Đông Chu Liệt Quốc - Chương 75: Tôn vũ dạy cung nữ tập trận nang ngoã bắt chư hầu lễ tiến

Tôn Vũ dạy cung nữ tập trận

Nang Ngõa bắt chư hầu lễ tiền

Khánh Kỵ gần chết, dặn quân sĩ chớ giết Yêu Ly. Quân sĩ tha Yêu Ly. Yêu Ly không chịu đi mà bảo quân sĩ rằng:

— Ta có ba điều không thể dung được. Dẫu Công tử tha ta, ta cũng không tham sống làm gì!

Mọi người đều hỏi:

— Thế nào gọi là ba điều không thể dung được?

Yêu Ly nói:

— Vì đạo thờ vua mà giết cả vợ con, thế là bất nhân; vì vua mới mà giết con vua cũ, thế là bất nghĩa; nên việc cho người mà đến nỗi tàn hại cả thân và nhà, thế là bất trí. Có ba điều ác ấy, còn mặt mũi nào mà đứng trên cõi đời!

Yêu Ly nói xong, liền đâm đầu xuống sông. Người lái thuyền lại vớt Yêu Ly lên. Yêu Ly nói:

— Nhà ngươi vớt ta làm gì?

Người lái thuyền nói:

— Nhà ngươi về nước, tất được tước lộc, sao lại không về?

Yêu Ly nói:

— Ta không tiếc vợ con và tính mệnh, huống chi là tước lộc. Các ngươi đem xác ta về nước Ngô mà lấy trọng thưởng.

Yêu Ly giật lấy thanh kiếm của người đứng bên, chặt bỏ chân đi, rồi tự đâm cổ mà chết. Các người rủ nhau đem thi thể Yêu Ly và Khánh Kỵ sang nộp vua Ngô là Hạp Lư. Hạp Lư bằng lòng, trọng thưởng cho các người, rồi dùng lễ thượng khanh an táng Yêu Ly ở dưới cửa thành mà dặn rằng:

— Ta nhờ cái tài vũ dũng của nhà ngươi để giữ thành cho ta.

Hạp Lư lại truy tặng cho vợ con Yêu Ly nữa. Lập miếu thờ chung Yêu Ly với Chuyên Chư. Dùng lễ Công tử an táng Khánh Kỵ ở bên mộ Vương Liêu. Đại yến các quan triều thần, Ngũ Viên khóc mà tâu với Hạp Lư rằng:

— Những kẻ thù của Đại Vương đều trừ được cả, còn kẻ thù của tôi biết bao giờ trả xong!

Bá Hi cũng ứa nước mắt mà xin quân đánh Sở. Hạp Lư nói:

— Việc ấy để sáng mai hãy bàn.

Ngày hôm sau Ngũ Viên và Bá Hi lại vào yết kiến Hạp Lư. Hạp Lư nói:

— Ta muốn vì hai người đem quân đánh Sở, nhưng chẳng biết sai ai làm tướng cho được?

Ngũ Viên và Bá Hi đồng thanh mà đáp rằng:

— Tùy ý Đại Vương, chúng tôi xin hết sức!

Hạp Lư nghĩ thầm rằng Ngũ Viên và Bá Hi đều là người Sở, nếu đã báo thù được thì khi nào lại chịu ra sức giúp, mới nín lặng không nói gì cả, ngẩng mặt hứng gió nam mà thở dài.

Ngũ Viên hiểu ý, lại nói với Hạp Lư rằng:

— Đại Vương sợ nước Sở lắm quân nhiều tướng hay sao?

Hạp Lư nói:

— Chính thế!

Ngũ Viên nói:

— Tôi xin cử một người chắc là đánh được.

Hạp Lư hớn hở mà hỏi rằng:

— Nhà ngươi định cử ai? Cái tài người ấy thế nào?

Ngũ Viên nói:

— Người ấy họ Tôn tên Vũ, cũng là người nước Ngô ta.

Hạp Lư nghe nói người nước Ngô, có ý mừng rỡ. Ngũ Viên lại tâu rằng:

— Người này tinh thông thao lược, có làm ra 13 thiên binh pháp. Đời không mấy người biết tài. Hiện nay ẩn ở La Phù Sơn. Nếu được người ấy làm quân sư thì thiên hạ không ai địch nổi, huống chi là Sở!

Hạp Lư nói:

— Nhà ngươi thử vì ta triệu đến đây.

Ngũ Viên nói:

— Người này không phải tầm thường, nên phải đem lễ vật đến đón thì có lẽ mới chịu ra.

