Đường Bác Hồ Đi Cứu Nước - Chương 02
Sống, làm việc gian khổ để học tập và hoạt động
“…Một người quen ông Nguyễn ở Pa-ri đã cho chúng tôi nhiều tài liệu rất quý báu. Ông này đã nói với chúng tôi như sau:
“Lúc ấy, ông Nguyễn là một người yêu nước quyết tâm hy sinh tất cả vì Tổ quốc; nhưng ông Nguyễn lúc đó rất ít hiểu về chính trị, không biết thế nào là Công hội, thế nào là bãi công và thế nào là chính đảng.
“Trong tất cả các tờ báo Pháp, chỉ có tờ “Dân chúng”, cơ quan của Đảng Xã hội Pháp đã in những lời yêu cầu của Việt Nam. Ông Nguyễn đến tòa báo Chủ nhiệm báo, ông Giăng Lông-ghê (Jean Longuer), cháu ngoại Các Mác và nghị viên của Quốc hội Pháp, đã tiếp ông. Ông Nguyễn lấy làm lạ, vì chưa bao giờ ông được ai tiếp đón thân mật như thế. Ông Lông-ghê gọi ông Nguyễn là đồng chí thân ái. Ông nói cho ông Nguyễn rõ tất cả cảm tình của ông đối với nhân dân Việt Nam. Ông khuyến khích ông Nguyễn viết bài và ông sẽ đăng lên báo “Dân chúng” để làm cho nhân dân Pháp hiểu rõ những sự bất công xảy ra ở Việt Nam. Có thể nói rằng cuộc gặp gỡ ấy đã mở đường cho sự hiểu biết chính trị của ông Nguyễn. Nó cũng đã làm ông Nguyễn hiểu rõ nhân dân Pháp.
Ông Nguyễn không đủ tiếng Pháp để viết và phải khẩn khoản yêu cầu ông Phan Văn Trường viết thay.
Ông Trường viết giỏi nhưng không muốn ký tên. Mà chính ông Nguyễn đã phải ký tên những bài báo.
Nhược điểm về tri thức làm ông Nguyễn rất khó chịu. Nhất là ông Trường không viết tất cả điều ông Nguyễn muốn nói. Vì vậy, ông Nguyễn bắt tay vào việc học làm báo. Thường lui tới tòa báo “Dân chúng”, ông làm quen với những người Pháp khác trong đó có chủ bút tờ “Đời sống thợ thuyền”.
Cũng như ông Lông-ghê, người chủ bút này cũng rất đáng mến. Ông bảo ông Nguyễn viết tin tức cho tờ báo của ông. Biết rằng không thể nhờ ông Trường viết mãi, ông Nguyễn nói thật là mình còn kém tiếng Pháp. Người chủ bút nói: “Điều đó không ngại; có thế nào anh viết thế ấy. Tôi sẽ chữa bài của anh trước khi đưa in. Anh không cần viết dài, 5, 6 dòng cũng được”. Ông Nguyễn bắt đầu viết rất khó khăn, xong được 6 dòng. Tin tức về Việt Nam, ông Nguyễn không thiếu, ông thiếu nhất là văn Pháp, ông Nguyễn viết làm hai bản, gửi cho tòa báo một bản giữ lại một bản. Ông hết sức vui sướng khi thấy bài viết đầu tiên của mình được đăng lên báo. Ông đọc lại bài báo đã in, so sánh và sửa những chỗ viết sai. Ông kiên nhẫn làm theo cách ấy. Khi thấy viết đã bớt sai lầm, ông chủ bút bảo ông Nguyễn: “Bây giờ anh viết dài hơn một ít, viết độ 7, 8 dòng”. Ông Nguyễn viết 7, 8 dòng.
Dần dần ông Nguyễn có thể viết cả một cột báo và có khi dài hơn nữa. Lúc bấy giờ, người chủ bút bạn thân của ông Nguyễn khẽ bảo: “Bây giờ anh viết ngắn lại. Viết từng này hoặc từng này dòng. Không viết dài hơn”.
Ông Nguyễn thấy rằng rút ngắn cũng khó như trước kia phải kéo dài. Nhưng cũng hết sức cố gắng. Và ông thành công. Ông bắt đầu vào làng báo từ đó.
Về văn học, ông Nguyễn thích đọc Sếch-pia (Shakes-peare) và Đích-ken (Dickens) bằng tiếng Anh, Lỗ Tấn bằng tiếng Trung Hoa và Huy-gô (Hugo), Dô-la (Zola) bằng tiếng Pháp, A-na-tôn Phờ-răng-xơ (Anatole France) và Lê-ông Tôn-stôi (Léon Tolstoi) có thể nói là những người đỡ đầu văn học cho ông Nguyễn.
Đọc những truyện ngắn của A-na-tôn Phơ-răng-xơ và của ông Lê-ông Tôn-stôi, ông Nguyễn thấy hứng thú về văn chương đơn giản và tự nhủ: “Người ta chỉ cần viết những điều gì người ta thấy và cảm, bằng cách nắm lấy màu sắc và hoạt động của sự vật, như thế thì viết cũng không khó lắm”.
Truyện ngắn đầu tiên của ông Nguyễn được đăng trên báo “Nhân đạo” làm hai kỳ. Ông Nguyễn tả đời sống thợ thuyền ở Ba-lê mà cũng là đời sống của ông lúc đó. Tòa báo đã trả bài này 100 quan. Thật là một số tiền lớn lúc bấy giờ. Đó là một thành công lớn về hai mặt: văn chương và tài chính. Thành công đầu tiên này đã khuyến khích ông Nguyễn viết những truyện ngắn khác. Ngoài việc tả lại đời sống thợ thuyền Pa-ri, ông thường viết về các thuộc địa và đặc biệt là Việt Nam, vì không có một chút nào ông quên Tổ quốc mình đang bị giày xéo và đồng bào mình đang bị áp bức. Ông Nguyễn chỉ viết một quyển sách duy nhất là quyển: “Bản án kết tội chế độ thực dân Pháp”; quyển này gồm những tài liệu chống thực dân Pháp, trích trong những sách của người Pháp viết để ở quốc gia thư viện.
Đầy hăng hái, ông Nguyễn viết cả một vở kịch “Rồng tre”. Đại ý vở kịch như thế này: có những cây tre thân hình quằn quẹo. Những người chơi đồ cổ lấy về đẽo gọt thành con rồng. Nó là một đồ chơi. Là con rồng nhưng thật ra chỉ là một khúc tre. Là một khúc tre, nhưng lại hãnh diện có tên và hình dáng con rồng. Tuy vậy chỉ là một quái vật vô dụng.
Ông Nguyễn viết vở kịch này vào dịp vua Khải Định sang Pháp để dự triển lãm thuộc địa. Vở kịch bị chính phủ Pháp cấm, nhưng câu lạc bộ ngoại ô Ba-lê đã đem diễn, được các nhà phê bình văn nghệ khen hay.
Trong thời gian ở Pa-ri, ông Nguyễn sống rất cực khổ. Để kiếm tiền, ông Nguyễn làm nghề rửa ảnh và phóng đại ảnh. Chính cụ Phan Chu Trinh đã dạy cho ông Nguyễn nghề này. Ông làm cả nghề sơn vẽ đồ cổ. Ở Ba-lê, có nhiều nhà làm đồ cổ Trung Quốc, họ làm đồ gỗ, bình phong và những vật khác bắt chước theo kiểu Trung Quốc. Họ sơn bằng sơn Nhật và vẽ hoặc viết những chữ ngoằn ngoèo giả chữ Trung quốc. Những bà quý tộc già, những người trọc phú rất ham chuộng những vật ấy không biết là đồ giả và đã mua rất đắt. Công việc sơn vẽ giả đồ cổ Trung Quốc rất dễ cho ông Nguyễn. Không may đấy chỉ là một công việc hàng mùa, mỗi năm chỉ làm vài tháng.
Sự hoạt động chính trị của ông Nguyễn được cảm tình sâu sắc của những người Việt Nam yêu nước, đó là sự dĩ nhiên. Vì lần đầu tiên trong lịch sử, có một người Việt Nam tuyên bố trước toàn thế giới chủ trương giành độc lập cho dân tộc mình; lần đầu tiên trong lịch sử, có một người Việt Nam dám bóc trần những tội ác của bọn thực dân Pháp ngay ở Pa-ri và cũng chính vì vậy mà ông Nguyễn bị bọn thực dân thù ghét.
Người ta rình mò ông Nguyễn. Người ta nói xấu ông, người ta tẩy chay ông. Người ta cố tình mua chuộc ông. Người ta kiếm cách dọa dẫm ông. An-be Xa-rô (Albert Sarraut) bộ trưởng Bộ thuộc địa và Pi-e Pat-qui-ê (Pierre Pasquier) toàn quyền Đông Dương mời ông Nguyễn đến nói chuyện và Tổng giám đốc cảnh sát đã thu giấy căn cước của ông Nguyễn.
Suốt trong thời gian Khải Định ở lại Pháp, ông Nguyễn ngày đêm bị hai tên mật thám theo dõi không rời một bước. Ông không để ý đến những việc ấy. Mặc dầu đời sống nghèo nàn, lại bị rầy rà về chính trị, ông Nguyễn vẫn không nao núng.
Một buổi mai, ông Nguyễn nấu cơm trong một cái sanh nhỏ bẳng sắt tây trên ngọn lửa đèn dầu. Với một con cá mắm hoặc một tí thịt. Ông ăn một nửa và để dành một nửa đến chiều. Có khi một miếng bánh mì với một miếng pho mát là đủ ăn cả ngày. Ông trọ ở một phòng nhỏ trong khách sạn rẻ tiền ở xóm lao động. Phòng chỉ kê được một chiếc giường sắt chật, một cái bàn nhỏ và một cái ghế. Chỉ thế thôi, không có gì khác.
Về mùa đông lạnh, mỗi buổi sáng trước khi đi làm, ông để một viên gạch vào lò bếp của khách sạn. Chiều đến, ông lấy viên gạch ra, bọc nó vào trong những tờ báo cũ, để xuống dưới nệm cho đỡ rét.
Thường thường, ông chỉ làm việc nửa ngày, làm buổi sáng để kiếm tiền, còn buổi chiều thì đi đến thư viện hoặc đến dự những buổi nói chuyện chính trị. Tối đến, ông đi dự mít tinh ở Pa-ri. Có rất nhiều cuộc mít tinh. Chính ở đây ông đã làm quen với những người như ông Lê-ông Bơ-lom (Leon Blum), Bơ-rác (Bracke), nhà văn Vay-ăng Cu-tuya-ri-ê (Vaillant Cuoturier), giáo sư Mác-xen Ca-sanh (Marcel Cachin), nghị viên Mác Sô-nhi-ê (Mac Saughier), bà nữ văn hào Cô-lét (Colette) v.v…
Hầu hết trong những buổi mít tinh ấy, ông đều phát biểu ý kiến. Vì ông là người ngoại quốc độc nhất trong những nơi này, và vì ông có vẻ dễ mến cho nên thính giả thích nghe ông. Ông Nguyễn khéo lái những vấn đề đang thảo luận sang vấn đề thuộc địa, đặc biệt là vấn đề Việt Nam. Ví dụ: có một lần bác sĩ Cu-ê (Coue) nói về thuật thôi miên. Nhiều người phát biểu ý kiến, người này đồng ý, người kia phản đối phương pháp chữa bệnh bằng thôi miên. Đến lượt ông Nguyễn ông kịch liệt phản đối thuật thôi miên. Lý do của ông: Thực dân Pháp đã thôi miên chúng tôi để đàn áp và bóc lột chúng tôi.
Một lần khác, hội nghị thảo luận vấn đề Ái Nhĩ Lan và Triều Tiên. Tất nhiên những nhà diễn giải Pháp đều nghiêm khắc công kích chính sách của Anh, của Nhật và bênh vực nhân dân Ái Nhĩ Lan, nhân dân Triều Tiên. Ông Nguyễn phát biểu ý kiến:
“Cũng là một dân tộc bị áp bức, tôi hoàn toàn đồng tình với những người bạn Ái Nhĩ Lan và Triều Tiên, và đồng tình với hội nghị kết án bọn thực dân Anh, Nhật. Nhưng tôi hỏi các ngài có nên kết án cả những bọn thực dân khác không? Có nên bênh vực nhân dân bị áp bức khác không? Có hay không?
Tất nhiên mọi người đều trả lời có. Thế là được dịp ông Nguyễn trình bày vấn đề Việt Nam.
Trong những buổi hội họp nói chuyện ở Pa-ri, người ta thảo luận đến tất cả các vấn đề. Từ thiên văn, địa lý, chính trị, văn học cho đến cách trồng cải soong và nuôi ốc sên. Trong những buổi hội họp này có tất cả các hạng người bác học, cựu bộ trưởng, nghị viên, nhà văn, thợ thuyền, người đi buôn, người già và người trẻ. Ở đây có một không khí thân mật và dân chủ, giống như ở những câu lạc bộ Zacobin (Gia-cô-banh) thời Đại Cách mệnh Pháp. Ở đây người ta có thể học nhiều chuyện và nhận xét mọi người. Thật là bổ ích.
Mặc dầu nghèo túng, ông Nguyễn luôn luôn vui vẻ, công kích bọn thực dân, ông luôn luôn bình tĩnh, luôn luôn đúng mực. Không bao giờ ông có một thái độ cáu kỉnh hoặc một lời quá đáng. Ông cố gắng hỏi để hiểu biết các vấn đề. Ông tham gia hội “Nghệ thuật và khoa học” và hội “Những người bạn của nghệ thuật”. Những hội này mỗi tuần tổ chức những cuộc đi thăm viện bảo tàng, nhà máy, xưởng nghệ thuật, nhà hát, v.v… Có những nhà chuyên môn giải thích các vấn đề ấy.
