Khang Hy Đại Đế - TẬP 4 - Chương 37

37

Ngầm chiêu binh mưu đoạt ngôi Thái tử

Lòng hoài nghi Khang Hy bàn ngũ phúc

Dận Nhưng quả thực là một A Đẩu không vực dậy nổi. Tuy đám người Vương Diệm... cố sức phù trì, nhưng tính tình anh ta thay đổi vô cùng gàn bướng thất thường, không chịu nghe lời ai, làm cho cả mấy người đều ngã lòng buồn chán. Trừng trị quan lại tham nhũng, chuyện nghiêm trị bè đảng Dận Tự, trong triều thần đã sớm lan truyền nhiều lời đồn đại, lại thêm anh bề ngoài ừ ào, nhưng ngầm chống lại chính sách luân phiên miễn thuế của Khang Hy, càng làm cho người ta bình phẩm sôi nổi. Những năm Khang Hy thứ 49 đến 51, Dận Nhưng chủ quản phòng dâng thư có nhiều quyền hành, anh đã đưa những gia nô Tề Hợp Thác, Cảnh Ngạch, La Tín, Chiêm Minh Tá, ra ngoài chia nắm quyền to quân sự, liên tục thăng tiến. Lại quyết một mực bắt mấy vị đại sứ biên cương Thái Kinh, Vạn Tân Dân, Phùng Vận Xuân. Những người này đều là môn đồ của Mã Tề, càng làm cho trong ngoài triều đình bất bình. Cũng không biết Khang Hy nghĩ thế nào mà tâu bản nào chuẩn y bản đó, coi có cũng như không, không để ý tới. Dận Đề thuộc ‘cánh Bát gia’ lại vùi đầu trong bộ Binh chấn chỉnh việc Bộ, ra ngoài thị sát việc sông, sông đào, hết lòng làm nhiệm vụ. Phàm trong vòng quản lý, bất kỳ người của A ca nào có công đều thưởng, có tội đều trị, tiếng tốt hiền minh đồn đại ngày càng nhiều. Dận Chân, Dận Tường công khai là giúp Dận Nhưng lo liệu việc Bộ, một mặt dồn hết tâm lực làm việc, vô tình đã đưa Niên Canh Nghiêu lên làm Tuần vũ Tứ Xuyên, đưa người nhà Lý Vệ, Nhạc Chung Kỳ thăng làm Bố chánh sứ tỉnh ngoài, Đái Đạc cũng đưa ra làm quan Đạo Chương Châu Phúc Kiến. Dận Nhưng, Dận Chân, Dận Tự, đứng thành ba chân, các A ca khác mỗi người đều có ý riêng, đều là bát tiên quá hải, dở trò phù phép riêng.