Hạp Lư theo lời, mới lấy mười nén hoàng kim, một đôi bạch bích, sai Ngũ Viên đến La Phù Sơn đón Tôn Vũ. Ngũ Viên vào yết kiến Tôn Vũ, giải bày những tình ý kính mến của Hạp Lư. Tôn Vũ mới theo Ngũ Viên vào yết kiến Hạp Lư. Hạp Lư xuống thềm mà đón, rồi mời ngồi, hỏi các sách binh pháp. Tôn Vũ đem mười ba thiên binh pháp đệ dâng Hạp Lư. Hạp Lư sai Ngũ Viên đọc cả lên một lượt. Ngũ Viên đọc. Mỗi khi đọc hết một chương thì Hạp Lư lại khen nức nở. Kể tên 13 thiên binh pháp ấy như sau này:

1. Thủy Kế Thiên; 2. Tác Chiến Thiên; 3. Mưu Công Thiên; 4. Quân Hình Thiên; 5. Binh Thế Thiên; 6. Hư Thực Thiên; 7. Quân Tranh Thiên; 8. Cửu Biến Thiên; 9. Hành Quân Thiên; 10. Địa Hình Thiên; 11. Tưu Địa Thiên; 12. Hỏa Công Thiên; 13. Dụng Gián Thiên.

Hạp Lư ngoảnh lại bảo Ngũ Viên rằng:

— Xem các sách binh pháp này, thật là có tài hiểu hết mọi việc trong khoảng trời đất, chỉ tiếc thay ta đây nước nhỏ quân ít, biết làm thế nào?

Tôn Vũ nói:

— Cứ như binh pháp của tôi thì chẳng những dùng trong đám quân sĩ mà thôi, dẫu đến đàn bà con gái biết theo hiệu lệnh của tôi, cũng có thể đem đi đánh giặc được.

Hạp Lư vỗ tay cười mà nói rằng:

— Sao nhà ngươi nói viển vông quá vậy, có lẽ nào đàn bà con gái mà lại cầm gươm tập trận được!

Tôn Vũ nói:

— Đại vương bảo lời nói của tôi là viển vông thì Đại vương cho phép tôi luyện tập các cung nữ, nếu không luyện tập được tôi xin chịu tội.

Hạp Lư truyền dem 300 cung nữ giao cho Tôn Vũ luyện tập. Tôn Vũ nói:

— Xin Đại vương chọn cho hai người sủng cơ để làm đội trưởng thì hiệu lệnh mới có thể thi hành được.

Hạp Lư lại truyền gọi hai người sủng cơ là Tả Cơ và Hữu Cơ đến trước mặt mà bảo Tôn Vũ rằng:

— Hai nàng này là người yêu của ta, phỏng có làm đội trưởng được hay không?

Tôn Vũ nói:

— Làm được! Nhưng phàm việc binh tất phải có thưởng phạt thì hiệu lệnh mới được nghiêm chỉnh, xin Đại vương cho lập một người làm chấp pháp, một người làm quân lại để truyền bá hiệu lệnh, hai người làm cổ lại để cầm trống và mấy người làm nha tướng để cầm gươm giáo đứng ở trên đàn cho trọng sự thể.

Hạp Lư đều thuận cho cả. Tôn Vũ chia đám cung nữ ra làm tả đội và hữu đội, cho Tả Cơ quản lĩnh tả đội, còn Hữu Cơ quản lĩnh hữu đội. Hai đội đều mặc binh phục và cầm binh khí. Tôn Vũ tuyên bá hiệu lệnh có ba điều:

1. Không được hỗn loạn hàng ngũ;

2. Không được cười nói ầm ĩ;

3. Không được làm trái pháp luật.

Tôn Vũ hẹn đến sáng ngày mai thì đến hội tại nơi giáo trường để tập trận. Hạp Lư trèo lên trên đài để ngồi xem. Đầu canh năm ngày hôm sau, hai đạo cung nữ đều đến giáo trường. Người nào cũng mình mặc áo giáp, đầu đội mũ trụ, tay phải cầm kiếm, tay trái cầm mộc. Tả Cơ và Hữu Cơ thì đóng quần áo tướng, đứng ở đầu hàng quân. Tôn Vũ thân hành ra chỉ bảo mẫu mực và bày thành trận thế. Lại truyền đem hai lá cờ vàng trao cho Tả Cơ và Hữu Cơ để cầm đứng trước, còn các cung nữ đứng ở sau. Hai đội phục cả hai bên để nghe lệnh. Tôn Vũ hạ lệnh rằng:

— Hễ nghe thấy hồi trống thứ nhất thì hai đội liền đứng dậy cả; hồi trống thứ hai thì tả đội quanh về bên hữu, mà hữu đội quanh về bên tả; hồi trống thứ ba thỉ giơ kiếm ra như thể đánh nhau; nghe thấy hiệu thanh la thì rút quân kéo lui.

