Đông Chu Liệt Quốc - Chương 90: Tô tần làm tướng sáu nước trương nghi tức giận sang tần
Tô Tần làm tướng sáu nước
Trương Nghi tức giận sang Tần
Lại nói Tô Tần, Trương Nghi từ khi từ tạ Quỉ Cốc tiên sinh xuống núi, Trương Nghi về nước Ngụy, còn Tô Tần về Lạc Dương. Trong nhà Tần còn mẹ già, một anh hai em, anh mất sớm, chỉ còn người chị dâu góa và hai em, là Tô Đại, Tô Lệ, mấy năm cách mặt ngày nay gặp, cả nhà ai nấy đều vui mừng. Vài ngày sau, Tô Tần muốn đi chơi các nước, xin mẹ già cho bán gia tài để làm hành phí, mẹ già, chị dâu và vợ đều hết sức ngăn trở nói rằng:
— Quý Tử không chịu cày cấy hay buôn bán cầu lợi, chỉ nghĩ lấy miệng lưỡi cầu giàu sang, bỏ cái nghiệp đã thành, cầu cái lợi chưa được, sau này bị nghèo túng, lại chẳng lấy làm hối ư?
Tô Đại, Tô Lệ cũng nói rằng:
— Anh nếu giỏi cái thuật du thuyết, sao không đến nói với Chu Vương cũng có thể thành danh được ở bản hương, cần gì phải đi đâu xa.
Tô Tần bị cả nhà ngăn trở, bèn đi đến xin yết kiến Chu Hiển Vương, bày tỏ cái thuật tự cường. Vương mời lại quán xá, tả hữu đều biết Tô Tần vốn là con nhà làm ruộng, ngờ là người chỉ nói hão huyền, không có thực dụng, không chịu cất nhắc với Chu Hiển Vương. Tô Tần lưu ở quán xá đến hơn năm trời không thể tiến thân được, bực tức bỏ về nhà, bán hết gia sản được một trăm dật hoàng kim, may một cái áo điêu cừu đen, sắm sửa xe ngựa và có đủ kẻ hầu hạ đi chơi các nước, xem xét hình thể núi sông và phong tục nhân dân, rõ hết các điều lợi hại trong thiên hạ. Như thế đến vài năm mà Tô Tần chưa gặp được ông vua nào biết dùng. Nghe nói Vệ Ưởng được phong làm Thương Quân, được Tần Hiếu công tin dùng lắm, Tô Tần bèn đi sang Hàm Dương, nhưng đến nơi thì Tần Hiếu công đã mất, Thương Quân cũng chết, bèn xin vào yết kiến Huệ Văn Vương. Huệ Vương cho triệu Tần vào trong điện hỏi rằng:
— Tiên sinh không quản nghìn dặm xa xôi mà đến tệ ấp, chẳng hay có điều gì sẽ dạy bảo quả nhân?
Tô Tần thưa rằng:
— Tôi nghe đại vương đòi chư hầu phải cắt đất, ý muốn ngồi yên mà kiêm tính cả thiên hạ chăng?
Huệ Vương nói:
— Phải.
Tần nói:
— Đại Vương đông có Quan Hà, tây có Hán Trung, nam có Ba Thục, bắc có Hồ Lạc, đó là một nước có bốn nơi hiểm yếu; đồng ruộng tốt có nghìn dặm, quân lính giỏi có trăm vạn. Lấy cái đức hiền của đại vương và số đông sĩ dân, tôi xin hiến mưu cố sức gồm chư hầu, nuốt nhà Chu, xưng đế và thống nhất thiên hạ, dễ như trở bàn tay. Có lẽ nào lại cứ ngồi yên mà làm nên việc ư?
Huệ Văn Vương mới giết Thương Ưởng, trong lòng vẫn ghét những kẻ du thuyết, bèn từ chối rằng:
— Quả nhân lông cánh chưa đủ, không thể bay cao, những lời nói của tiên sinh, tiếc rằng quả nhân ngày nay chưa đủ sức làm, vậy xin đợi vài năm nữa, binh lực hơi đủ, bấy giờ sẽ lại bàn đến việc ấy.
