Đông Chu Liệt Quốc - Chương 70: Giết ba anh, sở bình vương lên ngôi hội chiêu hầu, tấn chiêu công làm chủ
Giết ba anh, Sở Bình Vương lên ngôi
Hội chư hầu, Tấn Chiêu công làm chủ
Bấy giờ đang năm thứ 12 đời Chu Cảnh Vương, Sở Linh Vương đã diệt được Trần và Sái rồi, lại thiên các nước nhỏ sang phía Kinh Sơn, bởi vậy nhiều người oán giận. Sở Linh Vương vẫn tự đắc là thiên hạ cầm chắc trong tay mình, chỉ ngày đêm vui chơi ở Chương Hoa Đài, lại toan sai sứ sang nhà Chu đòi lấy chín cái đỉnh để đem về nước Sở. Quan Hữu doãn là Trịnh Đan can rằng:
—Nay Tề, Tấn còn mạnh; Ngô, Việt chưa theo thì nhà Chu dẫu sợ ta, chư hầu tất cũng không phục.
Sở Linh Vương không bằng lòng mà hỏi rằng:
— Có một điều này, suýt nữa ta quên đi mất! Khi trước ta hội chư hầu ở Thân Địa, xá tội cho vua Từ, ai ngờ vua Từ lại bội ta mà theo Ngô; nay ta đánh Từ trước, đánh Ngô sau, khiến cho từ sông Giang trở về phía đông, đều là phụ thuộc của ta cả, thế thì thiên hạ đã về tay ta đến một nửa rồi.
Sở Linh Vương giao cho Viễn Bãi và Sái Hựu phải giúp Thế tử Lộc để giữ nước, còn mình thì luyện tập quân mã ở cuối sông Di Thủy, và sai quan Tư mã Đốc đem quân sang vây thành nước Từ.
Đại binh Sở Linh Vương đóng ở Kiền Khê để làm thanh viện. Mùa đông năm ấy, tuyết xuống nhiều lắm, ở trên mặt đất, tuyết dầy đến hơn 3 thước. Sở Linh Vương hỏi nội thị rằng:
— Ngày trước nước Tần có dâng ta cái áo phục đào cừu và cái nệm thúy vũ bị, các ngươi đem ra đây cho ta.
Nội thị đem áo và nệm đưa cho Sở Linh Vương. Sở Linh Vương mặc áo phục đào cừu, khoác nệm thúy vũ bị, đầu đội mũ da, chân đi giày da, tay cầm cái tử ty tiên (roi) ra ngoài trướng đứng xem tuyết. Gặp có quan Hữu doãn là Trịnh Đan đến yết kiến. Sở Linh Vương bỏ mũ và nệm xuống, rồi đứng nói chuyện với Trịnh Đan. Sở Linh Vương nói:
— Trời rét quá đi mất!
Trịnh Đan nói:
— Đại vương mặc mấy lần áo cừu, đứng trong trướng hổ, mà còn rét như thế, huống chi quân sĩ áo thì ít, chân thì trần, đầu đội mũ trụ, mình mặc áo giáp, tay cầm đồ binh, đứng ở trong đám gió tuyết thì khổ biết dường nào! Sao Đại vương không tạm rút quân đánh Từ về, đợi đến qua xuân khí trời ấm áp, bấy giờ sẽ liệu.
Sở Linh Vương nói:
— Nhà ngươi nói rất phải! Nhưng ta từ khi dụng binh đến nay, đánh đâu được đấy, ta chắc rằng chỉ nay mai thì việc đánh Từ tất có tin thắng trận.
Sở Linh Vương nói chưa dứt lời thì thấy có quan Tả sử là Ỷ Tướng đi qua trước mặt. Sở Linh Vương chỉ vào Ỷ Tướng mà bảo Trịnh Đan rằng:
— Đây là một người bác vật, phàm các sách như tam phần, ngũ điển, bát sách, cửu khâu, đều thông hiểu cả, nhà ngươi nên trọng đãi người ta.
Trịnh Đan nói:
— Đại vương khen quá lời! Ngày xưa vua Mục Vương nhà Chu đi dong chơi khắp thiên hạ, tước Sái công là Mưu Phủ làm thơ Kỳ Thiều để can vua Mục Vương, vua Mục Vương nghe lời can mà trở về, tránh khỏi được tai vạ. Thế mà tôi đem thơ ấy hỏi Ỷ Tướng, Ỷ Tướng không biết. Ấy là việc bản triều mà còn không biết, huống chi là việc đời xưa!
Sở Linh Vương hỏi:
— Bài thơ Kỳ Thiều thế nào, nhà ngươi đọc cho ta nghe.
Trịnh Đan đọc. Sở Linh Vương lại hỏi nghĩa. Trịnh Đan cắt nghĩa. Sở Linh Vương biết là Trịnh Đan có ý can mình, mới nín lặng không nói gì cả, ngẫm nghĩ hồi lâu rồi bảo Trịnh Đan rằng:
— Nhà ngươi hãy lui ra, để ta nghĩ lại xem.
Đêm hôm ấy, Sở Linh Vương đã toan rút quân về, bỗng nghe báo quan Tư mã Đốc đánh được quân Từ, hiện đang vây thành nước Từ. Sở Linh Vương nói:
— Nếu vậy thì nước Từ có thể diệt được.
