhập Cơ bản chung cùng với Leslie – người cũng đã làm một công việc vô dụng trong hệ thống mà cô ấy không muốn tiết lộ chi tiết. Candi nói với tôi rằng ban đầu cô ấy quan tâm đến những vấn đề như vậy khi mới chuyển đến London vào những năm 1980 và trở thành một phần của Phong trào Tiền lương Quốc tế cho việc Nội trợ (International Wages for Housework Movement):

Candi: Tôi đã tham gia Phong trào Tiền lương Quốc tế cho việc Nội trợ vì tôi cảm thấy mẹ tôi cần nó. Bà ấy bị mắc kẹt trong một cuộc hôn nhân tồi tệ, và bà ấy lẽ ra đã rời xa bố tôi sớm hơn rất nhiều nếu có tiền riêng. Tiền là một thứ gì đó thực sự quan trọng đối với bất kỳ ai trong một mối quan hệ lạm dụng hoặc thậm chí chỉ là nhàm chán, để họ có thể thoát khỏi nó mà không bị ảnh hưởng về tài chính. Chúng tôi xé những trang từ Tin mừng Thánh Paul, đoạn ông ấy nói về những người phụ nữ khủng khiếp như thế nào và gom thành một đống giấy. Và bởi vì tôi là thành viên trẻ nhất trong nhóm, họ bảo tôi đốt đống giấy đó. Tôi nhớ lúc đầu tôi không muốn làm điều đó vì tôi đã được dạy là không đùa với lửa.

David: Nhưng cuối cùng cô có đốt nó không?

Candi: Tôi đã đốt. Mẹ tôi cho phép làm thế. Không lâu sau đó, bà ấy có một công việc được trả đủ tiền để sống và rời bỏ bố tôi ngay lập tức. Đó là loại bằng chứng mà tôi cần.

Ở London, Candi thấy mình bị cuốn hút vào Tiền lương cho việc Nội Trợ bởi vì cô thấy nó như một sự thay thế cho các cuộc tranh luận khô khan giữa những người tự do với những người ly khai. Đây ít nhất là một phân tích kinh tế về các vấn đề thực tế mà phụ nữ phải đối mặt.

Một số người lúc đó đang bắt đầu nói về “một cỗ máy làm việc toàn cầu”, một hệ thống lao động tiền lương cấp hành tinh được thiết kế để thúc đẩy mọi người ngày càng nỗ lực hơn, nhưng các nhà phê bình nữ quyền đã bắt đầu chỉ ra là chính hệ thống đó đã phân loại những gì được coi là lao động “thực sự” – loại có thể được quy xuống thành “thời gian” và do đó có thể được mua và bán – và những gì không phải là lao động “thực sự”. Hầu hết lao động phụ nữ được xếp vào loại thứ hai, mặc dù thực tế là nếu không có lao động phụ nữ thì cỗ máy đó sẽ phải ngừng hoạt động ngay lập tức.

Tiền lương cho việc Nội trợ về cơ bản là một nỗ lực để vạch mặt trò lừa gạt của chủ nghĩa tư bản và nói rằng: “Hầu hết các công việc, ngay cả công việc nhà máy, được thực hiện vì nhiều động cơ khác nhau; nhưng nếu bạn muốn khẳng định rằng công việc chỉ có giá trị như một mặt hàng có thể bán được, thì ít nhất bạn có thể nhất quán về vấn đề này!” Nếu phụ nữ được trả lương theo cách tương tự như đàn ông thì một phần lớn tài sản của thế giới sẽ ngay lập tức phải được trao lại cho phụ nữ; và tất nhiên, có tài sản là có sức mạnh. Những gì tiếp theo là từ một cuộc trò chuyện của tôi với cả Leslie và Candi:

David: Vậy bên trong Tiền lương cho việc Nội trợ, có nhiều cuộc tranh luận về ý nghĩa của chính sách không? Cô biết đấy, về các cơ chế chi trả tiền lương?

Candi: Ồ, không, nó còn hơn cả một góc nhìn. Nó là một cách để phơi bày cho mọi người biết về loại công việc không được trả tiền đang được thực hiện mà chưa ai đề cập đến. Và nó đã thực sự hiệu quả. Rất ít người nói về những công việc mà phụ nữ đã làm miễn phí trong những năm 1960, nhưng nó đã trở thành một vấn đề khi Tiền lương cho việc Nội trợ được thành lập vào những năm 1970. Và bây giờ, đó là tiêu chuẩn để cân nhắc khi giải quyết các vụ dàn xếp ly hôn.

David: Vậy yêu cầu này về cơ bản là một sự khiêu khích?

Candi: Đó là một sự khiêu khích chứ không chỉ là một kế hoạch, “đó là cách chúng ta thực sự có thể thực hiện nó” – hay một cái gì đó tương tự. Chúng tôi đã nói về việc tiền sẽ đến từ đâu. Lúc đầu, chúng tôi nghĩ rút tiền từ tư bản. Sau đó, vào những năm tám mươi, cuốn sách Black Women and the Peace Movement của Wilmette Brown ra đời, nói về cách chiến tranh và nền kinh tế chiến tranh ảnh hưởng đến phụ nữ và đặc biệt là phụ nữ da đen hơn bất kỳ ai khác, vì vậy chúng tôi bắt đầu sử dụng khẩu hiệu “trả cho phụ nữ, không phải cho lính”. Thực sự anh có thể đã nghe nói “tiền lương chăm sóc, không phải giết chóc”24.

Vì vậy, chúng tôi chắc chắn nhắm được mục tiêu tiền ở đâu. Nhưng chúng tôi chưa bao giờ đi sâu được vào cơ chế.

David: Chờ đã, “tiền lương chăm sóc, không phải giết chóc” là khẩu hiệu của ai?

Leslie: Phong trào Đình công của Phụ nữ Toàn cầu (Global Women’s strike), người kế vị đương đại của Tiền lương cho việc Nội trợ. Khi chúng tôi đưa ra bản kiến nghị UBI cho châu Âu [Thu nhập Cơ bản chung của châu Âu] đầu tiên vào năm 2013, thì khẩu hiệu đó là phản hồi của Phong trào Đình công của Phụ nữ Toàn cầu: Họ yêu cầu trả tiền cho những người chăm sóc. Đối với tôi, điều này không thành vấn đề nếu họ sẵn sàng thừa nhận rằng mọi người đều là người chăm sóc dưới hình thức này hay hình thức khác. Nếu bạn không chăm sóc người khác thì ít nhất bạn sẽ tự chăm sóc bản thân mình, và điều này làm mất thời gian và sức lực, hệ thống sẽ ngày càng ít sẵn sàng chi trả cho mọi người. Nhưng sau đó tôi nhận ra rằng điều đó sẽ lại quay trở lại với UBI: Nếu mọi người đều là người chăm sóc, thì bạn cũng có thể chỉ cần tài trợ cho tất cả mọi người, và để họ tự quyết định ai là người mà họ muốn chăm sóc.