Vào lễ tiết trùng dương, thành Bắc Kinh mưa đầy trời. Mọi năm, vào giờ này nhà nào cũng mang rượu lên chỗ cao. Năm nay thời tiết xấu, nhưng để tiêu hàn giã từ mùa thu, nhà nào cũng làm tiệc nhỏ uống rượu trong nhà. Dận Đề làm xong việc bộ, bèn bảo các quan về sớm. Anh sắp xếp giấy tờ định về phủ, thì thấy quan ty Nhiệm Văn Ngọc ôm một xấp quân báo vào phòng văn thư, bèn cười nói: “Sao ngươi không đi về? Muộn thế này còn đưa công văn, quả là thực lòng làm việc, đáng tiếc, Thập tứ gia không có thì giờ khen tặng ngươi. Ta còn phải vào cung thỉnh an!” Nhiệm Văn Ngọc trình xong văn thư, cúi chào nói: “Đây là biểu chương của Tạng vương Đỗ Nhĩ Bá Đặc. Thập tứ gia vừa tới Bộ Binh đã dặn, bất kỳ giờ nào, hễ là quân báo về biên cương phía tây, cho dù là nửa đêm cũng phải kêu đức ông tỉnh dậy. Trong ty đâu dám lơ là”. Dận Đề đang nhìn Nhiệm Văn Ngọc, nghe nói là việc đó, vội vàng mở ra xem, thì là một bản tâu viết cả ba thứ chữ Mãn, Tạng, Hán. Mở đầu viết: “Vì Sách Lệnh Đôn Đa Bố, thuộc hạ của Sách Lệnh A Lạp Bố Thản đem quân đánh Tạng, thần, Tạng vương Đỗ Nhĩ Bá Đặc xin Vạn tuế tức tốc đem binh trời giữ yên biên cương Tạng...”. Dận Đề bỗng thấy tinh thần phấn chấn, nở miệng cười nói: “Tốt! Nhanh đấy, cũng khổ cho ngươi văn dịch cũng ổn, công việc này có thể làm đẹp!” Nói xong kẹp tờ tâu, vỗ vai Nhiệm Văn Ngọc, rồi lên kiệu đi thẳng đến cung Dục Khánh gặp Dận Nhưng. Vừa qua cửa Cảnh Vận, đã thấy mấy thái giám giương ô, hai người Tam A ca Dận Chỉ và Thập thất A ca Dận Lễ, giày dính đầy bùn cười nói đi tới. Dận Đề dừng lại đợi họ tới, anh vái chào Dận Chỉ, cười nói: “Lâu không gặp Tam ca, huynh và Thập thất đệ đi đâu đó? Nghe nói Cổ kim đồ thư lập thành đã khắc bản in. Đệ có lời nói trước, sách in xong phải cho đệ một bộ!” Thấy Dận Lễ thỉnh an mình, Dận Đề vội đỡ dậy cười nói: “Đệ đừng làm những thứ hư văn đó mà trêu ta. Người ta nói đệ hay qua loa đại khái, kỳ thực, nói thẳng ra đệ còn lanh lợi chán! Chúng ta bận tối tăm trời đất, còn đệ ngồi trong phủ Tam ca đọc đủ loại sách, học đánh cờ, sợ không mấy năm, tài cao bằng Ban, Mã chắc?”

“Bây giờ đệ là nhân vật quyền hành, còn ghen tị với ta làm gì?” Dận Chỉ lâu ngày không gặp, ngày càng tỏ ra từ tốn lịch sự, chỉ hơi gầy một tí, sắc mặt hơi tái. “Sách cho đệ bao kiến thức! Nhưng đệ phải để cho ta chút gì chứ. Ta thấy cái biệt thự bên vườn hồng, khá lắm, núi ao nhà thủy tạ, xinh xắn tinh vi, đúng là cách điệu Giang Nam thứ thiệt. Tặng cho ta được chứ? - Đệ đừng cười, sách này sáu tập một vạn quyển, 6109 bộ, tập trung thành đạt cổ kim, ghi tải những cái chính về tri thức vũ trụ, tổng cộng mới in 65 bộ, không bằng cái vườn hoa nhỏ của đệ. Ta đến định cảm ơn tiên sinh Trần Mộng Lôi. Đức Vạn tuế ba lần đến thăm sơn phòng Tùng Hạc, đã xem hết từng tờ mục lục!” Dận Đề, lòng thầm kinh ngạc, cười nói: “Đệ đã nói không chịu đâu mà huynh hoảng lên thế! Đó có đáng là bao, ngày mai cứ bảo Trần tiên sinh dọn sang”. Ba anh em nói chuyện thân tình với nhau một hồi nữa, Dận Đề bèn mời Dận Chỉ cùng đi gặp Thái tử. Dận Chỉ cười nói: “Không dám, đường không giống nhau không dám bàn với nhau. Nhân A ma hỏi về mấy câu trong quyển Hồng phạm, một lúc không nhớ ra, vừa mới đến điện Văn Hoa tìm sách, nên phải đến vườn Sướng xuân phục mệnh!” Nói xong bèn cùng Dận Lễ bỏ đi.

Dận Đề nhìn theo bóng Dận Chỉ, bất giác có cái gì như hâm mộ, nếu bản thân không bị cuốn vào vòng xoáy cuộc tranh chấp bè đảng, lẽ nào lại chẳng giống Dận Chỉ, thân ở nhà sang trọng, lòng lại ở chốn lục lâm? Làm gì đến nỗi, sớm tối trong người cứ giữ một gói hạc đỉnh đơn! Tam ca giành làm con đích, một lần không đánh trúng, không thèm thử lần thứ hai, mà lui về đọc sách, quả là người thông minh! Đang suy nghĩ lung tung, đã tới cung Dục Khánh từ lúc nào.