Sở Linh Vương nhất định cứ đóng quân ở Kiền Khê, từ đông sang xuân, ngày nào cũng săn bắn làm vui; lại toan bắt dân phải sửa soạn lâu đài ở đấy, không nghĩ gì đến sự về nước cả. Trịnh Đan nói:
— Nước Từ cùng với Trần, Sái không giống nhau. Trần, Sái gần Sở, xưa nay vẫn phụ thuộc nước Sở; còn nước Từ thì ở phía đông bắc nước Sở, cách xa hơn 3.000 dặm, lại vẫn phụ thuộc nước Ngô. Đại vương tham cái công đánh Từ, khiến cho quân sĩ phải chịu những sự khổ sở, vạn nhất trong nước có nội biến, quân sĩ sinh lòng chán thì tôi lấy làm nguy lắm!
Sở Linh Vương cười mà rằng:
— Xuyên Phong Thú ở nước Trần, Công tử Khí Tật ở nước Sái, còn Ngũ Cử giúp Thế tử Lộc giữ nước, đó tức là 3 nước Sở, ta còn sợ gì!
Bấy giờ có Triều Ngô (con quan Đại phu nước Sái là Qui Sinh) theo hầu tước Sái công là Khí Tật, ngày đêm vẫn nghĩ mưu để khôi phục nước Sái, mới cùng với Quan Tòng (người nước Sở) thương nghị. Quan Tòng nói:
— Vua Sở gây ra việc chinh chiến, đem quân đi lâu ngày không về, nhân dân ai cũng oán giận, ta nên nhân cơ hội này mà khôi phục lại nước Sái.
Triều Ngô nói:
— Bây giờ làm thế nào mà khôi phục được.
Quan Tòng nói:
— Hùng Kiền (tên Sở Linh Vương) lập lên làm vua, ba vị công tử (Tử Can, Tử Tích và Khí Tật) đều không phục, chỉ vì sức không làm gì nổi. Nay ta giả mệnh Sái công (tức là Khí Tật) triệu Tử Can và Tử Tích về, rồi hiếp Sái công phải khởi sự mà chiếm lấy nước Sở. Nước Sở đã bị phá thì Hùng Kiền mất sào huyệt, còn làm gì được nữa. Đến đời tự vương sau, tất nhiên ta phục được nước Sái.
Triều Ngô nghe lời, sai Quan Tòng giả mệnh Sái công là Khí Tật đi triệu Tử Can (tức là Công tử Tị) ở nước Tấn, và Tử Tích (tức là Công tử Hắc Quang) ở nước Trịnh, nói Khí Tật định lấy quân Trần, Sái đưa hai vị công tử về nước để chống nhau với Hùng Kiền. Tử Can và Tử Tích mừng lắm, tức khắc đi sang nước Sái để hội nhau với Khí Tật. Quan Tòng về báo với Triều Ngô. Triều Ngô đón đường nói với Tử Can và Tử Tích rằng:
— Sái công thật không có ý gì cả, nhưng ta có thể hiếp Sái công, bắt phải theo được.
Tử Can và Tử Tích nghe nói, nét mặt sợ hãi. Triều Ngô nói:
— Hùng Kiền đem quân đi, lâu ngày không về, trong nước không có phòng bị, mà Sái Hựu nghĩ đến cái thù giết cha, chỉ mong cho có bạn. Đấu Thành Nhiên làm chức giao doãn, vẫn thân nhau với Sái công; nếu Sái công khởi sự thì hắn tất làm nội ứng. Xuyên Phong Thú dẫu đã được phong ở Trần, nhưng vẫn không phục Hùng Kiền, nếu Sái công cho người triệu thì hắn tất theo ngay. Đem quân Trần, Sái đánh lấy một nước Sở không có phòng bị, khác nào như lấy của ở trong túi mình, hai Công tử còn lo nỗi gì!
Tử Can và Tử Tích nghe nói mới được yên lòng, liền cùng với Triều Ngô uống máu ăn thề. Trong tờ ước thư lại để tên Sái công đứng đầu. Thề xong, Triều Ngô đưa Tử Can và Tử Tích lẻn vào Sái thành. Sái công đang ngồi ăn cơm sáng, bỗng thấy Tử Can và Tử Tích đến, giật mình kinh sợ, toan đứng dậy tránh mặt. Triều Ngô chạy đến nắm lấy vạt áo Sái công mà bảo rằng:
— Việc đã đến nơi rồi, Ngài còn định đi đâu!
Tử Can và Tử Tích ôm lấy Sái công, rồi vừa khóc vừa nói:
— Hùng Kiền vô đạo, giết anh và cháu, lại đuổi bọn chúng tôi. Hai tôi tới đây là muốn nhờ binh lực nhà ngươi để báo thù cho anh. Khi thành sự rồi, sẽ để cho nhà ngươi làm vua.
Khí Tật hoảng hốt không biết làm thế nào, mới đáp lại rằng:
— Xin hãy thong thả rồi tôi sẽ thương nghị.
Triều Ngô nói:
— Hai công tử có đói thì cùng ăn cơm với Sái công.
Tử Can và Tử Tích ăn cơm xong. Triều Ngô giục phải làm ngay, liền tuyên cáo cho mọi người đều biết rằng:
— Sái công triệu hai công tử đến đây, để cùng khởi sự, hiện cùng nhau ăn thề ở ngoài cõi, nay cho hai công tử vào Sở trước.
Khí Tật ngăn lại mà bảo rằng:
— Sao lại nói oan cho ta! Triều Ngô nói:
— Mới rồi, ăn thề ở ngoài cõi, trong tờ ước thư có tên Ngài đứng đầu, Ngài còn giấu chi nữa! Âu là mau mau khởi sự để cùng hưởng phú quí!