Candi đã đi từ Tiền lương cho việc Nội trợ đến Thu nhập Cơ bản chung vì những lý do tương tự. Cô và một số nhà hoạt động xã hội bắt đầu tự hỏi: Nếu chúng ta muốn đẩy mạnh cho một chương trình thực tế và hiệu quả, thì đó sẽ là gì?

Candi: Phản ứng mà chúng tôi thường gặp khi phát tờ rơi cho Tiền lương cho việc Nội trợ là phụ nữ sẽ nói: “Tuyệt vời! Tôi có thể đăng ký ở đâu?”, hoặc: “Sao bạn dám đòi tiền cho một việc tôi làm vì tình yêu thương?”. Cách phản ứng thứ hai không có gì là điên rồ, bởi chúng ta có thể hiểu được chuyện những người phụ nữ này chống lại việc chuyển hóa mọi hoạt động của con người thành hàng hóa theo cách mà việc trả lương cho việc nội trợ có thể ngụ ý đến.

Candi đặc biệt xúc động trước những lập luận của nhà tư tưởng xã hội chủ nghĩa Pháp André Gorz. Khi tôi đưa ra phân tích của riêng mình về bản chất của việc chăm sóc vốn không thể định lượng được, cô ấy nói với tôi rằng Gorz đã dự đoán điều đó từ bốn mươi năm trước:

Candi: Nhận xét của Gorz về tiền lương cho việc nội trợ là nếu bạn cứ nhấn mạnh tầm quan trọng của việc chăm sóc đối với nền kinh tế toàn cầu theo sát nghĩa về mặt tài chính, thì có nguy cơ là bạn sẽ đặt giá trị đồng tiền lên các hình thức chăm sóc khác nhau và nói đó là “giá trị” thực sự của nó. Nhưng trong trường hợp như vậy, bạn đang có nguy cơ ngày càng có nhiều việc chăm sóc trở thành việc kiếm tiền, có thể định lượng, và do đó chúng sẽ bị loại bỏ, bởi vì kiếm tiền từ các hoạt động đó thường làm giảm giá trị chất lượng của dịch vụ chăm sóc, đặc biệt là khi nó được thực hiện dưới dạng một danh sách các nhiệm vụ cụ thể được làm trong khoảng thời gian giới hạn. Ông ấy đã nói điều đó vào những năm bảy mươi, và bây giờ, tất nhiên, đó là chính xác những gì đã xảy ra. Ngay cả trong nghề giảng dạy hay điều dưỡng.

Leslie: Chưa tính đến những gì tôi làm.

David: Vâng, tôi biết. “Nhảm nhí hóa” là cụm từ của tôi.

Candi: Vâng, nó đã bị nhảm nhí hóa hoàn toàn.

Leslie: Liên Hiệp Quốc và tất cả các thể loại tổ chức trên thế giới đều can dự vào chủ nghĩa nữ quyền như một cách để giải quyết cuộc khủng hoảng tư bản của những năm bảy mươi. Họ nói hãy đưa phụ nữ và người chăm sóc vào lực lượng lao động được trả lương (hầu hết phụ nữ thuộc tầng lớp lao động đã đang làm “ngày hai việc”), không phải để trao quyền cho phụ nữ mà là một cách kỷ luật đàn ông. Bởi vì khi bạn thấy tiền lương được cân bằng giữa nam và nữ là do trên thực tế đàn ông thuộc tầng lớp lao động đã bị giảm lương, chứ không nhất thiết vì phụ nữ được nhận nhiều hơn. Họ luôn luôn cố gắng đặt chúng ta chống lại nhau. Và đó là những gì tất cả các cơ chế này dùng để đánh giá giá trị tương đối của các loại công việc khác nhau nhất thiết phải có.

Đó là lý do tại sao đối với tôi, nghiên cứu thí điểm về Thu nhập Cơ bản chung được thực hiện ở Ấn Độ rất thú vị.

Có nhiều điều thú vị về nó, ví dụ bạo lực gia đình đã giảm xuống. (Điều này có ý nghĩa bởi vì tôi cho rằng khoảng 80% các tranh chấp trong gia đình dẫn đến bạo lực đều liên quan đến tiền bạc). Nhưng điều chính là, nó bắt đầu làm cho sự bất bình đẳng xã hội tan biến. Bạn bắt đầu bằng cách phát cho mọi người cùng một số tiền bằng nhau. Bản thân điều đó rất quan trọng, bởi vì tiền có một sức mạnh tượng trưng nhất định: Đó là thứ gì đó giống nhau đối với mọi người, và khi bạn cho mọi người – đàn ông, phụ nữ, già, trẻ, đẳng cấp cao, đẳng cấp thấp – chính xác cùng một khoản tiền như nhau thì những khác biệt đó bắt đầu tan biến. Điều này đã xảy ra ở thử nghiệm tại Ấn Độ, nơi họ quan sát thấy các cô gái được cho ăn cùng một lượng thức ăn như con trai chứ không giống như trước đây, người khuyết tật được chấp nhận nhiều hơn trong các hoạt động của làng, và phụ nữ trẻ đã bỏ quy ước xã hội nói rằng họ được cho là nhút nhát và khiêm tốn và bắt đầu đến nơi công cộng như con trai... Các cô gái bắt đầu tham gia vào cuộc sống công cộng.

Và khoản tiền Thu nhập Cơ bản chung cũng phải đủ sống, và hoàn toàn không yêu cầu người nhận phải đạt được bất kỳ tiêu chuẩn gì. Mọi người phải có được nó, ngay cả những người không cần nó. Nó có giá trị, chỉ cần thiết lập một nguyên tắc rằng khi nói đến những gì cần thiết để sống, mọi người đều xứng đáng với điều đó, như nhau, mà không cần tiêu chuẩn. Điều này làm cho Thu nhập Cơ bản chung trở thành một quyền của con người, chứ không phải là từ thiện hay tạm bợ vì họ thiếu các hình thức thu nhập khác. Sau đó, nếu có thêm nhu cầu, giả sử ai đó bị khuyết tật, thì bạn cũng giải quyết chuyện đó luôn, nhưng chỉ sau khi bạn thiết lập quyền đảm bảo vật chất cho tất cả mọi người.

