Lũ Người Quỷ Ám - Chương 04
6
Bây giờ tôi xin kể đến một điều cổ khá vui đánh dấu sự mở đầu đích thực cuốn truyện của tôi.
Mãi tận cuối tháng Tám, gia đình nhà Drozdov mới trở về. Việc họ đến, xảy ra một thời gian ngắn trước khi một người bà con của họ là vị tân đệ nhất phu nhân của tỉnh tôi tới, đã gây xôn xao lớn. Nhưng thôi, chuyện đó hãy để về sau. Bây giờ tôi chỉ xin nói rằng bà Drozdova, mà bà Varvara nóng nảy đợi chờ, đã mang theo rắc rối bất ngờ khi tới nơi. Nicolai Xtavroghin đã rời nhà Drozdov ngay từ trong tháng Bảy. Anh đã gặp bá tước K. cùng với gia đình (kể luôn cả ba cô gái của bá tước) trên sông Rhein ở nước Đức và cùng theo họ trở về Petersburg.
Bà Drozdova nói: “Tôi không thể hỏi con Liza cho ra chuyện gì được cả. Chị cũng biết đấy, tính khí nó rất khinh khỉnh và cứng đầu. Tuy vậy, tôi cũng nhìn ra là phải có chuyện gì giữa nó và cậu Nicolai. Tôi không rõ điều gì đã sai khiến nên chuyện ấy, nhưng có lẽ chị hỏi Dasa lại ra manh mối chăng. Tôi cho rằng con Liza bị đụng chạm chuyện gì đó. Và này chị Varvara, tôi phải thú thật là tôi rất mừng được trả lại cô cháu nuôi của chị. Thế là thoát nạn, nhẹ cả người”.
Nhận xét chua cay này được bà ta thốt ra với vẻ mặt hầm hầm, rõ ra là người đàn bà “nhu nhược” kia đã sửa soạn từ trước câu đó và bây giờ đang khoan khoái thưởng thức hậu quả của nó. Nhưng bà Varvara đâu phải là người chịu để cho những lời châm chích hay bí ẩn đó ảnh hưởng. Bà lạnh lùng hỏi thêm chi tiết. Thế là bà Drozdova đổi ngay giọng và sau một hồi, òa lên khóc; sau cùng bà ta thổ lộ nỗi niềm tâm sự thầm kín nhất ra. Người đàn bà dễ nổi nóng nhưng đầy tình cảm này cũng khao khát tình bạn chẳng khác gì ông Verkhovenxki, và sự phiền trách chính của bà đối với Liza là cô con gái này không chịu làm “người bạn chân thực” với bà.
Tuy nhiên, tất cả những gì chắc chắn bà Varvara có thể thu thập được trong mớ tâm sự lòng thòng kia là Liza và Nicolai đã cãi nhau. Còn cãi nhau về chuyện gì thì bà Droxdova rõ ràng không thể soi sáng cho bà được. Còn về lời nhận xét không được đẹp về Dasa, thì bà kia xin rút câu nói đó lại, với lời biện bạch rằng lúc đó chỉ là do cơn bực bội mà ra. Nhưng tình trạng chung vẫn còn mơ hồ và khả nghi. Theo bà Drozdova, tất cả nguyên do là bởi “cái thái độ cứng đầu, và ưa nhạo báng của Liza”, mà “Nicolai, vốn kiêu ngạo - nên dù rất yêu nàng - cũng không thể nào chịu đựng nổi, hay trả miếng đáp lại”.
Bà Praxcovia nói thêm:
- Ngay sau đó, chúng tôi gặp một thanh niên - nghe đâu như là người cháu của ông “giáo sư” của bà thì phải. Cậu
ta cùng một
họ...”
Bà Praxcovia không bao giờ nhớ nổi cái họ Verkhovenxki, nên bao giờ cũng gọi ông Xtepan là “giáo sư”.
Bà Varvara chỉnh liền:
- Không phải cháu đâu, con trai ông ấy đấy.
Vâng, thì con trai, như thế càng hay - có khác gì đâu? Cậu ta cũng là một thanh niên như mọi kẻ khác. Cậu ta rất tự do khoáng đạt, nhưng ngoài ra không có gì đặc biệt. Dù sao, đến điểm này, con Liza cũng làm một điều đáng ra không nên làm: nó bắt đầu giao du với nhiều cậu thanh niên đó mục đích để làm cho Nicolai ghen. Tôi thực sự cũng không thể trách nó quá được: đó là một mánh khóe thông dụng của đàn bà, và theo tôi cũng khá đáng yêu. Nhưng bà có biết chuyện gì xẩy ra chăng? Thay vì ghen, cậu Nicolai lại trở nên thân thiết ngay với thanh niên kia, như thể rằng cậu không nhìn ra hay cóc cần. Điều đó làm cho Liza nổi sùng. Thế rồi, thanh niên kia bỏ đi một nơi nào đó (cậu ta dường như hấp tấp nữa), và Liza bắt đầu châm chọc Nicolai trong mọi cơ hội. Nó nhận thấy đôi lúc Nicolai chuyện trò với Dasa; nó nổi cơn giận dữ làm tôi hết sống nổi. Chị cũng biết, bác sĩ đã cảnh cáo tôi không được phép xúc động quá. Rồi tôi cũng quá chán ngấy cái hồ tuyệt diệu của họ - hơn nữa răng tôi lại nhức vì bệnh thấp... Thực ra, tôi đã đọc trong báo, là hồ Genève làm cho người ta nhức răng; nó có tiếng về chuyện đó. Thế rồi, trên hết mọi sự, là Nicolai nhận được một lá thư của bà bá tước; cậu ta gói ghém hành lí và lên đường ngay ngày hôm đó. Tôi phải nói rằng hai đứa nó chia tay nhau như là đôi bạn thân. Liza đưa tiễn cậu ta rất vui và cười luôn miệng. Nhưng nó chỉ giả đò, tôi chắc chắn như thế. Ngay khi cậu ta mới đi, là nó trở thành câm như hến; nó không bao giờ nhắc đến tên cậu ta, và cũng không cho tôi nhắc nữa. Tôi cũng khuyên chị, chị Varvara ạ, là trước mặt nó chị đừng đề cập đến chuyện ấy làm gì - kẻo mọi việc chỉ thêm khó khăn thêm ra. Nếu chị đừng nói gì, có thể nó lại muốn thổ lộ và chị sẽ biết được nhiều việc. Dù sao tôi tin tưởng rằng mọi chuyện sẽ êm xuôi nếu Nicolai về đây như cậu ta đã hứa.
- Tôi sẽ viết thư cho nó ngay. Nếu chỉ có thế thì chuyện đâu có gì. Còn về con Dasa thì tôi biết nó quá mà -
chỉ là tào lao
thôi.