Triều Ngô lại tuyên cáo ở ngoài chợ cho người nước Sái biết rằng:
— Vua Sở vô đạo, diệt nước Sái ta, nay Sái công cho ta phục quốc. Bọn các ngươi đều là dân nước Sái, nỡ nào để cho nước nhà suy vong, nên rủ nhau theo Sái công và hai công tử cùng sang đánh Sở.
Người nước Sái nghe nói, đều bảo nhau cầm binh khí đến họp ở cửa Sái công. Triều Ngô nói với Sái công rằng:
— Lòng dân đã quả quyết như vậy, Ngài nên phủ dụ mà dùng lấy, nếu không thì sinh biến.
Khí Tật nói:
— Nhà ngươi bắt ta phải trèo lên mình hổ, bây giờ định làm ra thế nào?
Triều Ngô nói:
— Hai công tử nay còn ở ngoài cõi, Ngài nên mau mau đem quân nước Sái họp với hai công tử, rồi tôi xin sang bảo Trần công (tức là Xuyên Phong Thú) đem quân theo Ngài.
Khí Tật vâng lời, đem quân họp với Tử Can và Tử Tích. Triều Ngô sai Quan Tòng sang Trần, để nói với Trần công. Quan Tòng đi đến nửa đường gặp một người nước Trần, tên gọi Hạ Khiết, tức là cháu Huyền tôn Hạ Trưng Thư, cùng với Quan Tòng vốn quen biết nhau Quan Tòng mới đem việc phục Sái nói với Hạ Khiết. Hạ Khiết nói:
— Ta theo hầu Trần công, cũng là có ý muốn phục Trần, nay Trần công ốm nặng, nhà ngươi bất tất phải sang nữa, cứ về trước đi, rồi ta sẽ đem quân Trần sang giúp.
Quan Tòng về báo với Sái công. Triều Ngô lại viết một tờ mật thư đưa cho Sái Hựu, bảo làm nội ứng. Sái công sai gia thần là Tu Vụ Mâu làm tiên phong, Sử Áp làm phó tiên phong, lại sai Quan Tòng làm hướng đạo, đem quân đi trước. Gặp bấy giờ Hạ Khiết cũng đem quân Trần đến. Hạ Khiết nói với Sái công rằng:
— Xuyên Phong Thú đã chết rồi, tôi đem đại nghĩa hiểu dụ người nước Trần, vậy nên đều vui lòng mà theo cả.
Sái công mừng lắm, sai Triều Ngô đốc xuất quân Sái và Hạ Khiết đốc xuất quân Trần, thẳng đường tiến sang Dĩnh Đô. Sái Hựu nghe tin Sái công đem quân đến, tức khắc sai người tâm phúc ra ngoài thành để tống khoản. Đấu Thành Nhiên thân hành ra đón Sái công. Quan Lệnh doãn là Viễn Bãi đang đem quân để giữ thành thì Sái Hựu đã mở cửa cho quân Sái vào. Tu Vụ Mâu vào trước, reo to lên rằng:
— Sái công đã giết được vua Sở ở Kiền Khê rồi, đại binh sắp sửa tới đây!
Người trong nước ghét Sở Linh Vương vô đạo, đều muốn cho Sái công làm vua, không chống cự gì cả. Viễn Bãi toan đem Thế tử Lộc đi trốn, nhưng quân Tu Vụ Mâu đã vây kín vương cung, Viễn Bãi không vào được, liền về nhà tự đâm cổ mà chết. Sái công đem đại binh vào đến vương cung, gặp Thế tử Lộc và Công tử Bãi Địch, đều giết chết cả, rồi lập Tử Can lên làm vua. Tử Can từ chối.
Sái công nói:
— Bao giờ cũng phải lập người nhiều tuổi hơn, chớ nên từ chối. Tử Can mới lên nối ngôi, rồi cho Tử Tích làm lệnh doãn và Sái công làm tư mã. Triều Ngô nói riêng với Sái công rằng:
— Việc này thủ xướng tự Ngài, sao Ngài lại nhường cho người khác làm vua?
Sái công nói:
— Vua Sở hãy còn ở Kiền Khê, đã lấy gì làm yên được. Vả lại ta tranh ngôi với anh thì người ta cũng chê cười ta.
Triều Ngô hiểu ý, mới hiến kế rằng:
— Quân sĩ theo vua Sở ra ở Kiền Khê, bị nhiều sự khổ sở, tất nhiên muốn về; nếu ta sai người đến dụ, chắc hẳn chúng nó bỏ hết, bấy giờ đại binh ta kéo đến thì có thể bắt được vua Sở.
Sái công khen phải, liền sai Quan Tòng đến Kiền Khê dụ quân sĩ rằng:
— Sái công đã vào kinh thành nước Sở giết hai con vua Sở và lập Tử Can lên làm vua rồi. Vua mới có lệnh rằng phàm các quân sĩ, hễ ai về ngay thì tha cho, ai về sau thì bắt tội cắt mũi; nếu ai theo vua Sở cũ thì trị tội ba họ, ai đem đồ ăn, đồ uống cho vua Sở cũ cũng trị tội như thế.
