Lược Sử Kinh Tế Học - Chương 1-10

CHƯƠNG 1: Cái Đầu Lạnh Và Trái Tim Nóng

Việc bạn đang cầm quyển sách này trên tay đã đặt bạn vào một vị trí đặc biệt. Trước tiên, bạn (hoặc bất cứ ai cho bạn cuốn sách này) có tiền để mua nó. Nếu bạn đến từ một nước nghèo, gia đình bạn có lẽ đang vật lộn sống qua ngày chỉ với một vài đô la. Hầu hết số tiền mà bạn có sẽ dùng để mua thức ăn và sẽ không còn lại chút tiền nào để mua một cuốn sách. Ngay cả khi bạn đã có trong tay một cuốn, nó cũng có thể trở nên vồ dụng bởi vì bạn sẽ không đọc được nó. Ở Burkina Faso, một đất nước nghèo ở Tây Phi, chưa đến một nửa giới trẻ biết đọc; chỉ có một phần ba các bé gái có thể đọc. Thay vì học đại số hoặc ngôn ngữ, một bé gái 12 tuổi có khi mất cả ngày chỉ để kéo những xô nước về túp lều của gia đình mình. Bạn có thể cho rằng bạn và gia đình của bạn không giàu có đặc biệt, nhưng với nhiều người trên thế giới thì việc dùng tiền mua một cuốn sách và có thể đọc nó khó như lên mặt trăng vậy.

Những người bị thôi thúc bởi trí tò mò và có lẽ bởi sự tức giận về sự khác biệt lớn lao này thường phải tìm lời giải bằng kinh tế học. Kinh tế học là ngành nghiên cứu về cách xã hội sử dụng các nguồn tài nguyên - đất đai, than đá, con người và máy móc -, những thứ có liên quan đến việc tạo ra hàng hóa hữu ích như bánh mì và những đôi giày. Kinh tế học cho thấy lý do tại sao quan điểm cho rằng người dân ở Burkina Faso nghèo vì họ lười biếng, như một số người thường phát biểu, là rất sai lầm. Nhiều người trong số họ làm việc rất chăm chỉ, nhưng họ được sinh ra trong một nền kinh tế mà nói chung là không giỏi sản xuất hàng hóa. Tại sao nước Anh có các tòa nhà, sách vở và giáo viên cần thiết để giáo dục trẻ em của đất nước họ trong khi Burkina Faso lại không có những thứ đó? Đây là một câu hỏi vô cùng khó giải đáp và chưa ai hiểu được cặn kẽ. Kinh tế học cố gắng giải thích câu hỏi này.

Đây là một lý do có sức nặng hơn khiến ta bị cuốn hút bởi kinh tế học, và có lẽ để bạn hình thành những ý tưởng của riêng bạn về nó. Kinh tế học là vấn đề sống còn. Ngày nay, một đứa trẻ sinh ra ở một nước giàu có rất ít nguy cơ bị chết trước 5 tuổi. Cái chết của một đứa trẻ là một sự kiện hiếm hoi và gây sốc nếu xảy ra. Tuy nhiên, ở những nước nghèo nhất trên thế giới, hơn 10% trẻ em không sống được đến 5 tuổi vì thiếu thực phẩm và thuốc men. Thanh thiếu niên ở những nước này có thể tự coi mình là may mắn vì đã sống sót.

Từ “kinh tế học” nghe có thể hơi khô khan và khiến bạn nghĩ đến hàng đống số liệu thống kê nhàm chán. Nhưng thực ra nó chỉ đề cập đến việc làm thế nào để giúp mọi người sống sót, khỏe mạnh và được giáo dục. Nó đề cập đến việc mọi người có được những gì họ cần để sống cuộc đời trọn vẹn và hạnh phúc như thế nào - và tại sao một số người thì không có được những thứ đó. Nếu chúng ta có thể giải quyết các câu hỏi kinh tế cơ bản, có lẽ chúng ta có thể giúp mọi người sống tốt hơn.