Trong cung Dục Khánh náo nhiệt vô cùng. Dận Nhưng ngồi ở đầu, Dận Chân, Dận Tường ngôi ngang hàng, phía dưới Mã Tề, Trương Đình Ngọc, Vương Diệm, Chu Thiên Bảo, Trần Gia Du ngồi theo thứ tự. Trên bàn bày một số thức điểm tâm nhỏ trong cung, mọi người đang nói chuyện trên trời dưới đất. Từ xa đã nghe Dận Chân cười nói: “Khúc nhạc Thập tam gia vừa hát là điệu nam hay điệu bắc vậy?” Dận Tường cười nói: “Đệ chỉ chọn từ đúng thì hát chứ chưa nghe nói điệu nam điệu bắc có gì khác nhau! Nhưng dù nhạc gì, mà rèn luyện tới nơi thì cũng là âm điệu tuyệt vời uyển chuyển!”

“Không phải vậy đâu!” Dận Chân bóc một viên kẹo nhấm nháp, nói: “Điệu nam có bốn thanh, điệu bắc chỉ có ba thanh. Thanh nhập trong điệu bắc chuyển sang ba thanh bình, thượng, khứ, chú có hiểu không?”

Dận Đề vội bước vào thỉnh an, ngồi xuống phía dưới chỗ Dận Tường. Dận Chân nói: “Đây chẳng qua có chút thú vị thôi. Ba thanh hay bốn thanh, chỉ cần nghe hay, là điệu nhạc hay. Đệ có nghe câu chuyện cười, nhà ông Sáu có một con mèo, bị chuột cắn cái mũi bị thương, ông ôm mèo đến tiệm thuốc Bát gia tìm thuốc chữa cho mèo, nói con mèo này dịu dàng, rất thương người - Con mèo như vậy có tốt mấy thì có ích gì?” Anh chưa nói xong cả nhà đã cười ồ lên.

Dận Đề cười nghiêng ngả nói: “Đây là việc có thật, Tứ ca không nói gạt mọi người đâu. Con mèo đó chưa hề bắt chuột, lại mang danh hiệu là ‘đầy tớ Phật’. Đệ đã thấy rồi, dáng vẻ dễ thương, mình vằn như hổ, cả ngày chỉ nằm, rên gừ gừ như đọc kinh - Nhưng lại bị chuột cắn!” Chu Thiên Bảo cười nói: “Học trò chưa hề nghe nói tới, nay làm một bài Hịch đánh mèo Thái tử muốn nghe không?” Rồi khẽ đằng hắng, ông đọc to:

Bắt chuột không phải là ‘đầy tớ Phật’, tính vốn nhu nhược, dáng vẻ nhân từ, học nàng áo trắng tụng kinh giữ quy củ giả làm quân tử. Chậu hoa ban ngày lười không muốn đổi chậu. Nấm trúc thà nhác để nó bò tường. Lục phú ngồi tọa Di Đà, lại giống như thầy chùa nhập định, không thấy không nghe, con rối diễn trò, không mùi không tiếng. Rộng lòng do dự, dung dưỡng kẻ xấu, nên mới bị tai họa mất mũi, lại bị cái độc mài răng! Diêm la sợ quỷ còn đâu oai phong; đại tướng nhát quân, để mất kỷ luật...

Chưa đọc xong mọi người đã hò hét ồn ào. Dận Nhưng không biết sao càng cười càng ủ rủ mặt mày, anh lảng sang câu chuyện khác: “Được, chúng ta vui thoải mái rồi, bây giờ ta làm việc. Thập tứ đệ, có việc gì không?”