- Đối với Dasa, tôi có điều không nên không phải, như đã xin thưa với chị. Chúng nó chỉ chuyện trò với nhau, mà
cũng đâu phải thầm lén gì cho nó cam. Lúc đó chỉ tại tôi bị mọi chuyện làm đảo lộn hết đầu óc. Dù sao thì
con Liza với cô ấy vẫn thân thiết với nhau như
trước.
Ngay bữa hôm ấy bà Varvara viết thư cho cậu con trai là Nicolai, năn nỉ cậu trở về ít nhất là một tháng sớm hơn trước kia cậu dự liệu. Nhưng tất cả nội vụ vẫn còn nhiều điểm bà chưa thấu triệt. Bà suy đi nghĩ lại trong đầu suốt buổi tối và đêm hôm đó. Các lời kết luận của bà Praxcovia Drozdov theo bà là quá ngây thơ và tình cảm. Bà hồi tưởng: “Chị Praxcovia bao giờ cũng tình cảm, ngay cả khi còn là nữ sinh lưu trú, nhưng thằng Nicolai đâu có lẽ lại là người chỉ vì mũi kim châm chọc của một đứa con gái mà chuồn mất. Chuyện này phải có cái gì khác nữa đây - nếu chúng có một vụ cãi nhau thực sự. Còn tên sĩ quan kia nữa... Họ mang hắn theo, và hắn sống tại nhà họ như một người trong gia đình. Rồi còn chị ấy làm sao phải vội vã rút lại lời nhận xét về Dasa như thế? Chắc chắn phải có điều gì chị ta không muốn cho mình hay...”
Đến sáng, bà Varvara đã có một chương trình hành động. Ít ra nó cũng giải quyết được một trong các vấn đề làm bà bận tâm và kế hoạch có tính cách bất ngờ một cách đáng kể. Tôi sẽ không cố công giải thích chính xác những gì bà có trong đầu khi bà thai nghén kế hoạch đó, tôi cũng không thể ghi nhận tất cả những thành phần mâu thuẫn của nó. Tôi chỉ tự hạn trong việc mô tả các sự việc như chúng xảy ra và tôi không chịu trách nhiệm nếu chúng có vẻ quá khó tin. Tuy vậy, tôi cũng phải nhắc lại rằng, cho đến buổi sáng bà cũng vẫn chưa hề nghi ngờ Dasa chuyện gì - nếu có bao giờ bà nghi ngờ cô ta. Bà tin chắc về cô gái ấy quá. Vào buổi sáng, khi Dasa đang rót trà, và Varvara để ý quan sát cô và khẽ lẩm bẩm: “chỉ toàn là chuyện tào lao!”.
Bà nhận thấy Dasa có vẻ mệt mỏi và cô ta còn có phần im lặng hơn thường lệ, và thực ra khá lãnh đạm. Sau bữa ăn sáng, theo một thói quen đã lâu ngày, họ cùng ngồi đan. Bà Varvara bảo Dasa kể lại đầy đủ chuyến du lịch ở nước ngoài của cô, nhất là những ấn tượng của cô về đồng quê, dân gian, thành thị, tập quán, những nghề và kỹ nghệ địa phương - nói tóm lại, tất cả những gì cô đã có thì giờ ghi nhận. Bà không hỏi về gia đình Drozdov và việc cô ăn ở với họ ra sao. Dasa ngồi gần bà Varvara, giúp bà trong việc đan lát thêu thùa, và trả lời mọi điều bà hỏi bằng giọng hơi trầm và độc điệu của cô.
Bất chợt bà Varvara lên tiếng:
- Dasa! Cháu có điều gì đặc biệt muốn kể cho dì nghe hay không?
Dasa ngừng lại, đưa cặp mắt nhợt nhạt liếc bà Varvara rồi đáp:
- Thưa dì không, đâu có gì.
- Cháu có chắc không? Cháu không có gì bận lòng hay bận lương tâm cả sao?
- Không có gì cả.
Dasa nói nhỏ nhẹ, nhưng có một sự quyết tâm ngấm ngầm trong giọng nói của cô.
- Dì cũng chắc thế. Dasa này, dì muốn cháu hiểu rằng không bao giờ dì nghi ngại gì cháu cả. Bây giờ hãy ngồi
ngay ngắn mà nghe dì nói đây. Cháu ngồi xuống trên ghế kia. Dì muốn cháu ngồi đối diện để dì có thể nhìn cho
rõ. Được rồi. Nghe đây: cháu đã muốn lập gia đình
chưa?
Dasa nhìn bà đăm đăm dò hỏi, nhưng cô không ngạc nhiên cho lắm về câu nói kia.
- Hãy gượm. Đừng trả lời vội. Trước tiên, có sự cách biệt lớn về tuổi tác, nhưng dì tin chắc rằng cháu hiểu vấn
đề đó không quan hệ mấy. Cháu là một cô gái biết điều, và cháu có thể tránh được những lỗi lầm quá hiển
hiện. Và dù sao ông ta cũng là người bảnh bao... Thôi, để dì nói thẳng với cháu - dì nghĩ đến ông Xtepan
Verkhovenxki, mà cháu lúc nào cũng tỏ ra rất quí mến đó. Cháu nghĩ
sao?
Cái nhìn của Dasa càng soi mới hơn, và lần này có đượm phần ngạc nhiên: cô đỏ bừng mặt.
Hãy gượm - đừng nói gì hết; đừng vội vã trả lời! Dì để lại trong chúc thư cho cháu một ít tiền, nhưng tuy thế cháu vẫn thử nghĩ coi, nếu dì mất đi thì chuyện gì sẽ xẩy đến cho cháu, dù là có tiền hay không. Chắc chắn thiên hạ sẽ đánh lừa và lấy mất tiền của cháu, lúc ấy thì cháu hẳn phải giã từ mọi sự. Nhưng nếu cháu lấy ông đó, cháu sẽ thành vợ của một người có danh tiếng. Bây giờ dì lại xét vấn đề dưới một góc cạnh khác: nếu ngày mai dì chết - dĩ nhiên là dì cũng đã để lại một món cho ông ta nữa - biết ông ta sẽ ra sao? Cháu thấy đó, dì biết dì có thể hoàn toàn trông cậy nơi cháu được. Hãy gượm, để dì nói nốt đã. Dì hiểu rất rõ rằng ông ta là một người không thể nương tựa được, vô tích sự, thiếu cảm tình, ích kỉ, và nhiễm nhiều thói xấu. Nhưng dù thể cháu cũng phải nên coi ông làm trọng bởi vì còn nhiều người tồi tệ hơn. Cháu không nghĩ rằng dì đưa ra một kẻ thô lỗ xấu xa chỉ cốt để tống cháu đi cho khuất mắt, phải không cháu? Thêm nữa, lí do chính cháu phải nên nể trọng ông ta là vì chính dì xin cháu làm điều đó. Sao, cháu nghĩ thế nào mà ngồi thừ ra nín thinh như vậy?