Tô Tần lui ra, lại đem những thuật của tam vương ngũ bá dùng công chiến mà được thiên hạ, chép thành một cuốn sách dày, cộng hơn 10 vạn chữ, hôm sau đem dâng Tần Vương. Tần Vương dẫu có xem đến, nhưng không có ý dùng Tần. Tần lại đến yết kiến tướng quốc Công tôn Diễn, Diễn lại có lòng ghen tài không chịu dẫn tiến. Tô Tần ở nước Tần lại hơn một năm, trăm dật hoàng kim đều đã dùng hết, chiếc áo điêu cừu đen cũng rách tướp ra, không còn biết xoay vào đâu, phải bán xe ngựa và đầy tớ lấy tiền làm lộ phí, rồi quảy khăn gói đi bộ về nhà. Mẹ già thấy bộ lúng túng đem lời mắng nhiếc, vợ đang dệt cửi trông thấy cứ ngồi yên, chẳng chạy ra chào hỏi. Tần đói quá, xin chị dâu cho cơm ăn, chị dâu chối là không có củi không chịu nấu cơm cho. Tần chảy nước mắt nói rằng:
— Cái thân bần tiện, vợ không còn coi là chồng, chị dâu không còn coi là em, mẹ không còn coi là con, đó là cái tội ta.
Rồi Tô Tần lục tìm trong hòm sách, được quyển sách Thái công âm phù, sực nhớ ra rằng Quỉ Cốc có nói nếu du thuyết không gặp, chỉ nên đọc kỹ cuốn sách này tự có tiến ích. Bèn đóng cửa xem sách, suy tìm nghĩa tinh, ngày đêm không nghỉ, đêm mỏi mệt quá muốn ngủ, tự cầm dùi đâm vào đùi, máu chảy khắp chân. Khi đã hiểu hết nghĩa tinh trong sách, lại đem hình thế các nước, xem xét kỹ càng, như thế trong một năm, địa thế thiên hạ coi như đều thu cả ở trong bàn tay, Tô Tần liền tự an ủi mình rằng:
— Tần này đã có sức học như thế, nay đem nói với vua các nước, há lại chẳng lấy được ngôi khanh tướng, làm nên giàu sang ư?
Tần bảo hai em là Đại, Lệ rằng:
— Sự học của ta đã thành, lấy giàu sang như bỡn, các em nên giúp ta tiền hành lý, đi du thuyết các nước, nếu có ngày xuất thân sẽ dắt díu các em.
Tô Tần lại đem quyển âm phù giảng giải cho hai em, Đại, Lệ cũng đều hiểu biết, đều giúp tiền hành lý. Tần từ biệt cha mẹ, vợ và chị dâu, muốn lại đi sang nước Tần, nghĩ ngày nay trong bảy nước chỉ có nước Tần là mạnh hơn cả, có thể giúp nên đế nghiệp, nhưng trước kia vua Tần không chịu dùng ta, nay lại đến, nếu lại như trước, thì còn mặt nào trở về làng cũ. Bèn nghĩ một kế làm hại nước Tần, mới có thể tự lập được. Nghĩ vậy Tô Tần sang nước Triệu. Bấy giờ Triệu Túc Hầu ở ngôi, em trai là Công tử Thành làm tướng quốc gọi là Phụng Dương Quân. Tần trước hết vào nói với Phụng Dương Quân, Phụng Dương Quân không thích nghe, Tần bèn bỏ Triệu đi sang Yên, cầu vào yết kiến Yên Văn công, các người tả hữu chẳng ai nói giúp. Ở hơn một năm, tiền lưng đã cạn, phải nhịn đói ở nhà trọ, người trong nhà trọ động lòng thương, cho vay một trăm đồng tiền, Tần nhờ đó mà được có ăn. Bỗng gặp lúc Yên Văn công đi chơi, Tần phủ phục ở bên đường, Văn công hỏi họ tên, biết là Tô Tần, mừng nói rằng:
— Nghe nói tiên sinh năm trước dâng một tập thư 10 vạn chữ cho Vua Tần, quả nhân riêng lòng hâm mộ, tiếc vì không được tập thư ấy, nay tiên sinh hạ cố đến, thực là may cho nước Yên lắm.
Nói rồi, Yên Văn công liền quay xe về triều, cho triệu Tần vào, cúi mình xin dạy bảo. Tô Tần tâu rằng:
— Đại Vương đặt mình ở trong các chiến quốc, đất vuông hai nghìn dặm, binh giáp vài mươi vạn, xe sáu trăm cỗ, ngựa sáu nghìn con, nhưng so với trung nguyên, chưa bằng một nửa, vậy mà tai không nghe tiếng ngựa sắt giáo vàng, mắt không thấy cái nguy để xem chém tướng, được ở yên không việc gì, đại vương có biết vì cớ gì không?
Yên Văn công nói:
— Quả nhân không biết.
Tần lại nói:
— Nước Yên sở dĩ không bị binh đao ấy là nhờ có nước Triệu đứng che, đại vương không biết kết giao với nước Triệu gần, lại cắt đất nịnh nước Tần xa, chẳng là ngu lắm ru!
Yên Văn công nói:
— Vậy thế thì làm thế nào?
Tần thưa rằng:
— Cứ như ý ngu này, chi bằng kết thân với Triệu rồi kết liên với các nước, cùng nhau hợp sức chống Tần, đó mới là cuộc yên trăm đời.