“Đương nhiên rồi, Dận Đề không có việc không lên điện Tam bảo, quấy rầy làm đức Thái tử mất vui”. Dận Đề nghe cái Hịch đánh chuột hình như nói Dận Tự, đang định đặt một câu chuyện trả lời, nghe Dận Nhưng hỏi, vội đứng lên nghiêng chào, chau mày nói: “Nói đến A Lạp Bố Thản, triều đình đối với hắn bao nhiêu là ơn huệ! Nếu Hoàng A ma không ba lần thân chinh tiêu diệt Cát Nhĩ Đơn thì chúng đâu có được ngày hôm nay? Mấy năm đầu hắn chỉ không yên, tranh nhau đồng cỏ với Ca Nhĩ Ca và vương Hãn Tây Mông Cổ, tưởng là nhịn một chút có lẽ tốt. Bây giờ lại đến mức đem quân đánh Tạng, làm nghịch làm phản, không biết nó uống phải thứ thuốc gì!” Dận Đề cười nói: “Đó mới thật là ‘lục phủ ngồi tọa Di Đà’, đến mức không nhịn được nữa rồi. Nói một câu khó nghe, hai mươi bốn anh em chúng ta, có lẽ nào đều là ‘đầy tớ Phật’ cả sao?”

Mọi người bây giờ mới biết Thanh Tạng ở biên thùy phía tây có chuyện to. Tuy việc này đã chộn rộn mấy năm rồi không có gì bất ngờ, nhưng xuất quân điều ngựa là công việc lớn của quốc gia, không ai dám lơ là, nên đều đứng lên thái độ nghiêm túc. Mã Tề bèn nói: “Việc quân không thể trì hoãn, phải tâu ngay Hoàng thượng, khâm định thống soái cầm quân, bàn bạc việc xuất binh”. Dận Nhưng trầm ngâm nói: “Nói một tiếng xuất binh thì dễ, nhưng biên chế, trang bị không chỉnh, lương hướng không điều, lại đi đánh xa ngàn dặm, làm sao thắng nổi! Hoàng thượng hỏi, chúng ta không thể phô diễn suông. Ai làm tướng quân, điều quan nào, nguồn lương thực, đường vận chuyển đều phải suy nghĩ kỹ lưỡng. Tấu rõ, thỉnh chỉ thi hành mới tốt”. Trương Đình Ngọc thấy Mã Tề lúng túng, biết hoàn cảnh anh ta, nên gật đầu nói: “Theo ý thần, nguồn lương thực đương nhiên lấy ở đông nam, nhưng chuyển theo sông đào tới Trực Lệ rồi mới phân phát cho Cam Thiểm thì hơi lâu. Chi bằng thỉnh chỉ điều lương thực tồn kho ở Sơn Đông, Sơn Tây, Hà Nam, Cam, Thiểm, lập các sở, vệ ở mấy nơi Du Lâm Diên An, cũng được không ít lương thực, gộp lại điều động chuẩn bị dùng cho phía tây. Lương thực mới theo sông đào sẽ là nguồn bổ sung không dứt. Như vậy, kho lương cũng đổi mới, lương thực cũng kịp thời cung ứng, thế chẳng chu toàn sao?”

“Quân Thác Hợp Tề đóng ở cửa Bắc Cổ, Thái tử vốn đã điều vào đóng ở Thuận Nghĩa”. Mã Tề vẫn cứ càu nhàu về lần điều binh đó, cho là cách kinh thành gần quá, nghe tới đây thừa cơ nói: “Mười lăm ngàn người này tuy nói đóng ngoài khẩu cho đến kỳ đổi quân, nhưng trước kia là quân tập luyện để phòng bị khi Mông Cổ có việc. Quân trú đóng ở Thuận Nghĩa, theo lệ đến sang năm mới có thể điều chuyển phòng vệ, làm chi rắc rối như vậy để cho bên dưới chửi đổng lên? Theo tôi, chi bằng điều bộ phận Thác Hợp Tề, trực tiếp đến Hàm Cốc Quan đợi lệnh, mới là hợp lý”. Dận Nhưng “ừm” một tiếng nói: “Dùng quân tây bắc là việc lớn, đó là điều động phòng vệ theo kỳ hạn! Nếu điều Thuận Nghĩa không thích đáng thì điều Phong Đài! - Anh điều người ta từ cửa Bắc Cổ đến tận Hàm Cốc Quan, lại không đánh giặc ngay, thì cũng đều là ngoài biên tái, cũng đều phải chịu rét, đó mới làm người ta chửi đấy!” Kiến nghị điều động của Mã Tề không được chấp nhận, mà còn điều Thác Hợp Tề vào ngoại ô kinh sư, ông sửng sốt, bụng nghĩ chi bằng không nói, nên mới lên tiếng: “Phong Đài gần kinh kỳ, việc này phải tâu Thánh thượng rõ, có ý chỉ mới được!”