Các cung nữ đều bưng miệng cười. Chức cổ lại đánh một hồi trống. Các cung nữ kẻ ngồi kẻ đứng, không được đều nhau. Tôn Vũ đứng dậy mà nói rằng:

— Hiệu lệnh không minh và pháp luật không tin là tội quan tướng đó!

Tôn Vũ truyền cho chức quân lại tuyên bá hiệu lệnh một lần nữa. Chức cổ lại đánh một hồi trống, các cung nữ đều đứng dậy nhưng nghiêng nghiêng vẹo vẹo, đổ xô vào nhau, vẫn cười như trước. Tôn Vũ liền vén hai tay áo, cầm lấy dùi mà đánh trống. Lại tuyên báo hiệu lệnh như trước. Tả Cơ và Hữu Cơ cùng các cung nữ đều cười tất cả.

Tôn Vũ giận lắm, cau mày trừng mắt, liền gọi:

— Chức chấp pháp đâu!

Chức chấp pháp đến quì ở trước mặt. Tôn Vũ nói:

— Hiệu lệnh không minh và pháp luật không tin là tội quan tướng đó! Đã tuyên bá hiệu lệnh mà quân sĩ không theo thì tội tại quân sĩ đó! Cứ theo quân pháp nên trị tội gì?

Chức chấp pháp nói:

— Nên chém!

Tôn Vũ nói:

— Quân sĩ không thể giết hết được, ta nên trị tội hai người đội trưởng!

Tôn Vũ truyền đem hai người nữ đội trưởng ra chém để làm gương cho các quân sĩ. Các nha tướng trông thấy Tôn Vũ hầm hầm nổi giận, không dám trái mệnh, liền trói Tả Cơ và Hữu Cơ điệu ra. Hạp Lư ngồi ở trên đài trông thấy, vội vàng sai Bá Hi cầm cờ tiết đến nói với Tôn Vũ rằng:

— Ta đã biết cái tài dụng binh của Tướng quân rồi. Nhưng hai nàng ấy là người nâng khăn sửa túi của ta mà rất hợp ý ta lắm. Ta không có hai nàng ấy thì ăn không biết ngon, xin Tướng quân tha cho.

Tôn Vũ nói:

— Việc quân không phải là việc đùa! Tôi đã chịu mệnh làm tướng rồi thì khi ở trong đám quân, dẫu có mệnh vua cũng không được phép theo nữa. Nếu theo mệnh vua mà tha cho kẻ có tội thì sao cho quân sĩ phục.

Tôn Vũ truyền chém ngay Tả Cơ và Hữu Cơ, đem bêu đầu ở trước hàng quân. Các cung nữ đều sợ run cầm cập, không dám ngẩng nhìn. Tôn Vũ lựa chọn hai người khác ở trong hai đội ấy cho làm tả đội trưởng và hữu đội trưởng, lại nổi trống và tuyên bá hiệu lệnh: hồi trống thứ nhất đều đứng dậy cả; hồi trống thứ hai đều đi vòng quanh; hồi trống thứ ba hai bên đều hợp chiến, lại đánh thanh la rút quân kéo lui. Lúc tiến lúc lui đều được đúng khuôn phép, không sai một chút nào. Từ trước đến sau đều im lặng như tờ. Bấy giờ Tôn Vũ sai chức chấp pháp đến tâu với Hạp Lư rằng:

— Quân đội đã được chỉnh tề rồi, xin tùy ý Đại vương sai khiến, bây giờ dẫu Đại vương sai nhảy vào đống lửa, cũng không ai dám lùi tránh.

Hạp Lư thương Tả Cơ và Hữu Cơ lắm, sai làm lễ hậu táng ở Hoành Sơn, rồi lập bàn thờ, gọi là Ái Cơ Từ. Vì cái lòng thương Tả Cơ và Hữu Cơ, mới có ý không muốn dùng Tôn Vũ. Ngũ Viên nói với Hạp Lư rằng:

— Đại vương muốn đánh Sở mà làm bá chủ trong thiên hạ, mong tìm được người tướng giỏi. Người tướng giỏi, cần nhất là một điều quả quyết, nếu không Tôn Vũ thì ai là người dám trèo non vượt suối, trải qua nghìn dặm mà sang đánh Sở bây giờ! Gái đẹp dễ có, chứ tướng giỏi khó tìm, nay thương hai nàng ấy mà bỏ mất một tướng giỏi thì khác nào như tiếc đám cỏ xấu mà bỏ mất lúa tốt hay không?

Hạp Lư mới tỉnh ngộ ra, liền phong Tôn Vũ làm thượng tướng quân, gọi là quân sư, giao việc đánh Sở. Ngũ Viên hỏi Tôn Vũ rằng:

— Bây giờ tiến binh nên làm thế nào?