Yên Văn công nói:
— Tiên sinh hợp tung để yên nước Yên, đó là ý muốn của quả nhân, nhưng sợ chư hầu không cùng lòng thì sao?
Tần nói:
— Tôi dẫu bất tài, xin diện kiến chư hầu để định tung ước.
Yên Văn công cả mừng, giúp cho vàng bạc, xe ngựa và sai tráng sĩ đưa Tần đi sang Triệu. Bấy giờ, Phụng Dương Quân Triệu Thành đã mất. Triệu Túc Hầu nghe nước Yên đưa khách đến, bèn xuống thềm đón, nói rằng:
— Thượng khách hạ cố đến đây, có điều gì dạy bảo quả nhân.
Tô Tần tâu rằng:
— Tôi nghe những hiền sĩ trong thiên hạ đều kính phục hiền quân, đều muốn tỏ bày tâm phúc, chỉ vì Phụng Dương Quân là người ghen ghét tài năng, cho nên những du sĩ đều dừng chân không tiến, cuốn lưỡi không nói, nay Phụng Dương Quân đã mất, nên tôi mới dám đến dâng tấm lòng ngu trung. Tôi nghe, giữ nước không gì bằng yên dân, yên dân không gì bằng chọn nước mà giao hiếu, nay các nước ở Sơn Đông chỉ có Triệu là mạnh, đất rộng hơn hai nghìn dặm, quân lính có vài mươi vạn, xe nghìn cỗ, ngựa vạn con, thóc lúa đủ dùng trong vài năm. Tần ghét nhất là nước Triệu, vậy mà không dám đánh Triệu là sợ có Hàn, Ngụy đánh úp ở đằng sau. Cho nên làm phên giậu ở phía Nam cho nước Triệu là Hàn, Ngụy, mà hai nước ấy không có núi sông hiểm trở, một ngày kia quân Tần đánh lấn hai nước, hai nước đầu hàng thì họa sẽ đến nước Triệu ngay. Tôi thường xem xét địa đồ, đất của các nước, hơn Tần vạn dặm, quân của các nước cũng nhiều gấp mười Tần, nếu sáu nước hợp làm một, cùng nhằm về phía Tây, thì phá Tần chẳng khó gì. Nay nước Tần hiếp bách các nước, bắt các nước phải cắt đất để cầu hòa. Không cớ gì mà cắt đất, đó là tự mình phá mình, mình phá người và bị người phá, hai điều đó điều nào hơn. Theo như ý tôi, chi bằng ước với vua các nước cùng đến họp ở Hằng Thủy, cùng nhau ăn thề, kết làm anh em, Tần đánh một nước thì năm nước cùng cứu, nếu có nước nào trái lời thề, thì các nước cùng đánh, Tần dẫu cường bạo, khi nào lại dám lấy một nước mà cùng cả thiên hạ tranh được thua.
Triệu Túc Hầu nói:
— Quả nhân tuổi trẻ, dựng nước chưa được mấy ngày, chưa hề được nghe diệu kế, nay thượng khách muốn họp chư hầu để cự Tần, quả nhân xin một lòng nghe theo.
Rồi giao ngay ấn tướng cho Tô Tần, cho ở nhà lớn, lại cho trăm cỗ xe, nghìn dật hoàng kim, trăm đôi bạch bích, gấm vóc nghìn tấm, cử làm tung ước trưởng. Tô Tần bèn sai người đem trăm nén vàng sang nước Yên, trả số trăm đồng tiền của người nhà trọ. Đang định chọn ngày khởi hành, đi bảo các nước Hàn, Ngụy, bỗng thấy Triệu Túc Hầu cho triệu vào, nói là có việc gấp cần phải thương nghị, Tô Tần vội vàng vào ngay, Túc Hầu nói là được tin biên lại báo tướng quốc nước Tần là Công tôn Diễn đem quân đánh Ngụy, bắt mất viên đại tướng là Long Giả, chém bốn vạn năm nghìn thủ cấp, vua Ngụy phải cắt mười thành Hà Bắc để cầu hòa. Diễn lại muốn dời quân đánh Triệu, biết làm thế nào. Tần nghe nói giật mình, nghĩ thầm nếu quân Tần đến Triệu, vua Triệu tất nhiên cũng bắt chước Ngụy cầu hòa. Như vậy thì kế hợp tung của mình sẽ bị thất bại. Trong khi bối rối, liền nghĩ ngay ra một kế, cố làm ra vẻ yên tĩnh, chắp tay thưa rằng:
— Tôi chắc quân Tần mỏi mệt, chưa dám đến ngay nước Triệu đâu, vạn nhất có đến tôi sẽ có kế làm cho phải kéo lui.