Đây là một trong những yếu tố khiến nhiều người giật mình và bối rối khi lần đầu tiên nghe về khái niệm Thu Nhập Cơ Bản. Chắc chắn bạn cũng sẽ tặng 25.000 đô-la một năm cho một tỷ phú chứ? Câu trả lời là có. Mọi người nghĩa là mọi người. Nếu một người muốn bắt đầu kiểm tra tính hợp lệ để được hỗ trợ, ngay cả đối với các tỷ phú, thì người ta sẽ phải thiết lập một bộ máy hành chính quan liêu để bắt đầu kiểm tra tính hợp lệ một lần nữa, và nếu lịch sử dạy chúng ta biết bất cứ điều gì, thì đó là những thứ hành chính quan liêu như vậy luôn có xu hướng bành trướng.

Những gì mà Thu nhập Cơ bản đề xuất là tách sinh kế khỏi công việc. Hiệu quả ngay lập tức của nó sẽ là làm giảm mạnh số lượng công việc quan liêu ở bất kỳ quốc gia nào thực hiện nó. Như trường hợp của Leslie cho thấy trong hầu hết các xã hội giàu có đều tồn tại một bộ máy chính phủ khổng lồ, và cái bóng của các tổ chức phi chính phủ bao quanh nó, chỉ để làm cho người nghèo cảm thấy thêm tồi tệ về bản thân họ. Nó là một trò chơi đạo đức cực kỳ tốn kém được dùng để hỗ trợ một cỗ máy làm việc toàn cầu vô dụng.

Candi: Hãy để tôi đưa ra một ví dụ. Gần đây tôi đã nghĩ có lẽ tôi muốn nhận nuôi một đứa trẻ. Vì vậy, tôi chọn một chương trình nhận con nuôi. Nó rất hào phóng. Bạn được nhận một căn hộ tại địa phương, và trên hết bạn được cấp 250 bảng mỗi tuần để chăm sóc đứa trẻ. Nhưng rồi tôi nhận ra: Họ nói về 13.000 bảng một năm và một căn hộ, cho một đứa trẻ, trong khi hầu hết các trường hợp thì bố mẹ ruột của đứa trẻ đã không có được số tiền và căn nhà như thế này. Chỉ cần chúng ta cung cấp cho cha mẹ đứa trẻ những thứ tương tự thì họ đã không khó khăn đến mức phải bỏ rơi con mình.

Nếu chương trình Thu nhập Cơ bản được áp dụng, một bộ phận lớn của chính phủ – mà chính xác là những bộ phận phiền phức và đáng ghét nhất vì họ tham gia sâu nhất vào việc giám sát đạo đức của công dân bình thường – sẽ ngay lập tức trở nên thừa thãi và có thể bị đóng cửa ngay lập tức. Đúng thế, hàng triệu quan chức nhỏ và cố vấn lợi ích như Leslie sẽ bị loại khỏi công việc hiện tại, nhưng họ cũng nhận được thu nhập cơ bản. Có thể một số người trong số họ sẽ nghĩ ra một công việc thực sự quan trọng nào đó để làm, như lắp đặt các tấm pin mặt trời (theo gợi ý của Leslie), hoặc khám phá ra phương pháp chữa ung thư. Và cũng không thành vấn đề nếu họ thành lập các ban nhạc, phục chế đồ cổ, khám phá hang động, dịch chữ tượng hình của người Maya hoặc cố gắng lập kỷ lục thế giới về quan hệ tình dục ở độ tuổi cao niên. Hãy để họ làm những gì họ thích! Cho dù họ có làm gì thì họ gần như chắc chắn sẽ hạnh phúc hơn bây giờ, khi họ phải áp dụng các biện pháp trừng phạt đối với người thất nghiệp vì đến muộn trong các hội thảo viết hồ sơ xin việc hoặc kiểm tra xem người vô gia cư có sở hữu ba hình thức thẻ căn cước hay không. Mọi người đều sẽ có lợi nhờ niềm hạnh phúc mới được tìm thấy của họ.

Ngay cả một chương trình Thu nhập Cơ bản khiêm tốn nhất cũng có thể trở thành bước đệm cho sự chuyến đổi sâu sắc nhất của tất cả: Tách rời sinh kế hoàn toàn khỏi công việc. Bằng cách mang lại một mức sống hợp lý cho tất cả mọi người, Thu nhập Cơ bản đầy đủ sẽ loại bỏ sự bắt buộc phải làm việc, và sau đó để cho mỗi cá nhân quyết định xem họ có muốn theo đuổi sự giàu có hơn hay không bằng cách làm một công việc được trả tiền, hoặc bán một cái gì đó, hoặc liệu họ có muốn làm một cái gì đó khác hay không. Nối theo đó, nó có thể mở đường để phát triển các cách phân phối hàng hóa hoàn toàn tốt hơn. Rõ ràng, tất cả những điều này phụ thuộc vào giả định rằng con người không cần phải bị bắt buộc phải làm việc, hoặc ít nhất họ được làm điều gì đó mà họ cảm thấy có ích hoặc có lợi cho người khác. Như chúng ta đã thấy, đây là một giả định hợp lý. Hầu hết mọi người không muốn dành cả ngày ngồi xem tivi, và một số ít người thực sự có xu hướng là ký sinh trùng hoàn toàn sẽ không phải là gánh nặng đáng kể cho xã hội. Những người nghiện công việc, những người khăng khăng đòi làm nhiều hơn cần thiết sẽ bù đắp nhiều hơn cho những người thường xuyên chậm chạp.

Cuối cùng, khái niệm về hỗ trợ chung vô điều kiện có liên quan trực tiếp đến hai vấn đề đã được đưa ra nhiều lần trong suốt cuốn sách này. Đầu tiên là động lực khổ dâm-bạo dâm của sự sắp xếp công việc theo phân cấp – một động lực có xu hướng bị làm trầm trọng thêm khi mọi người đều biết công việc là vô nghĩa. Trong Chương 4, tôi đã trích dẫn khái niệm khổ dâm-bạo dâm của Lynn Chancer trong cuộc sống hằng ngày – và đặc biệt là không giống như màn BDSM thực tế, nơi luôn có một từ an toàn – khi những người “bình thường” rơi vào tình trạng tương tự, họ không bao giờ dễ dàng có được lối thoát như vậy.