Ông Nguyễn vào cả hội “Du lịch”, một hội đưa người ta đi thăm nước Pháp và những nước lân cận với giá tiền rất rẻ. Nhờ vậy mà ông Nguyễn đi thăm nhiều nơi ở Pháp, ở Ý, ở Thụy Sĩ, ở Đức và cả Tòa thánh Va-ti-căng.
Sau mỗi chuyến đi, ông Nguyễn kể cho chúng tôi nghe cảm tưởng của ông. Thường thường ông nói nửa đùa nửa thật:
“Trong những ngày nghỉ, không nên tiêu phí tiền bạc, mất thì giờ ở bãi bể để nhìn những người đàn bà đi tắm, mà nên đi dụ lịch, học hỏi được nhiều”
…Ngoài những cuộc đi xem để học, ông không thích chơi bời gì khác.
Không phải chỉ vì thích đi du lịch mà ông nhịn ăn nhịn tiêu. Điều đó cũng có, nhưng nhất là ông muốn biết những nước ấy tổ chức và cai trị như thế nào.
Ông Nguyễn bắt đầu tổ chức, hoặc đúng hơn là bắt đầu học tổ chức”[3].
***
“…Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, tôi làm thợ sửa ảnh ở Pa-ri. Hàng ngày tôi đến xưởng, chiều tối tôi tham gia các buổi họp của Đảng hoặc dự mit tinh của công nhân. Cuối ngày làm việc, tôi đọc vài trang tiểu thuyết để trau dồi tiếng Pháp và giải trí một chút. Một hôm, một người bạn cùng nghề đưa cho tôi một cuốn truyện nhỏ của Tôn-stôi. Tôi quên tên cuốn sách là gì. Từ đó đến nay, đã bốn mươi năm rồi còn gì. Song tôi rất nhớ nội dung cuốn tiểu thuyết. Đại ý như sau:
Một sĩ quan quí tộc Nga trẻ tuổi có một người vợ chưa cưới rất đẹp. Tất nhiên là họ rất yêu nhau. Một hôm, trong cuộc nhảy, người vợ chưa cưới trẻ tuổi được giới thiệu với vua Nga. Vua Nga mê tít chị và bắt chị làm nhân tình của hắn. Anh sĩ quan trẻ rất đau đớn. Một bên là tình yêu với vợ chưa cưới, một bên là lòng trung quân đối với vua Nga. Rút cuộc, anh rời bỏ Xanh-pê-téc-bua và đi một nơi xa để khỏi phải nhìn vua Nga và người yêu.
Từ đó rút ra kết luận: sự chỉ trích đạo đức phong kiến.
Cách viết của Tôn-stôi rất giản dị, rõ ràng và dễ hiểu làm tôi rất thích. Tuổi trẻ thường bồng bột, tôi nhảy vùng dậy khỏi giường mặc dù mùa đông rất lạnh, nhất là trong căn phòng bé nhỏ của tôi lại không có lò sưởi, tôi nói to: “Viết một cuốn truyện ngắn chẳng có gì là khó. Mình cũng có thể viết được”. Ở Việt Nam chúng tôi, có câu tục ngữ “Điếc không sợ súng”. Đúng là trường hợp của tôi. Sáng dậy tôi bắt đầu viết. Mỗi ngày tôi phải viết từ năm giờ đến sáu giờ rưỡi sáng, là vì bây giờ tôi phải đi lên xưởng. Thường thường ngón tay tôi tê cóng lại. Sau một tuần lễ vất vả, tôi viết xong tác phẩm của mình, tôi mang đến tòa soạn báo “Nhân đạo” và nói với các đồng chí trong ban văn học: "Tôi rất sung sướng nếu bài viết của tôi được đăng, tùy các đồng chí đăng hay không đăng, nhưng dù thế nào cũng xin các đồng chí sửa lỗi tiếng Pháp cho tôi…”
Các đồng chí nghĩ xem tôi vui mừng xiết bao, khi mấy ngày sau, mở xem báo buổi sáng, tôi thấy có đăng tác phẩm của tôi, tác phẩm yêu quý của tôi. Niềm vui sướng của tôi càng lớn hơn nữa, khi tòa soạn báo “Nhân đạo” giả tôi một số tiền nhuận bút 50 phờ-răng. Với số tiền đó tôi có thể sống 10 ngày không cần làm việc, tôi có thể dùng thời gian ấy để đọc sách. Hạnh phúc biết ngần nào.
Nghe bài phóng sự của tôi, tôi kể những điều mắt thấy tai nghe trong khu phố tôi ở là khu phố nghèo khổ của những người thợ thuyền và những người thất nghiệp trong thành phố Pa-ri lộng lẫy giàu có. Thành công đầu tiên khuyến khích tôi viết những bài về tội ác của chính phủ Pháp ở Việt Nam và những thuộc địa khác[4].
Trong ngõ hẻm Công Poanh
Nhà số 9, ngõ Công Poanh này là nhà riêng của mẹ chồng tôi. Bà cụ xây cất ngôi nhà này từ thế kỷ thứ 19. Nhà có ba cửa ra vào: một cửa chính, một cửa ngách và một cửa bước thẳng vào sân trong. Nhà nằm trong một ngõ cụt, thuộc một khu phố nghèo của Pa-ri. Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, mẹ chồng tôi mở nhà trọ. Cửa vào nhà hồi đó trông xấu xí, phía dưới bằng gỗ, trên lắp kính. Trong sân có một đàn gà chạy kiếm thức ăn.
Trong số những người ở trọ nhà tôi lúc bấy giờ có một người thanh niên châu Á. Mẹ chồng tôi là chủ nhà, biết rõ tên của anh thanh niên ấy. Còn tôi, tôi thấy tên anh ta rất khó đọc và khó nhớ. Chúng tôi trong nhà quen gọi anh ta là “anh Trung Quốc” vì tưởng anh là người Trung Quốc. “Anh Trung Quốc” ở tầng gác hai[5]. Buồng anh mỗi bề ba mét, nhìn xuống ngõ. Thời đó, ngõ nhà chúng tôi không có điện. Mãi đến năm 1930 mới có điện. Tối đến người ta thắp đèn dầu. Đời sống nhân dân trong ngõ nghèo khổ nhưng mọi người ăn ở với nhau rất tốt. Nhà nọ biết nhà kia, thăm hỏi nhau, giúp đỡ nhau, chơi bời với nhau thân ái, chứ không ích kỷ như xã hội bấy giờ, ai biết người nấy, ai sống chết kệ ai.
“Anh Trung Quốc” ở trọ sống rất giản dị và hết sức đứng đắn. Khi nào người làm trong nhà đi vắng, mẹ chồng tôi thường sai tôi vào dọn nhà cho “anh Trung Quốc”. Những lần như thế tôi mới có dịp thấy buồng ở của anh. Buồng nhỏ, kê vẻn vẹn một cái giường, một cái bàn và một cái tủ. Trong buồng có chậu rửa mặt, nhưng vòi nước thì ở đầu cầu thang. Lò sưởi không có, mà mùa đông ở Pa-ri thì rất lạnh. Tôi nhớ rõ một lần tôi gõ cửa buồng anh để vào dọn dẹp. Anh chào tôi và bảo tôi: “Bà Giam-mô bà cứ để đấy cho tôi. Tôi không muốn phiền bà. Bà để tôi làm lấy được”. Tôi thấy anh mặc quần áo ngủ và anh đang ngồi làm việc gần cửa sổ. Cửa mở, sợ gió lùa, tôi định đóng lại thì anh ngăn: “Bà Giam-mô, bà cứ để như thế cho. Không sao cả. Xin cảm ơn bà”. Có lần tôi vào buồng anh để thay đồ trải giường cho anh thì gặp anh đang ngồi ăn cơm. Tôi thấy anh tay cầm bát cơm, tay cầm đũa. Anh nấu cơm lấy bằng cái bếp cồn để ở góc buồng. Anh chào tôi và nói: “Cảm ơn bà Giam-mô. Tốt lắm. Cảm ơn bà”. Một lần khác bước vào buồng, tôi thấy anh đang ngồi viết và thấy anh bảo: “Bà Giam-mô, bà cứ để tôi làm lấy, tôi không dám phiền bà. Cảm ơn bà”.
Vải trải giường trong buồng anh do nhà trọ cung cấp và thay đổi, nhưng quần áo của anh thì anh tự giặt lấy. Anh ăn ở ngăn nắp, trật tự, không làm ầm ĩ bao giờ và mẹ chồng tôi suốt mấy năm trời anh ở trọ không hề than phiền một câu nào về anh. Gia đình tôi đều nhận xét anh là người lịch sự, biết điều, đứng đắn và là một thanh niên nước ngoài rất nghèo. Hàng ngày, anh đi làm ở đâu chúng tôi không biết rõ. Bao giờ cũng thế, anh xuống thang xem có thư từ, báo chí gì người ta gửi cho anh không, rồi anh đi cửa ngách bên để ra phố. Đi đâu về anh lại tìm thư từ, báo chí trong hộp rồi mới lên buồng.
Gia đình chúng tôi hồi đó ở tầng một, cho nên hàng ngày anh đi về chúng tôi đều thấy. Có ngày cả hai buổi không trông thấy anh ra phố, chúng tôi lên buồng anh để hỏi thăm. Tôi cho rằng thời trước người ta sống có tình thương yêu đùm bọc nhau hơn thời nay ở cái đất Pa-ri này. Điều đặc biệt là tôi không thấy anh tiếp khách hay tiếp bạn bè trong buồng anh bao giờ.
Bỗng một hôm “anh Trung Quốc” từ giã nhà số 9 ngõ Công Poanh của chúng tôi đi đâu chúng tôi cũng không rõ” [6].
Con đường dẫn đến chủ nghĩa Lê-nin
“Ngay sau chiến tranh thế giới thứ nhất, tôi làm thuê ở Pa-ri, khi thì làm cho một cửa hàng phóng đại ảnh, khi thì vẽ “đồ cổ mỹ nghệ Trung Hoa” (do một xưởng của người Pháp làm ra). Hồi đó tôi thường rải truyền đơn tố cáo tội ác bọn thực dân Pháp ở Việt Nam.
Lúc bấy giờ, tôi ủng hộ Cách Mạng tháng Mười chỉ là theo cảm tính tự nhiên. Tôi chưa hiểu hết tầm quan trọng lịch sử của nó. Tôi kính trọng Lê-nin vì Lê-nin là một người yêu nước vĩ đại đã giải phóng đồng bào mình; trước đó, tôi chưa hề đọc một quyển sách nào của Lê-nin viết.
Tôi tham gia Đảng Xã hội Pháp chẳng qua là vì các “ông bà” ấy – hồi đó tôi gọi các đồng chí của tôi như thế - đã tỏ đồng tình với tôi, với cuộc đấu tranh của các dân tộc bị áp bức. Còn như đảng là gì, công đoàn là gì, chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản là gì, thì tôi chưa hiểu.
Hồi ấy, trong các chi bộ của đảng xã hội, người ta bàn cãi sôi nổi về vấn đề đó nên ở lại trong Quốc tế thứ hai, hay là nên tổ chức một Quốc tế thứ hai rưỡi, hoặc tham gia Quốc tế thứ ba của Lê-nin? Tôi dự rất nhiều các cuộc họp một tuần hai hoặc ba lần. Tôi chăm chú nghe những người phát biểu ý kiến. Lúc đầu, tôi không hiểu được hết. Tại sao người ta bàn cãi hăng như vậy? Với Quốc tế thứ hai, hoặc thứ hai rưỡi, hay là thứ ba, thì người ta người ta cũng đều làm được Cách mạng cả, sao lại phải cãi nhau? Và còn Quốc tế thứ nhất nữa, người ta đã làm gì với nó rồi?
Điều mà tôi muốn biết hơn cả - và cũng chính là điều mà người ta không thảo luận trong cuộc họp – là: vậy thì cái Quốc tế nào bênh vực nhân dân các nước thuộc địa?
Trong một cuộc họp, tôi đã nêu câu hỏi ấy lên, câu hỏi quan trọng nhất đối với tôi. Có mấy đồng chí đã trả lời. Đó là Quốc tế thứ ba, chứ không phải Quốc tế thứ hai. Và một đồng chí đã đưa cho tôi đọc Luận cương của Lê-nin về cá vấn đề dân tộc và thuộc địa đăng trên báo Nhân đạo.
Trong Luận cương ấy, có những chữ chính trị khó hiểu. Nhưng cứ đọc đi đọc lại nhiều lần, cuối cùng tôi cũng hiểu được phần chính. Luận cương của Lê-nin làm cho tôi rất cảm động phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao. Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang hỏi trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đầy đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!”
Từ đó tôi hoàn toàn tin theo Lê-nin, tin theo Quốc tế thứ ba.
Trước kia, trong các cuộc họp chi bộ, tôi chỉ ngồi nghe người ta nói: tôi cảm thấy người nào cũng có lý cả, tôi khong phân biệt được ai đúng và ai sai. Nhưng từ đó tôi cũng xông vào những cuộc tranh luận. Tôi tham gia thảo luận sôi nổi. Mặc dù chưa biết đủ tiếng Pháp để nói hết ý nghĩ của mình, tôi vẫn dập mạnh những lời lẽ chống lại Lê-nin, chống lại Quốc tế thứ ba. Lý lẽ duy nhất của tôi là: Nếu đồng chí không lên án chủ nghĩa thực dân, nếu đồng chí không bệnh vực các dân tộc thuộc địa thì đồng chí làm cái cách mạng gì?