Dasa vẫn lặng im.
- Thôi được - hãy nghe dì nói đây. Dì cũng biết rằng ông ta chẳng khác nào một bà lão già, nhưng điều đó càng
lợi cho cháu, cháu thấy không? Ông ta là một bà lão đa cảm, và chắc chắn trong con người ông ta không có gì
làm hứng khởi tình yêu nơi một người đàn bà, ngoại trừ sự yếu đuối cần giúp đỡ của ông ta. Thôi cháu hãy
ráng yêu ông ta vì sự yếu đuối đó. Dì chắc cháu đã hiểu điều dì nói. Cháu hiểu rồi, phải không
cháu?
Dasa gật đầu.
Dì biết cháu không bao giờ phụ lòng trông đợi của dì cả. Ông ta sẽ thương yêu cháu vì bắt buộc, nhất định ông ta phải như thế. Ông ta chỉ còn có nước là phải thờ phụng cháu thôi, Dasa ạ! - Bà Varvara nói bằng một giọng lạ lùng, the thé. - Dù sao, đã hiểu ông ta, dì không còn hồ nghi gì là ông ta sẽ thương yêu cháu - mà không phải chỉ vì ông ta cảm thấy có bổn phận làm thế đâu. Hơn nữa, cháu nên nhớ là còn có dì ở gần. Cháu đừng lo. Lúc nào dì cũng ở gần bên. Ông ta sẽ than vãn về cháu, loan đủ mọi tin đồn, nhỏ to những chuyện xấu xa về cháu với bất kì người nào ông ta gặp mặt; ông ta sẽ khóc mếu và ăn vạ liên miên; ông ta sẽ viết thư cho cháu ở ngay phòng bên cạnh - mấy lá thư một ngày... nhưng ông ta sẽ không thể sống nổi nếu thiếu vắng cháu, và đó mới là điều đáng kể. Cháu phải làm cho ông ta vâng lời cháu; nếu không cháu chỉ là một đứa ngốc. Nếu ông ta bảo cháu là ông ta muốn treo cổ tự tử, cháu chớ có tin - nhưng phải dè chừng: chuyện gì cũng có thể xảy ra, và có ngày, ông ta dám treo cổ thực sự. Loại người như ông ta tự treo cổ không phải vì tính cách mạng, mà là vì yếu đuối. Nên chớ đẩy ông ta tới bước đường cùng. Đó là nguyên tắc đầu tiên trong cuộc sống vợ chồng. Cháu cũng nên nhớ rằng ông ta là một thi sĩ. Bây giờ cháu nghe dì nói đây, không có hạnh phúc nào lớn hơn là sự hi sinh. Hơn nữa, trong việc này cháu lại giúp đỡ cho dì rất to tát, và đó là điều hệ trọng. Vậy cháu đừng nghĩ rằng những gì dì vừa nói chỉ là một mớ chuyện tầm phào. Dì biết mình đang nói gì. Dì nghĩ đến quyền lợi của dì; cháu cũng phải nghĩ đến quyền lợi của cháu nữa chứ. Nhưng dì không hề ép buộc cháu điều gì - cháu muốn định liệu ra sao thì là như thế. Sao, sao cháu ngồi thừ ra như thế? Cháu nói đi chứ!
Dasa nói một cách vững vàng:
- Thực sự, cháu cũng chẳng thiết, dì ạ. Nếu chẳng còn cách nào khác, thì cháu sẽ theo.
- Sao cháu lại nói: “Nếu chẳng còn cách nào khác?” Cháu định nói gì?
Bà Varvara nhìn chòng chọc vào cô. Dasa lặng lẽ lấy kim móc trong khung thêu.
- Cháu là người thông minh, Dasa ạ, nhưng điều cháu nói mới rồi không được tinh mấy. Dĩ nhiên là dì định gả
chồng cho cháu, nhưng đó không phải là chuyện “chẳng còn cách nào khác”. Dì chỉ nghĩ một cách giản dị là
cháu lấy chồng là điều tốt và người kia là ông Verkhovenxki chứ không phải ai khác. Nếu không có ông ấy ở
đây, thì dì chẳng bao giờ nghĩ đến chuyện gả cháu đi, mặc dù cháu năm nay đã hai mươi tuổi đầu rồi... Cháu
nghĩ
sao?
- Thưa dì, cháu sẽ làm như dì muốn.
- Vậy thế là bằng lòng, phải không? Hãy gượm, cháu đừng nói gì hết - kìa cháu đi đâu đó? Dì chưa nói hết mà.
Trong chúc thư dì sẽ để lại cho cháu mười lăm ngàn đồng rúp, nhưng bây giờ cháu sẽ có món đó vào ngay ngày
cưới. Trong món đó, cháu sẽ cho ông ta tám ngàn - nghĩa là, không phải đưa cho ông mà đưa cho dì, và dì sẽ
lấy để trả một món nợ ông ta mắc phải. Nhưng dì muốn ông ta phải hiểu rằng tiền trả món nợ đó là của cháu.
Vậy cháu sẽ còn lại bẩy ngàn, và cháu phải nhất định không có bao giờ cho ông ta một đồng trong số đó. Không
bao giờ. Và cũng không bao giờ trả nợ đậy cho ông ấy, vì hễ cháu làm một lần là cứ phải làm mãi. Nhưng dì
bảo cháu là dì vẫn ở gần bên, cháu sẽ nhận được một khoản phụ cấp của dì cho là một ngàn hai trăm rúp một
năm - luôn tất cả các khoản thêm là một ngàn năm trăm đồng - không kể ăn ở mà dì vẫn tiếp tục cấp dưỡng như
dì đã cấp cho ông ta cho đến ngày nay. Nhưng cháu phải lo trả cho người ăn người làm riêng. Còn về phụ cấp,
dì sẽ trả luôn cho cháu mỗi năm làm một lần, cháu sẽ giữ hầu bao, nhưng dì muốn cháu dễ dãi với ông ta và để
cho ông tiếp bạn bè ở nhà mỗi tuần một lần. Tuy nhiên, nếu họ đến thường xuyên hơn, thì đuổi cổ họ ra khỏi
cửa. Nhưng chính dì sẽ phụ trách việc đó chừng nào dì còn sống đây. Còn, nếu dì chết - ông ta chết, cháu
nghe rõ không? - Bởi vì đó là phụ cấp cho ông ta chứ không phải cho cháu. Còn về phần cháu, ngoài số tiền
bẩy ngàn - mà nếu cháu khôn khéo thì chẳng bao giờ cháu đụng tới - dì sẽ để lại cho cháu tám ngàn đồng nữa
trong chúc thư. Đó là tất cả phần của dì dành cho cháu. Dì muốn biết chắc rằng cháu hiểu rõ điều đó. Sao,
cháu đồng ý không? Cháu nói đi
chứ.