Ngày nay, các nhà kinh tế học có một cách suy nghĩ đặc biệt về tài nguyên - tức là những viên gạch để xây dựng một trường học, các loại thuốc để chữa bệnh và những cuốn sách mà mọi người muốn. Họ nói rằng những thứ này “khan hiếm”. Vào những năm 1930, nhà kinh tế học người Anh Lionel Robbins đã định nghĩa kinh tế học là ngành nghiên cứu về sự khan hiếm. Những thứ ít gặp như kim cương và chim công trắng là rất khan hiếm, nhưng đối với các nhà kinh tế học thì bút viết và sách vở cũng khan hiếm, mặc dù bạn có thể dễ dàng tìm thấy chúng ở nhà hoặc tại cửa hàng gần nhà bạn. Bằng việc sử dụng từ “sự khan hiếm”, họ muốn nói rằng số lượng thì hạn chế mà mong muốn của con người có thể không có giới hạn. Nếu được, chúng ta có thể cứ tiếp tục mua bút và sách mới mãi - nhưng chúng ta không thể có được tất cả chúng vì mọi thứ đều có giá của nó. Điều này có nghĩa là chúng ta phải lựa chọn.

Hãy suy nghĩ thêm một chút về khái niệm chi phí. Chi phí không chỉ là bảng Anh hay đô la, mặc dù tiền là quan trọng. Hãy tưởng tượng tình huống một sinh viên phải chọn môn học nào vào năm tới. Có hai lựa chọn là lịch sử hoặc địa lý, nhưng không thể là cả hai. Sinh viên đó chọn lịch sử. Chi phí của lựa chọn đó là gì? Đó là những gì bạn từ bỏ: cơ hội để tìm hiểu về sa mạc, băng hà vĩnh cửu và các thành phố thủ đô. Thế còn chi phí của một bệnh viện mới? Bạn có thể cộng giá tiền mua gạch và thép dùng để xây nó. Nhưng nếu chúng ta nghĩ về những gì chúng ta từ bỏ, thì chi phí là ga xe lửa mà chúng ta đã có thể xây dựng thay vì bệnh viện. Các nhà kinh tế học gọi đây là “chi phí cơ hội”, và nó rất dễ bị bỏ qua. Sự khan hiếm và chi phí cơ hội cho thấy một nguyên tắc kinh tế cơ bản: người ta phải lựa chọn, giữa bệnh viện và nhà ga, trung tâm mua sắm và sân bóng đá.

Vậy là kinh tế học xem xét cách chúng ta sử dụng các nguồn lực khan hiếm để thỏa mãn các nhu cầu. Nhưng còn hơn thế nữa. Các lựa chọn mà mọi người đối mặt thay đổi như thế nào? Những người sống trong các xã hội nghèo phải đối mặt với những lựa chọn khắc nghiệt: một bữa ăn cho lũ trẻ hoặc thuốc kháng sinh cho một người bà đang ốm. Ở các nước giàu như Mỹ hay Thụy Điển, họ hiếm khi gặp phải tình huống như vậy. Họ có thể phải chọn giữa một chiếc đồng hồ mới và chiếc iPad đời mới. Các nước giàu phải đối mặt với các vấn đề kinh tế nghiêm trọng - đôi khi các công ty phá sản, công nhân mất việc làm và chật vật mới mua được quần áo cho con cái của họ - nhưng những sự lựa chọn của họ ít khi là vấn đề sống còn. Vậy nên một câu hỏi trung tâm của kinh tế học là làm thế nào để các xã hội khắc phục những hậu quả tồi tệ nhất của sự khan hiếm - và tại sao một số xã hội không làm điều đó nhanh chóng bằng. Nỗ lực để có một câu trả lời tốt cần nhiều hơn chỉ sự thấu hiểu về chi phí cơ hội - việc giỏi giải đáp liệu chúng ta nên xây một bệnh viện hay sân bóng đá mới, mua một chiếc iPad hay một chiếc đồng hồ mới. Câu trả lời của bạn sẽ cần phải được rút ra từ đủ mọi loại lý thuyết về kinh tế và một vốn hiểu biết sâu sắc về cách các nền kinh tế khác nhau hoạt động như thế nào trong thế giới thực. Gặp gỡ các nhà kinh tế học trong lịch sử trong cuốn sách này là một điểm khởi đầu tốt; những ý tưởng của họ cho thấy họ đã có những nỗ lực đa dạng tuyệt vời đến thế nào.