Quân sĩ nghe lệnh, tức khắc tan mất quá nửa. Sở Linh Vương hãy còn say rượu, nằm ngủ ở trên đài. Trịnh Đan hoảng hốt vào báo. Sở Linh Vương nghe nói hai con bị giết, ở trên giường ngã lăn xuống đất rồi khóc ầm lên. Trịnh Đan nói:
— Quân sĩ đã ly tán như vậy thì Đại vương nên mau mau trở về.
Sở Linh Vương gạt nước mắt mà nói rằng:
— Có ai mà yêu con cũng như ta hay không?
Trịnh Đan nói:
— Giống cầm thú còn biết yêu con, huống chi là người.
Sở Linh Vương thở dài mà than rằng:
— Ta giết con người ta nhiều lắm thì bây giờ người ta lại giết con ta!
Được một lúc, nghe báo vua mới (tức là Tử Can) sai Sái công làm đại tướng, cùng với Đấu Thành Nhiên đem quân Trần và Sái đến Kiền Khê. Sở Linh Vương giận lắm nói:
— Ta đãi Đấu Thành Nhiên không có điều gì tệ bạc, mà sao hắn lại phản ta! Chẳng thà ta liều chết mà đánh, còn hơn ngồi để chịu trói.
Sở Linh Vương rút quân đi qua Tương Châu, toan về đánh kinh thành nước Sở. Trong khi đi đường, quân sĩ bỏ trốn nhiều lắm. Sở Linh Vương rút gươm chém chết mấy người mà vẫn không ngăn cấm được. Khi đến đất Si Lương chỉ còn độ 100 người đi theo mà thôi. Sở Linh Vương nói:
— Thế này còn làm gì được nữa!
Nói xong, liền cởi mũ áo treo lên cành liễu. Trịnh Đan nói:
— Đại vương hãy về gần đến nơi, để xem xét tình ý người trong nước thế nào.
Sở Linh Vương nói:
— Người trong nước đều làm phản, còn đợi làm gì nữa!
Trịnh Đan nói:
— Nếu không thế thì xin trốn sang nước khác, rồi mượn quân về đánh, cũng có thể được.
Sở Linh Vương nói:
— Chư hầu còn ai yêu ta nữa! Điều đại phúc có lẽ đâu được gặp mãi, chẳng qua chỉ thêm nhục mà thôi.
Trịnh Đan thấy Sở Linh Vương không nghe lời, sợ mắc tai vạ, liền cùng với Ỷ Tướng trốn về Sở. Sở Linh Vương không thấy Trịnh Đan, tay chân rụng rời, cứ quanh quẩn ở đất Ly Trạch. Quân sĩ chẳng còn ai cả, chỉ trơ có một mình, trong bụng đói quá, toan tìm vào chốn hương thôn để kiếm cái ăn thì lại không biết đường. Dân ở đấy có kẻ biết là Sở Linh Vương, nhưng lại nghe những quân sĩ đi trốn nói là pháp lệnh của vua mới nghiêm khắc lắm nên sợ hãi bỏ tránh xa cả. Sở Linh Vương suốt trong 3 ngày không được một hột cơm, một giọt nước nào vào miệng, đói quá nằm lả ở dưới đất, chỉ còn có hai con mắt mở trừng trừng, nhìn những kẻ qua người lại, xem có ai quen thuộc biết mà cứu mình chăng.
Bỗng gặp có một người đi đến, Sở Linh Vương nhìn xem ai thì tức là một người lính canh cửa khi trước tên gọi Quyên Nhân Trù. Sở Linh Vương gọi mà bảo rằng:
— Quyên Nhân Trù! Nhà ngươi cứu ta với!
Quyên Nhân Trù nghe tiếng gọi, liền đến trước mặt sụp lạy. Sở Linh Vương nói:
— Ta đói đã ba ngày nay rồi! Nhà ngươi kiếm cho ta một bát cơm, họa may có sống được chăng?
Quyên Nhân Trù nói:
— Ai cũng sợ lệnh vua mới, tôi còn kiếm đâu được cơm.
Sở Linh Vương thở dài, bảo Quyên Nhân Trù đến ngồi gần ở bên cạnh, rồi kê đầu gối vào đùi Quyên Nhân Trù để ngủ. Quyên Nhân Trù chờ cho Sở Linh Vương ngủ say, liền nhắc đầu Sở Linh Vương để vào tảng đất, rồi bỏ trốn đi. Khi Sở Linh Vương tỉnh dậy, gọi Quyên Nhân Trù không thấy thưa, mới rờ tay lên đầu thì thấy mình gối vào tảng đất. Sở Linh Vương kêu trời mà khóc, tiếng đã khan cả đi. Lúc nữa, lại có một người đi xe qua, nghe thấy tiếng Sở Linh Vương, xuống xe để nom thì quả là Sở Linh Vương thật, mới sụp lạy ở dưới đất mà hỏi rằng:
— Làm sao Đại vương đến nỗi thế này?
Sở Linh Vương nước mắt đầy mặt mà hỏi rằng:
— Nhà ngươi là ai?
Người ấy tâu rằng:
— Tôi là Thân Hợi, là con quan trấn thủ ở Vu Địa tên gọi Thân Vô Vũ. Cha tôi hai lần đắc tội với Đại vương, mà Đại vương không giết, vậy nên khi cha tôi gần mất có dặn tôi rằng “Khi nào Đại vương có hoạn nạn gì thì mày phải cố sức mà theo”. Tôi nhớ câu ấy, không bao giờ dám quên. Mới rồi tôi nghe tin kinh thành bị phá, Tử Can cướp ngôi, tôi tức khắc ngày đêm thẳng tới Kiền Khê để tìm Đại vương, mà tìm mãi không thấy. May sao lòng trời run rủi, nay lại gặp đây. Bây giờ chỗ nào cũng là đảng Sái công, Đại vương không nên đi đâu cả. Tôi có nhà tại Cức thôn, cũng gần đây, xin Đại vương tạm vào nhà tôi, rồi sẽ thương nghị.