Túc Hầu nói:
— Tiên sinh hãy tạm ở lại tệ ấp, đợi quân Tần không đến, bấy giờ hãy đi.
Câu ấy thực hợp ý Tô Tần. Tô Tần vâng lời lui ra, về đến tướng phủ gọi một tên môn hạ tâm phúc là Tấn Thành vào trong nhà kín bảo rằng:
— Ta có người bạn học cũ tên là Trương Nghi, quê ở Đại Lương, nay ta cho ngươi nghìn nén vàng, ngươi giả làm người lái buôn, đổi họ tên gọi là Giả Xá Nhân, đi ngay sang Ngụy, tìm Trương Nghi, khi giáp mặt, nên như thế như thế, nếu khi đến Triệu, lại nên như thế như thế, ngươi nên cẩn thận, chớ phụ lời ta.
Giả Xá Nhân vâng mệnh, luôn ngay ban đêm đi sang Đại Lương.
Lại nói Trương Nghi từ khi rời Quỉ Cốc về Ngụy, cầu thờ Ngụy Huệ Vương không được, sau thấy quân Ngụy thua luôn, bèn đem vợ bỏ Ngụy sang Sở, tướng quốc Sở là Chiêu Dương lưu làm môn hạ khách, Chiêu Dương đem quân đánh Ngụy, lấy được bảy thành Tương Lăng, Sở Uy Vương thưởng công, ban cho viên ngọc bích của họ Hòa. Sao gọi là ngọc bích của họ Hòa? Nguyên năm cuối Sở Lệ Vương, có người nước Sở là Biện Hòa được viên đá có ngọc ở Kinh Sơn, đem dâng Lệ vương. Lệ vương sai người sành ngọc xem, bảo chỉ là hòn đá, Lệ Vương giận, cho là Biện Hòa lừa dối, chặt chân bên tả. Đến lúc Sở Võ Vương lên ngôi, Biện Hòa lại đem dâng, người thợ ngọc lại bảo là đá, vua giận lại chặt nốt chân bên hữu.
Đến khi Sở Văn Vương lên ngôi, Biện Hòa lại muốn đem dâng, nhưng hai chân đều bị chặt cả, không thể đi được, bèn ôm viên đá ngọc ở trong bọc, lăn khóc ở dưới núi Kinh Sơn, ba ngày ba đêm, khóc hết cả nước mắt rồi chảy cả máu ra. Có người biết là Biện Hòa, hỏi rằng:
— Anh hai lần đem dâng, hai lần bị chặt chân thì nên thôi, lại còn mong được thưởng hay sao mà khóc lóc như thế?
Hòa nói:
— Tôi không phải mong được thưởng, chỉ giận rằng thực ngọc tốt mà bảo là đá, thực lòng ngay mà bảo là lừa, phải trái điên đảo, không được rõ rệt ra, cho nên tôi lấy làm đau xót lắm.
Sở Văn Vương nghe chuyện Biện Hòa thương khóc, bèn sai lấy viên đá và sai thợ ngọc phá ra xem, thì quả được một viên ngọc tốt đẹp không có dấu vết gì, nhân chế làm ngọc bích, đặt tên là ngọc bích của họ Hòa. Nghĩ thương Biện Hòa thực có lòng thành, bèn cho Hòa được ăn lộc đại phu suốt đời. Ngọc bích ấy là một của quí vô giá, nay thấy Chiêu Dương có công lao to cho nên đem ra trọng thưởng. Chiêu Dương mang luôn ở trong mình, chưa hề bỏ ra lúc nào. Một hôm Chiêu Dương ra chơi ở Xích Sơn, tân khách đi theo hơn trăm người. Bên dưới Xích Sơn có cái đầm sâu, tương truyền là Khương Thái công ngồi câu cá ở đó, bên đầm có dựng một cái lầu cao, mọi người ở trên lầu uống rượu làm vui. Đến khi đã hơi ngà ngà say, tân khách đều mến cái vẻ đẹp của viên ngọc bích, xin với Chiêu Dương cho mượn xem. Chiêu Dương sai tên đầy tớ giữ kho, mở hòm lấy ra một hộp con đựng đồ bảo ngọc, đem đến trước mặt, tự tay mở khóa ra, cởi một cái bao ba lần gấm, thì đã thấy ánh sáng viên ngọc lấp lánh chiếu vào mặt mọi người, tân khách truyền tay nhau cầm xem ai nấy đều nức nở ngợi khen. Trong lúc ai nấy đang xem ngọc, các lính hầu đều nói dưới đầm có con cá to nhảy lên, Chiêu Dương chạy ra dựa vào lan can đứng xem, tân khách cũng đều chạy ra xem, thấy con cá lớn nhảy lên, dài hơn một trượng, đàn cá con cũng nhảy theo, một lát mây đùn đùn ở phía Đông Bắc kéo lên, cơn mưa to sắp đến, Chiêu Dương sai thu nhặt đồ đạc đi về, tên đầy tớ giữ kho tìm viên ngọc để cất thì không biết đã lọt vào tay ai, tìm thế nào cũng không thấy làm huyên náo lên một hồi. Chiêu Dương về phủ bảo môn khách tra xem người nào ăn trộm ngọc bích, môn khách nói:
— Trương Nghi là kẻ nghèo xác lại vốn vô hạnh, chắc là nó lấy trộm viên ngọc ấy chứ không còn ai nữa.