Không chỉ tham gia các cuộc họp của chi bộ mà thôi, tôi còn đến những chi bộ khác để bệnh vực lập trường “của tôi”. Ở đây tôi cần nhắc thêm rằng các đồng chí Mác-xen Ca-sanh, Vay-ăng Cu-luy-ri-ê, Mông-mút-xô và nhiều đồng chí khác đã giúp đỡ tôi hiểu biết thêm. Cuối cùng ở Đại hội thành phố Tua [7] tôi cùng các đồng chí ấy biểu quyết tán thành tham gia Quốc tế thứ ba.
Lúc đầu, chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lê-nin, tin theo Quốc tế thứ ba. Từng bước một, trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận Mác – Lê-nin, vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ” [8].
***
“Trong một cuộc họp ở phòng họp của “Hội phổ biến kiến thức” ở Khu la-tinh, gần đường Xanh Giéc-manh, tôi lần đầu gặp anh Nguyễn Ái Quốc. Tôi nhớ rõ hồi đó thân hình anh Nguyễn Ái Quốc mảnh khảnh, tóc đen, dáng người trẻ hơn tuổi. Anh Nguyễn hơn tôi 7 tuổi nhưng trông chỉ bằng tuổi tôi. Người Việt Nam trẻ rất lâu. Con người giản dị, lịch sự, dễ mến của anh Nguyễn đã thu hút tôi ngay buổi đầu. Tôi hỏi anh tình hình nước anh. Tôi bỗng nhớ đến những lần tôi về quê ở vùng Tác-bơ, gần dãy núi Pi-rê-nê, tôi đã thấy nhiều người Việt Nam làm việc ở binh công xưởng của địa phương. Họ bị giam trong trại và bị đối xử xấu. Tôi muốn biết chuyện những người Việt Nam đó và tôi hỏi anh Nguyễn Ái Quốc vì sao họ phải sang Pháp làm. Anh Nguyễn bắt đầu kể cho tôi nghe tình hình nước anh và những hành động xấu xa của chủ nghĩa thực dân Pháp đang thống trị nhân dân anh.
Đối với tôi, đấy là điều mới lạ. Vì lúc đó ở Pháp, người ta giới thiệu chính sách thuộc địa như là một công việc xuất cảng văn minh sang các nước lạc hậu. Nhờ quen biết anh Nguyễn mà tôi hiểu thêm sự thật về chủ nghĩa thực dân Pháp. Thấy anh là một người rất tốt, tôi kết bạn với anh. Chúng tôi gặp nhau luôn trong các cuộc họp. Nhất là ở phòng họp “Hội phổ biến kiến thức” là nơi anh Nguyễn hay lui tới. Anh Nguyễn và tôi lúc đó đều là Thanh niên. Hai người chúng tôi gặp nhau là nói chuyện, bàn luận rất nhiều và sôi nổi về tình hình thời sự.
Chúng tôi cùng nhau nói chuyện về nước Nga Xô-viết. Hồi đó, chúng tôi đang đi quyên tiền trong các phố Pa-ri để giúp Cách mạng Nga vượt qua nạn đói, hậu quả của việc chính phủ Pháp và chính phủ các nước Đồng minh bao vây nước Nga Xô-viết. Một hôm, tan buổi họp, đi trên đường phố, anh Nguyễn nói với tôi: “Này, Giắc ơi, cách mạng Nga đang bị tiến công. Nhưng nó sẽ chiến thắng mọi kẻ thù. Tất cả chúng ta còn gặp nhiều khó khăn trước khi đi đến thắng lợi cuối cùng. Nhưng dù thế nào, chúng ta vẫn cứ đi tới. Trước khi đánh gục chủ nghĩa tư bản trên phạm vi toàn thế giới, chúng ta còn trải qua nhiều gian truân, nhưng thắng lợi nhất định thuộc về chúng ta”. Anh Nguyễn không hề có ảo tưởng thắng dễ dàng chủ nghĩa tư bản và anh có con mắt nhìn rộng.
Tất nhiên hai chúng tôi còn bàn chuyện quanh vấn đề gia nhập Quốc tế cộng sản. Chúng tôi lúc đó hơi bi quan về kết quả đại hội Đảng xã hội họp ở Xtrát-xơ-bua tháng 2-1920. Dạo ấy ở Pháp đang có phong trào bão công rất mạnh, xe lửa không chạy, quần chúng sôi sục đấu tranh. Chúng tôi băn khoăn không hiểu đại hội có tán thành gia nhập Quốc tế cộng sản không? Anh Nguyễn bảo tôi: “Không! Họ không tuyên bố gia nhập Quốc tế cộng sản đâu, nhưng có lẽ họ sẽ tuyên bố rút khỏi Đệ nhị quốc tế”. Sự việc đã diễn ra đúng như thế. Với đa số phiếu, đại hội Đảng xã hội Pháp họp ở Xtrát-xơ-bua đã quyết định rút khỏi Đệ nhị quốc tế nhưng không gia nhập Quốc tế cộng sản. Đại hội đã quyết định cử Mác-xen Ca-sanh và L.O. Phrốt-xa đi Mạc Tư Khoa để hỏi về những điều kiện gia nhập Quốc tế cộng sản. Vì lúc đó báo chí phản động đang làm ầm ĩ quanh những điều kiện gia nhập Quốc tế cộng sản, cho rằng Quốc tế cộng sản đã đặt cho các đảng muốn gia nhập những điều kiện oái oăm và nghiệp ngã, bắt các đảng phải nhận.
Chúng tôi thảo luận với nhau nhiều về việc này. Chúng tôi hài lòng thấy Ca-sanh và Phrốt-xa được cử đi Mạc Tư Khoa. Anh Nguyễn thì quen biết nhiều Mác-xen Ca-sanh. Anh đã gặp Mác-xen Ca-sanh nhiều lần để giới thiệu tình hình Đông Dương. Và phải nói rằng ngay lúc còn đang theo đường lối chiến tranh đến cùng, Mác-xen Ca-sanh vẫn quan tâm đến các vấn đề đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân. Cá tính của Mác-xen Ca-sanh là như thế. Tôi nhớ rõ, hồi đó anh Nguyễn đánh giá vai trò của Mác-xen Ca-sanh ở Mạc Tư Khoa có phần tích cực hơn nhận xét của tôi. Và anh Nguyễn đã đánh giá đúng. Chúng tôi đều nhất trí với nhau rằng Phrốt-xa là một người hoạt động chính trị chưa được tin cậy lắm (Phrốt-xa về sau ra khỏi Đảng cộng sản). Nhưng Mác-xen Ca-sanh thì khác. Phải nói rằng Mác-xen Ca-sanh đã giữ một vài trò hết sức quan trọng trong việc thành lập Đảng cộng sản Pháp. Ngay khi Lê-nin tiếp Ca-sanh và Phrốt-xa ở Mạc Tư Khoa, Lê-nin cũng có nhận xét khác nhau giữa hai người, tuy cả hai lúc đó đều theo đường lối chiến tranh đến cùng của đảng xã hội. Ca-sanh là người mà cách mạng tháng Mười đã gây ấn tượng mạnh. Lê-nin trong thâm tâm tin cậy Ca-sanh và Lê-nin nhận xét đúng. Lê-nin đã nói: “Nếu Mác-xen Ca-sanh hoàn toàn tán thành gia nhập quốc tế cộng sản thì sẽ kéo theo đại đa số đảng viên Đảng xã hội. Điều đó là rất quan trọng, và đảng mới đó sẽ nắm được tờ báo “Nhân đạo”, do đó ngay từ đầu sẽ nắm được những lực lượng khá quan trọng”. Lê-nin không nghe lời gièm pha của một số người tự nhận là cộng sản nói rằng Mác-xen Ca-sanh là một người “phái giữa” và không được việc gì. Tôi phải nói rằng khi tôi nói chuyện với anh Nguyễn Ái Quốc, tôi thấy ý kiến anh cũng giống y như ý kiến của Lê-nin. Anh Nguyễn rất tin ở Mác-xen Ca-sanh vì anh quen biết Mác-xen Ca-sanh nhiều hơn tôi, anh có dịp gặp gỡ Mác-xen Ca-sanh luôn. Còn tôi, tôi chưa được gặp Mác-xen Ca-sanh.
Thế rồi Mác-xen Ca-sanh sau chuyến đi công tác ở Mạc Tư Khoa trở về Pa-ri, Đảng xã hội tổ chức mít tinh ở rạp xiếc Pa-ri để nghe đoàn đại biểu đi Nga về báo cáo. Người đến nghe nói chuyện rất đông, có tới gần một vạn, chúng tôi cùng đi dự buổi mít tinh. Không sao chen được vào bên trong. Mà đứng ở ngoài xa thì không nghe rõ vì hồi ấy chưa có hệ thống phóng thanh như ngày nay. Tôi chắc anh Nguyễn đã len vào được tới bên trong hội trường. Khi Mác-xen Ca-sanh tới, cả biển người hát vang “Quốc tế ca” và hô “Lê-nin muôn năm! Ca-sanh muôn năm! Ủy ban Xô-viết muôn năm!”. Mác-xen Ca-sanh lên diễn đàn nói: “Đối với một đảng viên xã hội lâu đời như tôi từ 30 năm nay, mơ ước nhìn thấy một xã hội không có bóc lột thật là sung sướng biết chừng nào. Được tới thăm nước Nga, ở đó nhân dân lao động nắm chính quyền. Cách mạng Nga tạo ra xã hội đó đã phải trải qua nhiều đau khổ. Chúng ta là người gây ra những đau khổ đó vì rằng chính đạn đại bác Pháp, do công nhân Pháp sản xuất, do công nhân xe lửa và thủy thủ Pháp chuyên chở đang giết bộ đội của nước Cộng hòa Xô-viết Nga”.
Tối hôm ấy, bài nói chuyện của Ca-sanh làm tôi hết sức phấn khởi và tôi tin tưởng ở Ca-sanh là người sẽ mở cuộc vận động gia nhập Quốc tế cộng sản. Trong các cuộc họp chính trị người ta tranh luận rất nhiều về vấn đề Quốc tế cộng sản. Tôi luôn luôn gặp anh Nguyễn ở những cuộc tranh luận đó. Bấy giờ chúng tôi hay đi họp với nhau ở mấy nơi này: phòng họp của hội phổ biến kiến thức, phòng họp Muy-Li-ê ở gần lâu đài Luých-xăm-bua, rạp chiếu bóng phố Sa-tô-đo ở quận 10, hợp tác xã Ben-lin-loa-dư ở quận 20, hợp tác xã Lê-ga-li-te ở phố Săm-bờ-rơ-ê Mơ-dơ. Tôi thấy anh Nguyễn mấy lần đứng dậy hỏi các diễn giả về chế độ thực dân và đề nghị mọi người không nên quên việc lên án chủ nghĩa thực dân. Các cuộc họp lúc đó rất sôi nổi, ai nói sai người khác đứng dậy, tranh cãi lại ngay. Anh Nguyễn có tinh thần chiến đấu hăng hái, có tinh thần cách mạng tiến công. Anh có một lối nói sư phạm, có lý có lẽ để thuyết phục mọi người. Lúc đó, anh nói tiếng Pháp giỏi.
Anh có đến nhà tôi chơi. Lúc bấy giờ tôi chỉ có một căn buồng con, nghèo khổ giữa Pa-ri. Tôi nhớ rõ hồi đó anh bàn luận với tôi vấn đề đảng. Anh nói: một đảng cách mạng phải là một đảng có kỷ luật. Một khi đảng đã quyết nghị, không thể có tình trạng mỗi người làm một cách khác, mỗi người đi một nẻo. Phải kết hợp chặt chẽ hành động của Đảng viên với nghị quyết của Đảng. Hồi đó trong đảng xã hội có hiện tượng trong buổi họp đảng, bí thư đảng báo cáo mọi người thảo luận rồi ra nghị quyết, nhưng đến khi thi hành thì không có ai làm, anh Nguyễn nói đến chuyện đó và bảo tôi rằng đã đến lúc cần phải có một đảng mới, một đảng trong đó không lề lối làm việc như ở nghị viện. Chúng tôi nhận thấy tác phong, kiểu cách đấu tranh như ở nghị viện đang là cái tệ trong sinh hoạt của Đảng xã hội và chúng tôi bảo nhau phải kiên quyết đấu tranh chống lại cái tệ đó.
Khi gặp nhau, hai chúng tôi còn bàn luận nhiều chuyện khác, về tình hình thời sự, về các hoạt động chính trị thời bấy giờ. Tôi thấy anh Nguyễn nói chuyện về Pôn Vay-ăng Cu-tuy-ri-ê và Ray-mông Lơ-phe-vrơ mà anh đều quen biết. Và anh hỏi tôi về hai người đó. Vì tôi cũng ở trong hội cựu chiến binh với Cu-tuy-ri-ê và Lơ-phe-vrơ. Anh Nguyễn nhận xét rằng Cu-tuy-ri-ê và Lơ-phe-vrơ có nhiều cảm tình với cách mạng Nga, là những người tốt. Hồi tổ chức bầu cử năm 1919, những người ra ứng cử trong tổ tôi hoạt động là Ca-sanh, Cu-tuy-ri-ê, Lơ-phe-vrơ. Còn anh Nguyễn thì hoạt động ở một quận khác bên phía tả ngạn sông Sen, nhưng người ra ứng cử ở quận của anh không phải là người tốt. Tuy vậy anh Nguyễn vẫn ủng hộ cho Ca-sanh, Cu-tuy-ri-ê và Lơ-phe-vrơ. Kết quả cuộc bầu cử làm chúng tôi thất vọng vì các ứng cử viên tiến bộ không trúng cử. Bởi vì lúc bấy giờ Pháp là nước thắng trận, nhân dân tự nhủ: “Rồi thì nước Đức phải nộp tiền cho chúng ta”. Trên cái tâm trạng thắng trận ấy, người ta lợi dụng tình cảm của dân chúng và kích động chủ nghĩa quốc gia hẹp hòi.