Nói xong, liền đem lương khô dâng Sở Linh Vương. Sở Linh Vương cố nuốt xuống cổ, mới dần dần tỉnh lại. Thân Hợi vực Sở Linh Vương lên xe, rồi đưa về Cức thôn. Sở Linh Vương xưa nay ở cung Chương Hoa, lâu đài rực rỡ, nay thấy nhà Thân Hợi lụp xụp, cúi đầu mới chui vào được, nghĩ cũng đau lòng, hai hàng nước mắt chảy xuống giàn giụa. Thân Hợi quì mà tâu rằng:
— Xin Đại vương cứ yên lòng, ở đây tĩnh mịch lắm, không có ai đi lại, Đại vương hãy đợi trong mấy ngày, để xem tình hình trong nước thế nào, rồi sẽ định liệu.
Sở Linh Vương thổn thức không nói ra tiếng. Thân Hợi lại quì để dâng các đồ thực phẩm. Sở Linh Vương chỉ khóc mà không ăn uống gì cả. Thân Hợi lại sai hai đứa con gái vào hầu, để cho Sở Linh Vương vui lòng, nhưng Sở Linh Vương cứ than thở cả đêm, đến đầu canh năm thì không nghe thấy tiếng than thở nữa.
Hai người con gái mở cửa ra, báo với cha là Thân Hợi rằng:
— Đại vương đã thắt cổ chết rồi!
Thân Hợi nghe nói Sở Linh Vương chết, ngậm ngùi thương tiếc, rồi khâm liệm đem chôn. Lại bắt hai người con gái đem chôn theo. Sái công cùng với Đấu Thành Nhiên, Triều Ngô và Hạ Khiết sang Kiền Khê để đánh Sở Linh Vương. Đi đến nửa đường, gặp Trịnh Đan và Ỷ Tướng thuật chuyện Sở Linh Vương nay thị vệ bỏ trốn hết, chỉ có một thân một mình, đành liều chịu chết, vì không nỡ trông thấy, nên bỏ mà về tới đây.
Sái công nói:
— Bây giờ hai người định đi đâu?
Trịnh Đan và Ỷ Tướng nói:
— Chúng tôi định về nước Sở.
Sái công nói:
— Hai ngươi hãy theo ta, cùng tìm xem tông tích vua Sở ở đâu, rồi sau sẽ về một thể.
Sái công đem đại binh đến đất Si Lương, chẳng thấy vua Sở đâu cả. Dân đấy biết là Sái công, liền đem mũ áo vua Sở đến nộp và nói với Sái công rằng:
— Mũ áo này là ba hôm trước chúng tôi bắt được ở trên cành liễu.
Sái công hỏi rằng:
— Vua Sở đã chết hay là còn sống, nhà ngươi có biết không?
Người ấy nói:
— Không biết.
Sái công nhận lấy mũ áo, rồi trọng thưởng cho người ấy. Sái công lại toan cố tìm Sở Linh Vương. Triều Ngô nói với Sái công rằng:
— Vua Sở bỏ mũ áo thế này là thế cùng lực kiệt lắm rồi, chắc cũng chết ở nơi ngòi rãnh, bất tất phải cố tìm nữa; nhưng nay Tử Can lên ngôi, nếu để chậm thì hắn thu thập được nhân tâm, ta khó lòng mà trừ nổi!
Sái công nói:
— Thế thì nên làm thế nào?
Triều Ngô nói:
— Người trong nước chưa rõ vua Sở sống chết thế nào, ta nhân lúc lòng dân chưa định này mà sai vài mươi tên quân giả cách thua trận chạy về, nói đại binh của vua Sở sắp tới, rồi lại sai Đấu Thành Nhiên về báo tin với Tử Can. Tử Can và Tử Tích đều là những kẻ nhát sợ vô mưu, nghe thấy tin ấy, tất nhiên kinh khiếp mà tự tử, bấy giờ Ngài cứ việc đem quân về, ung dung lên ngôi làm vua, chẳng còn lo ngại điều gì nữa!
Sái công khen phải, liền sai Quan Tòng đem hơn 100 quân giả cách thua trận, chạy về Dĩnh Đô, vừa chạy vừa kêu rằng:
— Sái công thua trận bị giết rồi! Đại binh của vua Sở cũng sắp sửa tới nơi!
Người trong nước tin là sự thật, ai cũng kinh sợ. Được một lúc, Đấu Thành Nhiên đến, cũng nói như vậy, người trong nước càng tin lắm, đều trèo cả lên mặt thành để trông ngóng. Đấu Thành Nhiên vào báo với Tử Can rằng:
— Vua Sở giận lắm, định đem quân về trị tội Đại vương, Đại vương nên liệu kế, khỏi đến nỗi đê nhục. Tôi đây cũng xin đi trốn!
Đấu Thành Nhiên nói xong, hoảng hốt bỏ đi ngay. Tử Can triệu Tử Tích vào, rồi nói lại cho Tử Tích nghe. Tử Tích nói:
— Thế này thì thật Triều Ngô làm hại ta!
