Đường Bác Hồ Đi Cứu Nước - Chương 06
“Hôm đó là ngày mồng 3 tết. Cả nhà tôi ăn cơm chiều xong, đang ngồi quây quần bên bếp lửa. Bên ngoài, trời tối dần. Nhìn ra đường đã không rõ nữa, mà trông lên các ngọn núi chung quanh nhà chỉ thấy một màu tối đen như mực. Thỉnh thoảng một cơn gió nổi lên, lạnh rùng mình. Tôi ngồi xích lại gần đống lửa. Lúc này chỉ nghĩ đến việc phải ra ngoài cũng đã đủ thấy ngại. Chợt dưới nhà có tiếng gọi lên :
- Đại Lâm có nhà không đấy !
Tôi nghe giọng đã biết ngay là các đồng chí Lê Quảng Ba và Hoàng Sâm rồi. Cả nhà tôi ai cũng biết hai đồng chí đó. Chính các đồng chí là những người đầu tiên đến tuyên truyền cách mạng ở vùng Pắc Bó này từ năm 1937.
Tưởng các đồng chí đến chơi chúc Tết, bố tôi mừng rỡ chạy ra cửa đón.
Lên nhà, chưa kịp ngồi uống chén nước, đồng chí Ba đã nói ngay :
- Chúng cháu có việc vội. Cụ cho chúng cháu mượn hai bộ quần áo, một cái nồi, một cái chiếu, vài cái bát đôi đũa để chúng cháu mang lên hang ở.
Giá ngày thường như vậy thì cả nhà tôi chẳng ai lấy làm lạ. Nhưng đằng này lại là ngày tết, sao lại vội vàng thế ? Bố tôi mới nghe đã lắc đầu, gạt đi ngay :
- Không được ! Tôi không để các đồng chí đi đâu cả ! – Vừa nói, bố tôi vừa kéo tay hai đồng chí ngồi xuống.
Nhưng đồng chí Ba, đồng chí Sâm vẫn nằn nì xin đi ngay. Bố tôi lại nói :
- Đã lâu ngày các đồng chí mới về, sao lại không ở chơi với chúng tôi ? Hay gia đình có điều gì thiếu sót thì các đồng chí bỏ qua cho. Hôm nay hãy cứ ở đây với chúng tôi. Ai lại lên hang ở lúc này cho rét mướt, vất vả !
Hai đồng chí cứ đứng tần ngần giữa nhà, không biết nói thế nào. Cuối cùng đồng chí Ba đành nói thật :
- Lâu nay chúng cháu vẫn nhờ bà con trong làng để sống và hoạt động. Từ đây về sau cũng thế. Nhưng hôm nay có mấy đồng chí lạ đến, xuống làng e không tiện cho việc giữ bí mật. Vậy xin cụ tha thứ cho chúng cháu.
Đến lúc đó bố tôi mới để cho các đồng chí đi. Nhưng khi các đồng chí đi rồi, bố tôi vẫn thắc mắc không yên. Tôi cũng thấy lạ. Tôi đã được đi theo đồng chí Ba từ lâu, mà lần này đồng chí Ba phải giữ bí mật như thế, chắc là có điều gì đặc biệt lắm. Cả đêm hôm đó, tôi thấp thỏm không ngủ được. Tôi nằm bên đống lửa, nghe gió rít ngoài trời lại càng thương các đồng chí phải ở trên núi đá, hang sâu lạnh lẽo. Bố tôi cũng không ngủ được, chốc chốc lại dậy hút thuốc và lầm bầm :
- Hảo nhân đa hữu nạn ! Người tốt lại thường gặp lắm gian nan !
Sớm hôm sau, trời mới mờ sáng, bố tôi đã bắt tôi đi thu xếp rượu thịt, bánh chưng, chè lam… cho vào một cái giỏ xách đi và dẫn bố tôi lên hang. Tôi cũng đang nóng biết chuyện mới lạ, nên đi nhanh lắm. Đường từ nhà tôi vào hang Cốc Bó cũng có chỗ khó đi, phải lội qua mấy cái suối, leo qua một vài dốc đá, nhưng hai bố con tôi đi băng băng, chỉ một chốc đã tới nơi. Đến gần hang, còn ở bên này suối, tôi đã trông thấy mấy người đang ngồi ở bãi nương dưới chân hang, bên bờ suối. Đến gần hơn, tôi trông rõ hai đồng chí già, râu dài, đang ngồi làm việc. Tôi thầm đoán : “Đây chắc là các đồng chí lão cách mạng”.
Tôi còn đang ngắm nghía, suy nghĩ thì một trong hai đồng chí già đứng dậy ra bắt tay hai bố con tôi. Bố tôi chào lại, còn tôi thì cứ đứng ngây ra nhìn đồng chí già không chớp mắt. Tôi thấy đồng chí râu dài hơn có đôi mắt sáng ngời, cử chỉ nhanh nhẹn, vồn vã. Nhìn những người chung quanh tôi thấy ai đối với đồng chí già này cũng tỏ thái độ tôn kính lắm. Tôi nghĩ : “Đúng là một đồng chí lãnh tụ cao cấp rồi”.
Trước đây tôi đã được nghe nói có đồng chí Nguyễn Ái Quốc là lãnh tụ của Đảng. Lúc này tôi thoáng nghĩ : “Hay là chính đồng chí này đây”. Nhưng tôi nín lặng không dám hỏi ai. Tự nhiên trong lòng tôi thấy bồi hồi cảm động. Cách mạng đã mở ra cho tôi biết con đường phải đi tới. Bây giờ lại được thấy những đồng chí lãnh tụ già tuổi đời, cao tuổi Đảng về đây, chắc chắn cách mạng ngày càng mạnh và mau chóng thành công.
Bố tôi vẫn tiếp tục nói chuyện với Bác – vì đồng chí già đó chính là Bác kính yêu của chúng ta. Câu chuyện giữa hai người sôi nổi vui vẻ lắm. Bác hỏi thăm tình hình địa phương, việc làm ăn của nhân dân, sự khủng bố của kẻ địch…
Bố tôi đáp lại lời Bác :
- Bọn tổng lý, kỳ hào, lính dõng, thổ phỉ, ở đây ác lắm. Chúng ức hiếp nhân dân chúng tôi nhiều lắm !
Bố tôi nói xong, Bác nhẹ nhàng giải thích, đại ý :
- Tình cảnh nhân dân địa phương ta bị áp bức cũng là tình hình chung của toàn dân cả nước hiện nay. Bọn tổng lý, kỳ hào, lính dõng đúng là ác thật, nhưng nếu không có bọn đế quốc, không có thằng Tây thì bọn chúng chẳng làm gì được ta đâu.
… Nghe đến đây tôi mới nghĩ ra : “À, thế là từ trước đến nay mình chưa thấy hết tội ác của bọn đầu sỏ, mà chỉ thấy bọn tay chân của chúng thôi. Cũng như đóng một cái đinh vào gỗ thì phải có búa, nhưng mình chỉ thấy đinh mà không thấy búa. Mỗi lần bọn thổ phỉ hoặc bọn lính dồn đến cướp bóc thì mình chỉ nghĩ làm sao đánh đuổi được bọn chúng đi thôi. Còn mấy thằng Tây trên đồn Sóc Giang họa hoằn mới đến làng và cái bọn thống trị chung cả nước, thì mình lại chưa biết đến nó sâu sắc. Đúng là tầm mắt mình còn hẹp quá”.
Tôi lại chăm chú nghe, Bác nói thêm, đại ý là :
- Muốn đánh đổ bọn thống trị làm cho đời mình khỏi khổ thì không phải chỉ nhân dân Pắc Bó làm cách mạng là được. Phải đoàn kết toàn dân, già, trẻ, trai, gái cả nước thành một sức mạnh, lợi dụng lúc bọn đế quốc đang bị suy yếu trong cuộc chiến tranh thế giới mà đứng lên đánh đuổi chúng đi, giành lại độc lập cho Tổ quốc, thực hiện dân tộc bình đẳng, nam nữ bình quyền, tự người mình trông nom lấy đất nước của mình.
Nghe Bác, tôi cảm thấy đầu óc được sáng thêm ra. Mỗi lời nói của Bác làm cho tôi càng thấy rõ tương lai đất nước, lại như nhắc nhủ tôi phải học nhiều, hiểu biết nhiều hơn nữa, mới có thể làm cách mạng được.