Tôn Vũ nói:

— Phàm việc dụng binh, trước hết phải giữ gìn mặt trong đã, rồi mới có thể đánh mặt ngoài được. Tôi nghe nói em Vương Liêu là Yểm Dư ở nước Từ, Chúc Dung ở nước Chung Ngô, hai người ấy đều có ý muốn báo thù. Ngày nay ta nên trừ bỏ hai người ấy, rồi sẽ tiến binh đánh Sở.

Ngũ Viên khen phải, tâu với Hạp Lư. Hạp Lư nói:

— Từ và Chung Ngô đều là nước nhỏ, ta sai sứ đến bảo bắt hộ, tất phải nghe lời.

Hạp Lư liền sai hai người: một người sang Từ bắt Yểm Dư và một người sang Chung Ngô bắt Chúc Dung. Vua Từ là Chương Vũ không nỡ để cho Yểm Dư chết, mới mật sai người báo Yểm Dư. Yểm Dư trốn đi, lại gặp Chúc Dung. Hai người bàn nhau chạy sang nước Sở. Sở Chiêu Vương mừng mà nói rằng:

— Hai Công tử ấy đều thâm oán nước Ngô, ta nên nhân lúc chúng cùng khốn mà kết nạp.

Sở Chiêu Vương cho hai Công tử ở đất Thư Thành, để luyện tập quân mã mà chống nhau với nước Ngô. Hạp Lư giận nước Từ và nước Chung Ngô, sai Tôn Vũ đem quân đi đánh. Vua Từ là Chương Vũ chạy sang nước Sở. Tôn Vũ bắt vua nước Chung Ngô đem về, lại lẻn sang đánh Thư Thành, giết Yểm Dư và Chúc Dung. Hạp Lư muốn thừa thắng tiến vào đánh Dĩnh Đô (kinh thành nước Sở). Tôn Vũ nói với Hạp Lư rằng:

— Sức dân đã mỏi mệt, chưa nên dùng vội.

Tôn Vũ nói xong, liền rút quân về. Ngũ Viên hiến kế rằng:

— Phàm ít mà thắng được nhiều, yếu mà thắng được mạnh là tất phải có hiểu cái lẽ dĩ dật đãi lao. Tấn Điệu công ngày xưa chia quân làm ba đạo để làm cho Sở phải khó nhọc, mới đánh được Sở ở đất Tiêu Ngư. Kẻ cầm quyền nước Sở ngày nay đều là những phường ngu dốt không biết gì, xin Đại vương cũng chia quân làm ba đạo để cho sang quấy nhiễu nước Sở, cứ thay đổi nhau, Sở ra thì ra về, mà Sở về thì ra lại ra, khiến cho kẻ kia mỏi mệt, bấy giờ ta sẽ kéo cả ra mà đánh thì tất phá vỡ được.

Hạp Lư khen phải, mới chia quân làm hai đạo, cho sang quấy nhiễu bờ cõi nước Sở. Nước Sở đem quân ra cứu, nước Ngô lại rút về, làm cho người nước Sở rất khổ. Hạp Lư có người con gái yêu tên là Thắng Ngọc. Một hôm ăn tiệc, người nhà bếp dâng món cá hấp. Hạp Lư ăn một nửa, còn thừa đưa cho Thắng Ngọc. Thắng Ngọc nổi giận, nói:

— Đại vương cho con cá ăn dở, thế là làm nhục ta, ta còn sống làm gì nữa!

Thắng Ngọc lui ra, liền tự tử mà chết. Hạp Lư thương lắm mới làm một cái lăng thật to ở ngoài cửa Sương môn, đào hào đắp lũy, những chỗ đất đào thành ra cái hồ lớn (tức là hồ Nữ Phần bây giờ); lại tạc đá hoa để làm quách, bao nhiêu những vàng bạc châu báu ở trong kho, đem chôn gần nửa phần; lại chôn thêm cả một thanh bảo kiếm là thanh kiếm Bàn Dĩnh. Sai người múa bạch hạc ở giữa chốn Ngô Thị. Dân kéo đến xem hàng vạn người, nhân tiện bảo các người xem đều vào cửa Toại môn để tống táng. Trong cửa Toại môn có làm một cái máy. Khi dân đã kéo ồ vào, liền giật máy cho cửa đóng sập lại, rồi đem đất lấp. Kể hàng vạn người, vừa trai vừa gái, đều chết tất cả.

Hạp Lư nói:

— Ta khiến cho hàng vạn người chết theo thì con gái ta ở dưới suối vàng không đến nỗi buồn bã!