Hiển nhiên là các nhà kinh tế học nghiên cứu “nền kinh tế”. Nền kinh tế là nơi các nguồn lực được sử dụng hết, những thứ mới được tạo ra và nó quyết định sở hữu cái gì. Ví dụ, một nhà sản xuất mua vải và thuê người lao động để sản xuất áo phông. Người tiêu dùng - bạn và tôi - đi đến các cửa hàng và, nếu chúng ta có tiền trong túi, chúng ta có thể mua hàng hóa như áo phông (chúng ta “tiêu thụ” chúng). Chúng ta cũng tiêu thụ “dịch vụ”, những thứ không phải là vật thể thực tế - ví dụ như kiểu tóc. Hầu hết người tiêu dùng cũng là người lao động vì họ kiếm tiền từ công việc. Các doanh nghiệp, người lao động và người tiêu dùng là những yếu tố quan trọng của nền kinh tế. Nhưng các ngân hàng và thị trường chứng khoán - “hệ thống tài chính” - cũng ảnh hưởng đến cách sử dụng tài nguyên. Các ngân hàng cho các công ty vay tiền - họ “cấp tài chính” cho các công ty. Khi một người cho một nhà sản xuất quần áo vay tiền để xây dựng một xưởng may mới, khoản vay này cho phép nhà sản xuất mua xi măng, thứ mà cuối cùng sẽ là một phần của xưởng may chứ không phải là một cây cầu mới. Để quyên tiền, các công ty đôi khi bán “cổ phần” (hoặc “cổ phiếu”) trên thị trường chứng khoán. Khi bạn sở hữu một cổ phần trong Toshiba, bạn sở hữu một phần nhỏ xíu của công ty và nếu Toshiba làm ăn phát đạt thì giá cổ phiếu của nó sẽ tăng lên và bạn trở nên giàu hơn. Chính phủ cũng là một phần của nền kinh tế. Chính phủ tác động đến cách sử dụng tài nguyên khi tiêu tiền vào đường cao tốc hoặc nhà máy điện mới.

Trong chương tiếp theo, chúng ta sẽ gặp một số người đầu tiên suy nghĩ về các câu hỏi kinh tế: người Hy Lạp cổ đại. Từ “kinh tế học” (economic) bắt nguồn từ từ oeconomicus trong tiếng Hy Lạp (oikos, ngôi nhà, và nomos, luật hay quy tắc). Vì vậy, đối với người Hy Lạp, kinh tế học bàn về cách các hộ gia đình quản lý tài nguyên của họ. Ngày nay, kinh tế học còn bao gồm cả việc nghiên cứu các công ty và các ngành công nghiệp. Nhưng các hộ gia đình và những người sống trong đó vẫn là đối tượng nghiên cứu căn bản. Suy cho cùng, chính những cá nhân là người mua các thứ và hợp thành lực lượng lao động. Vì vậy, kinh tế học nghiên cứu về hành vi của con người trong nền kinh tế. Nếu bạn được tặng 20 bảng trong ngày sinh nhật của mình thì bạn làm sao để quyết định chi nó vào thứ gì? Điều gì làm cho một công nhân chấp nhận một công việc mới với một mức lương nhất định? Tại sao một số người tiết kiệm từng đồng còn những người khác phung phí vào một cung điện thú cưng cho chó của họ?