Hôm ấy Bác bảo bố con tôi ở lại ăn cơm. Đồng chí cấp dưỡng của Bác đem thức ăn ra. Tôi thấy có rau cải, rau rừng, ốc suối – món ốc này chính Bác và các đồng chí ở đây đi mò lấy. Tôi cũng không ngờ món ăn ngày tết của các đồng chí chỉ có thế. Như hiểu ý bố con tôi, Bác nói :
- Hôm nay được cụ mang cho rượu, bánh, thịt, thế là tết đầy đủ lắm rồi.
Bố tôi cứ nằn nì mời Bác và các đồng chí xuống ở với dân làng, với gia đình cho đỡ vất vả.
Bác vừa cười vừa nói :
- Ăn tết thế này là tết gia đình rồi đấy. Vẫn biết các cụ và bà con trong làng rất tốt, nhưng ở đây tiện công tác, tiện giữ bí mật… Bà con không có gì đáng ngại cho chúng tôi cả.
Bố tôi lại hỏi :
- Đồng chí đã nhiều tuổi rồi mà vẫn còn đi hoạt động được à ?
Bác lại cười và nói :
- Tôi già rồi, nhưng nhiệm vụ cách mạng còn đòi hỏi nên tôi vẫn hoạt động. Cụ cũng già rồi mà cụ vẫn làm cách mạng đấy thôi.
Bố tôi lắc đầu :
- Tôi suốt ngày chỉ quanh quẩn ở nhà, được việc gì đâu mà bảo làm cách mạng ?
- Cụ đã làm nhiều rồi đấy – Bác vui vẻ nói – Lâu nay cụ vẫn giữ bí mật, chăm lo chỗ ăn chỗ ở cho cán bộ, cụ lại vẫn trông nom gia đình để cho con cháu tham gia hoạt động, thế là cụ đã làm nhiều việc cho cách mạng rồi. Chỉ có bây giờ chúng ta cùng nhau cố gắng hơn nữa, làm cho toàn dân đoàn kết đứng lên, đánh đuổi bọn phát xít Nhật và bọn đế quốc Pháp, thì nhân dân ta mới được no ấm hạnh phúc…
Ở chỗ Bác về, cả hai bố con tôi đều im lặng. Chắc bố tôi cũng đang suy nghĩ nhiều về những lời Bác nói. Tôi cũng thế. Con người tôi như mới được tiếp thêm một sức mạnh mới. Trong bụng vui mừng phấn khởi. Cảnh vật chung quanh như thêm tươi đẹp. Những cơn gió lạnh đầu xuân không còn làm cho tôi thấy rét buốt nữa. Mặt trời đã hiện lên đỉnh núi rồi.
*
* *
Từ hôm được gặp Bác, tôi cảm thấy như không muốn rời Bác. Tôi muốn được nghe Bác nói nhiều, được Bác dạy bảo thêm. Nhưng, tôi chưa biết làm thế nào để được gần Bác. Hằng ngày tôi vẫn vào làm ở trong một đám nương chỉ cách chỗ hang của Bác một con suối. Một vài buổi đầu tôi vừa làm, vừa nhìn sang bên phía hang để xem các đồng chí làm việc. Vài hôm sau, tôi mon men dần dần đến chỗ Bác ở. Mỗi khi thấy tôi đến, dù bận đến đâu Bác cũng dừng tay lại, hỏi :
- Đại Lâm đến có việc gì thế ?
Mới đầu tôi còn tìm được câu trả lời : “Cháu đến thăm các đồng chí”. Sau tôi không biết trả lời thế nào nữa. Chắc Bác cũng hiểu nguyện vọng của tôi nên mỗi lần tôi đến, Bác thường giữ tôi lại, và nói chuyện cho tôi nghe. Bác còn bày cách cho tôi :
- Hôm nào chú làm cả ngày ở đây thì mang gạo lên gửi đồng chí Lộc nấu ăn chung rồi trưa nghỉ lại nói chuyện được nhiều hơn. Như vậy đỡ mất thì giờ đi lại mệt nhọc.
Tôi nghe Bác nói như mở cờ trong bụng. Tôi thấy mình là một thanh niên mới tham gia hoạt động cách mạng được vài năm, nay được các đồng chí lãnh đạo chú ý dìu dắt, giáo dục thì thật là một điều vinh hạnh. Cho nên, dù công việc nhà bận đến đâu, tôi cũng cố gắng hằng ngày đi sớm vào chỗ Bác, đến tối mịt mới về. Có hôm nghe dở câu chuyện, tôi xin ngủ lại trên hang với Bác và Bác cũng đồng ý.
Thời gian này Bác dạy tôi nhiều điều. Chuyện của Bác không bao giờ hết. Bác giảng cho tôi nghe về tình hình thế giới, tình hình trong nước và con đường cách mạng giải phóng dân tộc. Có những vấn đề, lúc đầu tưởng xa xôi khó hiểu, nhưng sau nghe Bác nói tôi cứ sáng ra dần, và càng ham thích tìm hiểu rộng thêm. Như có lần Bác nói về tình hình thế giới, Bác hỏi tôi :
- Chú đã biết thủ đô các nước lớn như Liên-xô, Anh, Pháp, Đức chưa ?
Tôi lắc đầu nói :
- Công việc trước mắt còn chưa kịp làm nữa là những chuyện đó !
Bác vừa cười, vừa giải thích cho tôi, đại ý như sau :
- Cách mạng của ta liên quan đến cách mạng thế giới, nên không thể chỉ biết một nước mình được. Hiện nay, bọn phát xít Đức đang tấn công Liên-xô, nhưng Hồng quân Liên-xô nhất định đánh đến cùng phát xít Đức không thể tiến vào thủ đô Mạc Tư Khoa được. Tổ quốc cách mạng thế giới nhất định đứng vững. Chúng ta phải chuẩn bị sẵn sàng đón thời cơ. Hồng quân đang tiêu hao dần quân Đức, làm cho chúng suy yếu, đến lúc nào đó sẽ phản công đuổi chúng một mạch đến tận thủ đô Bá-linh của chúng, lúc đó đại chiến sẽ chấm dứt. Đó cũng là thời cơ cho cách mạng Việt Nam nổi dậy.
Thì ra Bác hỏi thủ đô các nước là để dẫn tôi đến chỗ hiểu sự liên quan giữa tình hình thế giới và cách mạng ta. Từ đó, những tên thủ đô Mạc Tư Khoa, Bá-linh, v.v… là những tên tôi nhớ như in không thể nào quên được.
Một điều Bác hay hỏi đi hỏi lại, và cũng là điều tôi nhớ nhất là : “ Đi làm cán bộ, đảng viên thì phải giữ vững đạo đức cách mạng. Phải làm cho dân tin, dân yêu, dân phục. Làm cho dân tin, nghĩa là phải trung thành, thực thà. Làm cho dân phục, nghĩa là phải đứng trước quần chúng khi nguy nan khó khăn. Làm cho dân yêu nghĩa là phải kính già yêu trẻ, đứng đắn với phụ nữ, bình đẳng với mọi người. Lại phải cần kiệm liêm chính, nhân nghĩa, trí, dũng,…”
Đạo đức cách mạng đó không những tôi được nghe Bác nhắc đi nhắc lại, mà tôi còn học tập được ngay ở bản thân Bác. Có đến hang Cốc Bó mới thấy hết điều kiện sống của Bác ở đây rất gian khổ. Cái hang của Bác ở trên núi cao, từ bờ suối trèo lên phải qua một quãng dốc khá dài, có cây rậm rạp vít chặt lối đi, hễ mưa xuống là trơn nhẫy và vắt ra nhiều như trấu. Lên đến cửa hang, muốn vào trong còn phải chui sâu xuống dưới không bám chắc tay có thể tụt, ngã.
Chỗ hang Bác ở chật chội, có hai ba ngách nhỏ. Trong một ngách có tảng đá to, Bác gác vài cái que, rải lá lên làm giường nằm. Không khí ở hang ẩm thấp. Ngày nắng ráo còn khá, những hôm trời mưa rét ẩm ướt, nằm trong hang cảm thấy lạnh buốt thấu xương. Những giọt nước mưa tụ lại ở trên đỉnh hang rơi xuống lách tách như không bao giờ dứt. Cũng có lúc tôi nghĩ : cho mình ở thế này mấy ngày liền chắc cũng khổ sở lắm. Tôi sinh ra và lớn lên ở trên vùng rừng núi, nhìn cảnh đó đã thấy ngài ngại. Còn Bác tuổi đã nhiều, người lại gầy yếu thế mà Bác vẫn ung dung không lúc nào tỏ ra mệt nhọc.