“Vậy hả? Có cái lệ này sao?” Dận Nhưng cười nói: “Sao ta không biết? Năm đó Hoàng thượng chinh tây, ta điều bốn vạn quân doanh lục trú đóng Tây Sơn, cũng không thỉnh chỉ”. Thấy Trương Đình Ngọc mấp máy mồm định nói xen vào, anh nói tiếp “Việc này cứ như vậy, ta sẽ bàn sau. Ta nghĩ, A Lạp Bố Thản làm loạn, nếu là thời trước thì phụ hoàng nhất định thân chinh. Con nối chí cha, vạn cổ vẫn một đạo lý, phụ hoàng tuổi hạc đã cao, việc tây chinh ta phải thân hành. Ta tuổi trẻ ít được rèn luyện, thì đây là cơ hội tốt”.

Không ai nghĩ rằng Dận Nhưng có thể đề ra tự mình thân chinh, thảy đều sửng sốt. Mã Tề sợ điều binh Thác Hợp Tề về quá gần sinh chuyện thị phi. Nhưng Thái tử đã muốn xuất chinh, xem ra tự mình quá đa nghi, nên đã yên lòng. Nhưng Trương Đình Ngọc lại rất nghi ngờ, Phong Đài vốn là cửa ngõ vào kinh sư, Thái tử tự mình đem mười vạn quân, một khi thình lình tụ tập lại, thì không thể tưởng tượng nổi chuyện gì xảy ra! Ông nhướng mày nói: “Thái tử, ngài là vua kế vị đất nước. Thanh Tạng có việc, đương nhiên không thể so với Cát Nhĩ Đơn trước kia. Việc này chỉ cần cử một thượng tướng làm là được, cần gì Ngài phải vất vả thân chinh?”

“Trương trung đường nói phải!” Dận Đề nói to: “Để đệ làm việc này là tốt nhất! Hoàng thượng sai đệ quản lý bộ Binh, tình hình binh lương e không ai hiểu rõ bằng đệ. Đệ muốn lập tờ quân lệnh, dao mổ bò làm thử, nếu không cắt được thủ cấp của Sắc Lệnh Đôn Đa Bố, thì sẽ đưa đầu mình đến nhận tội!” Dận Tường nghe thấy ngứa trong lòng mà không gãi được, bèn nói tiếp: “Việc này đệ phải làm! Thập tứ đệ, đừng tưởng rằng chỉ mình đệ biết quân sự, ta đây cũng không mơ hồ! Thập tứ đệ, chỉ cần đệ cung cấp lương hướng là được, đừng học ...” Anh đột ngột ngừng lời, không nói nữa.

Nhưng mọi người có mặt đều biết, người “đừng học” đó là Sách Ngạch Đồ. Năm đó Khang Hy chinh tây, Sách Ngạch Đồ mưu việc phản trắc, cản trở đường tiếp lương, làm mất thời cơ quân sự, hầu như làm Khang Hy suýt chết đói trên sa mạc. Nhưng Sách Ngạch Đồ là ông chú ngoại của Dận Nhưng, Dận Tường tự biết mình lỡ lời, liền uống trà lấp liếm qua luôn.

“Việc này coi như có bàn mà không quyết”. Dận Nhưng như không nghe thấy lời Dận Tường, anh đứng dậy nói: “Mã Tề, Đình Ngọc, bây giờ ba chúng ta đến vườn Sướng xuân, xem Vạn tuế định liệu thế nào, trở về nghe ý chỉ là được”.

Nhìn anh em nhà họ cùng đi ra, Vương Diệm im lặng rất lâu, ông đứng dậy, lạnh lùng đưa mắt nhìn Trần Gia Du và Chu Thiên Bảo, thở dài, nói: “Ta không được khỏe, phải đi về đây. Thái tử trở lại, bẩm thay cho ta một tiếng”. Nói xong loạng quạng đi ra.