- Nhưng cháu đã trả lời rồi thôi.
- Hãy nhớ là cháu hoàn toàn tự do. Cháu muốn quyết định ra sao cũng được.
- Chỉ xin dì cho biết một điều. Ông Verkhovenxki có nói gì với dì chưa?
- Ông ta chưa nói. Ông ta chưa biết gì cả, nhưng dì hứa với cháu là rồi ông ta sẽ nói ngay đấy thôi!
Bà đứng phắt ngay dậy, vắt chiếc khăn quàng đen quanh vai. Dasa hơi đỏ mặt và đưa mắt bối rối theo từng cử chỉ của bà. Chợt bà Varvara quay về phía cô, mặt bà bừng bừng giận dữ. Bà nói xỉa xói vào Dasa như một con diều hâu:
- Mày là một đứa ngu - một con bé ngu khốn ngu khổ. Mày là một đứa ngu, vô ân bạc nghĩa! Mày tưởng tao ghét bỏ
mày phải không? Phải không? Tao nói cho mày biết, ông ta sẽ quì gối lạy mày, sướng đến chết đi được! Đường
lối sắp xếp phải là như thế! Mày phải biết tao không để cho ai động đến mày! Có lẽ mày nghĩ rằng ông ta lấy
mày vì tám ngàn bạc - như thế tao đem mày đi bán. Mày thực là một con bé ngu ngốc, vô ân bạc nghĩa, hệt như
những người khác! Thôi được rồi, lấy cho tao cái
dù!
Thế rồi bà Varvara vội vã đi theo con đường lót gỗ và lát gạch ẩm ướt sang chỗ ông Verkhovenxki.
7
Bà Varvara nói thực: bà không bao giờ chịu để cho cái gì làm hại đến Dasa. Thực ra bà cảm thấy mình rất rộng lượng đối với cô gái. Sự bực tức của bà rất mực cao cả và đạo nghĩa ngay khi vắt chiếc khăn lên vai bà bắt gặp tia nhìn bối rối và nghi ngại của Dasa. Bà thành thực ưa Dasa ngay từ lúc cô còn là một đứa bé con, và bà Drozdova đã nói đúng khi bà gọi cô gái kia là “cục cưng” của bà Varvara. Bà Varvara đã quyết định một lần và dứt khoát rằng Dasa không giống anh cô là Ivan Satov chút nào; rằng cô tính tình trầm lặng, hiền dịu, có thể hy sinh lớn và rất tận tụy với bà, cực kỳ khiêm tốn, hiểu thiệt hơn và nhất là biết ơn. Cho đến nay, Dasa dường như minh chứng cho điều suy đoán này của bà.
Bà Vatvara đã tuyên bố khi Dasa chưa lên mười hai tuổi rằng: “Đời đứa bé này không được để cho có lầm lỗi nào.” Thế rồi với khuynh hướng đeo chặt vào bất cứ dự kế nào, bất cứ điều tưởng tượng hay ý kiến nào quyến rũ bà, bà tức thì quyết tâm nuôi Dasa như một đứa con ruột. Bà dành riêng một số tiền cho đứa bé, đứng tên và thuê một giám hộ cho nó, một cô nào đó tên Cngx, và cô giám hộ này ở với họ mãi cho đến khi Dasa đưực mười sáu tuổi. Rồi không hiểu vì lí do gì cô Cngx đột ngột bị bà cho thôi. Sau đó, bà cho mời các giáo sư tại trường trung học trong tỉnh tới nhà để giảng dậy cho Dasa. Trong số này có một người là dân Pháp thực thụ dậy Dasa Pháp văn, nhưng vì một lí do nào đó ông cũng bị cho thôi ngang. Một bà mệnh phụ góa, nghèo và lớn tuổi được mời tới để dạy cho Dasa đánh dương cầm.
Tuy nhiên, người đảm nhận phần giáo dục chính của cô là ông Verkhovenxki. Sự thực là ông “khám phá” ra cô. Ông khởi sự dạy cô gái nhỏ lặng lẽ đó trước cả khi bà Varvara nghĩ đến cô. Như tôi đã trình bầy ở trên, trẻ em rất quyến luyến ông. Con gái bà Drozdova là Liza cũng là học trò của ông từ năm lên tám đến năm mười một tuổi (dĩ nhiên ông dạy Liza không lấy thù lao - ông không bao giờ nhận tiền của gia đình Drozdov cả).
Nhưng trong trường hợp này, ông đem lòng yêu đứa bé gái dễ thương kia, và ông đặt ra đủ mọi câu chuyện lãng mạn để kể cho Liza nghe về đất đai, lịch sử nhân loại, và tổ chức thế giới. Các bài giảng của ông về dân chúng và các bộ lạc sơ khai mê hoặc không thua gì những truyện Ngàn lẻ một đêm, Liza đắm đuối nghe những câu chuyện do ông kể sau này về nhà bắt chước ông một cách rất ngộ nghĩnh. Ông tìm ra điều ấy và một lần bắt chợt em đang đóng trò. Lúng túng quá cỡ, Liza nhào vào vòng tay ông và òa lên khóc. Ông Verkhovenxki cũng nhỏ vài giọt lệ hân hoan. Nhưng sau đó ít lâu, gia đình Liza dời đi tỉnh khác, chỉ còn lại có Dasa.
Khi các thầy giáo khởi sự đến nhà dạy Dasa, ông Verkhovenxki thôi giảng cho cô và dần dà cũng hết chú ý đến cô bé. Tình trạng này kéo dài một thời gian lâu. Đến một ngày kia, lúc đó cô đã mười bẩy tuổi, ông Verkhovenxki chợt nhận ra rằng lớn lên Dasa xinh xắn quá chừng. Họ cùng ngồi tại bàn uống trà của bà Varvara. Ông nói chuyện với cô và rất xúc động một cách có thiện cảm với những câu đáp lời của cô. Lập tức ông đề nghị giảng cho cô trọn khóa về văn chương Nga. Bà Varvara cho rằng đó là một ý kiến tuyệt hảo và cảm ơn ông. Dasa mừng lắm. Ông Verkhovenxki khởi công sửa soạn đặc biệt cho các bài học, và sau rốt họ bắt đầu. Ông khai giảng bằng thời kì xa xưa nhất. Bài giảng đầu rất hấp dẫn. Bà Varvara cũng tham dự nữa. Khi dạy xong, ông Verkhovenxki loan báo cho cô học trò là bài giảng kế tiếp sẽ chuyên về Bài ca về Igor27. Bất đồ bà Varvara đứng phắt dậy và nói thôi từ nay không có học hành giảng dạy gì hết nữa. Ông sửng sốt, nhưng không nói gì. Dasa đỏ bừng mặt. Thế là xong.