Chiêu Dương cũng ngờ, sai người bắt Trương Nghi nọc đánh tra hỏi, bắt phải cung nhận, Trương Nghi thực quả không lấy trộm khi nào chịu nhận, bị đánh đến mấy trăm roi, khắp mình đều sưng tím, ngất đi chỉ còn thoi thóp thở. Chiêu Dương thấy Trương Nghi gần chết, phải tha ra, có người thương Nghi bị đánh oan, vực Nghi về nhà, vợ Nghi trông thấy, cực lòng chảy nước mắt nói rằng:
— Chàng ngày nay bị nhục, đều vì đọc sách và du thuyết mà nên nỗi, nếu yên phận ở nhà làm ruộng, thì khi nào lại bị cái vạ này!
Nghi há mồm nhìn vợ bảo nhìn xem và hỏi rằng:
— Cái lưỡi ta có còn không?
Vợ cười nói rằng:
— Còn.
Nghi nói:
— Lưỡi còn đó là tiền của, nàng chớ lo là phải chịu khốn cùng mãi.
Sau đó Nghi ở nhà yên nghỉ, khi đã khỏi rồi lại trở về nước Ngụy. Về được nửa năm, nghe nói Tô Tần du thuyết vua Triệu đã được làm tướng, định sẽ đến thăm, bỗng ra cửa, thấy Giả Xá Nhân đỗ xe ở bên ngoài đang hỏi thăm, Nghi hỏi biết là ở nước Triệu đến, liền hỏi có thực Tô Tần đã làm tướng quốc nước Triệu không. Giả Xá Nhân hỏi:
— Tiên sinh là ai, có phải là bạn cũ của tướng quốc tôi mà dò hỏi?
Nghi nói là bạn học cũ, Giả Xá Nhân nói:
— Nếu vậy sao không sang chơi, tướng quốc tất sẽ tiến cử, tôi nay việc buôn bán xong, định sắp về Triệu, nếu ngài không chê tôi là kẻ hèn mọn, xin cùng đi với ngài.
Trương Nghi vui lòng theo ngay. Khi đã đến bên ngoài chân thành nước Triệu, Giả Xá Nhân nói:
— Nhà tôi ở ngoài châu thành, hiện có việc, xin tạm biệt ngài, các cửa trong thành đều có nhà trọ chứa khách xa, để mấy hôm nữa tôi sẽ vào tìm ngài.
Trương Nghi từ biệt Giả Xá Nhân, xuống xe đi vào trong thành tìm vào nhà trọ, hôm sau đến tướng phủ cầu vào yết kiến Tô Tần. Tần đã dặn sẵn người nhà không được thông báo, đợi mãi đến ngày thứ năm mới đưa danh thiếp vào được, Tần chối là bận việc đợi ngày khác sẽ tiếp, Nghi lại đợi đến mấy ngày vẫn không được vào, giận quá muốn bỏ đi. Chủ trọ giữ lại, nói rằng:
— Nhà ngươi đã đưa danh thiếp vào tướng phủ, chưa thấy phát lạc, vạn nhất quan tướng quốc cho đòi vào, tôi biết nói thế nào dù một năm hay nửa năm, tôi cũng không dám để cho đi.
Trương Nghi buồn quá, hỏi thăm Giả Xá Nhân ở đâu, thì không ai biết, lại qua vài ngày, đưa giấy vào tướng phủ xin từ biệt, Tần truyền cho hôm sau sẽ tiếp kiến. Nghi hỏi mượn mũ áo của chủ trọ. Sáng sớm hôm sau đi vào tướng phủ, Tô Tần đã sai bày sẵn uy nghi, đóng cửa giữa, bảo khách theo cửa bên đi vào, Trương Nghi muốn bước lên thềm, lính hầu ngăn lại nói rằng:
— Tướng quốc làm việc quan chưa xong, khách hãy đợi một lát.
Nghi bèn đứng ở dưới hiên, ghé mắt trông lên công đường, thấy quan thuộc vào hầu rất đông, rồi lại thấy có nhiều người vào bẩm việc. Giờ lâu, mặt trời gần xế bóng, nghe trên công đường có tiếng hỏi:
— Khách đâu rồi?