Phương Bao theo Khang Hy ở vườn Sướng xuân, vì trời mưa cả ngày ngồi im trong nhà. Ban đầu luyện làm toán, đánh cờ một hồi, rồi lại viết chữ, thấy sắc trời vẫn chưa chịu tạnh, bèn cáo từ đi về thành. Vừa đúng lúc Lý Đức Toàn đến bẩm rằng: “Vạn tuế, đức Thái tử và Trương Đình Ngọc, Mã Tề đang ở cửa đông trình thẻ xin vào thỉnh kiến”.

“Phương Bao, khanh không nên đi về. Trong vườn tuy không tiện lưu trú, nhưng chùa Bồ đề ngoài vườn, bảo người đi thu xếp, tối nay khanh ở lại đó”. Khang Hy thấy bên ngoài trời vẫn mưa tầm tã, nói: “Lý Đức Toàn, đi truyền chỉ, bảo mấy người họ đợi ở thư phòng Tùng Hạc, Trẫm lát nữa sẽ tới”.

Phương Bao cười nói: “Phép vua bất vị thân, thần tuy áo vải, đã là người phòng dâng thư, thì phải ra hầu mới phải. Nếu không thế, thì họ đến không thỏa đáng sao? Cũng đỡ Vạn tuế phải đội mưa ra đó”.

“Mặc kệ họ”. Khang Hy nói: “Khanh ngồi xuống. Có một việc muốn nghe ý kiến khanh, nhưng ngay cả Trẫm cũng muốn xem lại, muốn nghĩ lại xem - Hễ nói ra thì như bát nước đổ khó thu lại!” Phương Bao thấy Khang Hy thần sắc vô cùng trang trọng, ông nghi ngờ, nghiêng người ngồi xuống trước mặt. Đang định hỏi thì Khang Hy đã nói: “Phương tiên sinh, nếu hiện nay có người muốn làm binh biến kiểu Trần Kiều, khanh xem thử chắc chắn được mấy phần?”

Phương Bao giật thót mình, râu ông run lên mấy lần, mắt phát ra ánh sáng kỳ lạ, ông hoảng kinh nói: “Đâu có chuyện như thế? Có lý nào như vậy? Có tình nào như vậy?”

“Có đấy”. Khang Hy nói bình tĩnh: “Đã có người dấu Trẫm điều một vạn năm ngàn quân từ cửa Cổ Bắc vào trú đóng ở Thuận Nghĩa. Doanh Nhuệ Kiện dấu bộ Binh chế tạo mười khẩu đại pháo Hồng y - đã mài sắc răng, muốn cắn tới!” Phương Bao sợ phát run lên, nhìn chằm chằm Khang Hy, người dựa ngửa vào thành ghế, nói: “Binh là hung! Hoàng thượng nghi ngờ rất phải! Có điều theo thần nghĩ, đừng nói hơn một vạn người, dù cho bốn mươi vạn cũng vô ích thôi! Bởi tình hình khác xa với thời Sài Thế Tông. Triệu Khuông Dận lúc đó đã làm rỗng không binh lực của triều đình. Còn bây giờ quyền bính nằm trong tay người của ông chủ, lên thành hô lên một tiếng là tan rã ngay tức khắc!” Khang Hy cười gằn nói: “Đúng vậy! Đáng tiếc có người tối mắt vì lợi, đòi lấy trứng chọi với đá, thì Trẫm biết làm sao được? Đáng buồn, bọn làm nghịch đó lại là máu thịt của Trẫm, đây chính là cái chỗ khó!”

Phương Bao sửng sốt, ngây người im lặng. Việc can hệ đến vận nước, liên lụy đến cả máu thịt nhà trời, ông không thể không nghĩ kỹ. Một lát sau, Phương Bao mới gượng cười nói: “Thần đã biết Hoàng thượng nói ai rồi. Việc này nên xử lý nhanh trước khi còn chưa có chứng tích thực. Một khi đã ấp ủ biến động lớn, Hoàng thượng tuy nhân từ nhưng không thể dùng hình phạt nặng theo luật nước! Đại nghĩa vua tôi, tình cảm cha con không thể vẹn toàn cả hai. Ôi... những ông vua tương lai trong thiên hạ, đã phế một lần mà phế nữa, cuối cùng không phải là cái phúc của xã tắc...”.