Đến nay, ba năm sau, bà Varvara lại đột ngột nẩy ra tư tưởng mới. Tội nghiệp cho Verkhovenxki ngồi một mình, đâu có biết chuyện gì. Ông cảm thấy hơi buồn chán và cứ chốc chốc lại liếc ra cửa sổ mong có người bạn nào may ra tới chăng. Nhưng chẳng có một ai xuất hiện. Trời mưa bụi, và không khí càng thêm buốt; ông nghĩ lẽ ra người nhà phải đốt lửa mới phải. Ông thở dài. Chợt qua cửa sổ ông ngó thấy một cảnh tượng làm ông giật mình: bà Varvara đang sang bên ông. Vào giờ này và thời tiết như thế bà muốn gì đây? Và tại sao bà ấy lại đi chân và vội vã như vậy? Quá chưng hửng, ông quên cả nghĩ đến chuyện chạy đi mặc áo khoác và cứ thế mặc áo tây chẽn lót bông mầu hồng đón tiếp bà. Ông tiến ra gặp bà và kêu lên một cách ngờ ngợ:
- Bà bạn thân mến của tôi!
- Ông có một mình hả! Tốt! Tôi chịu không nổi các bạn của ông. Ui chao! Ở đây toàn khói là khói. Thật như là
xông không bằng! Xem đó, đã quá 2 giờ, mà ông cũng chưa ăn sáng xong! Ông thích sống trong cảnh hỗn độn như
thế, phải không? Còn những rác rưởi trên sàn nhà này là gì đây? Naxtaxia, chị Naxtaxia ơi! (Bà cất tiếng gọi
người giúp việc). Chị Naxtaxia của ông đâu mất rồi? À, đây. Này con, mở cửa sổ ra, cả cửa lớn nữa. Tôi muốn
tất cả cửa ngõ đều mở toang ra; trong khi đó, ông với tôi đi ra phòng khách. Tôi đến đây có công chuyện, ông
rõ chưa. Còn chị Naxtaxia, làm cho nó mau mắn lên. Quét căn phòng cho tươm tất một lần xem có được hay
không!
Chị Naxtaxia nức nở như tiếng còi:
- Ông chủ suốt ngày cứ liệng tùm lum xuống sàn đó, thưa bà.
- Vậy thì chị suốt ngày dọn cho ông. Nếu cần thì một ngày quét mười lăm lần!
Rồi họ đi sang phòng khách.
Bà Varvara nói:
- Phòng khách của ông nom sao mà tẻ quá. Thôi ông đóng cửa lại đi, tôi không muốn để chị ta nghe thấy. À, rồi
tôi phải cho thay cái thứ giấy dán tường này. Tôi nhớ đinh ninh là đã gửi thợ trang hoàng cùng các mẫu đến
cho ông. Sao ông không lựa lấy một thứ? Ông ngồi xuống đi và lắng nghe đây. Nào, ông có ngồi xuống hay không
thì bảo? Bây giờ ông định đi đâu? Ông đi đâu
đấy?
Ở bên kia cửa ông Verkhovenxki kêu vọng sang:
- Tôi, chỉ một phút là sang ngay. Đây - tôi đây.
Bà Varvara soi mói quan sát ông:
- Vậy ra ông thay đổi trang phục. (Ông đã choàng một áo khoác bên ngoài cái áo chẽn lót hồng). Phải, như thế
hợp với điều tôi sắp bàn với ông đây. Thôi, bây giờ tôi xin ông làm ơn hãy ngồi xuống
cho!
Bà nói toạc móng heo cho ông nghe, một cách thẳng thừng và chắc nịch. Bà cũng nói bóng gió tới số tám ngàn đồng rúp ông đang hết sức cần và đề cập khoản hồi môn. Đôi mắt ông Verkhovenxki cứ trố ra. Ông bắt đầu run. Ông nghe bà nói nhưng chẳng hiểu nếp tẻ ra sao cả. Ông muốn nói một điều gì nhưng tiếng ông lạc đâu mất. Ông chỉ biết rằng mọi chuyện rồi sẽ như bà định liệu, có phản đối cũng chẳng đi đến đâu, và trên thực tế ông đã bị gả cưới một cách vô phương cứu chữa.
Sau cùng ông cũng cố gắng thốt ra được:
- Nhưng, bà bạn thân mến của tôi ơi, như thế là đến lần thứ ba... vào tuổi tôi... và với một đứa nhỏ như vậy.
Nó chỉ là một đứa
nhỏ.
- Một đứa nhỏ hả? Ông nhớ là nó đã hai mươi tuổi đầu. Xin ông đừng có tròn xoe mắt ra như thế nữa. Ông đâu có
phải đóng tuồng trên sân khấu. Ông thông minh kinh khủng, lại học rộng, đủ thứ, nhưng ông không biết gì về
đời sống và cần một người khán hộ suốt đời. Nếu tôi chết đi, rồi ông sẽ ra sao? Nó sẽ là một vú em tuyệt hay
cho ông: nó khiêm tốn, vững vàng và biết điều. Dĩ nhiên, tôi còn ở gần bên trong một thời gian, vì tôi không
có trông đợi chết ngay lúc này. Nó là một người quán xuyến việc nhà và hiền dịu như một cô tiên. Tôi nẩy ra
ý nghĩ tốt lành này lần đầu khi còn ở Thụy Sĩ. Ông có biết tôi định nói gì khi bảo rằng nó hiền dịu như một
cô tiên chăng? - Bà Varvara đột nhiên giận dữ la to. Ông hiện sống giữa đống rác. nó sẽ đem sạch sẽ cùng
trật tự đến và mọi thứ sẽ sáng choang như gương. Còn ông, ông ngỡ rằng tôi phải hạ mình năn nỉ để cho ông
chịu nhận một kho tàng như thế,và tôi phải kể lể mọi vẻ đẹp điều hay của nó ra như một kẻ đi làm mai hay
sao? Chính ra ông phải quỳ gối xuống mà van xin... Thứ người đâu mà hời hợt, chẳng ra cái trò trống
gì!
- Nhưng, tôi già rồi...
- Năm mươi ba tuổi có thấm vào đâu? Năm mươi chưa phải đã kể miệng lỗ mà mới chỉ nửa đời người. Ông là một
người tốt tướng, điều ấy ông rành quá mà. Ông cũng biết rằng nó rất kính mến ông. Nếu bây giờ tôi chết, biết
nó sẽ ra sao? Nhưng lấy ông rồi. nó sẽ yên một bề và tôi hết phải lo về nó. Ông là một người có địa vị, có
tên tuổi và có một tấm lòng; ông cũng có một khoản phụ cấp mà tôi tự cho là mình có bổn phận phải chu tất.
Ông sẽ có thể tránh cho nó hết thảy mọi chuyện; dù sao đi nữa thế cũng là hân hạnh cho nó. Ông sẽ chỉ dạy
cho nó cách sống ở đời, uốn nắn tính khí cho nó, và hướng dẫn các quan điểm của nó. Biết bao thanh niên
thiếu nữ ngày nay hư cả một đời chỉ vì thiếu sự hướng dẫn tốt! Đồng thời, từ nay đến đó, cuốn sách của ông
sẽ chào đời và thiên hạ sẽ lại nhắc nhở đến
ông.