Cái nhìn sâu sắc này đối với tôi rất quan trọng và thậm chí có thể trở thành nền tảng cho một lý thuyết giải phóng xã hội. Tôi muốn nghĩ rằng Michel Foucault, nhà triết học xã hội Pháp, đã đi theo hướng này trước khi ông qua đời vào năm 1984. Foucault, theo những người biết ông, đã trải qua một sự chuyển đổi cá nhân đáng chú ý khi khám phá ra BDSM. Ông đã chuyển từ một người khó chịu và cáu kỉnh thành một người bất ngờ ấm áp, cởi mở và thân thiện – nhưng những ý tưởng lý thuyết của ông ta cũng bước vào thời kỳ biến đổi mà ông đã không bao giờ có thể khiến chúng đơm hoa kết quả. Dĩ nhiên, Foucault nổi tiếng chủ yếu với tư cách là một nhà lý luận về quyền lực, thứ mà ông thấy đã chi phối tất cả các mối quan hệ của con người, thậm chí là tính chất cơ bản của xã hội loài người, vì ông từng định nghĩa quyền lực đơn giản chỉ là vấn đề của “hành động trước các hành động khác của người khác” Điều này luôn tạo ra một nghịch lý kỳ dị bởi vì trong khi ông ta gợi ý rằng mình là một kẻ chống đối quyền lực, thì ông lại định nghĩa quyền lực theo cách mà cuộc sống xã hội sẽ không thể tồn tại nếu không có quyền lực. Vào cuối sự nghiệp của mình, ông ta dường như đã nhắm đến việc giải quyết tình trạng khó xử này bằng cách đưa ra sự phân biệt giữa cái mà ông gọi là quyền lực và sự thống trị. Với quyền lực, ông nói rằng nó chỉ là vấn đề của “các trò chơi chiến lược”. Mọi người đều chơi các trò chơi quyền lực mọi lúc, chúng ta khó có thể giải quyết được gì, nhưng cũng không có gì phản đối về việc chúng ta làm như vậy. Vì vậy, trong cuộc phỏng vấn cuối cùng của mình, Foucault đã nói:

Quyền lực không phải là một điều ác. Quyền lực là trò chơi chiến lược. Chúng ta biết rất rõ rằng quyền lực không phải là một tội ác. Lấy ví dụ, mối quan hệ tình dục hoặc mối quan hệ tình yêu. Thực thi quyền lực đối với người khác, trong một loại trò chơi chiến lược mở, nơi mọi thứ có thể đảo ngược, đó không phải là xấu xa. Đó là một phần của tình yêu, đam mê, của khoái cảm tình dục...

Dường như với tôi, chúng ta phải phân biệt các mối quan hệ quyền lực là trò chơi chiến lược giữa các quyền tự do – trò chơi chiến lược xuất phát từ việc một số người cố gắng xác định hành vi của người khác – và trạng thái thống trị, cái mà chúng ta thường gọi là “quyền lực”25.

Foucault không phân biệt rõ ràng cái này với cái khác, ngoài việc nói rằng trong sự thống trị, mọi thứ không cởi mở và không thể đảo ngược, nếu không thì mối quan hệ quyền lực sẽ trở nên cứng nhắc và bị “tắc”. Ông đưa ra ví dụ về sự thao túng lẫn nhau giữa giáo viên và học sinh (quyền lực – tốt), so với sự chuyên chế của nhà giáo độc tài (thống trị – xấu). Tôi nghĩ Foucault đang luẩn quẩn quanh một cái gì đó ở đây, và ông không bao giờ hoàn toàn đến được miền đất hứa: Một lý thuyết về từ khóa an toàn của tự do xã hội. Bởi vì đây sẽ là giải pháp rõ ràng. Câu hỏi thực sự là: Đối với cho một quan chức quá quắt hay một cố vấn học tập đáng ghét, thì điều gì sẽ tương đương với từ khóa “Cam” – để kẻ đồng vai nô lệ tình dục nói với ông chủ của mình trong trò chơi BDSM, nhằm dừng lại trò này khi nó đi quá giới hạn thích thú của họ? Làm thế nào để chúng ta chỉ tạo ra các trò chơi mà chúng ta thực sự cảm thấy thích chơi, bởi vì chúng ta có thể ngừng chơi bất cứ lúc nào? Trong lĩnh vực kinh tế, ít nhất câu trả lời cũng rõ ràng. Tất cả sự tàn bạo vô cớ tại nơi làm việc phụ thuộc vào việc người lao động không có khả năng nói rằng “Tôi sẽ nghỉ việc” vì họ sợ phải gánh chịu hậu quả kinh tế từ hành động bỏ việc. Nếu sếp của Annie biết thu nhập của Annie sẽ không bị ảnh hưởng ngay cả khi cô ấy bỏ việc vì bị khiển trách một lần nữa về một vấn đề mà cô ấy đã khắc phục từ nhiều tháng trước, thì vị sếp ấy sẽ biết rõ là nên cư xử theo cách khác thay vì liên tục khiển trách Annie. Thực tế, Thu nhập Cơ bản theo nghĩa này sẽ mang lại cho người lao động quyền nói từ khóa “Cam” với ông chủ của họ.

Điều này dẫn đến chủ đề thứ hai: Nếu Thu nhập Cơ bản toàn cầu được lập ra, thì rất khó để tưởng tượng những công việc như của Annie sẽ tiếp tục tồn tại. Người ta cũng có thể dễ dàng hình dung rằng những người không phải làm việc để kiếm sống vẫn chọn trở thành trợ lý nha khoa, sản xuất đồ chơi, nhân viên rạp phim, người điều khiển tàu kéo, hoặc thậm chí là thanh tra nhà máy xử lý nước thải. Thậm chí người ta cũng dễ hình dung rằng có người sẽ chọn làm công việc kết hợp giữa một vài việc trong số này. Trong một thế giới như vậy, Annie sẽ không có lý do gì để từ bỏ việc trở thành một giáo viên mầm non, trừ khi cô thực sự quyết định rằng cô không còn quan tâm đến việc trở thành một giáo viên mầm non nữa.

Tuy nhiên, sẽ có ý kiến phản đối là nếu chúng ta thực hiện Thu nhập Cơ bản thì mọi người đơn giản là không làm việc nữa. Điều này rõ ràng là sai và tại thời điểm này tôi nghĩ rằng chúng ta đã có thể gạt bỏ nó ra khỏi tầm lo lắng. Sự phản đối thứ hai, nghiêm trọng hơn, đó là hầu hết mọi người sẽ làm việc, nhưng nhiều người sẽ chọn công việc mà bản thân họ thấy hứng thú. Các đường phố sẽ ngập lụt những nhà thơ dở tệ, những nghệ sĩ đường phố phiền phức, và những người thúc đẩy các lý thuyết khoa học quái gở, rồi sẽ không có gì được làm đến nơi đến chốn. Không nghi ngờ gì rằng sẽ có một tỷ lệ dân số nhất định của một xã hội tự do sẽ dành cuộc đời của họ cho các dự án mà hầu hết những người khác coi là ngớ ngẩn hoặc vô nghĩa; nhưng khó có thể tưởng tượng tỷ lệ này tăng nhiều hơn 10 hoặc 20%. Chẳng phải ngay bây giờ, đã có 37 đến 40% người lao động ở các nước giàu đã cảm thấy công việc của họ là vô nghĩa rồi sao? Khoảng một nửa nền kinh tế cấu thành từ những công việc vô nghĩa, hoặc những công việc tồn tại để hỗ trợ công việc vô nghĩa. Nếu chúng ta để mọi người tự quyết định làm thế nào là phù hợp nhất đối với họ để mang lại lợi ích cho nhân loại, không có giới hạn nào cả, thì làm sao họ có thể kết thúc bằng việc phân phối lao động kém hiệu quả hơn so với những gì chúng ta đã có?