Hai chúng tôi ca ngợi cuộc binh biến của thủy thủ trên tàu Pháp ở biển Hắc Hải. Anh Nguyễn tỏ ý khâm phục những thủy thủ bị đầy đi đánh cách mạng Nga đã nổi dậy chống lệnh trên và anh Nguyễn cho đấy là một việc rất có ý nghĩa.
Trong thời gian hoạt động với nhau chúng tôi còn bàn luận với nhau về vấn đề văn học, nghệ thuật. Chúng tôi nói chuyện về các nhà văn Hăng-ri Bác-buýt, Rô-manh Rô-lăng. Rô-lăng lúc đầu theo thuyết bất bạo động như kiểu Găng-đi, nhưng sau thay đổi quan điểm và là một văn hào xuất sắc. Tôi biết anh Nguyễn Ái Quốc đã đọc tiểu thuyết "Lửa” của Bác-buýt. Anh nói với tôi về Bác-buýt, về Đuy-ha-men vừa viết xong cuốn "Văn minh”, về tất cả những nhà văn đẻ ra trong chiến tranh. Anh Nguyễn thấy ở đó một không khí sôi sục trong giới tri thức Pháp, gây giống cho những tư tưởng cách mạng. Tôi còn biết anh Nguyễn rất thích đọc tác phẩm của Vích-to Huy-gô và anh nói với tôi về tập thơ “Hình phạt” của Huy-gô mà anh cho là rất hay. Anh còn tranh luận với tôi về Ban-dắc nữa mà anh cũng đọc nhiều tác phẩm của ông ta.
Tháng Chạp năm 1920, anh Nguyễn được cử làm đại biểu đi dự Đại hội Tua của Đảng xã hội. Tôi không được đi Đại hội. Anh Nguyễn là đại biểu Việt Nam duy nhất tại đại hội và anh đã lên án chủ nghĩa thực dân tại Đại hội, nhắc mọi người quan tâm đến tình hình của nhân dân anh, của nhân dân Đông Dương đang bị thực dân Pháp thống trị. Ngay những kẻ cơ hội chủ nghĩa cũng không thể ngăn anh nói đến việc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân. Tại Đại hội, anh Nguyễn đã gặp đồng chí Cla-ra Dét-kin, nữ chiến sĩ cách mạng lão thành Đức, nghị sĩ Đức, ủy viên ủy ban thường vụ Quốc tế cộng sản, được cử làm đại diện Quốc tế cộng sản đến dự đại hội Tua của Đảng xã hội Pháp.
Đại hội Tua là đại hội thành lập Đảng cộng sản Pháp, đánh dấu một sự kiện hết sức quan trọng trong đời sống chính trị và phong trào cách mạng Pháp. Bây giờ nhắc đến việc thành lập Đảng cộng sản Pháp, tôi nhớ ngay đến Ca-sanh, đến Lơ-phe-vrơ, đến Cu-tuy-ri-ê và phải nhớ ngay đến đồng chí Việt Nam ấy mà mọi người hoạt động cách mạng ở Pháp yêu mến, đó là đồng chí Nguyễn Ái Quốc, về sau là chủ tịch Hồ Chí Minh” [9] .
[1] Trần Dân Tiên, “Những mẩu truyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch”, Nhà XB Sự thật, Hà Nội, năm 1975.
[2] Giơ-nơ-vi-e-vơ Ta-bu-i, “Người khách buổi sớm” Hồng Hà ghi trong tập “Bác Hồ ở Pháp”, Nhà XB Văn học, Hà Nội, năm 1970.
[3] Trần Dân Tiên, “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch”, Nhà XB Sự thật, Hà Nội, năm 1975.
[4] Hồ Chí Minh “Người học trò của đại văn hào L.Tôn-Stôi”, in trên Tạp chí văn học Liên-xô, ngày 19-11-1960.
[5] Người Pháp gọi số thứ tự tầng gác bắt đầu từ tầng gác thứ hai. Tầng hai, theo người Pháp, tức là tầng ba theo cách gọi của Việt Nam ta.
[6] Cụ bà Giam-mô: “Trong ngõ hẻm Công Poanh”, Hồng Hà ghi, trong tập “Bác Hồ ở Pháp”, Nhà xuất bản Văn học, năm 1970.
[7] Đại hội thành phố Tua: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 18 của đảng xã hội Pháp họp tại thành phố Tua (Tour) từ ngày 25 đến 30 tháng 12 năm 1920. Ở Đại hội này, Đảng xã hội Pháp đã tách ra làm hai: Đảng cộng sản Pháp gồm số đông đảng viên theo Quốc tế thứ ba và Đảng xã hôi Pháp gồm số ít đảng viên theo Quốc tế thứ hai.
Ở Đại hội Tua, đồng chí Nguyễn Ái Quốc tuyên bố tán thành chủ trương thành lập Đảng cộng sản Pháp, trước hết là vì Đảng cộng sản là đảng duy nhất kiên quyết đấu tranh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc thuộc địa. Do đó, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, đồng thời cũng là người cộng sản Việt Nam đầu tiên.
[8] Bài của Hồ Chủ tịch viết cho tạp chí “Các vấn đề phương Đông” (Liên-xô) nhân dịp kỉ niệm lần thứ 90 ngày sinh Lê-nin, năm 1960, với đầu đề: “Con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Lê-nin”
[9] Giắc Đuy-clô “Những ngày ở Pa-ri” Hồng Hà ghi, trong tập “Bác Hồ ở Pháp”, Nhà xuất bản Văn học, năm 1970.
Ở Đại hội Tua
Tháng 8-1920 Ủy ban công đoàn đỏ tỉnh tôi và tổ chức "Đoàn thanh niên công đoàn xã hội" cử tôi và hai đồng chí nữa làm đại biểu của tỉnh đi dự đại hội Đảng xã hội Pháp họp ở thành phố Tua.
Cuối năm 1920, chúng tôi đi Đại hội Tua bằng xe lửa. Tới ga có anh em đồng chí ở địa phương ra đón. Ba chúng tôi ở trọ lại nhà đồng chí Bơ-véc-đi, thợ xe lửa ở Tua. Đại hội Đảng xã hội Pháp, khai mạc đúng vào dịp lễ Nô-en, ngày 25-12-1920, tại phòng họp lớn của nhà Ma-ne ở Tua. Sau lưng đoàn chủ tịch đại hội có hai khẩu hiện lớn: “Giải phóng người lao động là nhiệm vụ của chính người lao động”, “vô sản tất cả các nước đoàn kết lại”. Ngoài hành lang cạnh phòng họp có nơi làm việc của nhân viên Sở bưu điện để phục vụ nhà báo và các đại biểu. Ban nhạc “Tương lai nhân dân” cử bài Quốc tế ca, sau đó một ban đồng ca hát hai bài ca cách mạng khai mạc phiên đầu tiên của đại hội. Đoàn chủ tịch đại hội gồm đồng chí Mác-xen Ca-sanh cùng 6,7 đồng chí khác và chủ tịch danh dự của Đại hội là các thủy thủ Pháp làm binh biến trên biển Bắc Hải.
Đại hội đã sống những giờ phút vô cùng sôi nổi. Tôi nhớ nhất lúc Phrốt-xa, tổng thư ký Đảng, đang đọc bài diễn văn thì nữ đồng chí Cla-ra Dét-kin, chiến sĩ cách mạng nổi tiếng của Đức, đại diện Quốc tế cộng sản, bước vào Đại hội bất chấp sự bao vây, ngăn cấm của cảnh sát Pháp. Một sự kiện nổi bật khác trong Đại hội là lúc đoàn chủ tịch giới thiệu Đại hội đại biểu nhân dân Đông Dương: đồng chí Nguyễn Ái Quốc. Cả Đại hội đứng dậy vỗ tay như sấm ran, hoan hô nhiệt liệt người đồng chí Việt Nam có thân hình cao gầy, khuôn mặt xương xương. Tôi nhớ rõ khung cảnh hùng tráng của Đại hội khi đồng chí thay mặt đoàn chủ tịch ôm hôn đồng chí Nguyễn Ái Quốc trong tiếng vỗ tay vang dậy.
Hồi ấy phòng họp Đại hội chưa có những mi-crô và hệ thống phóng thanh tốt như ngày nay. Đại hội đã lắng nghe đồng chí Nguyễn Ái Quốc tố cáo sự tàn bạo do thực dân Pháp gây ra ở Đông Dương, tả lại nỗi thống khổ của 20 triệu người Việt Nam (thời đó người ta gọi là “người An Nam”) bị đàn áp, khủng bố, bóc lột thậm tệ dưới ách đô hộ Pháp, bị bọn thực dân dùng rượu và thuốc phiện đầu độc. Đồng chí nêu lên vấn đề phải đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân Pháp. Sau đó, Gông-đơ tên đoàn chủ tịch đại hội tuyên bố trước Đại hội “Toàn thể Đảng xã hội Pháp nhất trí phản đối những tội ác và sự lộng quyền của bọn tư bản ở Đông Dương”. Phải nói thêm là đồng chí Nguyễn Ái Quốc lúc ấy nói tiếng Pháp giỏi.
Một vấn đề hết sức quan trọng được thảo luận trong Đại hội là vấn đề Đảng xã hội Pháp có gia nhập Đệ tam Quốc tế hay không? Lúc đó trong đảng có nhiều khuynh hướng, những người cùng quan điểm ngồi cạnh nhau. Đồng chí Nguyễn Ái Quốc lúc đó ngồi ở phía trái của phòng họp, nhìn từ trên đoàn chủ tịch nhìn xuống. Bàn các đại biểu xếp theo chiều dọc phòng họp chứ không xếp theo chiều ngang. Đồng chí Nguyễn Ái Quốc ngồi ở dãy bàn thứ hai kể từ trái, và ngồi cạnh đồng chí Pôn Vay-ăng Cu-tuy-ri-ê.
Người ta đưa ra trước Đại hội nhiều kiến nghị khác nhau về vấn đề Đảng xã hội có gia nhập đệ Đệ tam Quốc tế hay không? Có kiến nghị của Ca-sanh-Phrốt-xa do “Ủy ban đệ tam Quốc tế” đưa ra, kiến nghị của “Ủy ban kháng chiến xã hội” do Lê-ông Blum và Pao-li đưa ra và kiến nghị của Brét-xơ-man. Kiến nghị Ca-sanh-Phrốt-xa chủ trương hoàn toàn gia nhập Đệ tam Quốc tế, còn các kiến nghị khác thì chống lại.
Đại hội tranh luận khá náo nhiệt chung quanh các kiến nghị nói trên. Cuối cùng, Đại hội bỏ phiếu để quyết định. Kiến nghị Ca-sanh-Phrốt-xa chủ trương gia nhập Đệ tam Quốc tế đã thắng với đa số phiếu. Đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã bỏ phiếu tán thành gia nhập Đệ tam Quốc tế. Những đại biểu chống việc gia nhập Đệ tam Quốc tế bèn bỏ phòng họp Đại hội, rủ nhau đi họp ở những nơi khác. Những người chủ trương gia nhập “Quốc tế cộng sản” ở lại, quyết định thành lập Đảng cộng sản Pháp và đại hội của Đảng cộng sản Pháp mới ra đời tiếp tục họp tại phòng nhà Ma-ne ở Tua. Và như thế đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã trở thành một trong những người sáng lập ra Đảng cộng sản Pháp[1].
LỜI PHÁT BIỂU TẠI ĐẠI HỘI TUA *
Chủ tịch : Mời đồng chí đại biểu Đông Dương phát biểu ý kiến. (Vỗ tay).
Đại biểu Đông Dương[2] : Thưa các đồng chí, lẽ ra hôm nay tôi đến đây là để cùng với các đồng chí góp phần vào sự nghiệp cách mạng thế giới, nhưng với một nỗi đau buồn sâu sắc, tôi đến đây với tư tách là đảng viên xã hội, để phản đối bọn đế quốc đã gây ra những tội ác tày trời trên quê hương tôi. (Được lắm!). Các đồng chí điều biết rằng chủ nghĩa đế quốc Pháp đã vào Đông Dương từ nửa thế kỷ nay: vì lợi ích của nó, nó đã dùng lưỡi lê để chinh phục đất nước chúng tôi. Từ đó, chúng tôi không những bị áp bức và bóc lột một cách nhục nhã, mà còn bị hành hạ và đầu độc một cách thê thảm. Nói cho rõ hơn, chúng tôi đã bị đầu độc bằng thuốc phiện, bằng rượu, v.v… Trong vài phút, tôi không thể vạch được hết những sự tàn bạo mà bọn tư bản ăn cướp đã gây ra ở Đông Dương. Nhà tù nhiều hơn trường học và lúc nào cũng chật ních. Bất kỳ người bản xứ nào có tư tưởng xã hội chủ nghĩa cũng đều bị bắt và có khi bị giết mà không cần xét xử. Cái gọi là công lý Đông Dương là thế đấy! Ở xứ đó, người Việt Nam bị phân biệt đối xử, họ không có những sự bảo đảm như người Châu Âu hoặc có quốc tịch châu Âu. Chúng tôi không có quyền tự do báo chí và tự do ngôn luận, ngay cả quyền tự do hội họp và lập hội cũng không có. Chúng tôi không có quyền sống hoặc di du lịch ở nước ngoài; chúng tôi phải sống trong cảnh ngu dốt tối tắm vì chúng tôi không có quyền tự do học tập. Ở Đông Dương, bọn thực dân tìm mọi cách bắt chúng tôi hút thuốc phiện và uống rượu để đầu độc chúng tôi và làm cho chúng tôi đần độn. Người ta đã làm chết và tàn sát hàng nghìn người Việt Nam để bảo vệ những lợi ích không phải của chính họ.