Lính hầu nói:
— Tướng quốc cho triệu khách vào.
Nghi vuốt áo bước lên thềm, chắc là Tô Tần sẽ chạy ra đón chào, không ngờ Tần cứ ngồi yên không động, Nghi đành phải nuốt giận tiến lên vái chào, Tần đứng dậy sẽ cất tay đáp lại, nói rằng:
— Dư Tử bấy lâu vẫn được bình yên đấy chứ?
Nghi tức giận quá, không đáp lại. Lính hầu bẩm dâng cơm trưa, Tần lại nói:
— Việc quan bận rộn, phiền Dư Tử phải đợi lâu, sợ đói quá, có lưng cơm rau, mời Dư Tử hãy tạm xơi rồi sẽ nói chuyện.
Nói xong, Tần sai lính hầu đặt ghế cho Nghi ngồi ở dưới công đường. Còn Tần thì ngồi ăn ở trên, các món cao lương bày đầy án, còn mâm cơm của Nghi chỉ một đĩa thịt, một đĩa rau và cơm xoàng mà thôi. Nghi đã toan không ăn, nhưng bụng đói quá, vả còn thiếu tiền cơm ở ngoài nhà trọ rất nhiều, đành phải ngậm sầu nuốt tủi, cầm đũa mà ăn, trông lên thấy Tô Tần ăn thừa mứa không hết, ban cho các lính hầu, mà mâm cơm của mình ăn không được đủ, trong lòng vừa thẹn vừa giận. Ăn xong, Tần lại truyền mời khách lên công đường. Nghi đi lên, thấy Tần vẫn cứ ngồi cao không đứng dậy, giận quá không nhịn được nữa, chạy lên mấy bước, mắng rằng:
— Quý Tử! Ta tưởng ngươi không quên tình cố cựu, nên đến thăm ngươi, ngờ đâu ngươi lại nhục ta đến thế này, còn là gì tình đồng học nữa.
Tô Tần từ từ đáp rằng:
— Cứ lấy cái tài của Dư Tử, tưởng rằng sẽ gặp gỡ trước ta, không ngờ lại cùng khốn như thế. Ta há lại không thể tiến cử nhà ngươi với Triệu Hầu, để cho nhà ngươi được giàu sang, nhưng sợ nhà ngươi trí suy tài nhụt, không làm gì được, lại để lụy cho người tiến cử.
Trương Nghi nói:
— Đại trượng phu tự có thể làm nên phú quí, há cứ phải nhờ ngươi tiến cử ư.
Tần nói:
— Nhà ngươi đã có thể tự làm nên phú quí, sao lại còn đến yết kiến ta làm gì? Nghĩ lại chút tình đồng học, ta giúp cho mười lạng vàng, nhà ngươi đi đâu thì đi.
Nói rồi sai tả hữu đem vàng trao cho Nghi, Nghi đang cơn tức giận, vứt bỏ vàng xuống đất, hầm hầm đi ra, Tần cũng không giữ lại. Nghi về đến nhà trọ, thấy đồ đạc của mình đều đã đem ra ngoài, Nghi hỏi làm sao, chủ trọ nói:
— Hôm nay túc hạ được vào yết kiến tướng quốc, tất nhiên tướng quốc sẽ mời túc hạ đến ở quán xá và cung ứng cơm nước, cho nên tôi mang sẵn ra đây.
Trương Nghi lắc đầu, miệng chỉ nói đáng giận đáng giận, rồi trút bỏ áo giầy giao trả chủ trọ, chủ trọ nói:
— Có lẽ không phải là bạn đồng học, mà túc hạ nhận vơ đó chăng?
Nghi kéo chủ nhân lại gần, đem cái tình cùng Tần kết giao ngày trước và sự bạc đãi ngày nay, nói hết một lượt cho nghe. Chủ trọ nói:
— Tướng quốc dẫu kiêu ngạo, nhưng vị tôn quyền trọng, theo lễ tất phải thế, cho túc hạ mười lạng vàng, kể cũng hậu lắm, giá túc hạ cứ lấy, để trả tiền cơm, còn thừa để làm tiền ăn dường mà trở về nhà, cớ sao lại vứt trả.
Nghi nói:
— Tôi đang lúc tức giận quăng trả xuống đất, nay trong tay chẳng có một đồng thì biết làm thế nào.
Đang phàn nàn, thì thấy Giả Xá Nhân đi vào, cúi chào Trương Nghi và nói:
— Mấy hôm nay tôi không đến hầu tiên sinh được, chẳng biết tiên sinh đã vào chào Tô tướng quốc chưa?