Đây là một lập luận mạnh mẽ về quyền tự do của con người. Hầu hết chúng ta đều thích nói về sự tự do theo cách trừu tượng, thậm chí cho rằng đó là điều quan trọng nhất đối với bất kỳ ai, đủ để chúng ta phải chiến đấu hay chết vì nó, nhưng chúng ta lại không nghĩ nhiều về việc như thế nào là được tự do hoặc thực hiện quyền tự do thực sự có nghĩa là gì.

Điểm chính của cuốn sách này không phải là đề xuất các chính sách cụ thể, mà là khiến chúng ta bắt đầu suy nghĩ và tranh luận về một xã hội tự do chân chính thực sự có thể như thế nào.

LỜI CÁM ƠN

Tôi chân thành cám ơn hàng trăm người đã chia sẻ câu chuyện của họ cho tôi. Tôi không thể kể tên hết tất cả nhưng các bạn biết các bạn là ai mà!

Xin gửi lời cám ơn đến Vyvian Raoul của tờ Strike! vì đã để nghị tôi viết bài luận ban đầu ấy và tôi cũng cám ơn tất cả mọi người ở Strike! vì đã khiến tất cả việc này thành sự thật.

Tôi không thể hoàn thành cuốn sách này mà không có sự giúp đỡ từ đội nhóm của tôi tại Simon & Schuster: Biên tập viên Ben Loehnen, Erin Reback, Jonathan Karp và Amar Deol, và sự động viên nhiệt tình từ người đại diện của tôi, Melissa Flashman của Janklow & Nesbit.

Và dĩ nhiên, tôi xin dành lòng biết ơn to lớn đến những bạn bè của tôi và các đồng nghiệp tại LSE vì sự kiên nhẫn và ủng hộ của họ, đặc biệt là đội trợ lý hành chính: Yanina và Tom Hinrichsen, Renata Todd, Camilla Kennedy Harper và Andrea Elsik.

Tôi cũng muốn cám ơn Megan Laws, sinh viên bậc thạc sĩ ngành nhân chủng học tại LSE vì toàn bộ công việc của cô ấy là kiểm soát sự “gai góc” của tôi. Tôi hy vọng cuốn sách này sẽ hỗ trợ cho những nỗ lực của cô ấy.

TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

Ackroyd, Stephen, and Paul Thompson. Organizational Misbehaviour. London: Sage, 1999.

Anderson, Perry. Passages from Antiquity to Feudalism. London: Verso Press, 1974.

Applebaum, Herbert. The Concept of Work: Ancient, Medieval, and Modern (SUNY Series in the Anthropology of Work). Albany, NY: SUNY Press, 1992.

Arendt, Hannah. The Human Condition. Chicago: University of Chicago Press, 1958.

Baumeister, Roy, Sara Wotman, and Arlene Stillwell. “Unrequited Love: On Heartbreak, Anger, Guilt, Scriptlessness, and Humiliation.” Journal of Personality and Social Psychology 64, no. 3 (1993): 377–94.

Beder, Sharon. Selling the Work Ethic: From Puritan Pulpit to Corporate PR. London: Zed Books, 2000.

Black, Bob. “The Abolition of Work.” The Abolition of Work and Other Essays. Port Townsend, WA: Loompanics, 1986.

Bloch, Maurice. Anthropology and the Cognitive Challenge. Cambridge: Cambridge University Press, 2012.

Braverman, Harry. Labor and Monopoly Capital: The Degradation of Work in the Twentieth Century. New York: Monthly Review Press, 1974.

Bregman, Rutger. Utopia for Realists: The Case for Universal Basic Income, Open Borders, and a 15-Hour Workweek. Amsterdam: The Correspondent, 2016.

Brigden, Susan. “Youth and the English Reformation.” Past & Present 95 (1982): 37–67.

Broucek, Francis. “The Sense of Self.” Bulletin of the Menninger Clinic 41 (1977): 85–90.

60 (January 1, 1979): 311–16.

Brown, Wilmette. Black Women and the Peace Movement. Bristol, UK: Falling Wall Press, 1983.

Brygo, Julien, and Olivier Cyran. Boulots de Merde! Enquête sur l’utilité et la nuisance sociales des métiers. Paris: La Decouverte, 2016.

Budd, John W. The Thought of Work. Ithaca, NY: Cornell University Press, 2011.

Carlyle, Thomas. Past and Present. London: Chapman and Hall, 1843.

Chancer, Lynn. Sadomasochism in Everyday Life: The Dynamics of Power and Powerlessness. New Brunswick, NJ: Rutgers University Press, 1992.

Clark, Alice. Working Life of Women in the Seventeenth Century. London: George Routledge and Sons, 1919.

Cooper, Sheila McIsaac. “Service to Servitude? The Decline and Demise of Life-Cycle Service in England.” History of the Family 10 (2005): 367–86.

Davala, Sarath, Renana Jhabrala, Soumya Kapor, et al. Basic Income: A Transformative Policy for India. London: Bloomsbury Academic Press, 2015.

Doukas, Dimitra. Worked Over: The Corporate Sabotage of an American Community. Ithaca, NY: Cornell University Press, 2003.

Durrenberger, E. Paul, and Dimitra Doukas. “Gospel of Wealth, Gospel of Work: Counterhegemony in the U.S. Working Class,” American Anthropologist (new series) 110, no. 2 (2008): 214–24.

Ehmer, Josef, and Catharina Lis. “Introduction: Historical Studies in Perception of Work.” In The Idea of Work in Europe from Antiquity to Modern Times, edited by Ehmer and Lis, 33–70. Farnham, UK: Ashgate, 2009.

Ehrenreich, Barbara. Fear of Falling: The Inner Life of the Middle Class. New York: Pantheon, 1989.

Ehrenreich, Barbara, and John Ehrenreich. “The Professional-Managerial Class.” In Between Labor and Capital, edited by Paul Walker. Boston: South End Press, 1979, 5–45.

Evans-Pritchard, E. E. The Nuer: A Description of the Modes of Livelihood and Political Institutes of a Nilotic People. Oxford: Clarendon Press, 1940.

Faler, Paul G. Mechanics and Manufacturers in the Early Industrial Revolution: Lynn, Massachusetts, 1780–1860. Albany, NY: State University of New York Press, 1981.

Finley, Moses I. The Ancient Economy. Berkeley: University of California Press, 1973.

Fleming, Peter. The Mythology of Work: How Capitalism Persists Despite Itself. London: Pluto Press, 2015.