Các nhà kinh tế học cố gắng tiếp cận các loại câu hỏi này một cách khoa học. Có lẽ từ “khoa học” khiến bạn nghĩ đến các ống nghiệm sủi bọt và các phương trình được viết nguệch ngoạc trên bảng đen - chẳng mấy liên quan tới câu hỏi liệu con người có đủ thực phẩm hay không. Trên thực tế, các nhà kinh tế học cố gắng giải thích nền kinh tế cũng như các nhà khoa học giải thích việc phóng tên lửa. Các nhà khoa học tìm kiếm “các định luật” vật lý - thứ này gây ra thứ khác như thế nào - chẳng hạn như định luật liên hệ trọng lượng của tên lửa với độ cao nó đạt được khi phóng đi. Các nhà kinh tế học tìm kiếm các định luật kinh tế, như quy mô dân số ảnh hưởng đến lượng lương thực sẵn có như thế nào. Đây được gọi là “kinh tế học thực chứng”. Các định luật không tốt hay xấu. Chúng chỉ mô tả những gì đang tồn tại.

Nếu bạn nghĩ rằng kinh tế phải rộng lớn sâu xa hơn những thứ như thế này, bạn hoàn toàn đúng. Hãy nghĩ về những đứa trẻ châu Phi không sống sót nổi qua thời thơ ấu của chúng. Liệu chỉ mô tả tình hình và để mặc nó như thế liệu có đủ không? Chắc chắn là không! Nếu các nhà kinh tế học không đưa ra phán xét, họ sẽ là những kẻ không có trái tim. Một nhánh khác của kinh tế học là “kinh tế học chuẩn tắc”, cho biết một tình hình kinh tế là tốt hay xấu. Khi bạn thấy một siêu thị vứt bỏ thực phẩm còn sử dụng tốt, bạn có thể đánh giá điều đó là xấu bởi vì nó thật lãng phí. Và khi bạn nghĩ về sự khác biệt giữa người giàu và người nghèo, bạn có thể đánh giá nó là xấu bởi vì điều đó không công bằng.

Khi sự quan sát chính xác và sự phán xét khôn ngoan kết hợp với nhau, kinh tế học có thể là một động lực cho sự thay đổi, để tạo ra các xã hội giàu có hơn, công bằng hơn, trong đó nhiều người trong chúng ta có thể sống tốt. Như nhà kinh tế học người Anh Alfred Marshall từng nói, các nhà kinh tế học cần “những cái đầu lạnh, nhưng cũng cần những trái tim ấm”. Đúng vậy, mô tả thế giới như một nhà khoa học, nhưng hãy chắc chắn rằng bạn làm điều đó với lòng trắc ẩn trước nỗi đau khổ của những con người xung quanh bạn - sau đó cố gắng thay đổi mọi thứ.

Kinh tế học ngày nay, loại kinh tế học mà người ta nghiên cứu tại trường đại học, chỉ xuất hiện tương đối gần đây trong hàng ngàn năm văn minh nhân loại. Nó xuất hiện một vài thế kỷ trước, khi chủ nghĩa tư bản, loại hình kinh tế hiện nay thấy ở hầu hết các quốc gia, được sinh ra. Trong xã hội tư bản chủ nghĩa, hầu hết các nguồn lực - lương thực, đất đai và sức lao động của con người - đều được mua và bán bằng tiền. Việc mua và bán này được gọi là “thị trường”. Ngoài ra, có một nhóm người, các nhà tư bản, là những người sở hữu vốn: tiền, máy móc và nhà máy cần thiết để sản xuất hàng hóa. Một nhóm khác là người lao động được tuyển dụng trong các công ty tư bản. Bây giờ thì thật khó tưởng tượng theo bất kỳ cách nào khác. Nhưng trước khi chủ nghĩa tư bản ra đời, mọi thứ đã rất khác. Người ta tự nuôi trồng thực phẩm cho mình thay vì mua nó. Những người bình thường không làm việc cho các công ty, mà làm việc cho vị lãnh chúa cai quản vùng đất mà họ dựa vào để sinh sống.