Đến bây giờ tục nước Ngô: trên nhà tang đình hay làm con bạch hạc là bởi chuyện này. Lại nói chuyện Sở Chiêu Vương, một hôm đang nằm trong cung bỗng sực thức dậy, thấy bên gối nằm có hào quang sáng rực, liền ngoảnh trông, bắt được một thanh bảo kiếm. Sáng hôm sau, sai triệu Phong Hồ Tử là một người giỏi xem kiếm vào cung, rồi đưa thanh kiếm cho xem. Phong Hồ Tử trông thấy thanh kiếm, kinh sợ mà nói rằng:

— Đại vương lấy đâu được thế này!

Phong Hồ Tử nói:

— Đêm qua ta ngủ dậy, bắt được ở bên gối, chẳng hay đó là thanh kiếm gì?

Phong Hồ Tử nói:

— Đây là thanh kiếm Trạm Lư của một người kiếm sư tên gọi Âu Giã Tử đúc ra. Ngày xưa vua nước Việt đúc được năm thanh kiếm. Vua nước Ngô là Thọ Mộng muốn lấy, vua nước Việt mới đem dâng ba thanh là Ngư Trường, Bàn Dĩnh và Trạm Lư. Thanh kiếm Ngư Trường, sau đâm chết Vương Liêu, thanh kiếm Bàn Dĩnh sau chôn theo con gái Hạp Lư, chỉ còn có một thanh kiếm Trạm Lư này. Tôi nghe nói thanh thần kiếm này thiêng liêng lắm, hễ ông vua làm điều trái lẽ thì thanh kiếm này biến đi mất, mà thanh kiếm này hiện ra ở nước nào thì nước ấy được cường thịnh. Nay vua Ngô giết Vương Liêu để cướp ngôi, lại chôn sống hàng vạn người để chết theo con gái, người nước Ngô ai cũng oán giận, vậy nên thanh kiếm Trạm Lư này bỏ chỗ vô đạo mà đến chỗ hữu đạo đó!

Sở Chiêu Vương bằng lòng, quí thanh kiếm Trạm Lư lắm, rồi đeo luôn ở cạnh mình, lại tuyên bá cho người trong nước biết, lấy làm một cái điềm hay. Hạp Lư mất thanh kiếm, sai người đi dò tìm. Có kẻ bảo là thanh kiếm ấy đã về nước Sở. Hạp Lư nổi giận nói:

— Đó tất là vua Sở đút tiền cho những người thị vệ ta để lấy trộm thanh kiếm của ta!

Hạp Lư tức thì giết chết mấy chục người thị vệ vẫn hầu chung quanh; lại sai Tôn Vũ, Ngũ Viên và Bá Hi đem quân đi đánh Sở, và sai sứ sang mượn quân nước Việt. Vua nước Việt là Doãn Thường chưa tuyệt giao với Sở, không chịu phát binh. Khi bọn Tôn Vũ đã đánh được đất Lục và đất Tiềm của nước Sở, không thấy có quân tiếp ứng, liền rút quân về. Hạp Lư giận nước Việt không chịu phát binh đánh Sở, toan quay sang đánh. Tôn Vũ can rằng:

— Năm nay tuế tinh ở về địa phận nước Việt. Ta đánh Việt tất không lợi.

Hạp Lư không nghe, đem quân đánh Việt; phá vỡ quân nước Việt ở đất Huề Lý, cướp lấy của cải rồi lại rút về. Tôn Vũ nói riêng với Ngũ Viên rằng:

— Sau bốn mươi năm nữa, chắc là nước Việt cường thịnh mà nước Ngô phải suy vong!

Năm sau, quan Lệnh doãn nước Sở là Nang Ngõa đem quân đánh Ngô, để báo thù trận đánh ở đất Lục và đất Tiềm khi trước. Hạp Lư sai Tôn Vũ và Ngũ Viên đem quân ra nghênh chiến, phá vỡ quân nước Sở ở đất Sào, bắt được tướng Sở là Can Phồn đem về. Hạp Lư nói:

— Chưa vào tới Dĩnh Đô (kinh thành nước Sở) thì dẫu phá vỡ quân Sở, cũng là vô công!

Ngũ Viên nói:

— Tôi có lúc nào quên được Dĩnh Đô đâu, chỉ vì nước Sở đang cường thịnh, chớ nên khinh thường. Nang Ngõa (quan Lệnh Doãn nước Sở) dẫu không được lòng dân, mà chưa ai ghét cả, nhưng tôi nghe Nang Ngõa hay ăn tiền, chẳng bao lâu chư hầu tất cũng sinh biến, bấy giờ ta sẽ nhân dịp mà đánh Sở.