Tối nào cũng mười giờ hơn hoặc mười một giờ Bác mới đi ngủ. Sớm ra mới độ bốn rưỡi hoặc năm giờ, sương trên núi chưa tan, Bác đã dậy thu xếp đồ đạc, rồi chạy xuống bờ suối tập thể dục và cuốc đất làm vườn. Có hôm Bác đi chơi núi, Bác leo núi rất khỏe, thanh niên còn khó mà theo kịp. Bác còn làm mọi công việc lao động như : lấy ống bương đi xách nước nấu cơm, đi hái rau rừng, câu cá, mò ốc… Bác thường mặc bộ quần áo Nùng màu chàm, ống tay rộng. Thức ăn của Bác chỉ có rau bí, rau cải, rau rừng, măng đắng một phần do nhân dân biếu, còn phần lớn là tự túc… Họa hoằn mua được một ít thịt thì lọc hết mỡ đem rán để dành, còn thịt nạc băm nhỏ, xào thật mặn, mỗi bữa ăn một tí. Những tháng giáp hạt, nhân dân ăn độn ngô thì Bác cũng ăn độn ngô, có khi phải ăn cả thứ ngô non xay để lâu đã bị chua.
Bác đọc rất nhiều sách, viết nhiều tài liệu, lại còn dành thời giờ trực tiếp huấn luyện cho cán bộ. Những hôm trời nắng, Bác thường ra ngồi bờ suối làm việc. Bác lại hay làm thơ nữa. Những câu thơ sau đây, hồi đó tôi được Bác đọc cho nghe, bây giờ tôi vẫn nhớ như in :
“Sáng ra bờ suối, tối vào hang
Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng
Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng
Cuộc đời cách mạng thật là sang”
Lúc đó, tôi chưa hiểu hết được ý nghĩa sâu sắc của những câu thơ Bác làm, rôi chỉ mang máng thấy tinh thần lạc quan, tin tưởng, yêu đời của Bác. Gần Bác, cứ mỗi ngày tôi lại học thêm được những bài học sống. Tôi tự nghĩ mình đã tham gia cách mạng lại mang danh là cán bộ, đảng viên mà chưa làm được gì mấy cho cách mạng và so với đạo đức sáng ngời của Bác thì mình chưa có mảy may. Tôi hồi tưởng lại lúc tôi mới vào Đảng. Hồi đó là tháng 4 năm 1940, tôi và một số đồng chí hội viên Cứu quốc đã được kết nạp cùng một lúc, mặc dù chúng tôi mới chỉ có lòng tin yêu Đảng, chứ chưa được nghiên cứu kỹ điều lệ, tôn chỉ, mục đích cho thông suốt. Lễ kết nạp như vậy cũng là phổ biến ở một số vùng của Cao Bằng hồi đó. Bác đã phê bình ngay việc phát triển Đảng một cách ồ ạt như trên, Bác nói đại ý :
- Nhà phải có cột mới vững. Đoàn thể cách mạng cũng phải có cột mới vững – cột đó là Đảng. Con số đảng viên của Cao Bằng hiện nay đã có tới mấy trăm, nếu như vậy thì cách mạng sắp nổ ra đến nơi rồi. Phải củng cố lại, làm cho Đảng vững mạnh hơn nữa…
Có lần Bác hỏi tôi :
- Chú có biết chủ nghĩa cộng sản là thế nào không ?
Tôi lúng túng không biết trả lời ra sao – vì tôi đã được nghe ai nói rõ ràng đâu. Sau bí quá, tôi đành phải nói :
- Cộng sản là đánh Tây, đánh thổ phỉ, không cho chúng cướp bóc.
Bác khen tôi trả lời có điều đúng, nhưng chỉ mới là việc trước mắt, chưa thấy rõ con đường cách mạng lâu dài. Rồi Bác nói cho tôi nghe nguồn gốc từ đâu mà có chủ nghĩa cộng sản. Bác giảng thêm, đại ý : Hiện nay chúng ta còn khổ là do còn có giai cấp áp bức bóc lột. Chủ nghĩa cộng sản là đi đến xóa bỏ giai cấp không còn áp bức bóc lột, đi tới một thế giới đại đồng, mọi người đều được hưởng hạnh phúc… Bác đã mở cho tôi thấy cả một tương lai rực rỡ.
Rồi Bác lại hỏi tôi :
- Đảng ta là Đảng gì ?
Chỗ này tôi lại càng ít được nghe, tôi chỉ biết Đảng là Đảng thôi, nên tôi không trả lời được.
Bác giảng giải cho tôi :
- Đảng ta là Đảng cộng sản Đông Dương, là một chi bộ của Quốc tế cộng sản…
Tôi thích nhất khi nghe Bác nói, đại ý :
- Hiện nay đã có những nước có Đảng như ta rồi, nhưng cũng có nơi phong trào còn gặp nhiều khó khăn ; còn Đảng ta ra đời tiếp thu được nhiều kinh nghiệm các Đảnh anh em và đã anh dũng chiến đấu có thành tích vẻ vang nên được Quốc tế cộng sản công nhận rồi…
Thế là qua nhiều lần được nghe Bác, tôi dần dần hiểu rõ về Đảng, về chủ nghĩa cộng sản, về đạo đức của người đảng viên. Tuy những hiểu biết của tôi lúc đó chưa phải là đầy đủ, nhưng tôi cảm thấy con người của mình lớn thêm một bước. Tôi lại nhận rõ một điều : muốn xứng đáng là cán bộ, là đảng viên, tôi còn phải học tập, phải cố gắng nhiều hơn nữa.
Cũng từ ngày đó, chúng tôi say sưa lao vào công tác. Chúng tôi tích cực đi tuyên truyền quần chúng để tổ chức vào Hội, vào Đảng. Bác thường dạy bảo chúng tôi : Muốn tuyên truyền quần chúng, phải làm theo đúng 5 bước công tác, không được bỏ sót bước nào. Phải gây được cảm tình trước đã, rồi mới nói đến cách mạng, nói đánh Tây, tổ chức hội… Mỗi khi tuyên truyền được ai, chúng tôi lại về báo cáo với Bác, Bác chăm chú nghe, bảo chúng tôi kể lại đúng từng lời nói của quần chúng. Sau đó, Bác nhận xét cách làm của chúng tôi, rồi vạch ra cho chúng tôi phương hướng tiếp tục tiến hành. Đối với những lời nói tốt, xấu của quần chúng, Bác đều phân tích để đề ra kế hoạch giáo dục cho sát. Bác thường nói : “Đối với nhân dân quần chúng phải kiên nhẫn giáo dục một lần không được thì hai lần, nếu cần tới trăm nghìn vạn lần cũng không được nản”.
Từ chỗ Pắc Bó chỉ có một vài đảng viên, qua một thời gian phát triển, chi bộ đầu tiên ở Pắc Bó được thành lập. Thế là Pắc Bó đã có tổ chức Đảng lãnh đạo, đó chính là hạt giống đỏ đầu tiên ở Pắc Bó do Bác trực tiếp gieo trồng.
Giữa lúc chúng tôi đang say sưa với những thắng lợi bước đầu của phong trào, thì cũng là lúc quân địch đã đánh hơi thấy hoạt động của cách mạng và ra sức chuẩn bị đánh phá các cơ sở vùng Pắc Bó. Nhưng Bác đã kịp thời họp chúng tôi lại. Sau khi nêu một số tình hình địch, Bác nói đại ý :
- Các đồng chí phải thận trọng, phải chuẩn bị chống khủng bố. Chúng có thể mở một cuộc khủng bố lớn. Nếu cơ sở quần chúng có bộ phận nào bị tan vỡ, thì các đồng chí cũng không bi quan. Thắng không kiêu, bại không nản, phải luôn luôn tin tưởng vào nhân dân, vào cách mạng…
Bác lại vạch ra kế hoạch chống khủng bố :
- Phải chuẩn bị địa điểm, tổ chức người cất giấu đồ đạc, làm vườn không nhà trống. Tổ chức canh gác, tập báo động, thông tin, truyền tin chu đáo. Chuẩn bị sẵn cả những căn cứ cho các bộ phận lãnh đạo. Đối với nhân dân quần chúng, phải chia từng khu vực, từng bộ phận, phân công cán bộ đến bám sát, sống chết với quần chúng. Phải chú ý lựa chọn và bồi dưỡng các hội viên trung kiên được càng nhiều càng tốt ; trong 100 người, yêu cầu nắm ít nhất 3 người trung kiên – tức là những người suốt đời sẽ đi với cách mạng. Khó khăn, gian khổ thế nào cũng không chùn bước. Phải bồi dưỡng trước những người đó để họ làm gương mẫu trước quần chúng, rồi qua mỗi lần chống khủng bố lại thử thách, sàng lọc lấy thêm những phần tử trung kiên…
Việc bồi dưỡng trung kiên này được Bác hết sức chú trọng. Làm việc gì, ở đâu, và trong bất cứ trường hợp nào. Bác cũng nhắc chúng tôi phải thực hiện cho kỳ được.