“Ông trời đòi mưa, mẹ muốn lấy chồng”. Tâm trạng của Khang Hy cũng rất nặng nề, nhà vua hít vào một hơi thật dài, “Trẫm đã tận cùng nhân nghĩa. Hắn muốn cách chức quan người nào, Trẫm cách chức cho hắn; hắn muốn thăng quan cho ai, tuy Trẫm không muốn, vẫn cứ thăng thưởng cho. Bây giờ hắn muốn lấy mạng Trẫm, lẽ nào cũng phải y theo hắn?” Phương Bao vội vàng nói: “Hoàng Thượng đã không muốn trị tội theo mưu nghịch, thần xin Hoàng thượng rộng lòng, đừng cứ nghĩ như vậy nữa. Nếu tình cờ để lọt ra một câu, nhất định sẽ sinh to chuyện! Vả lại, lo lắng làm tổn gan, rất không có lợi cho mình rồng”. Khang Hy gật đầu nói: “Khanh nói đúng”. Rồi đứng lên gọi to: “Thay áo, đến thư phòng Tùng Hạc! Phương Bao, khanh không cần đi, tránh ra một lát”.

Phương Bao vội khom người nói: “Thần đã hiến thân cho vua, thì không nên việc gì cũng tránh ra, chỉ cầu an toàn cho mình. Hơn nữa, mấy ngày nay thần luôn ở bên cạnh Hoàng thượng, bây giờ tránh ra càng làm người ta sinh nghi. Thần xin theo giá cùng đi!”

Đám Dận Nhưng ngồi đợi ở thư phòng Tùng Hạc phát sốt ruột. Đã nghe từ trong mưa xa xa, tiếng Hình Niên hô: “Đức Vạn tuế khởi giá rồi!” Bọn họ vội xuống trước hành lang, quỳ thành hàng chữ nhất. Đợi Khang Hy bước lên bậc thềm đỏ, Dận Nhưng vội rập đầu nói: “Nhi thần Dận Nhưng cung khấu hoàng A ma kim an!” Phương Bao đi theo sau Khang Hy, chỉ liếc nhìn ra hiệu với đám Mã Tề, rồi đi theo vào trong. Rất lâu mới nghe Khang Hy khẽ ho một tiếng, bảo: “Tất cả vào đây!”

Mọi người nối gót vào trong, thấy Khang Hy mang mũ cao bằng nỉ xanh, tấm áo da dê lót lụa Thạch thanh khoác ngoài chiếc áo dài lụa bông màu tương. Chân mang đôi ủng đen lót lụa mát màu xanh. Nhà vua bước lên chiếc ghế gỗ, ngồi đoan trang ngay ngắn bên cái bàn trà trên sạp. Mọi người không khỏi kinh ngạc, không phải là hội triều, sao lại ăn mặc tề chỉnh như vậy?

“Trời mưa to như thế này, khổ cho các ngươi vào đây”. Khang Hy nói rất hòa nhã như chẳng có chuyện gì: “Có việc gì cấp bách?” Dận Nhưng vội tấu rõ từng việc vừa bàn ở cung Dục Khánh, rồi nói: “Nhi thần và Dận Tường, Dận Đề đều nguyện tự thống lĩnh đại quân chinh tây. Nhi thần từ nhỏ sống trong cung cấm, trước nay ít được rèn luyện, muốn nhân dịp này lập công với nước nhà, mong phụ hoàng định đoạt!” Khang Hy yên lặng lắng nghe, cười nói: “Đều là người có chí lớn cả! Nhưng e các ngươi chỉ mới đánh giặc trên giấy, lâm trận chưa chắc được việc. Theo Trẫm xem hàng ngày, đối với việc quân, hình như Dận Đề có chút kiến thức, khanh nói có đúng không, Mã Tề?”