Thưa các đồng chí, hơn hai mươi triệu dân Việt Nam, bằng nửa số dân nước Pháp, đã bị đối xử như vậy. Ấy thế mà họ lại là những người được nước Pháp bảo hộ! (Vỗ tay). Đảng xã hội cần phải hoạt động một cách thiết thực để ủng hộ những người bản xứ bị áp bức (Hoan hô).
Giăng Lông-ghê[3]: Tôi đã phát biểu ý kiếm để bảo vệ những người bản xứ.
Đại biểu Đông Dương: Ngay khi tôi bắt đầu nói, tôi đã yêu cầu mọi người tuyệt đối im lăng…(Nhiều tiếng cười). Đảng phải tuyên truyền chủ nghĩa xã hội trong tất cả các nước thuộc đại. Chúng tôi thấy rằng việc Đảng xã hội gia nhập Quốc tế thứ ba có nghĩa là Đảng hứa một cách cụ thể rằng từ nay Đảng sẽ đánh giá đúng tầm quan trọng của vấn đề thuộc địa. Chúng tôi rất sung sướng khi nghe tin thành lập một đoàn đại biểu thường trực nghiên cứu vấn đề Bắc Phi, và mai đây, chúng tôi sẽ vui mừng nếu Đảng phái một đồng chí của Đảng sang Đông Dương để nghiên cứu tại chỗ những vấn đề ở xứ đó, và nghiên cứu những hoạt động cần phải tiến hành…
Một đại biểu phái hữu có ý kiến phản đối…
Đại biểu Đông Dương: Im đi! Phái nghị viện. (Vỗ tay)
Chủ tịch: Bây giờ, tất cả các đại biểu phải im! Kể cả những đại biểu không thuộc phái nghị viện!
Đại biểu Đông Dương: Nhân danh toàn thể loài người, nhân danh tất cả các đảng viên xã hội, cả phái tả lẫn phái hữu, chúng tôi kêu gọi các đồng chí, hay cứu chúng tôi! ( Vỗ tay)
Chủ tịch: Qua những loạt vỗ tay tán thành, đại biểu Đông Dương có thể thấy rằng toàn thể Đảng xã hội đều đứng về phía đồng chí để phản đối những tội ác của giai cấp tư sản.
Lập hội liên hiệp thuộc địa
Ra tờ báo “Người cùng khổ”
“…Trong những buổi mít tinh, trong những buổi đi thăm hoặc du lịch, ông đã gặp những người cách mạng An-giê-ri, Tuy-ni-di, Ma-rốc, Man-gat, v,v… Cùng với họ, ông tổ chức “Hội Liên hiệp thuộc địa ở Ba-lê”. Mục đích của Hội này là giải phóng những dân tộc thuộc địa. Hoạt động của hội là tuyên truyền. Họ tổ chức những buổi nói chuyện, những người dân các thuộc địa và những người Pháp có cảm tình đều đến dự. Cũng nên nhắc lại là người cảm tình đông hơn người thuộc đia. Những người này phần lớn là công chức hoặc công nhân, họ bị cảnh sát Pháp dọa đuổi ra khỏi nước Pháp nếu họ tiếp tục tham gia các cuộc hội họp.
Nhiều người Pháp hết sức căm phẫn biết được những chuyện xảy ra ở các thuộc địa: rượu, thuốc phiện, hối lộ, khủng bố… Thường thường họ kêu lên: “Ô! Nhục nhã biết bao! Ô! Thật không tưởng tượng được! Tội ác thực dân tày trời!”.
Để mở rộng việc tuyên truyền đến các thuộc địa, ông Nguyễn và những đồng chí của ông đã ra tờ báo “Người cùng khổ” (Le Paria) do ông làm chủ bút, kiêm chủ nhiệm.
Những người yêu nước Man-gat, An-giê-gi, Mac-ti-nich là những luật sư, thầy thuốc, nhà buôn hoặc sinh viên. Họ có công việc và gia đình họ. Họ không thể để nhiều thì giờ cho tờ báo. Mỗi người chỉ có thể góp một số tiền nhỏ và một bài báo tuần. Ông Nguyễn được mọi người đề cử ra làm cho tờ báo chạy. Vì vậy ông Nguyễn kiêm cả viết, chủ nhiệm, chủ bút, chữa bài, thủ quỹ, xuất bản và liên lạc.
Lúc đầu ông Nguyễn gửi bán tại những cửa hàng nhỏ. Nhưng bán không chạy lắm, vì ở Pa-ri có vô số báo, người ta không thể đọc tất cả và mua tất cả. Vì vậy, ông Nguyễn tìm ra một cách mà người Pa-ri gọi là “Lối D”. Ông đến trong những cuộc mít tinh dân chúng. Ông phát báo, leo lên diễn đàn và nói : "Các bạn thân mến! Báo “Người cùng khổ” phát không, nhưng tôi hết sức cảm ơn các bạn vui lòng quyên giúp ít nhiều để giúp chúng tôi trả tiền in. Một xu, một quan nhiều ít cũng tốt”.
Những người Pháp, nhất là hạng nghèo và hạng trung thường có lòng rộng rãi. Và luôn luôn ông Nguyễn có thể thu đủ tiền để trả những khoản phí tổn về báo và đôi khi còn có dư nữa. Việc xuất bản tở “Người cùng khổ” là một vố đánh vào bọn thực dân. Lập tức có nhiều lệnh cấm không cho tờ báo đó vào các thuộc địa.
Nhưng ông Nguyễn không chịu thua. Ông nhờ những thủy thủ có cảm tình chuyền báo đi các thuộc địa. Và dùng nhiều cách bí mật khác.
Những người lao động Việt Nam ở Pa-ri và ở các tỉnh mặc dầu số lớn không biết đọc, cũng bí mật gửi tiền quyên cho báo.
Phần lớn những sinh viên Việt Nam ở Pa-ri sợ tờ “Người cùng khổ” và ông Nguyễn, như người ta sợ thú rừng, không phải vì họ ghét – nhiều người thầm lén đọc báo “Người cùng khổ” – nhưng vì họ sợ liên lụy. Từ ngày có những yêu sách Việt Nam, rồi đến việc thành lập Hội liên hiệp thuộc địa, rồi đến việc xuất bản tờ “Người cùng khổ” các sinh viên thuộc địa bị kiểm soát nghiêm ngặt.
Một hôm, một người con trai của Bùi Quang Chiêu đến tòa báo, đặt lên bàn 5 quan, và nói: “quyên cho báo” rồi chạy biến ngay như bị ma đuổi.
Cố nhiên, ở các thuộc địa, nhất là Đông Dương, ai đọc báo “Người cùng khổ” đều bị bắt. Mặc dầu tất cả những sự khó khăn ấy, tờ báo vẫn tiếp tục phát triển. Đó là một luồng gió mới thổi đến nhân dân các nước bị áp bức…”[4]
“Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ. Chính phủ Pháp ra sức bóc lột, đàn áp nhân dân thuộc địa và đầy họ đi làm bia đỡ đạn trên chiến trường châu Âu. Những người dân thuộc địa đi lính cho Pháp hồi đó bị đưa đi đánh quân Đức và phải chịu nhiều khổ cực. Chiến tranh kết thúc, nhân dân các thuộc địa Pháp được giác ngộ hơn và nhiều phong trào chống thức dân Pháp đã diễn ra khắp nơi. Trong hoàn cảnh đó, những người dân thuộc địa cư trú ở Pháp đã tập hợp lại và tổ chức ra “Hội liên hiệp các dân tộc thuộc địa”. Hội này thu hút những người Ma-đa-gát-ca, Đa-hô-mây, Sê-nê-gan, Ghi-nê, Ăng-ti, Goa-đơ-lúp, Mác-ti-ních, Ha-i-ti, An-giê-ri, Đông Dương…
Và tôi đã gặp anh Nguyễn Ái Quốc trong buổi thành lập Hội đó. Đấy là vào năm 1922 ở Pa-ri. Tôi nhớ rõ lần đầu tiền quen biết anh trong buổi họp của Hội liên hiệp các dân tộc thuộc địa, tôi thấy anh người gầy gò, mảnh khảnh với giọng nói nhỏ nhẹ. Anh tự giới thiệu là người Việt Nam, làm nghề thợ ảnh, đã đến ở Pa-ri trước tôi ba năm, hiện ngụ ở ngõ Công-poanh. Anh nói tiếng Pháp thạo và tiếp xúc với anh tôi thấy ngay là một người đáng mến.
Trụ sở Hội của chúng tôi hồi đó ở số nhà 3 phố Mác-sê đê Pa-tri-ác-sơ. Đây là một cửa hàng nhỏ bé, cũ kỹ, có hai gian, một gian nhìn ra phố và một gian ở phía sau. Hội nghị của Hội liên hiệp các dân tộc thuộc địa hội họp ở trong nhà đó. Tất cả có khoảng gần 100 hội viên. Đứng đầu hội là ông Mon-néc-vin, người đảo Ăng-ti, giữ chức Tổng thư ký Hội, về sau tôi gánh trách nhiệm đó một thời gian. Tôi là người Goa-đơ-lúp. Hội không tổ chức thành nhóm, tổ haychi bộ mà chỉ có hội họp chung. Đi vào trụ sở Hội, người ta qua cửa ngách bên cạnh cửa hàng. Nhưng mỗi lần có cuộc họp bao giờ chúng tôi cũng thấy cảnh sát đứng canh gác ở phía ngoài cửa trụ sở của chúng tôi và bọn mật thám Pháp đứng điểm mặt. Chúng tôi hoạt động như thế cũng không phải dễ dàng và luôn luôn có sự uy hiếp.
Tôi gặp anh Nguyễn luôn trong các buổi họp của Hội. Có khi họp ở trụ sở hội, có khi chúng tôi tổ chức mít-tinh ở phòng họp của Hộ phổ biến kiến thức và phòng họp của Nhà công đoàn ở phố Ô-gút Blăng-ki. Anh Nguyễn đi họp và đi dự các buổi mít-tinh của Hội rất đều. Anh nghèo nhưng ăn mặc chỉnh tề. Hoạt động với anh tôi thấy anh là một người hăng hái đấu tranh cho việc giải phóng các dân tộc thuộc địa, không riêng dân tộc Việt Nam của anh mà tất cả các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới. Anh có lòng tin mãnh liệt ở thắng lợi cuối cùng và anh cho rằng muốn giải phóng dân tộc phải làm cách mạng, không có con đường nào khác. Tôi có cảm tưởng : ở anh ý nghĩ đấu tranh giải phóng dân tộc luôn luôn khắc sâu trong tâm trí anh và quán triệt suốt cuộc đời anh. Một lần nghe tin thực dân Pháp khủng bố tàn sát nhân dân ở Đa-hô-mây, tôi thấy anh căm phẫn, xúc động, đau đơn như chính việc đó xảy ra đối với nhân dân Việt Nam của anh. Anh là một con người đầy tình nhân đạo và tinh thần quốc tế. Không bao giờ thấy ở anh một nét nhỏ nào của sự ích kỷ. Và cùng hoạt động chúng tôi càng yêu thương nhau, càng thấy dân tộc thuộc địa phải đoàn kết với nhau chống kẻ thù chung. Anh đã trở thành bạn thân và tin cậy của tôi.
Hội Liên hiệp các dân tộc thuộc địa sống bằng tiền đóng góp của hội viên. Mỗi hội viên đóng cho Hội mỗi tháng ba phrăng Pháp, ngoài ra có những người hảo tâm ửng hộ tiền cho Hội. Một hôm chúng tôi, trong đó có anh Nguyễn Ái Quốc, nảy ra ý kiến táo bạo nhưng cũng đẻ ra nhiều vấn đề khó khăn cần giải quyết. Sau chúng tôi quyết định cứ ra báo. Chúng tôi thảo luận, đặt cho báo một cái tên: “Người cùng khổ”*. Đấy là bước phát triển mới của Hội liên hiệp các dân tộc thuộc địa.
Chúng tôi phải thu xếp rất nhiều việc để ra được tờ báo. Tôi lúc đó làm nghề trạng sư ở Pa-ri, tôi hiểu pháp luật Nhà nước Pháp, cho nên anh em cử tôi làm giấy tờ xin phép ra báo. Tôi phải đến tòa án và các bàn giấy của Pháp để làm mọi thủ tục cần thiết và cuối cùng thì xin được phép ra báo “Người cùng khổ”. Hội không có nhiều tiền để ra báo. Chúng tôi giao ước với nhau khi nào có tiền thì ra báo, cứ đủ tiền thì ra, có khi nửa tháng một kỳ có khi một tháng một kỳ không nhất thiết phải ra đều kỳ. Nghĩa là báo chúng tôi không có ngân sách riêng. Chúng tôi tìm được chỗ in báo. Đấy là một nhà in tư nhỏ bé ở phố Croát-xăng. Và sung sướng biết bao, tờ báo của chúng tôi đã ra đời. Đấy là một tờ báo khổ to, tên báo bằng chữ Pháp đặt ở giữa, tên báo bằng chữ Ả-rập đặt bên trái và bên phải là tên báo bằng chữ Hán do anh Nguyễn viết. Giá báo là 25 xu một số. Địa chỉ lúc đầu của báo là nhà số 16 đường Giắc Can-lô, sau đổi về số nhà 3 phố Mác-sê đê Pa-tri-ác-sơ, nơi đóng trụ sở của Hội liên hiệp các dân tộc thuộc địa.