Ford, Martin. The Rise of the Robots: Technology and the Threat of Mass Unemployment. London: Oneworld, 2015.

Foucault, Michel. “The Subject and Power.” Critical Inquiry 8, no. 4 (1982): 777–95. The Final Foucault. Cambridge, MA: MIT Press, 1988.

Frank, Thomas. Listen Liberal, Or What Ever Happened to the Party of the People? New York: Henry Holt, 2016.

Frayne, David. The Refusal of Work: The Theory and Practice of Resistance to Work. London: Zed Books, 2015.

Frey, Carl B., and Michael A. Osborne. “The Future of Employment: How Susceptible Are Jobs to Computerisation?” Technological Forecasting and Social Change 114 (2017): 254–80.

Fromm, Erich. The Anatomy of Human Destructiveness. New York: Henry Holt, 1973.

Galbraith, John Kenneth. American Capitalism: The Concept of Countervailing Power. Harmondsworth, UK: Penguin, 1963.

Gini, Al. “Work, Identity and Self: How We Are Formed by the Work We Do.” Journal of Business Ethics 17 (1998): 707–14. My Job, My Self: Work and the Creation of the Modern Individual. London: Routledge, 2012.

Gini, Al, and Terry Sullivan. “Work: The Process and the Person.” Journal of Business Ethics 6 (1987): 649–55.

Ginsberg, Benjamin. The Fall of the Faculty. New York: Oxford University Press, 2013.

Glenn, Joshua, and Mark Kingwell. The Wage Slave’s Glossary. Windsor, Can.: Biblioasis, 2011.

Gorz, Andre. Farewell to the Working Class: An Essay on Post-industrial Socialism. London: Pluto, 1997.

Graeber, David. “Manners, Deference, and Private Property.” Comparative Studies in Society and History 39, no. 4 (1997): 694–728. Debt: The First 5,000 Years. Brooklyn, NY: Melville House, 2011.

Greaber, David. The Utopia of Rules: Technology, Stupidity, and the Secret Joys of Bureaucracy. Brooklyn, NY: Melville House, 2015.

Gutman, Herbert G. “Protestantism and the American Labor Movement: The Christian Spirit in the Gilded Age.” American Historical Review 72, no.1 (1966): 74–101.

Hajnal, John. “European Marriage Patterns in Perspective.” In Population in History: Essays in Historical Demography, edited by D. V. Glass and D. E. C. Eversley, 101–43. London: Edward Arnold, 1965.

Hajnal, John. “Two Kinds of Preindustrial Household Formation System.” Population and Development Review 8, no. 3 (September 1982): 449–94.

Hanlon, Gerard. The Dark Side of Management: A Secret History of Management Theory. London: Routledge, 2016.

Hardt, Michael, and Antonio Negri. Labor of Dionysus: A Critique of the State Form. Minneapolis: University of Minnesota Press, 1994. Empire. Cambridge, MA: Harvard University Press, 2000.

Hayes, Robert M. “A Simplified Model for the Fine Structure of National Information Economies.” In Proceedings of NIT 1992: The Fifth International Conference on New Information Technology, 175–94. W. Newton, MA. MicroUse Information, 1992.

Hochschild, Arlie Russell. The Managed Heart: Commercialization of Human Feeling. Berkeley: University of California Press, 2012.

Holloway, John. Crack Capitalism. London: Pluto Press, 2010.

Ignatiev, Noel. How the Irish Became White. New York: Routledge, 1995.

Kazin, Michael. The Populist Persuasion: An American History. New York: Basic Books, 1995.

Keen, Steve. Debunking Economics: The Naked Emperor Dethroned? London: Zed, 2011.

Klein, G. S. “The Vital Pleasures.” In Psychoanalytic Theory: An Exploration of Essentials, edited by M. M. Gill and Leo Roseberger, 210–38. New York: International Universities Press, 1967.

Kraus, M .W., S. Cote, and D. Keltner. “Social Class, Contextualism, and Empathic Accurac” Psychological Science 21, no. 11 (2010): 1716–23.

Kussmaul, Anne. Servants in Husbandry in Early-Modern England. Cambridge: Cambridge University Press, 1981.

Laslett, Peter. “Characteristics of the Western Family Considered over Time.” In

Lazerow, Jama. Religion and the Working Class in Antebellum America. Washington, DC: Smithsonian Institution Press, 1995.

Lazzarato, Maurizio. “Immaterial Labor.” In Radical Thought in Italy, edited by Paolo Virno and Michael Hardt, 133–47. Minneapolis: University of Minnesota Press, 1996.

Le Goff, Jacques. Time, Work and Culture in the Middle Ages. Chicago: University of Chicago Press, 1982.

Lockwood, Benjamin B., Charles G. Nathanson, and E. Glen Weyl, “Taxation and the Allocation of Talent.” Journal of Political Economy 125, no. 5 (October 2017): 1635–82, www.journals.uchicago.edu/doi/full/10.1086/693393.

Maier, Corinne. Bonjour Paresse: De l’art et la nécessité d’en faire le moins possible en entreprise. Paris: Editions Michalan, 2004.

Mills, C. Wright. White Collar: The American Middle Classes. New York: Galaxy Books, 1951.

Morse, Nancy, and Robert Weiss. “The Function and Meaning of Work and the Job.” American Sociological Review 20, no. 2 (1966): 191–98.

Nietzsche, Friedrich. Dawn of the Day. 1911). New York: Macmillan, 1911.

Orr, Yancey, and Raymond Orr. “The Death of Socrates: Managerialism, Metrics and Bureaucratization in Universities.” Australian Universities’ Review 58, no. 2 (2016): 15–25.

Pagels, Elaine. Adam, Eve and the Serpent. New York: Vintage Books, 1988.

Paulsen, Roland. Empty Labor: Idleness and Workplace Resistance. Cambridge: Cambridge University Press, 2014.

Pessen, Edward. Most Uncommon Jacksonians: The Radical Leaders of the Early Labor Movement. Albany, NY: SUNY Press, 1967.

Ray, Benjamin C. Myth, Ritual and Kingship in Buganda. London: Oxford University Press, 1991.

Rediker, Marcus. The Slave Ship: A Human History. London: Penguin, 2004.

Reich, Robert. The Work of Nations: Preparing Ourselves for 21st Century Capitalism. New York: Alfred A. Knopf, 1992.

Russell, Bertrand. In Praise of Idleness. London: Unwin Hyman, 1935.

Schmidt, Jeff. Disciplined Minds: A Critical Look at Salaried Professionals and the Soul-Battering System That Shapes Their Lives. London: Rowman & Littlefield, 2001.

Sennett, Richard. The Fall of Public Man. London: Penguin, 2003.

Standing, Guy. The Precariat: The New Dangerous Class (Bloomsbury Revelations). London: Bloomsbury Academic Press, 2016.