Mã Tề vội nói: “Đúng ạ, Thập tứ A ca đã luyện binh doanh cờ lục ở Phụng Thiên, vây quét thổ phỉ ở núi Trường Bạch, có biết quy cách. Hai năm nay coi quản bộ Binh cũng có thành quả. Có điều, theo ngu ý của nô tài, Tạng Vương tuy có sớ tâu xin quân, nhưng hình như có ý phòng bị sẵn, sự tình không hiểm ác lắm. Ta nghe thấy động đã xuất quân, cần gì phải dương oai diễu võ, gặp những nhóm nhỏ chỉ tổ ngoại địch kinh nhờn. Cho nên phải hành động thận trọng, mong thành công hoàn toàn!” “Khanh tiến bộ lắm rồi!” Khang Hy cười nói; “Nguyên Trẫm thấy khanh nông cạn, chỉ dùng cái ‘lòng trung’ của khanh, quả thật là kẻ sĩ không gặp ba ngày, gặp lại phải lau mắt nhìn lại! Việc này hiện nay đúng là chưa nên dấy động can qua. Triều đình nên cử một thượng tướng đến duyệt binh ở vùng Cam Thiểm, tỏ rõ uy nghi, dương cao thanh thế. Sách Lệnh Đốn Đa Bố nếu biết khó khăn mà lui, thế là tốt nhất, nếu cố sức mà làm tới, triều đình đợi chuẩn bị xong lúc đó đi chinh phạt cũng không muộn”. Dận Nhưng nghe, biết mình không hy vọng gì, bèn nói: “Phụ hoàng sáng suốt! Nếu như vậy, xin phụ hoàng giáng chỉ cho Thượng thư bộ Binh Cảnh Ngạch đi Tây Ninh!”

“Cảnh Ngạch?” Khang Hy bỗng nhiên ngửa mặt cười, “Vụ án Cảnh Ngạch tham ô, ngươi bảo lãnh ra, bây giờ lại bảo lãnh hắn cầm quân, quả thật là khổ công vất vả vì hắn!” Dận Nhưng nghe giọng nói khác lạ, vội dập đầu nói: “Vụ án Cảnh Ngạch có nguyên do, tìm không ra chứng cứ. Dẫu sao ông ta mấy lần xuất quân, bây giờ tướng quân có thể cầm quân không còn nhiều, nhi thần bảo lãnh ông ta không phải vì tình riêng, mong phụ hoàng minh xét!” Khang Hy cười gằn nói: “Cái gì sáng suốt, minh xét? Miệng ngươi nói ra như mật ngọt! Phía dưới làm những việc gì khiến người ta phải lạnh tim!”

Không còn là bàn việc triều chính nữa. Ngoại trừ Phương Bao, mọi người đều ngạc nhiên biến sắc, không biết Khang Hy nổi giận vì cái gì, mà nổi giận đột ngột, trước đây không thấy có gì! Dận Nhưng trợn mắt đớ mồm, rất lâu mới lắp bắp: “Nhi thần bên dưới không làm điều gì phi lễ, vượt ra ngoài quy củ, xin phụ hoàng dạy rõ!”

“Nếu muốn người không biết, trừ phi mình không làm, việc ngươi làm, tự mình phải biết!” Khang Hy cười khanh khách, nói: “Trong Thượng Thư. Hồng phạm có thuyết ‘ngũ phúc’, Trẫm đã bảo Tam A ca đi tra tìm xem, chữ ‘thọ’ trong ngũ phúc, Trẫm tuổi tác thế này, là đủ rồi; chữ ‘phú’ Trẫm có bốn biển cũng không cần nói; hai chữ ‘khang, ninh’, tuy có tiếc đôi chút, vẫn cho qua được; chữ ‘rèn đức tốt’, cái đức chính trị cũng xem được - Trong ngũ phúc, vì sao Trẫm để chữ ‘chung khảo mệnh’ ở sau cùng? Trẫm thấy điều ‘được kết thúc tốt’ là khó nhất. Hán Chất Đế thông minh tài giỏi, khó tránh khỏi họa bánh độc, Triệu Khuông Dận anh hùng một thời, sắp chết ảnh nến tiếng búa đã thành câu đố ngàn xưa khôn giải! Trẫm tuy không mẫn tiệp, nhưng xe trước đều còn đó, há đâu dễ rơi vào tay bầy chuột!” Nói xong, nhổ thẳng vào mặt Dận Nhưng một bãi nước bọt, đứng lên đẩy mạnh cửa, bỏ đi.

Một làn gió cuốn theo mưa thốc vào thư phòng, đám Dận Nhưng quỳ mọp trên đất hoảng sợ nửa người như tê dại.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.