Bác không quên nhắc đến lực lượng tự vệ. Bác dặn đi dặn lại :
- Lực lượng vũ trang tự vệ phải được nâng cao về chất và mở rộng về lượng hơn nữa, nhưng khi có lệnh, mới được đánh, chưa có lệnh không được đánh. Diệt địch phải có thời cơ. Lúc này phải chuẩn bị lực lượng và bảo toàn lực lượng của mình cho tốt.
Nghe Bác nói, một số cán bộ đảng viên chúng tôi lúc đầu vẫn chưa thật thông suốt. Tôi thầm nghĩ : Phong trào cách mạng đang lên phơi phới. Tổng lý, kỳ hào và cả một số lính đồn đã vào hội theo ta, chính quyền địa phương, từ thôn đến xã coi như đã ở trong tay cách mạng. Suốt ngày đêm, các hội cứu quốc tha hồ khai hội… Thằng địch đã co vòi lại. Như vậy thì còn sợ gì nó nữa mà phải lo lắng đến chuyện chống khủng bố ?
Tôi nghĩ như thế mà không dám hỏi Bác. Một số đồng chí khác cũng có ý nghĩ như tôi. Có đồng chí lại còn nói cứng rằng : “Cứ hẹn nhau đến một ngày hoặc một đêm nào đó, có hiệu lệnh thống nhất tất cả nổi lên giết hết bọn Pháp trên đồn Sóc Giang, thế là cách mạng thành công, Việt Nam nhất định độc lập…”.
Mấy ngày sau, chúng tôi vẫn chấp hành ý kiến của Bác, nhưng trong bụng chưa thật thoải mái. Một hôm, chúng tôi mạnh dạn nói điều đó ra với Bác. Bác ôn tồn giải thích, đại ý :
- Cách mạng với đế quốc như nước với lửa. Đế quốc như nồi nước, cách mạng như ngọn lửa. Nước với lửa bao giờ cũng mâu thuẫn nhau. Lửa cháy càng mạnh, nước sẽ sủi bọt, đến một lúc nào đó, nó trào ra, làm cho lửa tạm thời tắt đi, phải nhóm lại. Lúc đó lửa lại bốc lên, rồi nước lại có thể trào ra làm lửa lụi đi lần nữa. Nhưng, nếu ta cứ kiên nhẫn nhóm lửa, nhóm đi nhóm lại và đun mãi, nhất định nước cũng phải cạn, đến cả nồi gang cũng phải cháy. Đối với bọn đế quốc cũng như thế. Khi ngọn lửa cách mạng đốt vào chúng, chúng sẽ quay lại khủng bố, nhưng phải kiên quyết chống lại, cũng như kiên quyết nhóm lửa không cho lửa tắt, thì đế quốc nhất định sẽ thất bại…
Những hình ảnh cụ thể Bác gợi lên đã làm cho chúng tôi hiểu rõ và nhớ như chôn chặt vào ruột. Dân chúng tôi từ xưa đã quen dùng nồi gang, chảo gang, đã có những lần đun quá lửa đến nỗi nồi gang, chảo gang cũng vỡ, cho nên Bác nói là chúng tôi hiểu ngay.
Chúng tôi lại hỏi thêm :
- Còn việc tổ chức các hội viên trung kiên, cứ tổ chức rộng ra 100 người sau chỉ cốt còn 3 người cũng được, như vậy thì tổ chức rộng ra làm gì cho thêm khó khăn ?
Bác lại bảo, đại ý :
- Khó thế nào thì khó vẫn phải có mặt tuyên truyền tổ chức quần chúng rộng rãi, một mặt giữ vững trung kiên, đã là trung kiên thì tất nhiên là họ sẽ đứng vững. Nhưng nếu có khó khăn chỉ còn được 3 người cũng được, mà bất đắc dĩ không còn ai nữa cũng không vì thế mà bây giờ không làm.
Chúng tôi chưa hiểu thế nào, Bác lại giải thích thêm, đại ý :
- Nếu trung kiên có bị tan không còn giữ được ai chăng nữa, thì ít nhất những người đó cũng đã hiểu là có cách mạng, có đoàn thể Việt Minh đang lãnh đạo quần chúng đấu tranh. Rồi từ đó, họ sẽ nghĩ lại và dần dần họ sẽ cùng với quần chúng tự động đứng lên tiếp tục làm cách mạng.
Lòng quyết tâm xây dựng trung kiên của Bác mãi sau này tôi mới thấy rõ tác dụng. Có những thời kỳ, ở vùng Lục Khu giáp với Pắc Bó, địch khủng bố mạnh, cơ sở quần chúng tan vỡ hết, chỉ còn lại hai quần chúng trung kiên. Hai quần chúng này cũng phải chạy bạt sang bên kia biên giới. Nhưng phong trào ở Lục Khu không phải tan rã hẳn rồi dần dần lại phục hồi. Khi giặc rút, quần chúng trung kiên lại trở về lãnh đạo làng bản. Đến khi Nhật đảo chính Pháp, cán bộ chưa về kịp, quần chúng ở đây đã tự động đứng lên đánh đuổi bọn Pháp và tay chân của chúng.
Còm một vấn đề nữa từ lâu chúng tôi vẫn băn khoăn nhân lúc này, cũng đem nốt ra hỏi Bác :
- Súng đạn mình ít thế này thì làm thế nào chống khủng bố có kết quả. Mà làm thế nào cho nhân dân tin tưởng được ?
Đó cũng là thắc mắc phổ biến của cán bộ, đảng viên và quần chúng Pắc Bó lúc bấy giờ. Mỗi khi chúng tôi đi tuyên truyền tổ chức quần chúng, trước hết người ta nói : “Tây nó ác, nó khỏe lắm, dân mình chỉ biết đi cày, không đánh được đâu !”. Hoặc đến lúc muốn đánh Tây rồi, người ta lại hỏi : “Đánh Tây thì súng đâu mà đánh ?”.
Gặp câu hỏi đó là chúng tôi bí, có khi không biết nói thế nào, vì chính mình cũng mong được một khẩu súng như trẻ mong quà của mẹ đi chợ về.
Nghe chúng tôi hỏi, Bác đáp :
- Chẳng việc gì phải lo thiếu súng. Muốn đánh được giặc thì lấy súng giặc, dùng binh lính giặc mà đánh.
Chúng tôi chưa kịp suy nghĩ thì Bác đã hỏi :
- Chú thấy trên đồn Sóc Giang có bao nhiêu lính ?
- Độ bảy, tám chục tên.
- Trong số đó có bao nhiêu thằng Tây ?
- Có ba, bốn thằng, kể cả quan lẫn đội xếp.
Bác nói tiếp :
- Vậy bảy, tám chục lính người Việt Nam ấy có diệt được ba, bốn thằng Tây kia không ?
- Làm gì chả được – Tôi vội vàng trả lời.
Đến đây Bác mới giải thích cho chúng tôi, đại ý là :
- Quân địch hiện nay còn mạnh mà đoàn thể ta còn nghèo, không thể một lúc làm ra đầy đủ súng đạn. Nếu ta đem quân đánh thẳng vào đồn của nó thì khó. Mà cán bộ mình cố tìm cách vào gặp lính trong đồn nó cũng không dễ gì. Nhưng phải nhớ một điều là họ có gia đình. Khắp toàn quốc ở thành phố, nông thôn, đâu cũng có gia đình họ và tổ chức của ta. Mình cứ việc đến tuyên truyền, giải thích để họ bảo anh em, chồng con của họ. Như vậy binh lính khắc dần dần giác ngộ, đến lúc nào đó, họ sẽ cùng ta vùng dậy đánh đuổi bọn thống trị. Thằng Tây lúc đó dù có ba đầu sáu tay cũng sẽ bị tiêu diệt, và súng đạn lúc đó muốn lấy bao nhiêu cũng sẽ có, nghĩa là : “Có dân thì rồi sẽ có cả”.
Tôi nghe Bác nói mà khoan khoái trong lòng ! Thế mà từ trước đến nay đầu óc mình chưa nghĩ ra những chuyện to lớn mà đơn giản như vậy, do đó mà cứ loanh quanh không có lối thoát.