Ông Verkhovenxki khoan khoái vì sự phỉnh nịnh khéo léo của bà Varvara. Ông nói:
- Thế thì quá vui. Mới đây tôi vừa nghĩ đến việc khởi thảo cuốn Tây Ban Nha sử thuật ký.
- Đó, ông thấy không!
- Nhưng, nhưng còn cô ta thì sao? Bà đã đề cập chuyện đó với cô ta chưa?
- Ông đừng có lo cho nó. Dù sao đi nữa, chuyện đó cũng không dính dáng gì tới ông. Dĩ nhiên, là đích thân ông
sẽ phải ngỏ lời với nó - thuyết phục nó, van nài nó, và làm đủ mọi chuyện đại loại như thế. Nhưng ông đừng
có lo, còn có tôi đây; tôi sẽ coi sóc cho mọi việc phải xong mới thôi. Hơn nữa, tôi biết là ông yêu
nó.
Ông Verkhovenxki cảm thấy ngất ngây; căn phòng bắt đầu xoay vòng vòng. Ông có một ý tưởng khủng khiếp mà không làm sao ông ta xua đuổi nổi ra khỏi đầu. Ông vừa run vừa thở hào hển:
- Bà bạn quí nhất trên đời của tôi ơi! Không bao giờ, không bao giờ tôi lại nghĩ là bà có thể gả tôi đi cho
một kẻ
khác...
Bà Varvara nói xóc hông:
- Xtepan, ông đâu phải một đứa con gái nhỏ. Người ta chỉ “gả” con gái đi mà thôi, ông nhớ cho điều đó.
Ông tiu nghỉu nhìn bà:
- Phải, tôi dùng chữ có lẽ không được chỉnh cho lắm, nhưng... có ăn nhằm gì.
Bà Varvara xì một tiếng khinh miệt:
- Phải, có ăn nhằm gì.
Rồi bỗng:
- Ôi trời, ông ấy ngất đi kìa! Naxtaxia, chị Naxtaxia ơi! Lấy nước lạnh, mau!
- Nhưng ông không cần nước. Ông hồi tỉnh. Bà Varvara cầm lấy dù: Tôi thấy rằng tình trạng ông hiện như vậy
không phải là lúc nói
chuyện...
- Vâng, vâng, lúc này tôi không thể...
- Nhưng từ bây giờ cho đến mai ông hẳn đã nghỉ ngơi và nghĩ cho chín rồi. Ông ở nhà, và nếu có chuyện gì xẩy
ra, cứ cho tôi biết - dù là nửa đêm gà gáy. Cũng đừng tốn công viết thư cho tôi nữa làm gì - tôi sẽ không
đọc đâu. Ngày mai tôi sẽ đến đây để xin ông một câu trả lời dứt khoát, mà nên là một câu trả lời sao cho
thỏa đáng. Từ bây giờ cho đến lúc đó, ông ráng đừng tiếp một người bạn nào; và tôi không muốn thấy lần sau
nơi đây còn rác rưởi gớm guốc như lần này. Thấy mà ghê! Chị Naxtaxia đâu, lên
đây!
Khỏi cần phải nói cũng biết là ngày hôm sau ông trả lời bằng lòng. Ông không làm sao không trả lời bằng lòng cho được; đó là một cảnh ngộ đặc biệt phải xét cho ông...
8
Cái gọi là sản nghiệp của ông Xtepan Verkhovenxki - trước ngày Giải phóng vỏn vẹn có năm mươi nông nô mà người ta quen gọi là năm mươi linh hồn - thực ra cũng không thuộc về ông. Đất đó (liền kề ngay trại Xcvoresniki) là do bà vợ cả của ông để lại, và kẻ thừa hưởng đúng ra phải là con trai của ông và bà là cậu Piot’r Xtepanovitr Verkhovenxki. Ông Xtepan chỉ giám hộ sản nghiệp thay cho người thừa kế, và đến khi trưởng thành cậu con đã ủy nhiệm cho cha quyền quản trị sản nghiệp. Sự dàn xếp đó rất có lợi cho cậu: vì cha cậu, năm nào cùng trả cho cậu một món tiền thỏa thuận với nhau từ trước là một ngàn rúp, trong khi lợi tức thực sự của sản nghiệp sau vụ bãi bỏ chế độ nông nô năm 1861 chưa chắc cơ tới được năm trăm đồng. Làm sao đôi bên lại đi đến con số thỏa thuận kia thì có mà trời biết! Dù sao chính bà Varvara thì thực sự không đóng góp một đồng xu nhỏ vào đó. Ông giữ hết cả lợi tức sản nghiệp mang lại mà tiêu xài riêng. Hơn nữa, ông còn làm giảm giá trị của nó vì cho một nhà kỹ nghệ lãnh trưng và bán từng lô nhỏ cho người ta vào đốn cây (là thứ sản vật chính trong trại) mà không hề cho bà Varvara hay biết. Giá trị gộp của cây ít ra là vào khoảng tám ngàn đồng nhưng ông bán được có năm ngàn, sở dĩ ông đến cơ sự ấy là vì ông thua bạc ở hội quán quá đậm, không dám mở miệng thú nhận với bà Varvara. Bà nghiến răng nổi giận khi sau rốt bà khám phá ra nông nỗi. Thế mà nay cậu con trai lại báo tin sắp về để bán sản nghiệp và giao phó cho người cha việc thu xếp. Vốn tính rộng rãi và vô tư, ông cảm thấy mình mắc tội đối với đứa con yêu dấu (mà lần cuối ông gặp còn là một sinh viên ở Petersburg). Ban đầu sản nghiệp có thể lên đến mười ba mười bốn ngàn rúp, nhưng bây giờ chắc hẳn không tới được năm ngàn. Hẳn là, xét theo quan điểm thuần túy pháp lí, ông Xtepan có thể viện dẫn quyền ủy nhiệm để biện minh cho việc bán cây; ông cũng có thể đòi quyền khâu trừ sự cách biệt giữa số một ngàn rúp hàng năm ông gửi cho con và lợi tức đích thực của sản nghiệp. Nhưng ông là một người trọng danh dự, ưa những cử chỉ cao thượng. Ông đã mường tượng ra một màn kịch bi thương mà hùng tráng và quyết định đóng đến cùng: khi Piot’r về tới, ông sẽ cao cả trải trên bàn số tiền tối đa có được - có thể lên đến mười lăm ngàn rúp - mà không nói một tiếng về số tiền bấy lâu nay vẫn gửi cho con. Rồi, những giọt lệ thương yêu sẽ tuôn tràn, ông sẽ ôm ghì đứa con trai yêu dấu kia vào lòng, kết toán thơm thảo mọi chuyện giữa đôi bên.