Câu hỏi ấy lại như khêu lòng tức giận, Trương Nghi đập tay xuống án mắng rằng:
— Cái thằng vô tình vô nghĩa ấy còn nói làm gì đến nó nữa.
Giả Xá Nhân nói:
— Làm sao tiên sinh lại phát giận mà nói quá lời như thế?
Chủ trọ liền đem việc Trương Nghi vào yết kiến Tô Tần như thế nào kể rõ cho nghe và nói:
— Nay tiên sinh không có tiền trả tiền cơm của tôi, muốn về lại không có tiền ăn đường, như vậy có buồn không?
Giả Xá Nhân nói:
— Trước kia vì tôi xui tiên sinh đến đây, không ngờ bị nhục như thế, đó thực là vì tôi mà làm lụy tiên sinh. Vậy tôi xin trả số tiền cơm chịu cho tiên sinh và biện xe ngựa để đưa tiên sinh về Ngụy, chẳng hay tiên sinh ý nghĩ thế nào?
Nghi nói:
— Tôi cũng chẳng còn mặt nào trở về Ngụy nữa, muốn đi sang Tần chơi một phen, nhưng bực không có tiền hành lý.
Giả Xá Nhân nói:
— Tiên sinh nếu sang nước khác tôi không dám đi theo, nếu đi sang Tần, tôi cũng đang muốn sang đó thăm người bà con, thì xin lại cùng đi cho có bạn, há chẳng hay lắm ru?
Nghi mừng quá nói:
— Thế gian có người cao nghĩa như ngài, đủ khiến cho Tô Tần phải xấu hổ mà chết.
Trương Nghi nói rồi cùng Giả Xá Nhân kết làm anh em, Giả Xá Nhân trả tiền cơm cho Nghi rồi cùng lên xe đi sang Tần. Dọc đường lại vì Nghi may áo quần, thuê đầy tớ hầu hạ, phàm Nghi cần đến thứ gì đều sắm cho ngay, không hề tiếc tiền, khi sang đến Tần, lại bỏ ra nhiều vàng lụa đút lót các người tả hữu Huệ Văn Vương, vì Trương Nghi mua chuộc tiếng khen. Bấy giờ Huệ Văn Vương đang hối về việc không dùng Tô Tần, nghe lời tả hữu tiến cử, liền cho đòi Nghi vào yết kiến, cho làm khách khanh, cùng bàn về việc chư hầu. Giả Xá Nhân liền từ biệt xin đi, Nghi chảy nước mắt nói rằng:
— Trước đây tôi bị khốn ách quá, nhờ có anh giúp sức mới được hiển đạt ở nước Tần này, còn đang mong báo ơn sau, sao anh đã vội đi như thế?
Giả Xá Nhân nói:
— Không phải tôi có thể biết được ngài, biết ngài là Tô tướng quốc vậy.
Nghi kinh ngạc hỏi lâu nói rằng:
— Anh đem tiền của giúp cho tôi, sao lại nói là Tô tướng quốc?
Giả Xá Nhân nói:
— Tô tướng quốc đang xướng lên thuyết hợp tung, lo Tần đánh Triệu thì hỏng mất việc ấy, nghĩ lấy một người có thể cầm được quyền bính ở Tần, ngoài ngài ra thì không có ai làm được, cho nên sai tôi giả làm người lái buôn, mời ngài sang Triệu lại sợ ngài lấy sự làm nên nhỏ nhặt làm yên, cố ý bạc đãi để làm cho ngài phải cầm được quyền bính nước Tần mới thôi. Nay ngài đã đắc dụng ở Tần rồi, tôi phải về ngay để báo cho Tô tướng quốc biết.
Trương Nghi than rằng:
— Thế ra ta bấy lâu ở trong cái thuật của Quý tử mà ta không biết, ta thực không bằng Quý tử xa lắm, phiền ngươi đa tạ Quý tử, suốt đời Quý tử, ta không dám nói đến hai chữ “đánh Triệu” để báo lại cái ân sâu Quý tử đã ngọc thành cho ta.
Giả Xá Nhân về báo Tô Tần, Tần vào ngay tâu Triệu Túc Hầu rằng:
— Nước Tần quả không dám ra quân vậy.
Rồi đó đi sang Hàn vào yết kiến Tuyên Huệ công, nói rằng:
— Đất Hàn rộng hơn 900 dặm, có vài mươi vạn quân, những cung mạnh nỏ cứng ở trong thiên hạ này đều ở nước Hàn mà ra, nay đại vương thờ Tần, Tần tất đòi cắt đất làm tin, sang năm sẽ lại đòi nữa. Đất cát của Hàn có hạn mà lòng dục của Tần vô cùng, hai ba lần phải cắt, thế thì đất Hàn hết mất. Tục ngữ có nói: “thà làm miệng con gà, chớ làm sau con trâu”, đại vương có đức hiền, lại có quân mạnh, mà chịu cái tiếng sau trâu, tôi lấy làm xấu hổ lắm.