Bác lại nhấn mạnh thêm, đại ý :
- Điều quan trọng hơn cả là phải có quyết tâm. Có súng thì dùng súng, không có súng thì dùng gậy, dùng hết gậy thì dùng dao, nếu hết dao thì dùng đầu, đầu đau thì dùng răng. Mấy chục triệu dân Việt Nam ta mà một lòng kiên quyết như thế thì bọn đế quốc thế nào cũng phải chết…” [5]
*
* *
“… Trên đường chúng tôi đi, anh em Cao Bằng đã bố trí canh gác. Chúng tôi gặp tỉnh ủy, dặn anh em đề phòng cẩn thận hơn nữa, đặt mối liên lạc khắp nơi để nắm sát tình hình địch, chuẩn bị đối phó với mọi sự bất trắc. Rồi liên lạc đưa chúng tôi theo đường rừng, đi mãi, đi mãi đến một vùng rất hẻo lánh, trèo qua một đám ruộng bậc thang, rồi men theo con đường suối lượn vòng vèo, vào đến một khe rừng sâu thẳm, ở lọt thỏm giữa ba bề vách núi đá. Từ xa đã trông thấy một ông già mặc áo chàm, giá không để ý thì cũng tưởng như bao nhiêu ông cụ già khác trên này. Ông cụ ra đón chúng tôi, cười vui vẻ lắm. Tôi để ý nhìn : ông cụ người gầy nhưng mắt sáng, trán cao, có chòm râu hơi thưa, đen, đẹp. Đến tận lúc bấy giờ, các anh phụ trách trong đoàn mới cho tôi biết :
- Đại biểu quốc tế đấy. Đồng chí Nguyễn Ái Quốc đấy.
Biết là được gặp đại biểu quốc tế trong bụng đã sẵn mừng, đại biểu quốc tế lại chính là đồng chí Nguyễn Ái Quốc nữa, mừng này lại càng không biết nói sao cho hết. Nguyễn Ái Quốc, tên ấy là tin tưởng sâu xa của toàn thể đảng viên, toàn thể quần chúng của Đảng, của tất cả mọi người Việt Nam dưới thời nô lệ không quên nhục mất nước, của bất cứ ai còn có lòng với dân, với nước. Tôi hồi nhớ khi còn ngoài Côn Đảo, được tin Nguyễn Ai Quốc bị bắt ở Hương Cảng, tất cả chúng tôi vô cùng lo lắng. Đến khi đồng chí, nhờ sự hoạt động ráo riết của Quốc tế cứu tế đỏ, thoát khỏi tay mật thám Anh, tin ấy vừa đến đảo, ai nấy thở phào mừng rỡ. Trong bao nhiêu năm anh em hoạt động vẫn thường nói đến tên đồng chí, với sự tin phục, kính ái khác thường. Thật ít ai dám nghĩ đời mình lại có dịp gặp người chiến sĩ ưu tú của phong trào chung ấy. Cho nên, khi gặp đồng chí Nguyễn Ái Quốc ra bắt tay chúng tôi từng người một, lòng tôi xúc động hết sức, không biết xưng hô bằng gì, tay tôi nắm chặt lấy tay Người. Tiếng nói nghẹn ngào của tôi lúc ấy, Bác đến giờ còn nhớ, đôi khi vui chuyện, Bác lại cười nhắc đến : “Việt lúc ấy lại chào mình : đồng chí ạ.”
Mới đầu chúng tôi đều gọi Bác là đồng chí, rồi gọi là Cụ, sau thấy anh Trường Chinh và anh Thụ dùng tiếng Bác, anh em thấy gọi như thế hợp với lòng mình, nên từ đấy, chúng tôi bắt đâu thưa với Bác bằng cái tên thân yêu mà bây giờ tất cả anh chị em chúng ta đều gọi.
Chỗ họp của chúng tôi cũng ở xóm Pắc Bó, Hà Quảng, nhưng khác chỗ Bác ở tức là hang Pắc Bó mà sách báo ta thường tả. Khu rừng kín đáo lắm, tôi nhớ nhiều sáng, chúng tôi phải ra tận chỗ đám ruộng bậc thang cho thoáng để vận động cơ thể và thở hít không khí. Lều dựng bên suối, khi mưa, nước xối lênh láng cả sàn nhà. Chỗ họp thì tôi nhớ hình như có một cái chõng tre, anh em ngồi họp, mỗi người ngồi một khúc gỗ. Chính ở chốn hoang vu, bí hiểm ấy, trong túp lều đơn sơ trống trải, đã là nơi bàn đến những vấn đề thiêng liêng nhất : vận mệnh Tổ quốc, định những việc có tầm quan trọng quyết định đối với lịch sử nước nhà sau này. Như ta đều biết, hội nghị Trung ương lần thứ Tám đã xác định những điều cơ bản về chính sách dân tộc của Đảng, vạch rõ được mâu thuẫn chủ yếu của xã hội ta trong lúc ấy, đề ra chính sách mới của Đảng đối với các giai cấp và định một chiến thuật vận động cách mạng thích hợp.
Bác ngoài giờ họp thường gọi từng đại biểu các xứ ra một chỗ riêng hỏi chuyện. Tôi được Bác hỏi đến hai ba lần, Bác hỏi tôi về sinh hoạt của nhân dân, chính sách áp bức bóc lột của Nhật, Pháp. Tôi báo cáo lại với Bác về tình cảnh của đồng bào ta, từ khi chiến tranh xảy ra, nhất là từ khi Nhật vào, lại càng bị đế quốc bòn rút thậm tệ. Nào là chính sách vơ vét thóc lúa của Pháp, nào là những chuyện cướp bóc của Nhật và gần đây nhất, những vụ đuổi dân chiếm đất làm sân bay, trại lính. Câu chuyện lính Nhật hành hạ đồng bào ta ở Gia Lâm mà hồi ấy bà con ta ai nghe đến cũng phải chau mày uất giận : có một cụ già bị giặc Nhật nó nghi là ăn cắp, nó đem cụ buộc vào ngựa rồi thúc ngựa kéo lồng lên. Người bị ngựa kéo tắc thở mà chết. Giống phát xít dã man đến thế là cùng, Bác ngồi trên một mỏm đá, nghe tôi kể ứa nước mắt, kéo vạt áo chàm lên lau trên gò má, khiến tôi cũng không sao cầm nước mắt được. Có lần thì Bác hỏi đến lực lượng của phong trào, tình hình tổ chức quần chúng, tình cảnh sinh hoạt của cán bộ, nhất là cách đi lại hoạt động phòng gian bảo mật của cán bộ ta. Bác hỏi rất cặn kẽ tỉ mỉ. Qua lời Bác hỏi, tôi cảm thấy lòng Bác thương yêu nồng nàn đồng bào, đồng chí, quan tâm tha thiết đến đời sống của đồng bào và đồng chí ta. Hỏi xong, Bác lại góp ý kiến về kinh nghiệm công tác cụ thể.
Được đến dự hội nghị, trong đầu óc tôi, nhiều vấn đề được sáng tỏ. Đến khi Bác nói kết thúc hội nghị, nhận thức của tôi lại càng như có nắng mới tràn vào. Nghe Bác nói, từ khe rừng Pắc Bó âm thầm, tôi nhìn thấy rõ tiền đồ tươi tắn của cách mạng nước ta và cách mạng thế giới. Điều Bác nói, ngày nay đã thành sự thật, rõ như ban ngày, đối với tôi lúc ấy, là cả một bầu trời chân lý. Tháng 5-1940, chiến tranh Xô-Đức chưa xảy ra, Bác đã nhận định thế nào rồi phát xít cũng tiến công Liên-xô. Nếu chúng đánh Liên-xô thì Liên-xô sớm muộn thế nào cũng tiêu diệt chúng, nhờ đó, cách mạng nhiều nước có thể thành công, “chúng ta sẽ có – lời Bác nói – không chỉ một mình Liên-xô mà nhiều nước xã hội chủ nghĩa khác nữa sẽ ra đời”. Viễn ảnh của thế giới mới sẽ thành hình sau đêm tối của chiến tranh, hiện lên như một bình minh rạng rỡ, làm ai không phấn khởi ? Rồi Bác nói về cách mạng Đông Dương. Bác nhấn mạnh : “chỉ có trong vòng mấy tháng mà có ba cuộc khởi nghĩa nổ ra, hết Bắc Sơn, đến Nam Kỳ, lại Đô Lương nữa. Điều đó chứng tỏ : nhân dân ta rất anh hùng, lại rất thính về chính trị, cho nên có cơ hội là nổi lên liền. Tinh thần cách mạng của dân mình lớn lắm. Phải thấy tinh thần đó rất quí”. Bác có nói đại ý như vậy. Ngẫm cho kỹ, lời Bác nói rất sâu sắc. Chẳng những đúng với lúc Bắc Sơn, Nam Kỳ và Đô Lương khởi nghĩa. Bất cứ thời kỳ vận động cách mạng nào của đảng, hồi 1931 cũng như mấy năm vận động Mặt trận dân chủ, ta cũng đều thấy sức quật khởi của phong trào ta rất mãnh liệt. Nhìn lại cả lịch sử nước nhà, càng thấy rõ, anh dũng, quật cường đã thuộc về bản chất của giai cấp ta, dân tộc ta. Và có thêm lòng tin sâu xa ở lực lượng quần chúng, vào giờ phút quyết định lúc bấy giờ, tôi càng thấm lời Bác nói : “Đảng phải khơi lên cho hết chí khí cách mạng, tinh thần yêu nước của tầng lớp nhân dân, tập trung mọi lực lượng giải phóng dân tộc, đánh đuổi Pháp, Nhật, hướng mọi công tác của Đảng vào khâu trung tâm cứu quốc.