So với toán học hay văn học thì kinh tế học là một ngành mới. Đối tượng của kinh tế học hầu hết là những thứ mà các nhà tư bản quan tâm: mua, bán và giá cả. Phần lớn cuốn sách này bàn về loại hình kinh tế này. Nhưng chúng ta cũng sẽ xem xét cả các khái niệm kinh tế từ trước đó rất lâu. Xét cho cùng, mọi xã hội, dù tư bản hay không, đều phải giải quyết vấn đề làm thế nào để lo com no áo ấm cho người dân. Chúng ta sẽ xem xét những khái niệm thay đổi về nền kinh tế, và xem bản thân nền kinh tế đã thay đổi như thế nào - con người qua các thời kỳ đã cố gắng vượt qua sự khan hiếm như thế nào khi họ làm việc trên các cánh đồng và nhà máy và quây quần xung quanh nồi thức ăn của họ.

Liệu các nhà kinh tế học có luôn mô tả nền kinh tế và đưa ra những đánh giá về nó như các nhà khoa học cẩn trọng và nhà triết học thông thái không? Đôi khi họ bị trách là đã không xem xét tới những khó khăn của những nhóm người thiệt thòi bị tụt lại khi nền kinh tế phát triển, đặc biệt là phụ nữ và người da đen. Có phải đó là vì, suốt lịch sử, các lý thuyết gia kinh tế thường xuất thân từ các nhóm có lợi thế nhất trong xã hội? Vào đầu thế kỷ 21, một cuộc khủng hoảng kinh tế lớn đã xảy ra do các hoạt động thiếu thận trọng của các ngân hàng. Nhiều người đổ lỗi cho các nhà kinh tế học vì đã không dự đoán trước được điều đó. Một số người nghi ngờ rằng điều này xảy ra là do nhiều người trong số họ bị ảnh hưởng bởi những người được hưởng lợi từ một nền kinh tế bị chi phối bởi giới tài chính và các ngân hàng lớn.

Vậy nên có lẽ các nhà kinh tế học cần cái gì đó khác nữa cùng với cái đầu lạnh và trái tim ấm của họ: đôi mắt tự phê bình, khả năng nhìn xa hơn mối quan tâm riêng và cách nhìn thế giới quen thuộc của họ. Nghiên cứu lịch sử kinh tế học giúp chúng ta làm được điều này bởi vì thông qua việc tìm hiểu quá trình tư tưởng của các nhà kinh tế học thời trước hình thành từ mối quan tâm và hoàn cảnh riêng của họ, chúng ta có thể hiểu rõ hơn cách mà các ý tưởng của chúng ta khởi sinh. Đó là lý do tại sao việc kết hợp lịch sử với các tư tưởng lại hấp dẫn và cần thiết đến vậy trong việc tạo ra một thế giới mà ở đó sẽ có nhiều người hơn trong số chúng ta có thể sống tốt.

CHƯƠNG 2: Những Con Thiên Nga Bay Lên

Giống như tất cả mọi người, những con người đầu tiên đối mặt với vấn đề kinh tế là sự khan hiếm, mà đối với họ vấn đề là tìm đủ thức ăn. Không có “nền kinh tế” theo nghĩa là một tập hợp các trang trại, xưởng và nhà máy. Những người đầu tiên sống sót trong rừng bằng cách hái các loại quả mọng và săn động vật. Chỉ đến khi các kiểu nền kinh tế phức tạp hơn xuất hiện, chẳng hạn như ở Hy Lạp và La Mã cổ đại, thì người ta mới bắt đầu suy nghĩ về những câu hỏi thuộc về kinh tế học.

Các nhà kinh tế học đầu tiên là các triết gia Hy Lạp, những người đã khởi đầu truyền thống tư tưởng của phương Tây mà kinh tế học là một phần trong đó. Các ý tưởng của họ nảy nở sau hàng nghìn năm con người nỗ lực để tạo ra những nền văn minh đầu tiên. Trước họ khá lâu, con người gieo hạt giống của đời sống kinh tế bằng việc học cách cải tạo thiên nhiên để phục vụ nhu cầu của họ. Ví dụ, khi con người bắt đầu biết dùng lửa, họ có thể tạo ra những thứ mới từ những gì mà họ tìm thấy: họ tạo hình những chiếc nồi từ đất sét và nấu các bữa ăn từ rau quả và thịt động vật. Sau đó, hơn 10.000 năm trước, cuộc cách mạng kinh tế đầu tiên đã bắt đầu: những nhóm người phát minh ra nông nghiệp khi họ phát hiện ra cách trồng cây và thuần hóa động vật. Nhiều người hơn có thể sống sót trên một vùng đất và họ tập hợp lại với nhau trong các ngôi làng.