Standing, Guy. Basic Income: And How We Can Make It Happen. London: Pelican, 2017.

Starkey, David. “Representation Through Intimacy: A Study in the Symbolism of Monarchy and Court Office in Early Modern England.” In Symbols and Sentiments: Cross-Cultural Studies in Symbolism, edited by Ioan Lewis, 187–224. London: Academic Press, 1977.

Stellar, Jennifer, Vida Manzo, Michael Kraus, and Dacher Keltner. “Class and Compassion: Socioeconomic Factors Predict Responses to Suffering.” Emotion 12, no. 3 (2011): 1–11.

Stone, Lawrence. The Family, Sex and Marriage in England, 1500–1800. London: Weidenfeld and Nicolson, 1977.

Summers, John. The Politics of Truth: Selected Writings of C. Wright Mills. Oxford: Oxford University Press, 2008.

Tawney, R. H. Religion and the Rise of Capitalism. New York: Harcourt, Brace & World, 1924.

Terkel, Studs. Working: People Talk About What They Do All Day and How They Feel About What They Do. New York: New Press, 1972.

Thomas, Keith. Religion and the Decline of Magic. New York: Scribner Press, 1971. “Age and Authority in Early Modern England.” Proceedings of the British Academy 62 (1976): 1–46.

Thompson, E. P. The Making of the English Working Class. London: Victor Gollancz, 1963.

Thompson, Paul. The Nature of Work: An Introduction to Debates on the Labour Process. London: Macmillan, 1983.

Veltman, Andrea. Meaningful Work. Oxford: Oxford University Press, 2016.

Wall, Richard. Family Forms in Historic Europe. Cambridge: Cambridge University Press, 1983.

Weber, Max. The Protestant Ethic and the Spirit of Capitalism. London: Unwin Press, 1930.

Weeks, Kathi. The Problem with Work: Feminism, Marxism, Antiwork Politics, and Postwork Imaginaries. Durham, NC: Duke University Press, 2011.

Western, Mark, and Erik Olin Wright. “The Permeability of Class Boundaries to Intergenerational Mobility Among Men in the United States, Canada, Norway, and Sweden.” American Sociological Review 59, no. 4 (August 1994): 606–29.

White, R. “Motivation Reconsidered: The Concept of Competence.” Psychological Review 66 (1959): 297–333.

Williams, Eric. Capitalism and Slavery. New York: Capricorn Books, 1966.

Wood, Ellen Meiksins. The Origins of Capitalism: A Longer View. London: Verso, 2002.

BULLSHIT JOBS

Đời ngắn lắm, đừng làm việc vô nghĩa!

NHÀ XUẤT BẢN THẾ GIỚI

Chịu trách nhiệm xuất bản

GIÁM ĐỐC – TỔNG BIÊN TẬP

TS. TRẦN ĐOÀN LÂM

Biên tập: Trịnh Hồng Hạnh

Trình bày và bìa: Quốc Nguyễn

Đối tác liên kết:

CÔNG TY CỔ PHẦN VĂN HÓA SÁCH SÀI GÒN

* * *

In 5.000 bản, khổ 14 x 20,5 cm tại Xí nghiệp In Fahasa

Địa chỉ: 774 Trường Chinh, Phường 15, Quận Tân Bình, TP.HCM.

Số xác nhận ĐKXB: 5327-2020/CXBIPH/03-263/ThG

Quyết định xuất bản số: 1475/QĐ-ThG cấp ngày 24 tháng 12 năm 2020

In xong và nộp lưu chiểu Quý I năm 2021

Mã ISBN: 978-604-77-8711-1

Notes

[←1]

Ở nước Mỹ vào thập niên 1960 đã xảy ra nhiều sự kiện chính trị lớn như các phong trào đấu tranh vì nhân quyền, các cuộc biểu tình chống chiến tranh Việt Nam, v.v. [ND]

[←2]

Đảng Cộng hòa ở Hoa Kỳ được xem lầ cánh hữu, còn Đảng Dân chủ được xem là cánh tả. – BTV.

[←3]

Ít nhất thì điều này đúng với vũ khí công nghệ cao. Người ta có thể lập luận rằng, hầu hết các quốc gia duy trì quân đội để trấn áp tình trạng bất ổn dân sự, nhưng điều này hiếm khi liên quan đến nhu cầu máy bay chiến đấu, tàu ngầm hoặc tên lửa. Trong lịch sử, Mexico đã có một chính sách rõ ràng là không lãng phí tiền vào những vũ khí đắt tiền như vậy. Họ lập luận rằng, do vị trí địa lý của họ, các quốc gia hiếm hoi mà họ có thể tham gia chiến sự là Hoa Kỳ hoặc Guatemala. Nếu họ phải tham chiến với Hoa Kỳ, họ sẽ thua nặng bất kể có vũ khí gì; nếu họ tham chiến với Guatemala, họ sẽ thắng, dù có hoặc không có máy bay chiến đấu. Do đó, Mexico chỉ duy trì các loại vũ khí đủ dể đàn áp bất đồng chính kiến trong nước. (Chú thích của tác giả)

[←4]

Erancis Broucek, “Efficacy in Infancy: A Review of Some Experimental Studies and Their Possible Implications to Clinical Theory”, International Journal of Psycho-Analysis 60 (1/1/1979): 314.

[←5]

Viết về những người thợ dệt ở thế kỷ XVI – XVII, E. P. Thompson cho chúng ta biết: “Bất cứ nơi nào mà con người có quyền kiểm soát cuộc sống làm việc của chính họ thì mô hình làm việc của con người sẽ là sự luân phiên giữa lao động căng thẳng và nhàn rỗi. (Ngày nay, một số người tự làm chủ hoặc làm việc tự do vẫn duy trì mô hình này – nghệ sĩ, nhà văn, nông dân, và có lẽ là cả sinh viên. Từ đó, gợi ra câu hỏi rằng liệu đó có phải là nhịp điệu làm việc “tự nhiên” của con người hay không). Theo truyền thống, vào thứ Hai hoặc thứ Ba, khung cửi sẽ chuyển qua nhịp hoạt động chậm chạp có-vô-khối-thời-gian; còn vào thứ Năm và thứ Sáu sẽ là nhịp một-ngày-vội-vã (1967: 73)”. (Chú thích của tác giả)

[←6]

Xem sách của David Graeber, “Turning Modes of Production Inside Out: Or, Why Capitalism Is a Transformation of Slavery (Short Version)”, Critique of Anthropology 26, no. 1 (3/2006): 61-81.

[←7]

BDSM là một dạng trò chơi đóng vai hoặc lựa chọn lối sống giữa hai cá nhân trở lên, nhằm tạo sự căng thẳng, khoái cảm và giải thoát trong tình dục bằng những trải nghiệm đau đớn và quyền lực. – Theo Wikipedia.