Việt Minh đã ra đời chính ở khu rừng Pắc Bó này. Khi chọn một cái tên có tác dụng hiệu triệu cho Mặt trận dân tộc thống nhất, chúng tôi thấy hai chữ phản đế có phần cứng quá và hai chữ phục quốc thì bị bọn thân Nhật bôi nhọ làm mất cả ý nghĩa tốt đẹp của nó. Cuối cùng lấy tên Việt Minh độc lập đồng minh, gọi tắt là Việt Minh. Hai chữ Việt Minh, trong cả một thời kỳ dài, làm nức lòng đồng bào cả nước. Hai chữ Việt Minh còn mãi trong lịch sử, chói lọi nét vàng. Chính Bác lại viết ra mười điều chính sách Việt Minh. Rồi sau hội nghị, Bác tự tay thảo ra bức thư nhân danh cá nhân kêu gọi đồng bào : “Kính cáo đồng bào thư” ký tên Nguyễn Ái Quốc. Bức thư ấy, Bác viết bằng chữ nôm, chữ viết đẹp lắm, chúng tôi có đem về xuôi, in đá li-tô, phát đi rất rộng. Nghĩ cũng lạ, bao nhiêu năm Bác sống ở nước ngoài, đi khắp nơi, công tác rất bận, vậy mà Bác vẫn còn nhớ chữ nôm của các cụ ta. Lại rất sát tâm lý đồng bào nông thôn. Đồng bào nông thôn ta được đọc thư Bác viết bằng chữ nôm như thế, nhất là các cụ phụ lão, gật gù thích lắm, càng thêm tin lắm.
*
* *
Đến ngày họp xong, anh em chúng tôi chuẩn bị ra về, thì một chuyện xảy ra làm chúng tôi nhớ mãi. Các đồng chí ở miền Nam, vì đường xa, chuẩn bị đi về trước. Sắp sửa hành lý xong đâu vào đấy, Bác đến tận nơi hỏi thăm :
- Các đồng chí sắp sửa xong chưa ?
- Thưa Bác, xong xuôi đâu vào đấy cả rồi ạ.
- Thế các đồng chí có nhớ lời tôi dặn không ? Không ai mang tài liệu hội nghị về theo đấy chứ ?
Các đồng chí miền Nam vì e liên lạc khó khăn nên lo xa, đã chép tài liệu hội nghị vào những mảnh giấy rất nhỏ, vê lại, giấu kỹ vào viền áo. Bác bắt tháo ra hết và phê bình rất nghiêm :
- Tôi đã nhắc các đồng chí mấy lần mà các đồng chí không nghe. Các đồng chí không được mang tài liệu theo người. Địch nó bắt được các đồng chí, không phải chỉ thiệt cho một mình các đồng chí. Các đồng chí người ít tuổi cũng trên hai mươi rồi, người nhiều tuổi thì đã ngoài ba mươi. Nhân dân tốn bao nhiêu công sức mới nuôi được các đồng chí nên người. Phong trào bây giờ, những người như các đồng chí, nhỡ có thế nào, không phải một ngày mà có người thay ngay được. Các đồng chí phải nghe tôi, tài liệu hội nghị, tôi đảm bảo, sẽ có người liên lạc mang về tận nơi cho các đồng chí.
Lời Bác dạy tuy nghiêm mà chan chứa tình yêu thương cán bộ. Lại là một bài học thiết thực, quí giá, chúng tôi ghi nhớ vào lòng. Sau này, trong hồi bí mật, chúng tôi cũng thực hành như lời Bác dạy, anh chị em cán bộ đi họp về, kiên quyết không để mang tài liệu theo người, mọi chỉ thị, nghị quyết đều chuyển bằng đường dây liên lạc.
Bác giàu kinh nghiệm nên cảnh giác rất cao. Điều Bác dặn, chúng tôi được nghiệm thấy ngay là rất đúng.” [6]
* *
“…Từ làng Khum Đắc, chúng tôi trèo lên ngọn núi đằng sau làng. Lên đến gần đỉnh thì có một hốc đá to, có thể ngồi được hàng chục người. Đấy chính là lớp học của chúng tôi.
Khi chưa bước đến chân hang, từ đằng xa tôi đã thấy anh Đức Thanh và một ông già trông cao mà lại gầy, mặc bộ quần áo chàm, trông không khác gì người địa phương… Đồng chí già chính là Bác, nhưng lúc đó chúng tôi không biết mà chỉ đoán : “Đây chắc là thượng cấp rồi”
Tôi thấy trong lòng bồi hồi cảm động. Một phần vì sắp được hiểu biết nhiều điều mới mẻ, nhưng phần chính là sắp được gặp các đồng chí lãnh đạo cấp trên mà lâu nay mình chưa từng biết. Tôi lại nhớ đến câu nói của anh Đức Thanh : “Thượng cấp này quan trọng lắm”. Thế là từ lúc đó tôi cứ nhìn mãi Bác. Tôi tự hỏi : “Không biết đồng chí già này là ai ? Tên là gì ? Người ở đâu ? Là thượng cấp nhưng thượng cấp thế nào ?”. Cho đến lúc gặp, thấy Bác lên tiếng : “Chào các đồng chí”, tôi lúng túng quá không biết nói năng thế nào, sợ nói sai các đồng chí lại cười mình, hoặc cho mình khuyết điểm. Mãi sau tôi mới khẽ cất tiếng thưa : “Chào ông ké ạ !”.
- Thôi cứ gọi đồng chí là được rồi.
Bác đến bắt tay từng người. Khi đến trước mặt tôi, nhìn thấy cái đầu trọc lốc. Bác vừa cười vừa động viên :
- Cái đầu trọc đẹp quá !
Thấy Bác giản dị, thân mật, lúc này tôi đã mạnh dạn hẳn lên. Tôi báo cáo với Bác là chúng tôi vừa ở nhà tù ra cả. Chúng tôi lại lấy cả sổ tù ra đưa Bác xem. Sổ tù có ảnh, có điểm chỉ, có chữ ký của bọn mật thám và nhận thực của tên tri phủ sau mỗi lần lên trình diện nó. Bác cầm xem rất kỹ, rồi bảo chúng tôi ngồi xuống. Bác hỏi thăm tình hình sức khỏe, tình hình gia đình và công tác của từng người. Bác còn hỏi chúng tôi về tình hình bị tù ra sao, việc trình diện tri phủ thế nào ? Thế là chúng tôi lần lượt kể lại cho Bác nghe.
Trò chuyện một lúc, Bác và chúng tôi bước vào lớp học. Bác giới thiệu với chúng tôi anh Đức Thanh là trợ giáo, sẽ đi sát giúp đỡ chúng tôi hàng ngày. Còn Bác là người trực tiếp lên lớp giảng bài.
Chúng tôi ngồi cả trong hốc đá, có mấy cành cây kê làm ghế, tài liệu sách vở không có, nghe nhập tâm là chính. Ngoài ra, còn có ba cái bản đồ chúng tôi mới mang đến.
Đấy, tất cả lớp học quân chính của chúng tôi có thế. Anh Đức Thanh phổ biến chương trình của lớp học, rồi Bác bắt đầu giảng bài.