Tuyên Huệ công nói:
— Quả nhân xin đem cả nước mà nghe lời dạy của tiên sinh, theo như ước của vua Triệu đã định.
Rồi cũng tặng Tô Tần trăm dật hoàng kim, Tô Tần lại lần lượt đi đến các nước Ngụy, nước Sở, nước Tề, đến nước nào cũng nói rõ các lẽ lợi hại của nước ấy, kết cục bảo nên cùng liên hợp cho mạnh sức để chống lại nước Tần, vua nước nào cũng lấy làm phải và xin theo như kế hợp tung của Tô Tần. Tần về ngay để báo Triệu Túc Hầu, đi qua Lạc Dương các nước đều sai sứ đi tiễn, nghi trượng cờ quạt tiền hô hậu ủng xe ngựa và các xe chở đồ, liên tiếp đến 20 dặm không hết, uy nghi không khác gì đấng vương giả, đi dọc đường, các quan viên đều ra lạy chào. Chu Hiển Vương nghe Tô Tần sắp đến, sai người quét dọn sạch sẽ và bày cung trướng ở ngoài châu thành để đón. bà mẹ già của Tần, cũng chống gậy đi ra đường xem, hại em trai, chị dâu và vợ Tần đều nghiêng mắt không dám ngửa trông, phủ phục cả ở ngoài bãi để đón. Tô Tần ngồi ở trong xe, hỏi chị dâu rằng:
— Chị trước kia không nấu cơm cho tôi ăn, làm sao ngày nay lại cung kính quá như thế?
Người chị dâu nói:
— Tôi thấy Quý tử ngày nay ngôi cao và tiền nhiều, nên tôi phải kính sợ.
Tô Tần ngậm ngùi than rằng:
— Tình đời xem ấm lạnh, giá người thành thấp cao, ta ngày nay mới biết sự giàu sang cần phải có lắm.
Rồi sai lấy xe chở các người thân thuộc cùng về làng cũ, làm một tòa nhà lớn, họp cả họ lại cùng ở, chia nghìn vàng cấp cho các người họ hàng. Em trai Tần là Đại, Lệ hâm mộ sự giàu sang của anh, cũng học sách Âm phù và thuật du thuyết. Tần ở nhà mấy hôm, rồi lại lên xe sang Triệu, vua Triệu phong làm Võ An quân, sai sứ đi ước vua năm nước Tề, Sở, Ngụy, Hàn, Yên, đều họp đến Hằng Thủy, Tô Tần cùng vua Triệu đến đó trước, đắp đàn đặt vị thứ để đãi chư hầu. Đến kỳ, vua các nước đều lần lượt đến, chiếu vị thứ đứng xếp hàng ở trên đàn, Tô Tần ở dưới thềm bước lên tâu với sáu vua rằng:
— Các ngài đều là nước lớn ở Sơn Đông, vị đến tước vương, đất rộng quân nhiều, đều đủ tự mình xưng hùng cả. Nước Tần là một kẻ hẻn chăn ngựa, cậy mạnh lấn hiếp các nước, vậy các ngài có thể cúi đầu thờ Tần không?
Chư hầu đều nói:
— Không chịu thờ Tần, xin theo lời dạy tiên sinh.
Tô Tần nói:
— Cái kế hợp tung chống Tần trước đây tôi đều tỏ bày với các ngài rồi, ngày nay chỉ còn điều nên uống máu ăn thề, kết làm anh em, điều này cần nhất là phải cứu nhau trong lúc hoạn nạn.
Sáu vua đều chắp tay nói rằng:
— Xin vâng theo lời dạy.
Tần bèn bưng cái khay mời sáu vua lần lượt uống máu, bái cáo trời đất và tổ tôn sáu nước, một nước trái thề, năm nước cùng đánh, viết lời thề làm sáu bản, mỗi nước giữ một bản, rồi cùng dự tiệc yến. Vua Triệu nói là Tô Tần định đại kế giữ yên sáu nước, nên phong tước cao, khiến đi lại cả sáu nước, để giữ bền điều ước hợp tung. Vua sáu nước đều cho là phải, rồi cả sáu vua hợp phong Tô Tần làm tung ước trưởng, kiêm đeo ấn tướng sáu nước, bài vàng, gươm báu, thống hạt thần dân sáu nước. Mỗi vua lại ban cho trăm dật hoàng kim, mười cỗ ngựa tốt, Tô Tần tạ ân, các vua đều về nước, còn Tô Tần lại theo Túc Hầu về nước Triệu.