Hạp Lư giao cho Tôn Vũ luyện tập thủy quân; còn Ngũ Viên thì ngày nào cũng sai người dò thám công việc nước Sở. Một hôm nghe báo có nước Đường và nước Sái sai sứ sang thông hiếu, hiện đã tới cõi ngoài. Ngũ Viên mừng mà nói rằng:

— Đường và Sái đều là thuộc quốc của nước Sở nay tự nhiên sai sứ sang thông hiếu với ta, tất bởi có lòng oán Sở. Ấy là cái cơ hội trời khiến cho ta phá Sở, tiến vào Dĩnh Đô đó!

Nguyên các nước chư hầu thấy Sở Chiêu Vương bắt được thanh kiếm Trạm Lư, đều đến chúc mừng. Đường Thành công và Sái Chiêu công cũng đến. Sái Chiêu công có một đôi dương chi bạch ngọc bội và hai bức ngân điêu thử cừu, mới đem mỗi thứ một chiếc dâng Sở Chiêu Vương để làm lễ chúc mừng, còn thì để mình đeo và mặc. Nang Ngõa trông thấy thích lắm, sai người đòi lấy. Đường Thành công có một đôi ngựa rất quí, tên gọi Túc Sương, đem đôi ngựa ấy thắng xe đi đến nước Sở, đi nhanh mà êm lắm! Nang Ngõa cũng có ý thích, sai người đòi lấy, Đường Thành công không cho.

Khi Đường Thành công và Sái Chiêu công vào triều xong, Nang Ngõa nói dèm với Sở Chiêu Vương rằng:

— Đường và Sái tư thông với Ngô, nếu tha cho về thì tất dẫn Ngô sang đánh Sở, chi bằng ta bắt giữ lại.

Sở Chiêu Vương truyền cho giam Đường Thành công và Sở Chiêu Vương ở nhà quán xá, cho 1.000 quân canh giữ. Bấy giờ Sở Chiêu Vương còn ít tuổi, quyền chính đều ở tay Nang Ngõa. Đường Thành công và Sái Chiêu công bị giam ở Sở, đã ba năm trời. Thế tử nước Đường không thấy Đường Thành công về, sai quan Đại phu là Công tôn Triết đến nước Sở thăm tin, mới biết là Đường Thành công bị giam. Công tôn Triết nói riêng với thị vệ rằng:

— Chúa công ta tiếc đôi ngựa mà chịu giam mãi ở nước Sở, sao lại trọng súc vật mà khinh nước nhà như thế! Chi bằng chúng ta lấy trộm đôi ngựa ấy đem dâng quan Lệnh doãn nước Sở; dẫu khi Chúa công về nước, có trị chúng ta về tội trộm ngựa thì chúng ta cũng cam lòng!

Các thị vệ theo lời, liền đem rượu cho kẻ ngữ nhân uống thật say, rồi lấy trộm đôi ngựa đem dâng Nang Ngõa và nói với Nang Ngõa rằng:

— Chúa công tôi có lòng kính mến quan Lệnh Doãn, vậy sai chúng tôi đem đôi ngựa quí này đến dâng.

Nang Ngõa mừng lắm, nhận lấy đôi ngựa. Ngày hôm sau vào tâu với Sở Chiêu Vương rằng:

— Nước Đường đất nhỏ quân ít, dẫu ta có tha cho về, cũng chẳng làm gì ta nổi.

Sở Chiêu Vương nghe lời, tức thì tha cho Đường Thành công về nước. Khi Đường Thành công đã về đền nước Đường. Công tôn Triết và các thị vệ đều sụp lạy ở trước sân để xin chịu tội. Đường Thành công nói:

— Nếu các ngươi không đem ngựa mà dâng cho đứa tham phu ấy thì làm sao ta được về nước. Đó là cái lỗi của ta, các ngươi cũng chớ oán ta mà thôi.

Đường Thành công trọng thưởng cho Công tôn Triết và các thị vệ. Sái Chiêu công nghe nói Đường Thành công dâng ngựa được về, cũng đem áo cừu và ngọc bội dâng Nang Ngõa. Nang Ngõa lại nói với Sở Chiêu Vương rằng:

— Sái cũng như Đường, ta đã tha cho Đường thì còn giữ Sái làm gì nữa.

Sở Chiêu Vương theo lời. Sái Chiêu công cáo từ lui về, trong lòng căm tức; khi đến sông Hàn Thủy, cầm viên bạch bích ném xuống sông mà thề rằng:

— Nếu ta không đánh được Sở mà lại qua sông này nữa thì xin chết như thế này!