Một cách kín đáo và cẩn thận, ông cũng bắt đầu kéo bà Varvara vào màn kịch kia. Ông còn nói bóng gió cho bà biết rằng sự tham gia của bà sẽ phủ lên tình bạn và lí tưởng của họ một vầng hào quang cao quí đặc biệt; rằng nó sẽ chứng tỏ các người cha của thời đại đã qua rộng lượng là chừng nào, và cả thế hệ trẻ ngày nay vô trách nhiệm, ham mê chạy theo chủ nghĩa xã hội. Ngoài ra ông còn nói nhiều nữa.
Bà Varvara cứ để cho ông nói. Rồi một ngày kia bà báo tin là bà sẵn lòng trả giá cao nhất - nghĩa là sáu, hay cùng lắm là bẩy ngàn (bà nói, lẽ ra bốn ngàn cũng phải chán). Đặc biệt bà không nhắc nhở gì đến việc tám ngàn bạc sút giảm về giá trị việc đốn cây.
Những lần nói chuyện này xảy ra khoảng một tháng trước việc mai mối xe duyên. Ông Xtepan Verkhovenxki rất buồn bực và âu lo về chuyện cậu con trai. Đã có lần có hi vọng cậu ta sẽ chẳng về nữa đâu (dĩ nhiên, khi tôi nói “hi vọng” là tôi dùng một kiểu nói của người ngoài, vì ông Xtepan với tư cách là cha, hẳn là sẽ phẫn nộ gạt phăng chữ đó đi). Thế nhưng các tin đồn kì quái về cậu Verkhovenxki cứ tới tai chúng tôi đều đều. Sau khi tốt nghiệp đại học khoảng sáu năm trước đây, dường như cậu chỉ sống vất vưởng ở Petersburg. Rồi chúng tôi nghe nói rằng cậu liên can vào việc soạn thảo một bản tuyên ngôn phản nghịch nào đó và sắp bị mang ra xét xử. Thế rồi lại nghe tin cậu ở Genève, Thụy Sĩ, nên chúng tôi đoán rằng cậu ta đã bỏ trốn ra nước ngoài. Khi đó ông Xtepan bối rối giãi bầy với chúng tôi:
- Tôi thật ngạc nhiên về nó quá. Thằng Piot’r thật là đầu xanh tội nghiệp! Nó là một đứa trẻ tốt bụng, có cốt cách, và quá đỗi nhậy cảm. Hồi gặp nó ở Petersburg, tôi mừng quá vì nó khác hẳn bọn thanh niên ngày nay. Nhưng dù sao nó cũng là một đứa yếu đuối... Để tôi xin kể các ông nghe, tất cả mọi sự rắc rối đều bắt nguồn từ sự thiếu trưởng thành và tình cảm sướt mướt mà ra! Không phải là những khía cạnh thực tiễn của chủ nghĩa xã hội quyến rũ chúng đâu, mà là sự hấp dẫn về cảm xúc, cái lý tưởng - chúng ta có thể gọi là khía cạnh thần bí và tôn giáo - cái lãng mạn... của chủ nghĩa ấy; và thêm nữa, chúng chỉ bắt chước người khác như lũ vẹt. Nhưng điều đó lại đặt tôi vào một cảnh khốn khổ khốn nạn: tôi có nhiều kẻ thù và bọn họ thế nào cũng gán tất cả chuyện đó cho ảnh hưởng của phụ huynh... Ôi trời ơi là trời, chúng ta sống trong thời buổi nhố nhăng! Một thằng như Piot’r Verkhovenxki nhà tôi mà cũng tập tễnh đòi làm lãnh tụ cách mạng!
Tuy nhiên, chẳng mấy lâu sau, Piot’r Verkhovenxki gửi vé cho cha địa chỉ chính xác tại Thụy Sĩ để ông gửi tiền sang. Điều này chứng tỏ anh ta đã xuất ngoại hợp pháp. Bây giờ, sau khi sống ở nước ngoài bốn năm, anh ta thình lình trở về Nga và báo tin cho cha là sắp đến tỉnh chúng tôi. Điều này có nghĩa là anh ta chưa hề bị rắc rối với nhà cầm quyền. Trái lại, dường như có một nhân vật ở địa vị cao lại chú tâm đến anh ta. Cái thư anh ta gửi về là từ miền Nam nước Nga, nơi anh ta đang tiến hành một tư tác quan trọng, tổ chức một cái gì đó. Tin đó rất hay, nhưng ông chưa biết đào đâu ra bẩy tám ngàn bạc thiếu để gộp thành một món tiền tối đa coi được, để trả cho cậu con trại về việc bán cái sản nghiệp? Và thử tưởng tượng nếu có cãi cọ tùm lum, la ó, hay còn kiện tụng, thay vì màn kịch cao đẹp kia? Ông Verkhovenxki có cảm tưởng là đứa con nhạy cảm của ông là Piot’r kia chắc chẳng lép vế chịu thua thiệt về tài chính đâu. Có lần ông thì thào tâm sự với tôi: “Tôi có cảm tưởng như thế vì tôi đã để ý nhận thấy rằng tất cả những bọn xã hội chủ nghĩa và cộng sản văng mạng kia đều keo cú, hà tiện không thể tưởng, và hăm hở muốn có của kinh khủng. Người ta có thể nói là một người càng nhiệt thành với xã hội chủ nghĩa bao nhiêu thì lại càng có nhu cầu tích lũy tài sản bấy nhiêu. Tại sao vậy? Phải chăng nó bắt nguồn từ yếu tố cảm xúc trong cái chủ nghĩa xã hội của họ?” Tôi không rõ nhận xét của ông Xtepan Verkhovenxki có ít nhiều gì đúng với sự thật hay không. Tôi chỉ biết rằng Piot’r đã được người ta cho hay về việc cha anh bán cây trong trại cùng những giao dịch khác, và ông Xtepan cũng hiểu là con đã rõ chuyện. Tôi cũng đã đọc vài lá thư anh gửi cho cha. Anh viết thư rất ít - một năm không đến một lá - nhưng mới đây, khi báo tin anh sắp về, anh đã viết hai lá thư liền nhau. Nói chung, những lá thư này chẳng hơn gì những mảnh giấy báo tin vắn tắt; nhưng từ buổi gặp gỡ ở Petersburg, hai cha con đã theo trào lưu tân tiến mà xưng hô với nhau là moa moa, toa toa, nên thư của Piot’r gửi cho cha nghe chẳng khác nào thời xưa các ông địa chủ không có mặt ở quê gửi thư ra chỉ thị cho các nông nô mà các ông đã giao phó cho việc quản lí gia sản. Thế mà bây giờ, đột nhiên, như trong phép lạ, bà Varvara lại tặng cho ông Xtepan tám ngàn đồng rúp, dĩ nhiên trong có ngầm ám chỉ là với điều kiện là... Vậy thì khỏi thành vấn đề gì hết - ông dĩ nhiên phải chấp nhận.