Từ những khởi đầu này, những nền văn minh với các nền kinh tế phức tạp xuất hiện ở Lưỡng Hà, địa điểm mà ngày nay là Iraq. Một ý nghĩa quan trọng của khái niệm “phức tạp” ở đây là mọi người không phải tự sản xuất thực phẩm cho mình nữa. Ngày nay, bạn có lẽ có được thức ăn không phải bằng cách tự trồng nó mà bằng cách mua nó từ những người làm thế. Ở Lưỡng Hà có những loại người mới không bao giờ thu hoạch lúa mạch hoặc vắt sữa dê: các vị vua cai trị các thành đô và các thầy tư tế phụ trách các ngôi đền.

Kinh tế có thể trở nên phức tạp là bởi vì mọi người đã trồng cây và chăn nuôi giỏi đến mức mà nông dân có thể sản xuất nhiều hơn mức cần thiết để nuôi sống mình. Sản lượng thặng dư nuôi sống các thầy tư tế và các vị vua. Việc đưa thực phẩm từ tay người trồng đến tay người tiêu thụ cần có tổ chức. Ngày nay, việc đó diễn ra thông qua hoạt động mua và bán bằng tiền, nhưng các xã hội cổ đại đã dựa vào những truyền thống cũ. Nông phẩm được đưa đến các ngôi đền để làm lễ vật cúng tế rồi được các thầy tư tế chia ra. Để tổ chức phân phối thực phẩm, các nền văn minh ban đầu đã phát minh ra chữ viết; một số ví dụ đầu tiên chúng ta có là danh sách các lượt giao nông phẩm của nông dân. Khi các nhà cai trị đã có thể ghi chép, họ có thể lấy một phần nông sản mà người nông dân làm ra (nói cách khác là đánh “thuế” người nông dân), sau đó sử dụng các nguồn lực để đào kênh lấy nước cho cây trồng và xây các lăng mộ để tôn vinh các vị vua.

Vài thế kỷ trước khi Thiên Chúa giáng sinh, các nền văn minh nhân loại đã tồn tại ở Lưỡng Hà, Ai Cập, An Độ và Trung Quốc hàng nghìn năm và những chất liệu cho nền văn minh mới sẽ xuất hiện ở Hy Lạp cũng đã hiện diện. Ở đó, mọi người bắt đầu suy nghĩ sâu sắc hơn về ý nghĩa của việc là một con người sống trong xã hội. Hesiod, một trong những nhà thơ Hy Lạp đầu tiên, đã tuyên bố điểm khởi đầu của kinh tế: “Các vị thần giữ cho thức ăn của con người tiềm ẩn”. Bánh mì không từ trên trời rơi xuống. Để ăn chúng ta phải trồng lúa mì, thu hoạch, xay thành bột và sau đó nướng thành bánh. Con người phải làm việc để sống.

Ông tổ của tất cả các nhà tư tưởng là triết gia Hy Lạp Socrates, mà lời ông chúng ta chỉ biết được thông qua tác phẩm của các học trò của ông. Người ta nói rằng, một đêm ông mơ thấy một con thiên nga dang rộng cánh, vừa bay vừa kêu to. Ngày hôm sau ông gặp Plato, người sau này sẽ trở thành học trò xuất sắc của ông. Socrates nhìn thấy ở Plato con thiên nga trong giấc mơ của mình. Chính người học trò này trở thành một bậc thầy của nhân loại, tư tưởng của ông bay cao và lan tỏa trong nhiều thế kỷ sau.