Khi về nước tức khắc cho Thế tử Nguyên sang ở làm tin tại nước Tấn, để mượn quân đánh nước Sở. Tấn Định công đem việc Nang Ngõa tham lam vào tố cáo với Chu Kinh Vương. Chu Kinh Vương sai quan khanh sĩ là Lưu Quyền đem quân đến giúp. Tống, Tề, Lỗ, Vệ, Trần, Trịnh, Hứa, Tào, Cử, Châu, Đốc, Hồ, Đăng, Tiết, Kỷ, Tiểu Châu Tử và Sái, cả thẩy 17 nước chư hầu đều oán Nang Ngõa là người tham lam mà đem quân theo Tấn. Sĩ Ưởng nước Tấn làm đại tướng, Tuân Dinh làm phó tướng, đem quân chư hầu đi hội ở đất Thiệu Lãng, Tuân Di nghĩ mình vì Sái đánh Sở là có công với Sái, vậy cũng muốn đòi ăn tiền, sai người bảo Sái Chiêu công rằng:

— Tôi nghe nói nhà vua có áo cừu và ngọc bội, đem dâng vua nước Sở, sao đến nước tôi không có gì cả. Chúng tôi vì nhà vua mà cất quân đi, kể hàng nghìn dặm, chẳng hay nhà vua định lấy gì mà khao thưởng quân sĩ của nước tôi?

Sái Chiêu công nói:

— Tôi thấy quan Lệnh doãn nước Sở là người tham lam, vậy nên bỏ Sở mà theo Tấn. Nay ngài nghĩ cái nghĩa minh chủ mà đem quân đánh Sở thì 500 dặm đất ở Kinh Tương kia đều là khao thưởng quân sĩ cả, còn gì lợi hơn!

Tuân Di nghe nói, có ý hổ thẹn. Bấy giờ trời mưa to luôn mãi, quan khanh sĩ nhà Chu bị bệnh sốt rét, Tuân Di mới nói với Sĩ Ưởng rằng:

— Ngày xưa Tề Hoàn công cường thịnh như thế mà còn chịu đóng quân ở Thiệu Lăng để giảng hòa với Sở. Tiên quân nước ta là Văn công chỉ được Sở có một trận mà việc tranh chiến cứ lan man mãi không thôi. Nước ta từ khi cùng Sở giảng hòa, hai bên vẫn không hiềm khích gì với nhau, vậy thì ta không nên gây ra việc tranh chiến. Huống chi độ này mưa nhiều nước lụt, bệnh sốt rét đang phát, tôi e rằng tiến lên vị tất đã đánh được Sở, mà lui về lại bị quân Sở đuổi theo, ta nên lo trước mới được.

Sĩ Ưởng cũng là một đứa tham phu, muốn ăn tiền của nước Sái, nhưng chưa được mãn nguyện, mới mượn cớ mưa nhiều nước lụt, tiến binh không lợi, cho Thế tử Nguyên trở về nước Sái rồi hạ lệnh rút quân. Các nước chư hầu thấy nước Tấn rút quân, cũng đều rút quân về nước cả. Sái Chiêu công thấy các nước rút quân về, trong lòng chán ngán, khi về qua nước Thẩm giận vua Thẩm không theo đánh Sở, mới sai quan Đại phu là Công tôn Tinh đem quân đánh Thẩm, bắt vua Thẩm giết đi, để cho hả cái lòng oán Sở, Nang Ngõa giận lắm, đem quân đánh Sái, vây thành nước Sái. Công tôn Tinh nói với Sái Chiêu công rằng:

— Ta không trông cậy về nước Tấn được, chi bằng sang cầu viện nước Ngô. Các quan nước Ngô như Ngũ Viên, Bá Hi đều là cừu địch với Sở, tất thế nào cũng giúp ta.

Sái Chiêu công nghe lời, liền sai Công tôn Tinh sang ước với Đường Thành công để cùng đi mượn quân nước Ngô. Lại cho người con thứ là Công tử Kiền sang ở làm tin, Ngũ Viên đưa vào yết kiến Hạp Lư và nói với Hạp Lư rằng:

— Đường và Sái oán giận nước Sở mà xin làm tiên phong để sang đánh Sở. Cứu Sái là một cái tiếng tốt, đánh Sở là một cái lợi to. Đại vương muốn tiến binh vào Dĩnh Đô thì nên nhân cơ hội này!

Hạp Lư nhận lời, rồi sai Công tôn Tinh về trước để báo cho Sái Chiêu công biết. Hạp Lư đang bàn việc tiến binh, bỗng nghe báo có Quân sư là Tôn Vũ xin vào yết kiến. Hạp Lư mời vào. Tôn Vũ nói với Hạp Lư rằng:

— Nước Sở khó đánh là vì có nhiều thuộc quốc, ta chưa dễ tiến đến tận nơi được. Nay vua Tấn xướng lên một câu mà 18 nước họp; trong 18 nước ấy thì Trần, Hứa, Hồ và Đốn đều là thuộc quốc của nước Sở, mà cũng bỏ Sở theo Tấn, xem thế thì biết người ta đều oán Sở, chẳng những Đường và Sái, phen này nước Sở thế cô rồi!