Bà vừa đi khỏi là ông gọi tôi tới rồi đóng cửa cài then cẩn thận. Tất nhiên là ông phải khóc lóc qua loa, nói thao thao một cách hay ho, thường khi đánh rơi mất cả luồng tư tưởng, thỉnh thoảng lại chơi chữ một ván và lấy làm khoái chí lắm, sau hết là một cơn lên ruột sơ sơ. Nói tóm lại, mọi chuyện in như thường lệ. Đến một lúc, ông mở ô kéo giơ tấm hình bà vợ người Đức xinh xắn mất đã hai chục năm nay ra ngắm nghía và than vãn mấy hồi: “Ôi, có bao giờ em tha thứ cho anh hay chăng?” Thực ra, ông có vẻ hơi quẫn trí. Để giải muộn trong cơn khủng khoảng hiện nay, chúng tôi nhắm vài li và chẳng mấy chốc ông ta nằm lăn quay ra ngủ mê man. Sáng dậy ông ăn bận cực cẩn thận, chải chuốt ngắm nghía mãi trước gương và thắt cà vạt thật diêm dúa. Ông cũng kín đáo rẩy ít nước hoa lên khăn tay, nhưng khi nhìn qua cửa sổ thấy bóng bà Varvara, ông vội lấy một chiếc khăn khác, và giấu chiếc đã xức dầu thơm dưới nệm gối.
- Tốt! - Bà Varvara phán một câu khi ông báo tin đồng ý. - Thứ nhất, nó chứng tỏ một sự quyết tâm tốt lành, và thứ nhì, ông dường như đã lắng nghe tiếng nói của lí trí, một điều ít khi ông làm trong những việc riêng tư. Tuy vậy, không cần gì phải gấp rút công việc cả, - bà nói thêm khi nhìn thấy chiếc cà vạt trắng thắt kiểu cách của ông. - Lúc này đừng nói gì cả, tôi cũng vậy nữa. Chẳng mấy chốc là đến sinh nhật của ông, và tôi sẽ đưa nó sang dự tiệc trà. Nhưng không có nhậu nhẹt đâu nhé, ông nhớ đấy. Tôi nghĩ tốt hơn thì để chính tôi coi sóc việc đó mới được. Ông sẽ mời các bè bạn của ông - nhưng trước hết chúng ta sẽ cùng nhau quyết định xem phải mời những ai. Nếu cần, ông sẽ phải nói chuyện với nó từ bữa hôm trước. Nhưng trong bữa tiệc ở nhà ông ta đừng có tuyên bố chính thức gì hết, chỉ hàm ý lửng lơ thế thôi. Rồi một vài tuần sau ta sẽ làm một lễ cưới lặng lẽ, đúng ra càng lặng lẽ càng tốt. Có thể tốt nhất là sau cuộc lễ, cả hai nên đi xa một thời gian – chẳng hạn lên Moskva. Tôi cũng có thể đi theo luôn... nhưng, trong khi chờ đợi tốt hơn là ông hãy giữ kín cái miệng.
Ông ngạc nhiên. Ông còn lên tiếng phản đối yếu ớt rằng ông thấy không thể tiến hành chuyện đó mà không nói qua với cô dâu tương lai, nhưng bà Varvara chặn phắt ngay đi:
- Như thế để làm gì? Hơn nữa chuyện còn có thể xôi hỏng bỏng không...
Ông chưng hửng nói không ra câu:
- Bà nói sao?
- Tôi nói thế đấy. Tôi còn phải xem sao đã... Được, mọi chuyện rồi sẽ cũng đâu vào đó như tôi đã bàn với ông,
chính tôi sẽ báo tin cho nó. Ông khỏi phải lo gì cả, mọi chuyện gì cần nói cần làm đều sẽ được thực hiện cả.
Ông thì có giúp được gì? Vậy thì ông lo chi cho mất công. Ông làm ơn tránh xa nó ra, cũng đừng có thư từ gì
cho nó cả. Xin ông cứ làm như không hay biết chuyện gì cả. Tôi cũng im hơi lặng tiếng
nữa.
Bà cương quyết không chịu giải thích rõ hơn và lúc ra đi nét mặt khá xao xuyến. Sự tán đồng hăm hở của ông Xtepan làm bà đôi chút sững sờ. Hỡi ôi, ông vẫn không hiểu rõ cảnh ngộ thực của mình và cũng chưa cứu xét vấn đề theo những góc cạnh khác. Trái lại, tôi nhận thấy giọng nói ông có một âm điệu giả tạo mới, thoáng phần cao kì và khinh khoái của một anh chàng tự đắc. Ông dừng lại trước mặt tôi, dang hai tay giơ lên trời và cứ lặp đi lặp lại mãi: “Chuyện đó nào tôi có thích gì. Anh thử nghĩ xem? Tôi cho rằng bà ấy đang cố tìm cách gây khó cho tôi mọi chuyện để rồi tôi phải từ chối. Bà ta biết sức kiên nhẫn của tôi cũng có giới hạn và cuối cùng cũng có lúc tôi bị đẩy đến chỗ phải trả lời không! Bà ấy bảo tôi ngậm kín miệng và đừng giao dịch với cô dâu tương lai! Nhưng việc gì tôi phải lấy vợ kia chứ? Chỉ vì cái tư tưởng kì quặc kia nẩy sinh trong đầu bà ta? Nhưng tôi là một người có trách nhiệm và có thể không muốn khép mình tuân phục những cái dở hơi của một người đàn bà quái dị! Tôi có trách nhiệm đối với con tôi và đối với bản thân tôi! Bà ấy không ý thức được rằng tôi đang đem mình ra hi sinh hay sao? Có lẽ tôi sẵn lòng muốn cho qua hết mọi sự chỉ vì tôi chán đời và không còn gì đối với tôi quan trọng nữa. Nhưng nếu bà ấy còn cứ chọc giận tôi như thế này nữa, nó sẽ trở thành quan trọng đối với tôi - Tôi sẽ nổi giận và sẽ từ chối cho mà xem! Kết cục, dị hợm... Rồi trong hội quán họ sẽ bàn tán ra làm sao? Liputin sẽ nói gì? Và bà ấy nói “chuyện còn có thể xôi hỏng bỏng không”... Anh nghĩ như thế nào? Đó mới thực là đầu mối bòng bong! Thật chịu hết nổi! Tôi là một tên tù khổ sai, một kẻ bị dồn vào chân tường!...”
Và trong suốt lúc than thân trách phận như thế, ông vẫn để lộ ra một cái gì giả tạo hợm hĩnh như cợt như đùa. Chiều lại, chúng tôi đánh ngã thêm một chai nữa.