Cách làm việc của tòa soạn báo “Người cùng khổ” rất tập thể. Chúng tôi không có ban biên tập làm việc thường xuyên vì mọi người chúng tôi đều phải sinh sống hàng ngay hoặc bận hoạt động nhiều việc khác. Mỗi kỳ ra báo, mỗi người đem bài viết của mình đến. Chúng tôi họp nhau lại, đọc chung, rồi bàn nội dung cho số sau. Sau khi đã chọn bài một cách tập thể, chúng tôi phân công người chịu trách nhiệm sắp xếp lại và lo việc xuất bản, đem bài đi nhà in chẳng hạn. Nhiều lần anh Nguyễn Ái Quốc được cử phụ trách chữa bài vở và xuất bản nhiều số báo. Anh tốt và có tinh thần tương trợ, cho nên có những lần đến lượt chúng tôi phải đi trong nom việc ra báo, nhưng thấy chúng tôi bận việc hoặc mắc chuyện gia đình, anh Nguyễn đã xung phong đi làm thay cho chúng tôi. Đấy là một người bạn tốt, dịu dàng, đáng mến, lo xa, yêu thương đồng đội, chịu khó giúp đỡ người khác.
Báo “Người cùng khổ” xuất bản từ năm 1922 đến năm 1924, tất cả được 38 số. Anh Nguyễn Ái Quốc đã đóng góp rất nhiều cho tờ báo. Anh viết khỏe, có số viết tới hai, ba bài. Toàn bộ những bài báo của anh là Bản án chủ nghĩa thực dân Pháp và là nguyện vọng giành độc lập tự do cho nhân dân Việt Nam và nhân dân các nước thuộc địa. Lời văn anh sắc bén, tư tưởng anh rõ ràng và mạnh mẽ: đấu tranh đến cùng chống chủ nghĩa thực dân Pháp. Ở nhiều số, không những anh viết bài mà anh còn vẽ tranh châm biếm nữa để đả kích chế độ thực dân. Tất cả những bài và tranh ký tên Nguyễn Ái Quốc trên báo “Người cùng khổ” mang một màu sắc đặc biệt: đó là tinh thần đấu tranh cách mạng triệt để và quyết tâm chống chủ nghĩa thực dân. Xem và đọc những và tranh đó người ta thấy rõ tác giả có một tinh thần tiến công rất chủ động và rất thông minh.
Dạo ấy, anh Nguyễn là người không có gia đình. Còn tôi thì đã lập gia đình. Tôi lúc đó có bàn giấy trạng sư ở số nhà 10b, phố Po Roay-an, Pa-ri, và cả gia đình tôi ở đấy. Anh Nguyễn thường lại chơi thăm gia đình tôi. Chúng tôi coi anh như người thân trong nhà và nhiều lần giữ anh lại ăn cơm. Anh giản dị, tự nhiên, vui tính. Anh gọi vợ tôi: “Bà chị của tôi”. Anh gọi con gái tôi, E-li-an, là: “cháu”. Anh ăn uống ít và tôi có cảm tưởng anh là một người không đòi hỏi gì nhiều trong sinh hoạt. Một hôm anh đưa đến nhà tặng gia đình tôi một cái chiêng bằng đồng đường kính chừng 50 xăng-ti-mét và một lư hương cũng bằng đồng. Những vật kỷ niệm quý giá đó tôi để ở nhà. Nhưng năm 1927 tôi về Goa-đơ-lúp, mười ba năm sau mới trở sang Pa-ri thì những vật đó đã mất. Tôi rất tiếc. Cả nhà tôi đều hết sức quý mên anh Nguyễn. Duy có điều chúng tôi không bao giờ thấy anh nói chuyện về gia đình, làng mạc quê hương của anh. Chúng tôi cũng tránh hỏi vì biết anh là một người hoạt động cách mạng, đời sống luôn luôn bị uy hiếp, có thể bị bắt bớ bất cứ lúc nào.
Bỗng một hôm, vào năm 1923, anh Nguyễn đến nhà chúng tôi và nói bằng một giọng lưu luyến:
- Hôm nay tôi đến chào anh chị. Tôi sẽ đi xa một thời gian và không có dịp được gặp anh chị nữa. Xin chào anh chị và cháu ở lại mạnh khỏe và anh cho tôi gửi lời chào các đồng chí trong Hội liên hiệp…”[5]
“…Tháng bảy năm 1922, tôi vừa đi Nam Mỹ về, thì gặp một đồng chí người Pháp phụ trách công đoàn đưa cho xem mấy tờ báo “Người cùng khổ” do ông Nguyễn Ái Quốc làm. Tôi đọc mê man, ngốn ngấu, người rần rật như có lửa đốt bên trong. Đọc xong liền vùng chạy đi tìm anh em mình đọc nghe chung. Cả lũ chúng tôi ai cũng ứa hai hàng nước mắt. Những bài báo ngắn gọn sao lại có thể khuấy động tâm hồn, tâm hồn của người mất nước, của người lao động khổ bị áp bức, bóc lột đến như thế. Những bài báo đọc lên thúc người ta hành động. Nhưng chúng tôi không hiểu nên hành động như thế nào. Chợt nảy ra ý đi tìm ông Nguyễn Ái Quốc. Anh em bàn nhau rồi cử tôi đi. Trước đây, riêng tôi đã định đi tìm ông Nguyễn nhưng không hiểu địa chỉ, cứ sợ về Pa-ri như chim chích vào rừng. Làm này anh em cứ đi, lại nắm chắc lấy tờ báo “Người cùng khổ” tôi hăng lắm, không sợ gì cả, hăm hở lên đường ngay. Hình như ở Pa-ri, ông Nguyễn Ái Quốc đã biết chúng tôi sẽ đến tìm và có ông thì chẳng ngại cái gì nữa.
Ngồi xe lửa đi. Mười một giờ trưa tới Pa-ri. Ở ga xuống, gặp bất kỳ ai là người da vàng tôi cũng chìa địa chỉ tờ bào “Người cùng khổ” ra hỏi đường. Tôi nghĩ người da vàng là người thuộc địa, người thuộc địa ở Pa-ri không ít thì nhiều cũng biết báo “Người cùng khổ”. Quả nhiên, nhiều người chỉ đường cho tôi. Tôi lần đến đường Mác-sê đê Pa-tơ-ri-ác-sơ (Marché des Patriarches) ở quận 6. Phố này cổ. Tòa báo “Người cùng khổ” ở phố này, trước cái chợ bán các thứ nhì nhằng. Ngoài cửa tòa báo có một hòm thư dán cái đầu đề nho nhỏ của tờ báo. Tòa báo ở tầng dưới cùng, chỉ có hai gian vừa phải. Hai người Bắc Phi đang hí húi làm việc, xé phong bì, viết lách, dập xóa.
Hai người niềm nở mời tôi ngồi chờ rồi tiếp tục làm việc. Tôi nghe thỉnh thoảng họ lại hỏi nhau bằng tiếng Pháp:” Cái này đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã xem chưa?”. “Cái này đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã duyệt rồi?”… Xem ý rất kính đồng chí Nguyễn Ái Quốc. Ngồi đợi, tôi đưa mắt nhìn tòa báo. Một cái bàn gỗ dài, mộc mạc, trên mặt bày la liệt từng chồng báo các cứ tiếng: Anh, Pháp, Đức… Mấy cái ghế. Và một bản đồ thế giới khổ lớn treo trên trường. Tôi nhẹ nhàng đi lại gần xem. Ở chỗ Việt Nam, vết tay người và nét bút chì đã làm cho màu xỉn và bóng lại. Có người thường xuyên đứng suy nghĩ về dải đất này đây? Bất giác tôi cũng đứng lặng một hồi, Việt Nam xa Pa-ri quá. Đồng bào mình bây giờ ra sao?
Chờ mãi, chờ mãi. Đến năm giờ chiều, hai người Bắc Phi báo cho tôi biết hôm nay đồng chí Nguyễn Ái Quốc không đến tòa báo và cho tôi địa chỉ của đồng chí ở phố Gô-bơ-lanh (Rue de Gobelins) quận 13, cách tòa báo khoảng hơn một cây số. Gô-bơ-lanh có nghĩa là tấm thảm. Phố này thời xưa có lẽ dệt thảm. Bây giờ thì những người bình thường ở. Tôi đến phố Gô-bơ-lanh, tìm tới nhà số 6, leo lên tầng hai. Tôi hồi hộp lắm. Đồng chí Nguyễn Ái Quốc là người như thế nào và đồng chí sẽ đối xử với tôi ra sao? Tôi giơ tay giõ cửa. Có tiếng giầy lại gần và cửa mở. Một người trạc ba mươi, ba mươi hai gì đó, cao gầy, trắng trẻo đứng trước mặt tôi tươi cười:
- Anh tìm ai? (Lúc ấy tôi còn trẻ lắm, chưa hai mươi).
- Tôi tìm… ông Nguyễn Ái Quốc!
- Tôi đây! Mời anh vào!
Đồng chí Nguyễn Ái Quốc đang đứng trước mặt tôi, đang tươi cười thân mật mở rộng cửa mời tôi vào đây ạ! Tôi nhớ lúc ấy tôi đứng sững lại giây lát, để nhìn kỹ thêm đồng chí Nguyễn Ái Quốc xem người ra mở cửa lúc chưa tự giới thiệu và người bây giờ vẫn là một hay là hai. Vẫn là một, vẫn dáng người cao, dong dỏng gầy trong bộ quần áo dạ đen cũ và đặc biệt đôi mắt, đôi mắt to, sáng lạ lùng ấy. Tôi theo đồng chí Nguyễn Ái Quốc vào nhà, thoải mái tự nhiên ngay, không rụt rè nữa. Ở góc buồng kê một cái bàn. Rất nhiều sách, báo, tạp chí. Cạnh đó là một cái giường sắt và một cái tủ đứng nho nhỏ. Vẻn vẹn có thể. Nhưng căn buồng sạch sẽ, sáng sủa, thân mật khác thường.
Đồng chí Nguyễn Ái Quốc hỏi, quê tôi ở đâu, đến có việc gì…, tàu biển bao lâu đi một chuyến, có vất vả không, sinh hoạt thế nào. Lúc ấy, tôi mới biết đồng chí trước cũng là công nhân làm tàu. Thảo nào nói đúng tiếng trong nghề của mình. Đồng chí đi đã lắm, phần lớn những nơi tôi tới đồng chí đều thông tỏ cả. Đồng chí không giới thiệu ra đâu những nghe cách hỏi thăm cái phố, cái sá, là đủ rõ. Đặc biệt đồng chí rất để ý đến đời sống của nhân dân các nước ấy. Rồi chúng tôi nói sang chuyện đất nước. Biết tôi ra đi ở Sài Gòn, đồng chí hỏi tôi rất lâu về Sài Gòn, chợ bến Thành, bến tàu, anh em khuân vác, xe thồ mộ,… Đôi mắt trầm ngâm, đồng chí hỏi tôi tỉ mỉ từng cái nhỏ và nghe chăm chú. Chuyện trò thân mật, thời gian đi nhanh quá, một loáng đã chín giờ tối. Tôi phải cáo từ ra về. Đồng chí hẹn tôi tháng sau, chủ nhật, đến nữa.
Tôi về nhà trọ nằm nghĩ mãi. Đồng chí Nguyễn Ái Quốc tiếng tăm như thế mà giản dị, khiêm tốn, thân mật vô cùng. Gặp đồng chí, tôi cũng thêm kính phục và cảm động. Những người đi biển chúng tôi rất quí người chỉ huy giỏi và hiểu giá trị người chỉ huy giỏi. Gặp đồng chí Nguyễn Ái Quốc, tôi thấy tin đồng chí một cách đặc biệt, như chưa bao giờ tôi tin ai như thế. Với đồng chí Nguyễn Ái Quốc thì vào giông và bão cũng không ngại. Đồng chí có sức hấp dẫn lạ thường. Ai đã gặp đồng chí là cứ muốn gặp mãi. Muốn được ở bên đồng chí mãi.
Tám giờ sáng hôm sau tôi lại đến. Đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã chờ tôi, vẫn bộ quần áo dạ đen xuềnh xoàng hôm qua để dắt tôi đi chơi Pa-ri. Chúng tôi ra phố, đi vòng vèo qua rất nhiều đường, qua cái phố Mông-giờ (Monges) dài lắm, chúng tôi kéo bộ miết. Tôi để ý thấy đôi giầy của đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã cũ, là loạt đế rất cao, có cổ để đi bộ lâu mòn, lâu hỏng. Vừa đi vừa nói chuyện, độ gần một giờ sau, đồng chí dắt tôi vào phòng triển lãm hội họa. Thú thật lúc đó còn trẻ tôi không hiểu hội họa nên cũng không thích lắm. Nhưng đi với đồng chí Nguyễn Ái Quốc là thú rồi. Phòng triển lãm bày đến mấy trăm bức kỳ họa và rất đông người xem. Đồng chí Nguyễn Ái Quốc quen nhiều lắm. Luôn luôn thấy có người lại bắt tay và gật đầu chào đồng chí. Đồng chí Nguyễn Ái Quốc xem tranh rất lâu, rất kỹ, ngắm từng bức với bình phẩm với các bạn Pháp lúc đó cùng xem với đồng chí. Những lời bình phẩm tỏ ra đồng chí rất hiểu văn hóa Pháp, rất sành nghệ thuật. Các bạn Pháp gật gù rồi trao đổi ý kiến với đồng chí. Tôi đứng nghe, thấy hay, cũng đâm ra chú ý ngắm tranh hơn. Tôi nhớ có bức tranh của đồng chí Vay-ăng Cu-tuy-ri-ê, đồng chí Nguyễn Ái Quốc xem đi xem lại mãi. Mấy năm sau này, tôi về Pa-ri làm thợ in ở xưởng của lão tư bản Đăng-gông, xưởng này in cho báo “Nhân đạo” và báo “Việt Nam hồn”, tôi vẫn thường gặp đồng chí Cu-tuy-ri-ê. Thật là một người tri thức. Hiểu rộng, khiêm tốn, vui vẻ, hết sức quan tâm đến các nước thuộc địa. Lúc ấy tôi mới biết đồng chí Nguyễn Ái Quốc và đồng chí Cu-tuy-ri-ê là bạn thân của nhau. Xem hai tiếng đồng hồ, đến mười một giờ trưa. Điện Păng-tê-ông ở ngay trước phòng triển lãm. Chúng tôi tạt vào một lát rồi ra. Đồng chí Nguyễn Ái Quốc đưa tôi đến phố Đê-Các-mơ (Des Carmes) vào một hiệu ăn của một người Hoa kiều gọi cơm. Bữa ấy có nước nắm và thịt bò xào với giá. Lâu ngày mới ăn món quê hương, ngon quá. Ăn xong lại kéo bộ về.