Plato (428/427-348/347 TCN) hình dung ra một xã hội lý tưởng. Nền kinh tế của nó khác với nền kinh tế mà hiện nay chúng ta đã coi là điều hiển nhiên. Và xã hội mà ông sống trên thực tế lại khác với xã hội của chúng ta. Trước hết là vào thời điểm đó không có mô hình quốc gia theo cách mà chúng ta hiểu ngày nay. Hy Lạp cổ đại là một tập hợp các thành bang như Athens, Sparta và Thebes. Người Hy Lạp gọi thành bang là polis, là nguồn gốc của từ “chính trị” (politics) của chúng ta. Bởi vậy, xã hội lý tưởng của Plato là một thành phố thu gọn hơn là một quốc gia lớn. Nó được tổ chức chặt chẽ bởi những nhà cai trị và sẽ có rất ít chỗ cho các thị trường mà thực phẩm và sức lao động được mua bán với một mức giá nào đó. Lấy sức lao động làm ví dụ. Ngày nay chúng ta nghĩ về cách chúng ta sử dụng sức lao động của mình như một sự lựa chọn: có lẽ bạn quyết định trở thành thợ sửa ống nước bởi vì bạn thích sửa chữa đồ đạc và công việc đem lại nguồn thu nhập tốt. Trong nhà nước lý tưởng của Plato, vị trí của mọi người đều đã được quyết định từ khi họ sinh ra. Plato nói, hầu hết mọi người, kể cả nô lệ, đều làm nghề nông. Họ là tầng lớp thấp nhất, với linh hồn cấu thành từ kim loại đồng. Plato xếp tầng lớp chiến binh có linh hồn cấu thành từ bạc đứng trên nông dân. Ở trên cùng là những người cai trị, một nhóm các “nhà vua - triết gia”, những người có linh hồn bằng vàng. Gần Athens, Plato thành lập Học viện nổi tiếng của mình để tạo ra những người đàn ông thông thái thích hợp cho vai trò cai trị phần còn lại của xã hội.

Plato hoàn toàn không tin tưởng vào việc theo đuổi của cải, đến mức trong nhà nước lý tưởng của ông, binh lính và nhà vua sẽ không được phép sở hữu tài sản tư nhân, đề phòng trường hợp vàng bạc và các cung điện khiến họ suy đồi. Thay vào đó, họ sống chung với nhau và chia sẻ mọi thứ, thậm chí là cả con cái của họ, những người sẽ được nuôi dưỡng chung hơn là bởi cha mẹ của họ. Plato đã sợ rằng nếu sự giàu có trở thành quá quan trọng, mọi người sẽ bắt đầu ganh đua tranh giành nó. Cuối cùng, nhà nước sẽ bị cai trị bởi những người giàu có, và người nghèo sẽ ghen tị với họ. Rốt cuộc, mọi người cãi vã và đánh lộn.

Aristotle đã tham gia vào Học viện của Plato, và trở thành con thiên nga bay bổng tiếp theo. Aristotle (384-322 TCN) là người đầu tiên cố gắng tổ chức sắp xếp kiến thức vào các lĩnh vực khác nhau: khoa học, toán học, chính trị v.v. Sự hiếu kỳ của ông trải rộng từ những câu hỏi sâu sắc về logic đến cấu tạo của mang cá. Một số điều ông nói có thể nghe kỳ dị đối với chúng ta, chẳng hạn như lời tuyên bố rằng những người có đôi tai to sẽ thích buôn chuyện, nhưng điều này không có gì đáng ngạc nhiên đối với một người đàn ông cố thâu tóm bằng tư tưởng toàn bộ thế giới quanh mình. Trong nhiều thế kỷ, các nhà tư tưởng coi ông là triết gia có thẩm quyền tối thượng và ông được biết đến đơn giản là “Nhà Triết học”.

Aristotle chỉ trích kế hoạch mà Plato lập ra cho xã hội. Thay vì hình dung ra xã hội lý tưởng, ông nghĩ về những gì đã có hiệu quả, khi tính đến sự không hoàn hảo của con người. Ông tin rằng sẽ không thực tế nếu cấm tài sản tư nhân như Plato đã đề xuất. Đúng là, ông nói, khi mọi người sở hữu của cải, họ ghen tị với tài sản của nhau và xung đột với nhau vì chúng. Tuy nhiên, nếu họ chia sẻ mọi thứ, họ có thể sẽ đấu tranh với nhau nhiều hơn nữa. Tốt hơn là để mọi người sở hữu hàng hóa của họ bởi vì sau đó họ sẽ quản lý chúng tốt hơn và sẽ có ít tranh chấp hơn về việc ai là người đóng góp nhiều nhất vào khối tài sản chung.