[←8]

Ta thấy tiểu thuyết lãng mạn có xu hướng đề cao những người đàn ông hấp dẫn, có vẻ lạnh lùng và vô tâm nhưng cuối cùng lại hóa ra là người tốt bụng và tử tế. Vậy nên, người ta có thể lập luận rằng trong BDSM, người phục tùng đã cài đặt suy nghĩ của mình rằng họ có khả năng tạo ra sự biến đổi này ở đối phương, và đối phương chịu sự kiểm soát của mình. (Chú thích của tác giả)

[←9]

Thế hệ Y, còn gọi là thế hệ Millennials, dùng để chỉ những người sinh từ năm 1981 đến 1996. – BTV.

[←10]

Hình ngôi sao có hai màu đen và đỏ là biểu tượng của chủ nghĩa vô chính phủ. – BTV.

[←11]

Tôi thấy không cần thiết phải liệt kê toàn bộ các “lời tiên tri” này, nhưng tôi có thể đưa ra vài dẫn chứng như cuốn The Work of Nations (1992) của Reich, và tuyên bố kinh điển về lao động phi vật chất của Maurizio Lazzarato (1996) đã dự đoán về cuộc nổi dậy của các chuyên viên máy tính. Tuy nhiên, tác phẩm Empire của Hardt và Negr (1994, 2000) mới khiến “lời tiên tri về cuộc nổi dậy của lao động phi vật chất” trở nên nổi tiếng (Chú thích của dịch giả).

[←12]

Tôi có một người bạn nghiện heroin và tham gia một chương trình cai nghiện nhờ methadone. Chán ngấy với chuyện chờ đợi các bác sĩ quyết định rằng anh đã “sẵn sàng” để bắt đầu giảm liều, anh bắt đầu giảm một ít thuốc mỗi ngày, cho đến vài tháng sau thì anh có thể tuyên bố mình đã thoát khỏi cơn nghiện. Bác sĩ của anh rất tức giận, và nói rằng chỉ có các chuyên gia mới có khả năng quyết định khi nào anh nên làm điều này. Hóa ra chương trình cai nghiện được tài trợ dựa trên số lượng bệnh nhân tham gia chương trình, chứ không phải vì động cơ giúp đỡ người ta cai nghiện. Người ta không bao giờ nên đánh giá thấp sức mạnh của các tổ chức khi chúng cố gắng bảo vệ chính mình. Một lời giải thích cho sự bế tắc kéo dài ba mươi năm của “tiến trình hòa bình” giữa người Palestine và Israel là cả hai phía giờ đây đều có những thể chế mạnh mẽ mà nếu cuộc xung đột kết thúc thì thể chế cũng mất toàn bộ mục đích tồn tại. Đồng thời nó cũng làm tan biến “bộ máy hòa bình” gồm quan chức của các tổ chức phi chính phủ và Liên Hiệp Quốc, những người mà sự nghiệp của họ đã hoàn toàn phụ thuộc vào việc duy trì cái ảo tưởng rằng một “tiến trình hòa bình” thực sự đang diễn ra. (Chú thích của tác giả)

[←12.1]

Ở đây tôi lưu ý một điều – và điều này sẽ rất quan trọng sau này – khi số lượng cấp quản trị hành chính tăng lên, sự bùng nổ thực sự đã xảy ra ở số lượng nhân viên hành chính. Tôi muốn nhấn mạnh rằng con số này chỉ gồm các nhân viên cấp dưới trong lĩnh vực hành chính, chứ không bao gồm những người cung cấp thực phẩm hoặc người dọn dẹp, vì thực tế họ là người của các công ty bên ngoài, được trường đại học thuê vào. (Ghi chú của tác giả)

[←13]

Lần đầu tiên tôi bắt gặp luận điểm này trong “Back to Socialist Basics”, New Left Review, no. 207 (1994); 2-16, bài phê bình của G. A. Cohen về bản tuyên ngôn của Đảng Lao Động. Còn có nhiều điều tương tự được thấy trong các tác phẩm khác của ông, đáng kể như trong “Incentives, Inequality, and Community: The Tanner Lectures on Human Values” (bài giảng, Stanford University, Stanford, CA, ngày 21 và 23 tháng 5 năm 1991, https://tannerlectures.utah.edu/_documents/a-to-z/c/cohen92.pdf). (Ghi chú của tác giả)

[←14]

Tôi đã trích dẫn điều này trong bài báo ở tờ Manners (1997:716-17). Bản dịch từ Charlotte A. Sneyd, A relation, or rather A true account, of the island of England; with sundry particulars of the customs of these people, and of the royal revenues under King Henry the Seventh, about the year 1500, by an Italian, Camden Society volume xxxvi, 1847, 14-15. (Chú thích của tác giả)

[←15]

Susan Brigden, “Youth and the English Reformation”, Past & Present 95 (1982): 37-38.

[←16]

Ví dụ, ở thời phục hưng tại Anh, người đại diện của nhà vua là một nhà quý tộc hầu cận có công việc mang tên “phụ trách Bồn cầu”, vì ông chịu trách nhiệm đổ sạch cái bô của nhà vua (Starkey 1977). (Ghi chú của tác giả)

[←17]

Ví dụ như cha tôi đã dành phần lớn cuộc đời làm thợ chế tác bản in trong các xưởng in thạch bản. Có một lần, khi tôi lần đầu tiên tìm hiểu lịch sử thời trung cổ, tôi đã nói với ông về hệ thống phường hội. Ông nói: “Có, cha cũng từng học nghề. Cha đã nghỉ hưu với tư cách là thợ in lành nghề”. Lúc đó, khi tôi hỏi liệu có thợ in bậc thầy nào không, ông ấy nói: “Không, chúng ta không còn bậc thầy nữa. trừ khi con muốn nói rằng đó là ông chủ”. (Ghi chú của tác giả)

[←18]

Người thất nghiệp hoặc người không có được công việc phù hợp nếu muốn nhận được trợ cấp từ chính phủ thì họ phải làm việc hoặc tham gia các chương trình đào tạo theo yêu cầu của chính phủ. – BTV.

[←19]

Thomas Carlyle, Past and Present (London: Chapman and Hall, 1843), 173-74.

[←20]

Thomas Carlyle, Past and Present, 175.

[←21]

Carlyle 1843:134

[←22]

Tác giả chơi chữ từ chữ “fools” nghĩa là bọn ngốc. – ND

[←23]

Stanislaw Lem, Memoirs of a Space Traveler: The Further Reminiscences of Ijon Tichy (Evanston, IL: Northwestern Unlversity Press), 1981 [1971] 19-20.

[←24]

Nguyên gốc tiếng Anh câu này là: Wage caring not killing. – BTV.

[←25]

Foucault 1988:18-19.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.