Đến nhà, đồng chí Nguyễn Ái Quốc trải chiếu xuống sàn, lấy sách báo sắp làm hai cái gối rồi cùng tôi nằm nghỉ trưa. Tôi được hiểu rõ về công việc làm ăn của đồng chí. Sáng thì đồng chí đi vẽ khoán cho một xưởng truyền thần, có vẽ mới có tiền, do đó đời sống của đồng chí tàm tạm thôi, có phần còn gieo neo hơn cả chúng tôi là những công nhân có lương tháng đàng hoàng. Nhưng đồng chí vẫn để dành tiền để in sách và đưa vào báo “Người cùng khổ”. Chiều thì đồng chí làm việc ở tòa báo, viết bài, sửa bài. Đồng chí còn viết cho nhiều báo và tạp chí khác như “Nhân đạo”, “Đời sống công nhân…”. Nhân viên tòa báo đều là những người thuộc địa hoạt động cách mạng đến làm thêm sau giờ làm việc của mình. Hèn nào tôi chẳng thấy tòa báo có người gác cổng và người đánh máy. Tối thì đồng chí Nguyễn Ái Quốc đi dự các cuộc nói chuyện có tranh luận về các vấn đề triết học, kinh tế, chính trị, xã hội, văn nghệ… ở các câu lạc bộ hoặc đến thư viện quốc gia đọc sách. Ngoài ra, còn đi họp ở chi bộ đường phố của Đảng cộng sản Pháp. Bận như thế nhưng chủ nhật nào đồng chí cũng đi dạo chơi và xem triển lãm hội họa và bảo tàng Lu-vơ-rơ. Đồng chí rất thuộc Pa-ri, nhất là rất thông thạo khu ngoại ô, nơi nhà máy và công nhân ở. Vùng ngoại ô này liên kết lại thành một vòng, người Pháp gọi là “vòng đai đỏ”, vì ở đó chịu ảnh hưởng của Đảng cộng sản Pháp. Đồng chí Nguyễn Ái Quốc thường hoạt động, đi lại tiếp xúc với công nhân ở đây.
Khoảng gần chiều, tôi cần ra tầu về Lơ Ha-vơ-rơ. Đồng chí Nguyễn Ái Quốc căn dặn tôi rất nhiều, tôi nhớ nhất và thầm thía nhất câu: “Cần luôn luôn nhớ làm nhiệm vụ của người dần mất nước. Anh em nên thương yêu nhau, vui vẻ, đoàn kết với nhau. Đoàn kết với công nhân Pháp, nhân dân Pháp và các nước thuộc địa. Chúng ta đều là những người nghèo khổ bị áp bức, bóc lột như nhau…”
Về Lơ Ha-vơ-rơ, anh em xúm lại hỏi. Tôi nhất nhất kể lại hết, không sót cái gì. Anh em phấn khởi lắm. Từ đó theo lời đồng chí Nguyễn Ái Quốc, anh em bí mật chuyền báo về nước, về đến những nơi có Việt kiều ở, như Tân Đảo, đảo Rê-uy-ni-ông,v.v… Anh em quyên tiền ủng hộ báo “Người cùng khổ” và mua báo “Người cùng khổ”, “Nhân đạo”, tạp chí “Bôn-sơ-vích”, đưa hàng trăm tờ về nước. Có lần đi Mác-ti-ních, tôi đưa cả ba anh người Mác-ti-ních trốn mật thám lậu vé về nước. Cái gì chứ cái món bí mật chuyền báo, đưa người, anh em thủy thủ chúng tôi làm dễ thôi.
Năm 1923, tháng tư, tàu của tôi lại cập bến Lơ Ha-vơ-rơ. Tôi lại nhảy về Pa-ri tìm đồng chí Nguyễn Ái Quốc. Sau lần gặp đầu, đi biển cứ nhớ hoài. Lúc bấy giờ, phong trào công nhân Pháp vẫn sôi nổi, vẫn tiếp tục làn sóng từ 1919, 1920. Vùng Lơ Ha-vơ-rơ có hàng vạn công nhân bãi công hàng tháng và có xung đột đổ máu với cảnh sát. Ở nước ta, đế quốc Pháp đang đẩy mạnh bóc lột, bần cùng hóa nhân dân ta. Nạn vỡ đê và đói xảy ra liên tiếp. Đồng bào đói rách, phá sản phải bán mình cho chúng nó. Đi phu cao su ở Nam Kỳ và Tân Thế Giới. Trong khi đó, tàu của nó cứ kìn kìn hết chuyến này đến chuyến khác chở gạo của ta sang Pháp. Chúng tôi thấy thế xót ruột, xót gan. Người mình chết đói, gạo mình nó nẫng đi. Chúng tôi đinh ninh phải nói các cái đó với đồng chí Nguyễn Ái Quốc. Nói với đồng chí mới hả.
Tôi đến phố Gô-bơ-lanh nhưng đồng chí Nguyễn Ái Quốc không có nhà. Tôi chạy ra tòa báo. Đồng chí đang nói chuyện với một người da đen lạ mặt. Thấy tôi đồng chí tươi cười bắt tay và giới thiệu với tôi đồng chí Xai-go (Seigho) người Tây Phi đang nói chuyện với đồng chí. Câu đầu tiên tôi nói là báo cho đồng chí biết rằng báo “Người cùng khổ” vẫn được anh em chuyển nhiều và đều đặn về. Đồng chí nghe thấy thế vui mừng lộ rõ trên mặt. Đồng chí dặn “cố gắng làm cho anh em quyết tâm hơn nữa”. Rồi đồng chí dẫn tôi về nhà, hỏi thăm sức khỏe của tôi và anh em làm tàu ở Lơ Ha-vơ-rơ và lọi hỏi thăm tình hình các nơi chúng tôi mới đi qua và tình hình trong nước. Thái độ ân cần tha thiết như một người anh cả. Lúc nghe kể chuyện tàu Pháp chở gạo sang mà dân ta chết đói, đồng chí ngồi lặng một lúc không nói.
Lần này tôi mới biết bên cạnh buồng đồng chí Nguyễn Ái Quốc là buồng ông luật sư Phan Văn Trường. Đâu ông Trường nhượng đồng chí Nguyễn Ái Quốc thuê lại căn buồng này. Ông Trường là một nhà trí thức yêu nước, cũng muốn tìm hiểu chủ nghĩa cộng sản nhưng ông thiên về sách vở, khác với đồng chí Nguyễn Ái Quốc là một nhà lý luận đồng thời là một người hoạt động thực tiễn đi sâu vào anh em lao động. Tôi có dịp gặp ông Trường. Ông ta rất khâm phục đồng chí Nguyễn Ái Quốc. Ông nói với tôi: “An-be Xa-rô, nguyên toàn quyền Đông Dương, một hôm gọi anh Nguyễn Ái Quốc đến. Nó giơ bàn tay rồi nghiến chặt răng riết chặt lại xoay một vồng ra ý bóp nát và bảo anh “Nước Pháp có đủ sức mạnh trừng trị những kẻ chống đối”. Mặc nó dọa, anh Nguyễn Ái Quốc vẫn hoạt động, vẫn chống lại. Nó bèn quay sang mua chuộc vuốt ve anh thì anh độp vào mặt nó: “Tôi không cần “ơn huệ”, tôi tự đi làm cũng đủ sống; tôi không cần gì hết, tôi chỉ đòi độc lập cho dân tộc Việt Nam”. An-be Xa-rô, cái tên thét ra lửa ấy, bị bẽ mặt, ức lắm, nhưng phải chịu. Bên cạnh đồng chí Nguyễn Ái Quốc là nhân dân các nước thuộc địa, nhất là nhân dân Pháp và Đảng cộng sản Pháp, nó dám đụng vào đồng chí Nguyễn Ái Quốc à?
Tàu đi biển luôn, một dạo tôi chưa đến Pa-ri, thì thỉnh thoảng viết thư đến đồng chí Nguyễn Ái Quốc. Một lần tôi viết thư hỏi đồng chí: “Tôi đọc sách thấy hay nói ông Mác, tôi chưa hiểu, xin giải thích cho tôi biết”. Tôi nhận được ngay thơ trả lời, không những nó rõ cho Mác là ai mà còn giải thích tỷ mỉ chủ nghĩa Mác và khuyên tôi chịu khó xem. Từ đó tôi đọc sách Mác. Chữ gì không hiểu thì mò từ điển. Vẫn chưa hiểu thì viết thư hỏi đồng chí Nguyễn Ái Quốc.
Tháng 6 năm 1924 Đảng cộng sản Pháp giới thiệu đồng chí Nguyễn Ái Quốc ra ứng cử tại Hạ nghị viện Pháp cùng các nhà lãnh tụ của đảng Ca-sanh, Cu-tuy-ri-ê. Báo chí đăng danh sách ứng cử ấy, các đầu phố có dán danh sách ấy. Chúng tôi đọc thấy sướng lắm, cứ đến ngã ba có dán danh sách ứng cử của đảng cộng sản là y rằng đứng lại xem. Đọc thấy tên Nguyễn Ái Quốc mà tưởng như đọc thấy tên vô sản ta, nhân dân ta; thấy tên Việt Nam trên bảng danh sách. Đưa đồng chí Nguyễn Ái Quốc ra ứng cử, Đảng cộng sản cốt nói rằng giai cấp công nhân Pháp đoàn kết với giai cấp công nhân ở thuộc địa đấu tranh chống kẻ thù chung là chủ nghĩa tư bản. Vào quốc hội tư bản là lợi dụng chỗ để vạch mặt chúng chứ không phải mục đích. Lần ấy Đảng cộng sản ra sức tranh cử độc lập lần đầu và được những một triệu hai mươi vạn phiếu trong số năm triệu phiếu. Đồng chí Nguyễn Ái Quốc không phải là người Pháp tất nhiên không thể vào Quốc hội Pháp” [6].
[1] Ra-un Lác-sè, “ở Đại hội Tua” Hồng Hà ghi trong tập “Bác Hồ ở Pháp”, Nhà xuất bản Văn học, năm 1970.
* Trích: biên bản tốc ký của Đại hội về lời phát biểu tại Đại hội Tua của Hồ Chủ tịch, trong tập “Vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội” Nhà xuất bản Sự thật, năm 1970.
[2] Đại biểu Đông Dương: tức Hồ Chủ tịch.
[3] Giăng Lông-ghê: một lãnh tụ phái hữu của Đảng xã hội Pháp lúc bấy giờ.
[4] Trần Dân Tiên, “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch” Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, năm 1975.
* tờ báo này do Bác làm chủ bút kiêm chủ nhiệm.
[5] Luật sư Mác Clanh-vin Blông-cua, “Người bạn tốt của các dân tộc thuộc địa” – Hồng Hà ghi trong tập “Bác Hồ ở Pháp”, nhà xuất bản Văn học, năm 1970.
[6] Bùi Lâm, “Gặp Bác ở Pa-ri”, trong tập “Bác Hồ”, Nhà xuất bản Văn học, năm 1960.
Gặp “con cáo già” thuộc địa
“Hồi đó Bác trọ nhờ nhà luật sư Phan Văn Trường ở Pa-ri. Buổi sáng thì đi làm nghề tô ảnh phóng đại để lấy tiền ăn. Buổi chiều thì hoạt động cách mạng. Chính phủ Pháp cho hai tên mật thám đêm ngày theo dõi Bác.
Chính phủ Pháp lúc đó do Poanh-ca-rê cầm đầu. Y là một người cực kỳ phản động. Chính y đã chủ trương đánh cách mạng Nga. Khi quân sự đã thất bại, y chủ trương tẩy chay kinh tế Nga. Trong một cuộc tổng tuyển cử hạ nghị viện Pháp, y đã cho dán khắp cả nước bức vẽ tuyên truyền chống cộng, dưới nhan đề là “Bôn-sơ-vích hai hàm răng ngậm dao”. Trong bức vẽ thì phía sau là những ngôi nhà đang cháy ngùn ngụt ; phía trước là một người “Bôn-sơ-vích”, mặt mũi rất dữ tợn, miệng ngậm một cái dao đẫm máu, tay xách cái đầu của một người đàn bà… Vài năm sau, chính Poanh-ca-rê đã chủ trương chiếm đóng khu hầm mỏ Rua của nước Đức.