Trước hết, Bác nói về tình hình thế giới. Lúc này bọn phát xít Hít-le đã bắt đầu tiến công Liên-xô được ít hôm. Bác nói tình hình đó cho chúng tôi nghe, rồi Bác phân tích đại ý như sau :
- Hiện nay trên thế giới có phe phát xít Đức, Ý, Nhật và phe dân chủ chống phát xít. Trong phe dân chủ chống phát xít lại có dân chủ mới như Liên-xô và dân chủ cũ như Anh, Pháp, Mỹ. Dân chủ cũ và dân chủ mới có mâu thuẫn với nhau, trước đây đã có lần đánh nhau. Nhưng hiện nay đứng trước họa phát xít dân chủ mới và dân chủ cũ đồng minh với nhau, chống lại phe phát xít. Trong phe dân chủ chống phát xít, Liên-xô là chủ lực. Việt Nam ta cũng đứng ở trong phe dân chủ mới, ủng hộ Liên-xô chống lại phe phát xít.
- Bọn phát xít đang tiến công vào Liên-xô, Tổ quốc cách mạng thế giới. Chúng tuyên bố huênh hoang là tiêu diệt Liên-xô trong một thời gian ngắn. Nhưng chúng nhất định bị thất bại. Nhân dân Liên-xô trước đây cũng bị bọn tư bản nhà giàu cướp của, bóc lột hết sức cùng cực, khổ sở. Sau nhờ có đảng cộng sản do Lê-nin lãnh đạo, nhân dân Liên-xô đã đấu tranh giành được thắng lợi vĩ đại, đang xây dựng chủ nghĩa xã hội không có người bóc lột người. Đời sống của nhân dân Liên-xô ngày càng sung sướng, hạnh phúc. Bây giờ bọn phát xít muốn tiêu diệt nhân dân Liên-xô định bắt nhân dân Liên-xô quay lại cuộc đời nô lệ một lần nữa thì không thể được nữa rồi. Hồng quân Liên-xô nhất định thắng, phát xít Đức, Ý, Nhật nhất định thua.
Tôi vừa nghe Bác nói vừa tự liên hệ. Trước đây tôi cũng lơ mơ chẳng hiểu tình hình ra sao. Khi nghe tin phát xít Đức đánh Liên-xô, tôi chưa hiểu được tình hình sẽ đi đến đâu. Bây giờ nghe Bác nói, đầu óc tôi mới dần dần sáng ra, tôi đã hiểu, thế nào là bọn phát xít, phe đồng minh và nhất là vững lòng tin tưởng ở thắng lợi của Liên-xô và của cách mạng thế giới.
Trong khi giảng, Bác nói từng đoạn, có chỉ vào bản đồ, rồi dừng lại hỏi chúng tôi xem có chỗ nào không hiểu, hoặc có gì thắc mắc thì hỏi. Không phải là không dám nói, nhưng chính vì những vấn đề Bác nói đều hoàn toàn mới mẻ đối với chúng tôi. Hơn nữa, Bác lại nói giản dị, dễ hiểu nghe đến đâu hiểu đến đấy, cho nên càng không có gì thắc mắc cả.
Trong các buổi học sau, Bác tiếp tục giảng về tình hình trong nước và nhiệm vụ cách mạng. Về năm bước công tác quần chúng, Bác dạy : phải điều tra xong rồi mới tuyên truyền, làm sao cho người ta có cảm tình với mình đã, lúc đó mới tổ chức vào hội, sau đó tiến hành huấn luyện, rồi giao công tác, thường xuyên kiểm tra công tác và báo cáo.
Hôm Bác giảng về quân sự, tôi nghe lý thú lắm. Tôi còn nhớ đại ý Bác nói về chiến thuật du kích là : lấy ít đánh nhiều, dùng mưu mẹo mà đánh, nay đánh đông, mai đánh tây, làm cho địch chết dần chết mòn. Về các hình thức đánh du kích, Bác không nói tập kích, phục kích, mà nói đánh úp, đánh mai phục. Đánh úp là khi quân địch đang ở một xóm, một làng, một quán nào đó, mình giả người dân, lân la đến gần, dùng gậy đập chết nó rồi cướp súng, có thể ban đêm, cũng có thể ban ngày... Còn đánh mai phục là mình tự chọn lấy một nơi địa thế kín đáo rồi bí mật đến nấp ở đó, đợi khi nào địch đi qua thì nhanh chóng bất ngờ xông ra dùng dao, dùng gậy giết nó, cướp súng...
Bác lại nhấn mạnh : đánh úp, đánh mai phục như thế không cần nhiều người, không nên ăn to vội, mới đầu hãy chọn một vài thằng, nhằm vào lúc nó đi liên lạc hay đang giải tù, bắt phu đốc thuế rồi diệt nó lấy một hai khẩu súng, dần dần diệt ba, bốn thằng lấy ba, bốn khẩu súng và cứ như thế mà tiến lên.
Những điều Bác dạy về cách đánh du kích làm tôi nhớ mãi. Trong những thời kỳ ở Giải phóng quân cũng như sau này, tôi đã cố gắng vận dụng. Ví dụ : Lần ở Tân Trào, hồi trước Cách mạng tháng Tám 1945, tôi đang phụ trách đội bảo vệ khu vực Bác ở thì có một toán thổ phỉ mấy chục tên tràn qua. Tôi bị lên cơn sốt rét bất thần không đi được, nên anh Văn[7] trực tiếp chỉ huy trận đánh này. Bác giao nhiệm vụ : trận này không được để một tên nào thoát. Thực hiện chỉ thị của Bác, quân ta đã tiêu diệt đại bộ phận địch.
Hơn bốn mươi tên chỉ còn hai tên chạy sang phía Chợ Chu, năm tên chạy vào khu vực chúng tôi ở. Khi nghe tiếng súng nổ ran ở ngoài, tôi đã thấy nóng ruột lắm rồi. Tôi cố gắng tìm cách ngồi dậy. Tôi nhớ Bác nói nhiều lần : “Phải đấu tranh với bệnh, không thì nó lấn tới”. Tôi liền cột một đoạn dây vào xà nhà rồi nắm một đầu dây cứ nhảy lên, nhảy xuống, cho đến lúc mồ hôi toát ra như tắm. Vừa lúc đó, có anh em vào báo cáo :
- Bọn thổ phỉ chạy vào, đang ở gốc cây đa, có một tên chỉ huy.
Tôi liền bảo :
- Có mấy thằng thì cứ ra lừa mà bắt, - Rồi tôi cố gắng đi theo và nói với anh em : - Tôi sẽ ra gặp chúng, còn các đồng chí nấp kín đằng sau, khi nào tôi hô thì cứ việc mang thừng vào trói.
Tôi ung dung tiến ra gặp tên tướng thổ phỉ. Tôi đã giắt súng trong người rồi. Khi gặp nó, tôi vui vẻ bắt tay nó rồi bất thình lình rút súng ra, hô :
- Giơ tay lên ! Toàn đơn vị xung phong !
Bọn này bị tấn công bất ngờ phải đầu hàng ngay. Hầu hết bị ta bắt, còn hai tên thoát sang phía Chợ Chu cũng bị bắt nốt. Có được kết quả trên chính là do chúng tôi đã học được mưu mẹo đánh du kích của Bác.
Một điều Bác luôn luôn nhắc nhở chúng tôi là phải hết sức giữ bí mật. Bác dặn chúng tôi phải nhớ kỹ khẩu hiệu : không có, không biết, không thấy. Khi gặp người lạ hỏi gì, mình không nói không được, nhưng nói thì nói không có, không biết, không thấy. Nhiều lúc chúng tôi tò mò muốn hỏi tên Bác là gì, thân thế sự nghiệp ra sao... nhưng thấy Bác dặn như thế nên chúng tôi lại không dám hỏi. Chúng tôi chỉ bàn tán với nhau : đấy là “ ông Ké người Nghệ”. Sở dĩ chúng tôi gọi như vậy vì thấy Bác nhiều tuổi lại nói tiếng miền Trung mà chúng tôi đoán là ở Nghệ An. Nhưng còn hiểu được gì thêm về Bác nữa thì chịu. Mãi cho đến năm 1945, khi về Tân Trào làm nhiệm vụ bảo vệ Bác, tôi mới chính thức biết Bác là ai. Hôm đó Bác ở trong lán vừa đi ra ngoài. Anh Văn lên thăm Bác nhưng không gặp. Anh ngồi nói chuyện với tôi, rồi tự nhiên anh giở một quyển sách chữ Pháp ra trong đó có một ảnh to. Anh nghiêng nghiêng quyển sách cho tôi xem. Chính là ảnh của Bác, trên đầu trang sách có đề chữ Nguyễn Ái Quốc. Tôi vừa vui mừng vừa cảm động : còn anh Văn thì chỉ cười, không nói gì.