Hai anh em (Tử Can và Tử Tích) ôm nhau mà khóc. Lại nghe đồn quân Sở Linh Vương đã kéo vào thành. Tử Tích rút gươm đâm cổ mà chết. Tử Can kinh sợ, cũng rút gươm tự tử. Trong cung náo động, hoạn quan và cung nữ sợ mà tự tử cũng nhiều, chết nằm ngổn ngang ở trong cung. Tiếng khóc như ri! Đấu Thành Nhiên lại đem quân vào, thu dọn những thây người chết, rồi đem các quan quần thần ra đón Sái công. Khi Sái công đến, người trong nước chưa biết, vẫn tưởng là Sở Linh Vương, đến lúc thấy Sái công, mới biết những tin hoảng báo trước, đều là mưu kế của Sái công bày ra cả. Sái công vào thành lên ngôi vua, đổi tên là Hùng Cư, tức là Sở Bình Vương. Dân nước Sở chưa ai biết là Sở Linh Vương chết, thường thường náo động, có khi đang đêm huyên truyền nhau là Sở Linh Vương về, ai nấy đều kinh sợ.
Sở Bình Vương lo lắm, mới bàn mưu với Quan Tòng, mật sai người lấy một cái thây người chết, đội mũ mặc áo Sở Linh Vương vào, thả ở thượng lưu sông Hán Thủy để cho trôi trở xuống, nói dối là thi thể Sở Linh Vương, vớt lên đem quàn ở đất Si Lương để làm lễ an táng, và hiểu dụ cho người trong nước biết, từ bấy giờ dân Sở mới được yên lòng. Cách 3 năm sau, Sở Bình Vương lại sai người tìm thi thể Sở Linh Vương. Thân Hợi mới bảo chỗ cho biết. Sở Bình Vương lại đem về làm lễ an táng.
Lại nói chuyện Tư mã Đốc sang vây nước Từ, lâu ngày không đánh được, sợ tội không dám rút quân về, liền tư thông với nước Từ, cứ đóng đồn giữ ở đấy; sau nghe tin Sở Linh Vương chết rồi mới dám rút quân về. Về đến đất Dự Chương, bị Công tử Quang nước Ngô (con trưởng Chư Phàn) đem quân đón đánh. Công tử Quang bắt được Tư mã Đốc, rồi thừa thế chiếm lấy ấp Châu Lai của nước Sở.
Khi Sở Bình Vương đã lên ngôi vua rồi, có làm lễ an táng cho Tử Can và Tử Tích. Cho Đấu Thành Nhiên làm lệnh doãn, Dương Mang (tên tự là Tử Hà) làm tả doãn. Nghĩ thương Viễn Yểm và Bá Châu Lê khi trước bị oan mà chết, mới cho con Bá Châu Lê là Bá Khước Uyển làm hữu doãn và em Viễn Yểm là Viễn Xạ cùng Viễn Việt đều làm đại phu; còn Triều Ngô, Hạ Khiết và Sái Hựu đều cho làm hạ đại phu. Lại thấy Công tử Phường là người dũng cảm, cho làm chức tư mã.
Bấy giờ Ngũ Cử đã chết rồi, Sở Bình Vương nghĩ đến khi trước là người hay trực gián, mới phong cho con là Ngũ Xa ở đất Liên, gọi là Liên công. Con Ngũ Xa là Ngũ Thượng cũng phong cho ở đất Đường, gọi là Đường công. Còn như bọn Viễn Khải Cương, Trịnh Đan và các quan triều thần đều được nguyên chức cũ. Sở Bình Vương lại muốn phong chức cho Quan Tòng. Quan Tòng nói là tổ phụ đời trước đã có giữ nghề bói, nay xin làm chức bốc doãn. Sở Bình Vương thuận cho. Các quan triều thần đều sụp lạy tạ ơn, chỉ có Triều Ngô và Sái Hựu xin từ chức mà đi. Sở Bình Vương hỏi cớ làm sao. Triều Ngô và Sái Hựu đều nói:
— Chúng tôi đem quân giúp Đại vương là có ý muốn cầu phục nước Sái. Nay Đại vương đã lên ngôi vua, mà tôn tự nước Sái chúng tôi vẫn chưa có ai cúng tế, chúng tôi còn mặt mũi nào mà đứng ở trong triều Đại vương. Ngày xưa vua Linh Vương tham sự chiếm đất, để cho lòng người oán giận; bây giờ Đại vương muốn thu lấy lòng người thì nên phục quốc cho nước Trần và nước Sái mới phải.
Sở Bình Vương khen phải, mới sai người tìm những dòng dõi vua Trần và vua Sái, được con Thế tử Yển Sư nước Trần tên là Ngô và con Thế tử Hữu nước Sái tên Lư; liền sai quan thái sư chọn ngày tốt phong cho Ngô làm Trần hầu tức là Trần Huệ công, Lư làm Sái hầu tức là Sái Bình công. Triều Ngô và Sái Hựu theo Sái Bình công trở về nước Sái. Hạ Khiết theo Trần Huệ công trở về nước Trần. Những quân Trần, Sái đều được khao thưởng, rồi nước nào lại rút về nước ấy. Bao nhiêu những châu báu của Trần, Sái mà khi trước Sở Linh Vương lấy về, đem chứa ở trong kho nước Sở, bấy giờ đều trả lại cho Trần, Sái cả. Sáu nước nhỏ mà khi trước Sở Linh Vương bắt thiên về phía Kinh Sơn, bấy giờ đều được trở về chốn cũ, bởi vậy vua tôi các nước ấy đều mừng rỡ và cám ơn Sở Bình Vương vô cùng.