Đảng cộng sản Pháp đập lại Poanh-ca-rê một vố cũng khá nặng. Số là Poanh-ca-rê trong khi đến thăm một nghĩa địa có hàng nghìn mộ lính Pháp, thì Poanh-ca-rê nhăn răng cười. Đảng Pháp lấy được bức ảnh đó, cho in ra hàng triệu tấm, dưới nhan đề “Poincarré qui rit” (nghĩa là Poanh-ca-rê nó cười) và bán khắp nước Pháp. Bức ảnh đó đã gây nên một phong trào sôi nổi chống Poanh-ca-rê.
Một buổi trưa đi làm về, bà già giữ nhà đưa cho Bác một bức thư. Quái! Xưa nay Bác chưa hề nhận thư gửi đến địa chỉ này. Vì đề phòng mật thám, thừ từ anh em cho tin tức hoặc bàn công việc đều gửi đến các nhà bạn quen của Bác. Mở thư ra xem, thì ra của quan thượng tư thuộc địa mời Bác đến gặp. Cách vài hôm sau, Bác đi gặp y.
Trong phòng khách của bộ thuộc địa, một bầy người Pháp “tai to mặt lớn” đang lô nhô chờ đến phiên mình được “quan thượng thư” gọi vào. Nhưng Bác không phải chờ, vừa đến thì liền có ông già mang xiềng bằng bạc (người truyền đạt ở các cơ quan cấp cao) mời vào ngay.
Một gian phòng rộng rãi và lộng lẫy, trưng bầy đầy những đồ xưa vật quý mang từ thuộc địa về. Quan thượng thư, đầu hói như quả bưởi, một mắt mang kính trắng, “uy phong lẫm lẫm” ngồi chẵm chọe bên một cái bàn rất rộng và chất đầy giấy tờ. Thấy Bác vào, ông ta đứng dậy bắt tay và mời ngồi một cách lễ độ giả dối.
Hai người ngồi đối mặt nhau.
Một người thì đại biểu chế độ đế quốc thực dân Pháp đang áp bức bóc lột Việt Nam.
Một người là tượng trưng của nhân dân Việt Nam đang bị Pháp đô hộ một cách tàn nhẫn.
Y thì nắm trong tay cả quyền bính kinh tế, chính trị, quân sự, cảnh sát, tòa án, trại giam… ở các thuộc địa Pháp.
Bác là một trong 50 triệu người thuộc địa bị bọn thực dân Pháp bắt làm nô lệ.
Y có quyền bắt giải Bác về Việt Nam, gán cho tội tuyên truyền cộng sản, rồi đưa lên máy chém (Triều đình Việt Nam đã vâng lệnh Pháp mà xử án Bác vắng mặt).
Bác thì chỉ dựa vào lực lượng của chính nghĩa và cảm tình của giai cấp công nhân Pháp, nhất là công nhân Pa-ri.
Hai giai cấp, hai chế độ ngồi đối mặt nhau. Thế nhưng Bác cảm thấy ông ta sợ Bác, vì sợ cách mạng; và đoán biết rằng ông ta cũng cảm thấy Bác không sợ ông ta, vì cách mạng không sợ cái chế độ do ông ta đại biểu.
Thượng thư thuộc địa mắt thì nhìn Bác chằm chằm, tay thì vẽ trên bàn, miệng thì nói như phun ra lửa. Y nói đại ý như sau:
“Hiện nay có những kẻ ngông cuồng hoạt động ở Pháp. Họ liên lạc với bọn Bôn-sơ-vích ở Nga. Từ Nga họ liên lạc với Quảng Đông. Và từ Quảng Đông họ liên lạc với Việt Nam. Chính phủ Pháp biết rõ hết những dây liên lạc đó ! Họ âm mưu phá rối trật tự trị an ở Đông Dương và chống đối lại nhà nước bảo hộ. Nước mẹ Đại Pháp rất khoan hồng, nhưng sẽ không tha thứ những kẻ gây rối loạn… Nước mẹ Đại Pháp đủ sức để bẻ gãy họ, như thế này…”
Nói đến đó, y vẻ mặt hầm hầm, hai tai nắm lại và làm như đang bẻ những vật gì rất cứng rắn – những người cách mạng Việt Nam…
Bác cứ giữ thái độ ung dung, cứ mỉm cười, để mặc y nói.
Cái mỉm cười trước những lời đe dọa làm cho thượng thư thuộc địa càng bực dọc, càng sợ. Khi ông ta tạm dứt lời. Bác hỏi: “Ngài nói xong rồi chứ?”
Là một nhà chính trị cáo già, ông ta đổi giọng và nói một cách ôn tồn:
“Tôi rất thích những thanh niên có chí khí như ông. Có chí khí là tốt, nhưng còn phải “thức thời” mới ngoan. Ồ này! Khi nào ông có cần gì tôi thì tôi luôn luôn sẵn sàng giúp đỡ ông. Từ nay, chúng ta quen biết nhau, ông không nên khách sáo…”
Bác nói: “Cảm ơn ngài! Cái mà tôi cần nhất trên đời là: Đồng bào tôi được tự do, Tổ quốc tôi được độc lập… Kính ngài ở lại, tôi xin phép về”.
Trên đường về, ngồi trong xe điện dưới hầm (mê-tơ-rô) Bác cười trong bụng: “Con cáo già thuộc địa đã đoán trúng ý định của mình!” [1]
Đến Tổ quốc xã hội chủ nghĩa đầu tiên
“Cách mạng tháng Mười vĩ đại có một sức lôi cuốn kỳ diệu vô cùng. Từ khi nghe tin cách mạng xã hội chủ nghĩa thành công. Bác liền có ý định đi Nga, mặc dù lúc đó chưa hiểu hết ý nghĩa cực kỳ to lớn của cuộc cách mạng ấy.
Hồi đó, đi Nga là một việc rất khó khăn và nguy hiểm. Sau khi Hồng quân đã đánh lui bộ độ của 14 nước đế quốc và dẹp xong bọn phản động trong nước, thì Nga lại bị các nước đế quốc bao vây chặt chẽ. Có những người như nhà thơ Pháp là đồng chí Ray-mông Lơ-phe-vơ-rơ cùng mấy anh em công nhân đã mạo hiểm bí mật đi Nga, lúc về đã bị đắm thuyền chết ở biển Ban Tích. Nhiều người khác đi gần đến Nga, thì bị bọn phản động quốc tế bắt và thủ tiêu…
Nguy hiểm thì không sợ. Nhưng làm thế nào để giải quyết các khó khăn. Trước hết, làm thế nào để vượt được đoạn đường từ Pa-ri đến biên giới cho khỏi bị mật thám Pháp bắt lại? Làm thế nào để xuyên qua nước Đức và nước Ba Lan?...
Ngày thường gần gũi anh em công nhân, Bác biết họ rất khảng khái. Vài ví dụ:
- Trong một cuộc mít-tinh ở Pa-ri, nhằm quyên góp giúp Nga đang bị đói kém và bệnh hoạn, người diễn thuyết là bà Sơ-vơ-rin, đồng chí Ca-sanh và đồng chí V. Cu-tuy-ri-ê. Khi nghe nói đến lạc quyên, thì trăm người như một, trong túi có bao nhiêu trút ra quyên hết, không ai đếm xem mình quyên ít hay là nhiều. Đó là một biểu hiện đồng tình vô sản quốc tế rất cao quý!
- Một đồng chí thợ già tên là N. làm ở nhà máy điện thường cùng Bác đi dự cuộc mít-tinh. Một hôm khi cùng nhau từ cuộc hội họp đi về, đồng chí N. thủ thỉ nói với Bác: “Chú này! Mình không vợ không con, bao giờ mình “nhắm mắt”, mình để số tiền đó giúp chú làm cách mạng…”
Nay muốn đi Nga, thì chỉ có một cách là nhờ anh em công nhân giúp. Ý định như vậy rồi, Bác tìm làm quen với anh em công nhân xe lửa. Sau nhiều ngày tìm kiếm, thăm dò, Bác đến gặp đồng chí X. làm ở đầu máy xe lửa đi Pa-ri - Bá-linh. Nghe nói Bác muốn đi Nga, đồng chí X. vui vẻ nhận giúp ngay. Đồng chí X. nói : “Được, chúng tôi sẽ giấu đồng chí ở một chỗ trên xe, bố mật thám cũng chẳng tìm ra được! Nhưng xe chúng tôi chỉ đi đến Bá-linh thôi…” Nheo mắt lại nghĩ ngợi một lát, rồi đồng chí X. nói tiếp: “Không sao! Tôi sẽ bàn với anh em công nhân xe lửa Đức giúp cho đồng chí…”
Thế là bước đầu đã thành công. Nhưng khó khăn vẫn còn không ít. Làm thế nào để bỏ rơi bọn mật thám ngày đêm theo mình như bóng theo hình ? Anh em công nhân Đức có thể giúp, nhưng công nhân Ba Lan sẽ sẵn sàng giúp mình chăng ? Và ai sẽ phụ trách tờ báo Pa-ri-a ? Các đồng chí Á Phi người thì giúp bài, kẻ thì giúp tiền làm báo, nhưng cần có người không có gia đình bận bịu như mình để phụ trách mọi việc như đi góp tiền, đi giục bài, bí mật gửi báo đến các thuộc địa, bán báo để tuyên truyền ngay ở Pa-ri… Thật là “ngổn ngang trăm mối bên lòng!”
Quanh quẩn mấy tháng, kế hoạch chưa xong, thì một hôm được Trung ương Đảng Cộng sản Pháp gọi đến và báo:”Đồng chí sẽ được đi dự Đại hội lần thứ năm của Quốc tế cộng sản, với danh nghĩa là đại biểu dân tộc thuộc địa”.
Tin mừng đó làm cho Bác sung sướng ngất trời!
Bọn mật thám nắm vững “quy luật” hoạt động của Bác. Sáng đi làm công. Chiều đến thư viện. Tối dự mít-tinh. Khuya về nhà ngủ…
Bác cũng nắm vững “quy luật” hoạt động của chúng: Chúng chỉ theo Bác từ nhà trọ đến chỗ làm việc, đến chỗ xem sách, đến nơi hội họp. Sau đó, tin chắc rằng Bác chẳng đi đâu mất, chúng về nhà chúng để vui thú gia đình.
Hôm đó, hai tay đút túi. Bác ung dung lên xe “buýt” đi tham gia một cuộc mít-tinh ở ngoại ô Pa-ri. Độ nửa giờ sau, Bác lặng lẽ đi quanh về ga xe lửa. Một đồng chí tin cẩn đã chờ sẵn ở đó, trao cho Bác một vé xe lửa hạng nhất (vì hạng nhất chỉ có những khách sang trọng, ít bị tình nghi) và một cái va-ly con… Bác cố trấn tĩnh, nhưng đến khi xe lửa qua khỏi biên giới Pháp – Đức, trong ngực mới hết phập phồng.
Chắc chắn bọn mật thám phụ trách gác Bác sẽ được quan thượng thư thuộc địa “thưởng” cho một mẻ nên thân! Mà chính quan thượng thư cũng tức mình đến “ung thư phát bối”.
Khi đi qua địa phận Đức bị quân Pháp chiếm đóng thì thấy lại những cảnh tượng thực dân. Đối với người Đức, bọn quân phiệt Pháp ở đây cũng vênh váo lên mặt, làm mưa làm gió, y như bọn Pháp ở nước ta…Có mấy người thương binh Pháp lên nhầm toa xe hạng nhất, liền bị một tên quan sáu Pháp khua ba toong đuổi xuống xe…
Tuy sau chiến tranh đã sáu năm, ở Bá-linh vẫn đói kém dữ (có lẽ ở các nơi khác cũng vậy). Người nào cũng có vẻ xanh xao vàng vọt ! Nạn lạm phát giấy bạc thật là kinh khủng, sớm một giá khác, chiều một giá khác. Đưa giấy bạc mua một tờ báo thì số giấy bạc chập nhau lại, rộng hơn tờ báo! Cả gia tài Bác chỉ vẻn vẹn non 1000 phơ-răng, vậy mà tính ra tiền Đức, Bác đã trở thành người giàu bạc triệu!
Bác đến Nga vào mùa đông. Mọi vật đều bị tuyết phủ trắng xóa như một thế giới bằng bạc, có ngày rét đến 42 độ dưới 0.
Đại hội Quốc tế cộng sản hoãn chưa khai, vì Lê-nin còn ốm nặng.
Hôm 21 tháng giêng 1924, một cơn gió thảm mưa sầu đã chấn động toàn thể nhân dân Nga, cũng như nhân dân lao động và dân tộc bị áp bức cả thế giới: Lê-nin – người thầy, người bạn, người đồng chí yêu kính của chúng ta mất rồi!
Cuối tháng 8-1918, trong lúc đến nói chuyện ở một cuộc mít-tinh của công nhân nhà máy tại thành phố Pê-téc-bua (nay là Lê-nin Gờ-rát) Lê-nin bị một tên phản động bắn bị thương nặng. Từ đó về sau Lê-nin thường bị yếu, nhưng vẫn cố gắng làm việc đến hơi thở cuối cùng.
Nghe tin buồn đó, nhiều người òa lên khóc, Bác cũng khóc. Kể sao cho xiết tình thương tiếc không bờ bến của những người lao động đối với người thầy cách mạng vĩ đại ấy! Biến thương xót thành hành động; Lê-nin mất nhưng ngọn cờ chủ nghĩa Lê-nin có đảng Bôn-sơ-vích anh dũng nắm vững và có hàng triệu người cộng sản khắp thế giới giương cao. Để tỏ tình đoàn kết chặt chẽ và nhiệt liệu ủng hộ Đảng của Lê-nin ; hơn 24 vạn công nhân Nga lúc đó xin gia nhập Đảng.” [2]
*
* *