Hạp Lư bằng lòng, sai Bị Ly và Chuyên Nghị giúp Thế tử Ba giữ nước, cho Tôn Vũ làm đại tướng, Ngũ Viên và Bá Hi làm phó tướng, Công tử Phu Khái làm tiên phong, Công tử Sơn đốc vận lương thực, rồi đem 60.000 quân Ngô theo đường thủy qua sông Hoài, tiến sang nước Sái. Nang Ngõa thấy Ngô thế to lắm, liền giải vây nước Sái mà chạy về, lại sợ quân Ngô kéo qua sông Hàn Thủy, mới đóng quân giữ ở đấy và sai người về Dĩnh Đô cáo cấp. Sái Chiêu công ra nghênh tiếp Hạp Lư, rồi kể những tội ác của vua tôi nước Sở, vừa kể vừa khóc. Được một lúc Đường Thành công cũng đến. Đường Thành công và Sái Chiêu công tình nguyện cùng theo đánh Sở. Lúc sắp khởi hành, Tôn Vũ truyền cho quân sĩ lên cả đường bộ, còn bao nhiêu thuyền bè cứ để ở khúc sông Hoài. Ngũ Viên thấy vậy, hỏi riêng Tôn Vũ.

Tôn Vũ nói:

— Ta đi đường thủy thì ngược nước mà chậm, khiến cho quân Sở phòng bị trước được, khó lòng phá nổi.

Ngũ Viên rất lấy làm phục. Đại binh nước Ngô qua đường Dự Chương tiến thẳng đến đóng ở phía Bắc sông Hán Thủy, còn quân Sở đóng ở phía nam. Nang Ngõa ngày đêm chỉ lo quân Ngô tiến đến, nghe nói thuyền bè nước Ngô đóng cả ở khúc sông Hoài, bấy giờ yên mới lòng. Sở Chiêu Vương nghe tin quân Ngô sắp sang đánh, liền họp các quan lại để hỏi kế. Công tử Thân nói:

— Tử Thường không phải là tài đại tướng. Đại vương nên sai quan Tư mã là Thẩm Doãn Thú đem quân đi giữ cho quân Ngô khỏi sang qua sông Hán Thủy, kẻ kia đi xa xôi không có tiếp ứng thì tất không ở lâu được!

Sở Chiêu Vương theo lời, Thẩm Doãn Thú đem 15.000 quân hợp cũng Nang Ngõa để chống giữ với quân Ngô. Thẩm Doãn Thú đem quân tới nơi. Nang Ngõa đón vào. Thẩm Doãn Thú hỏi rằng:

— Quân Ngô đi đường nào mà đến đây chóng được như vậy? Nang Ngõa nói:

— Quân Ngô bỏ thuyền bè ở khúc sông Hoài, rồi theo đường bộ qua Dự Chương tới đây.

Thẩm Doãn Thú cười ha hả mà nói rằng:

— Người ta nói Tôn Vũ dụng binh như thần, cứ như ta xem thì khác nào trò trẻ.

Nang Ngõa hỏi:

— Sao vậy?

Thẩm Doãn Thú nói:

— Người nước Ngô tập quen thuyền bè, lợi về sự đánh thủy, nay lại bỏ thuyền bè ở khúc sông Hoài để đi cho chóng, vạn nhất thua trận thì lấy đường nào mà chạy về. Ta nghĩ cũng nực cười!

Nang Ngõa nói:

— Quân kia hiện đang đóng ở phía bắc sông Hán Thủy, ta dùng kế gì mà phá được

Thẩm Doãn Thú nói:

— Tôi chia cho Ngài năm ngàn quân. Ngài cứ theo dọc bờ sông Hán Thủy mà đóng đồn, bao nhiêu thuyền bè bắt để cả ở bên này sông, lại sai quân thủy đi tuần khắp mặt sông, khiến cho quân Ngô không thể nào mà sang qua sông được, rồi tôi đem đại binh qua đường Tân Tức đi thẳng sang sông Hoài, đốt hết những thuyền bè của quân Ngô đi lại, dùng gỗ, đá lấp con đường Hán Đông. Khi bấy giờ Ngài đem quân qua sông Hán Thủy đánh vào mặt trước, tôi đem quân đánh mặt sau. Kẻ kia thủy bộ đều nghẽn cả, không có đường mà chạy, chắc hẳn là ta bắt sống được vua tôi nước Ngô.

Nang Ngõa mừng lắm, nói:

— Tôi chịu kém cái tài cao đoán của quan Tư mã.

Thẩm Doãn Thú cho quan Đại tướng là Vũ Thành Hắc coi năm ngàn quân ở lại để giúp Nang Ngõa, còn mình đem đại binh tiến thẳng về con đường Tân Tức.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.