Con trưởng Sở Bình Vương tên là Kiến, tên tự là Tử Mộc (người mẹ là con gái nước Sái) bấy giờ tuổi đã lớn, được thế tử. Sở Bình Vương lại cho Liên công là Ngũ Xa làm chức thái sư. Có một người nước Sở tên là Phí Vô Cực, xưa nay vẫn theo hầu Sở Bình Vương, khéo xu nịnh lắm, Sở Bình Vương có lòng yêu, cho làm đại phu. Phí Vô Cực xin theo Thế tử Kiến. Sở Bình Vương mới cho làm chức thiếu sư, lại cho Phấn Dương làm Đông cung tư mã. Sở Bình Vương thấy trong nước được thái bình, chỉ ngày đêm vui chơi về đường thanh sắc.
Nước Ngô chiếm mất ấp Châu Lai, Sở Bình Vương cũng chẳng nghĩ gì đến sự báo phục. Phí Vô Cực dẫu làm chức thiếu sư, nhưng ngày nào cũng theo hầu ở bên cạnh Sở Bình Vương. Thế tử Kiến ghét Phí Vô Cực là người xu nịnh, có ý khinh bỉ. Quan Lệnh doãn là Đấu Thành Nhiên cậy công chuyên quyền, Phí Vô Cực gièm với Sở Bình Vương mà giết đi, rồi cho Dương Mang làm lệnh doãn. Thế tử Kiến thường nói chuyện Đấu Thành Nhiên là chết oan, bởi vậy Phí Vô Cực lo sợ, thành ra hiềm khích với Thế tử Kiến. Phí Vô Cực lại tiến dẫn Yên Tương Sư, Sở Bình Vương cho làm chức hữu lĩnh, cũng có lòng yêu lắm.
Lại nói chuyện nước Tấn từ khi lập ra Tư Kỳ cung, chư hầu đều có lòng chán; đến đời Tấn Chiêu công lên làm vua, lại muốn chỉnh đốn lại công nghiệp của đời trước, nghe nói Tề Cảnh công cho Án Anh sang sứ nước Sở, cũng sai người đến trách nước Tề sao không sang triều kiến nước mình. Tề Cảnh công thấy Tấn và Sở trong nước nhiều việc biến loạn, có ý muốn thừa thế lên làm bá chủ, mới định nhân tiện sang triều kiến nước Tấn để xem Tấn Chiêu công là người thế nào. Khi Tề Cảnh công sang Tấn, cho kẻ dũng sĩ là Cổ Giã Tử đi theo.
Đi đến sông Hoàng Hà, Tề Cảnh công có con ngựa tả tham buộc ở mạn thuyền. Tề Cảnh công vốn yêu con ngựa ấy lắm, đang đứng xem chức ngữ nhân cho ngựa ăn, bỗng thấy một trận mưa to, sóng gió ầm ầm, thuyền nghiêng cả đi, có con giải lớn thò đầu lên trên mặt nước, há miệng thật to ghếch vào mạn thuyền, tha con ngựa tả tham lôi xuống sông. Tề Cảnh công kinh sợ. Cổ Giã Tử đứng ở bên cạnh, nói với Tề Cảnh công rằng:
— Chúa công chớ kinh sợ! Tôi xin đi tìm! Cổ Giã Tử nói xong, cởi áo cầm gươm, nhảy xuống dưới nước, bập bềnh trong làn sóng, trôi đi đến 9 dặm, rồi chẳng thấy tông tích đâu cả. Tề Cảnh công thở dài mà than rằng:
— Cổ Giã Tử chết mất rồi!
Được một lúc, sóng gió im lặng, trông thấy có máu chảy ở mặt nước, Cổ Giã Tử tay trái kéo đuôi ngựa tả tham, tay phải xách một cái đầu con giải, đầm đìa những máu, ở dưới nước lên. Tề Cảnh công kinh sợ mà khen rằng:
— Thế thì thật là thần dũng! Tiên quân ta ngày xưa đặt đội Dũng tước, cũng chưa có ai được giỏi như vậy!
Tề Cảnh công liền hậu thưởng cho Cổ Giã Tử. Khi đến nước Tấn, Tề Cảnh công vào yết kiến Tấn Chiêu công. Tấn Chiêu công bày tiệc thết đãi. Nước Tấn thì Tuân Ngô làm tướng lễ. Nước Tề thì Án Anh làm tướng lễ. Khi rượu đã ngà ngà say, Tấn Chiêu công nói với Tề Cảnh công rằng:
— Bây giờ không biết lấy gì làm vui, xin đánh đầu hồ.
Tề Cảnh công vâng lời. Thị vệ bày cái hồ ra và dâng một nắm tên để đánh. Tề Cảnh công nhường cho Tấn Chiêu công đánh trước. Tấn Chiêu công đang cầm cái tên ở trong tay, Tuân Ngô nói to lên mà khấn rằng:
“Có gò thịt cao, có ao rượu sâu, Chúa công tôi trúng phát tên này thì làm chủ chư hầu!”
Tấn Chiêu công buông mạnh một cái thì cái tên ấy trúng vào hồ, còn các cái tên khác, Tấn Chiêu công ném cả xuống đất. Các quan triều thần nước Tấn thấy vậy, đều sụp lạy chúc mừng Tấn Chiêu công. Tề Cảnh công có ý không bằng lòng, khi cầm cái tên để đánh đầu hồ, cũng khấn rằng:
“Có gò thịt cao, có ao rượu sâu, tôi trúng phát tên này thì thay nhà vua mà làm chủ chư hầu!”