*
* *
Thấm thoát lớp học của tôi đã đến ngày bế mạc. Đêm hôm trước, năm anh em chúng tôi đều thấp thỏm không ngủ được. Chúng tôi thấy thời gian ở với Bác ngắn ngủi quá. Ai cũng mong được gần Bác, học tập thêm Bác nhiều nữa. Lại còn một điều lo là chúng tôi phải chuẩn bị để ngày mai có cuộc “thi tốt nghiệp”.
Tuy Bác không nói thi cử gì cả, nhưng chúng tôi thì cứ xì xào với nhau :
- Đúng là “thi tốt nghiệp” rồi !
Bác nói cách “thi tốt nghiệp” như sau :
- Tôi sẽ làm ông cụ già nông thôn, các đồng chí làm thanh niên đi tuyên truyền giác ngộ tôi làm cách mạng. Các đồng chí muốn làm cách nào thì tùy ý...
Đầu đề “thi” chỉ có thế thôi, lại được phổ biến trước để chuẩn bị, thế mà sao tôi thấy khó quá. Nhất là tuyên truyền cho ai, chứ cho “ông Ké thượng cấp” thì quả thực không dễ. Cả đêm tôi cứ nghĩ hết “luận án” này đến “luận án” khác. Cuối cùng mệt quá, tôi thiếp đi lúc nào không biết.
Sáng hôm sau, cuộc “thi tốt nghiệp” bắt đầu. Bác hỏi :
- Hôm nay tôi là một ông cụ già đang ngồi trong nhà chữa cày, các đồng chí vào và nói chuyện đi.
Buổi sớm, tôi đã quyết định dứt khoát là phải bình tĩnh, không hoang mang. Thế mà đến lúc này tự nhiên trong lòng lại thấy hồi hộp khác thường. Tôi lo nhỡ nói không đúng, ông Ké phê bình mà anh em thì cười... Thế là tôi cứ ấp úng mãi mới được một câu :
- Chào Bác ạ !
- Ừ được, cháu vào chơi !
Đến đây tôi lại càng lúng túng không biết nói gì thêm nữa. Thấy vậy, Bác liền “gỡ thế bí” cho tôi :
- Cháu đến có việc gì không ?
Từ đó tôi mới mạnh dạn nói. Tôi hỏi thăm tình hình gia đình, nào là :
- Bác có khỏe không ? Gia đình ta có đủ ăn hay thiếu? Có ai bị ốm yếu không ? Phu phen, thuế khóa ra sao ? v.v....
Bác vừa nghe vừa gật đầu tán thành :
- Nói như vậy là được, các đồng chí khác tiếp tục bổ sung thêm cho đầu đủ.
Chúng tôi mỗi người thêm một ý. Bác chắp lại ý của chúng tôi, cuối cùng Bác tóm tắt là : Kẻ thù hiện nay của nhân dân là bọn phát xít Nhật-Pháp, chúng bóc lột nhân dân ta thậm tệ. Vì vậy, mọi người phải đùm bọc lấy nhau làm cách mạng đánh đổ đế quốc và tay sai, có như vậy mới được ấm no, hạnh phúc.
Tóm tắt xong, Bác nhận xét cụ thể đồng chí này nói đúng chỗ nào, đồng chí kia nói sai chỗ nào. Bác khen Nam Tuấn nói đầy đủ hơn cả. Bác lại phê bình chung một điểm là “ còn dùng nhiều chữ nghĩa khó hiểu, ví dụ : chúng tôi hay nói đến chữ đoàn kết, mà thực tế chữ đoàn kết hồi đó không dễ hiểu như bây giờ, nhất là đối với đồng bào miền núi.
Bác bảo : Sao ta không dùng những câu như : Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao, hoặc đùm bọc lẫn nhau, v.v... hoặc có thể dùng những ví dụ khác như : bẻ một chiếc đũa thì dễ, nhưng bẻ cả bó đũa thì khó, v.v... Nếu nói được như vậy có phải mọi người đều dễ nghe, dễ hiểu không.
Rồi Bác lại nhấn mạnh : Đi tuyên truyền người ta không phải chỉ nói bằng mồm, còn phải bắt tay vào làm thực tế, có khi đến nhà thấy trẻ em đang ỉa cũng phải rửa đít cho chúng, hoặc lên nhà sàn phải chú ý rửa chân trước khi vào nhà, v.v...
Buổi “thi tốt nghiệp” của chúng tôi đến đây coi như kết thúc, không ai được điểm cao, cũng không ai bị điểm kém, ai cũng cảm thấy phấn khởi vì đều được Bác động viên, được Bác dạy dỗ tỉ mỉ.
Khi lớp học kết thúc, Bác giao nhiệm vụ cho Nam Tuấn, Ái Nam và Xuân Trường trở về Hà Quảng tiếp tục hoạt động. Còn tôi và đồng chí Qúy sang biên giới Trung Quốc công tác.
*
* *
Có một điều Bác không dạy mà chúng tôi ai cũng học được một cách sâu sắc : đó là đạo đức của Bác. Ngay từ những ngày đầu sống bên Bác, trong tâm trí mỗi người chúng tôi đã in sâu hình ảnh người đồng chí già mặc bộ quần áo chàm, đi đất, chống ba-toong bằng rễ cây rừng, người gầy nhưng có đôi mắt sáng, vầng trán thông minh, hiểu biết từ chuyện thế giới xa xôi đến chuyện địa phương làm ăn sản xuất, v.v...
Sau này càng gần Bác, chúng tôi càng thấy Bác sống rất mẫu mực, ngay trong những việc nhỏ hàng ngày. Bác thường dạy chúng tôi phải thương yêu đồng chí. Và Bác đã làm gương để chúng tôi noi theo.
Một lần, chúng tôi đang học, có một chị ở dưới núi mang mấy bắp ngô lên. Tôi đoán ngô này của đồng bào biếu Bác, nhưng Bác đã bảo anh Đức Thanh chia đều cho chúng tôi cùng ăn cả.
Một lần khác, đang học, mấy đứa chúng tôi đều hết thuốc lá. Tuy còn là thanh niên mà chúng tôi đã nghiện thuốc, trong đó Xuân Trường và tôi nghiện nặng hơn. Hồi này Bác cũng hút thuốc. Thuốc của Bác là thuốc “xực dín” (hay gọi là thuốc bào, loại thuốc Trung Quốc thái nhỏ tẩm dầu). Bác vừa dạy học vừa hút. Xuân Trường và tôi trông thấy thèm lắm, nhưng không dám xin. Bác trông biết ý ngay, liền hỏi :
- Ở đây có mấy đồng chí nghiện thuốc ?
Xuân Trường, Ái Nam và tôi đều giơ tay. Thế là Bác đem cả gói thuốc chia luôn cho chúng tôi.
Thấy Bác làm như thế, chúng tôi vừa phấn khởi, vừa cảm động. Tôi cứ suy nghĩ mãi : “Đồng chí thượng cấp này đặc biệt quá, có gì cũng cho bọn mình, sao lại tốt đến như vậy...”.[8]
[1] Dương Đại Lâm : “Pắc Bó quê tôi’, Nhà xuất bản dân tộc Việt Bắc, 1966.
[2] Hoàng Quốc Việt, “Nhân dân ta rất anh hùng”, Nhà xuất bản Văn học, năm 1969.
[3] Bí danh của đồng chí Võ Nguyên Giáp lúc bấy giờ.
[4] Quang Trung, “Lớp học đầu tiên”, trong tập “Uống nước nhớ nguồn”, Nhà xuất bản Quân đội, năm 1973.
[5] Vũ Anh, “Từ Côn Minh đến Pắc Bó”, trong tập “Bác Hồ”, Nhà xuất bản Văn học, năm 1960.
T.Lan, “Vừa đi đường vừa kể chuyện”, Nhà xuất bản Sự Thật, Hà Nội, năm 1963.
[6] Com-mi : Tham tá.
Xếp-tanh : Trưởng xe lửa.
Xít-tê : khu nhà ở của Pháp lúc bấy giờ.
Vũ Anh, “Từ Côn Minh đến Pắc Bó”, trong tập “Bác Hồ”, Nhà XB Văn học, năm 1960.
[7] T.Lan, “Vừa đi đường vừa kể chuyện”, Nhà xuất bản Sự Thật, Hà Nội, năm 1963.
[8] H.Q.B, trích bài “Ở Vân Nam”, trong tập “Bác Hồ”, Nhà xuất bản Văn học, năm 1960.
Bị Quốc dân đảng Trung Quốc bắt