Tề Cảnh công cũng buông mạnh một cái, trúng ngay vào trong hồ. Tề Cảnh công cười to lên, rồi ném nắm tên xuống đất. Án Anh cũng sụp lạy chúc mừng Tề Cảnh công. Tấn Chiêu công sầm nét mặt lại. Tuân Ngô nói với Tề Cảnh công rằng:
— Nhà vua khấn thế là không phải! Chỉ vì cớ nước Tấn tôi nối đời làm bá chủ mà nay nhà vua mới tới đây, sao nhà vua lại dám nói là thay Chúa công tôi làm chủ chư hầu!
Án Anh thay lời Tề Cảnh công mà đáp rằng:
— Bá chủ có nhất định bao giờ, ai có đức thì người ấy được. Ngày xưa nước Tề làm bá chủ, rồi đến nước Tấn thay; nước Tấn có đức thì ai dám không phục, nhược bằng không đức thì Ngô và Sở cũng có thể thay Tấn được, huống chi là Tề!
Dương Thiệt Bật nói:
— Hiện nay nước ta đang làm chủ chư hầu, việc gì phải bói đầu hồ mới biết! Tuân Ngô nói thế là không phải!
Tuân Ngô biết là lỗi ở mình, nín lặng không nói gì cả. Cổ Giã Tử đứng ở dưới thềm nói to lên rằng:
— Ngày đã về chiều, nên bãi cuộc rượu!
Tề Cảnh công cáo từ lui ra. Ngày hôm sau, trở về nước Tề. Dương Thiệt Bật nói với Tấn Chiêu công rằng:
— Chư hầu đã sắp có lòng ly tán, nếu không dùng binh lực thì sao giữ được quyền bá chủ.
Tấn Chiêu công khen phải, liền truyền lệnh tập quân mã và sai sứ sang nhà Chu xin cho một người vương thần đến, để hẹn tới tháng 7 năm ấy thì đại hội chư hầu ở đất Bình Khâu (đất nước Vệ), Chư hầu nghe nói có vương thần dự hội, đều phải đến cả. Tấn Chiêu công giao cho Hàn Khởi giữ nước rồi đem đại binh thẳng đường tiến sang Bộc Dương (kinh thành nước Vệ). Quân đóng cả thảy 30 trại. Chư hầu thấy quân Tấn nhiều thịnh như vậy, đều có ý sợ.
Khi khai hội, Dương Thiệt Bật bưng chậu máu dâng lên mà nói rằng:
— Tiên thần nước tôi là Triệu Vũ quá tin lời ước bãi binh mà giao hiếu với nước Sở; vua Sở là Hùng Kiền (tức là Sở Linh Vương) thất tín, đến nỗi diệt vong. Nay Chúa công tôi muốn bắt chước như kỳ hội Tiễn Thổ khi trước, trên nhờ ơn Thiên tử, dưới giữ yên Trung Nguyên, xin các nước cùng nhau uống máu ăn thề để đừng thất tín.
Các vua chư hầu đều cúi đầu mà đáp rằng:
— Xin vâng mệnh!
Chỉ có Tề Cảnh công nín lặng không nói gì cả. Dương Thiệt Bật nói với vua Tề rằng:
— Nhà vua có ý không muốn ăn thề hay sao?
Tề Cảnh công nói:
— Chư hầu không phục thì mới phải ăn thề, nếu ai cũng vâng mệnh thì còn thề làm gì nữa!
Dương Thiệt Bật nói:
— Kỳ hội ở Tiễn Thổ khi trước, nước nào là nước không phục, mà sao cũng phải ăn thề! Nhà vua không theo thì Chúa công tôi thế tất phải đem quân đến hỏi tội.
Dương Thiệt Bật nói chưa dứt lời thì nghe hiệu trống đánh, các trại quân đều cắm cờ đại bái cả. Tề Cảnh công có ý sợ, mới đổi giọng đáp rằng:
— Quí quốc còn cho việc ăn thề là không thể bỏ được, có đâu tôi lại dám không theo!
Bấy giờ Tấn Chiêu công uống máu ăn thề trước, rồi sau đến chư hầu, từ Tề, Tống trở xuống đều ăn thề cả. Vương thần là Lưu Trí không thể ăn thề, chỉ đứng chứng kiến mà thôi. Nước Châu và nước Cử đem việc nước Lỗ thường sang xâm nhiễu cáo với Tấn Chiêu công. Tấn Chiêu công trách Lỗ Chiêu công rồi bắt quan Thượng khanh nước Lỗ là Thúc Tôn Ý Như giam lại một chỗ. Tử Phục Huệ Bá nói riêng với Tuân Ngô rằng:
— Nước Lỗ to gấp mười nước Châu và nước Cử, nếu Tấn bỏ Lỗ thì Lỗ tất theo Tề và Sở, chẳng cũng thiệt cho Tấn lắm ru! Vả khi Sở đánh Trần và Sái, Tấn đã không cứu, mà nay lại còn bỏ một nước anh em hay sao!
Tuân Ngô khen phải, nói chuyện với Hàn Khởi. Hàn Khởi vào tâu với Tấn Chiêu công. Tấn Chiêu công liền tha cho Thúc Tôn Ý Như về nước Lỗ. Từ bấy giờ chư hầu đều có ý không phục nước Tấn.