Nếu mọi người tạo ra của cải bằng cách sử dụng hạt giống và công cụ mà họ sở hữu, thì làm cách nào để một người nào đó có được đôi giày mới khi họ không làm ra những chiếc giày? Họ nhận được chúng từ một thợ đóng giày bằng cách trao đổi những quả ô liu của họ. Ở đây, Aristotle chiếu một tia sáng vào hạt cơ bản của vũ trụ kinh tế: sự trao đổi một món hàng này lấy một món hàng khác. Ông nói, tiền giúp việc này diễn ra. Nếu không có nó, bạn sẽ phải vác những quả ô liu đi loanh quanh để đổi lấy những đôi giày bạn cần, và bạn sẽ phải đủ may mắn để tình cờ gặp một người nào đó cung cấp giày và cần ô liu. Để dễ dàng hơn, mọi người đồng ý chỉ định một vật thể, thường là bạc hoặc vàng, làm tiền để mua và bán - để trao đổi - những thứ hữu ích. Tiền tạo ra một thanh đo lường giá trị kinh tế - cái gì đó đáng giá bao nhiêu - và cho phép giá trị được truyền từ người này sang người khác. Với tiền, bạn không cần phải tìm một người có thể cho bạn đôi giày ngay bây giờ để đổi lấy những quả ô liu của bạn; bạn có thể bán ô liu của bạn đổi lấy vài đồng tiền xu và ngày hôm sau sử dụng những đồng tiền xu đó để mua một đôi giày. Tiền xu là những mẩu được tiêu chuẩn hóa và được chỉ định là tiền. Đồng tiền đầu tiên được làm bằng electrum, một hỗn hợp tự nhiên của bạc và vàng, trong thế kỷ 6 trước Công nguyên (TCN) trong vương quốc Lydia, ngày nay là một phần của Thổ Nhĩ Kỳ. Mặc dù vậy, tiền thực sự cất cánh ở Hy Lạp cổ đại. Ngay cả các nhà vô địch Olympic cũng được vinh danh bằng tiền, nhận được 500 drachma mỗi người. Đến thế kỷ 5 TCN đã có gần 100 xưởng đúc tiền xu. Dòng chảy tiền bạc của họ đã giúp giữ cho các bánh xe trao đổi hàng hóa quay vòng.

Aristotle nhận ra rằng một khi mọi người trao đổi hàng hóa bằng cách dùng tiền, có sự khác biệt giữa công dụng của thứ gì đó (ô liu làm thực phẩm) và cái mà nó có thể được dùng để trao đổi (ô liu đổi lấy một cái giá). Ông nói rằng các hộ gia đình trồng, ăn ô liu và bán chúng để kiếm tiền để có thể có được những hàng hóa khác mà họ cần là điều hoàn toàn tự nhiên. Khi các hộ gia đình thấy rằng họ có thể kiếm tiền từ việc bán ô liu, họ có thể bắt đầu trồng chúng hoàn toàn vì lợi nhuận (sự chênh lệch giữa số tiền họ thu được từ việc bán ô liu và chi phí để trồng ô liu). Đây là thương mại: mua và bán hàng hóa để kiếm tiền. Aristotle nghi ngờ điều đó, và nghĩ rằng trao đổi vượt ra ngoài việc thu thập những gì cần thiết cho gia đình là “không tự nhiên”. Bằng cách bán ô liu để tạo ra lợi nhuận, các hộ gia đình kiếm tiền từ sự chi tiêu của người khác. Như chúng ta sẽ thấy vào phần sau của câu chuyện này, với các nhà kinh tế học hiện đại, điều này là khó hiểu bởi vì khi người mua và người bán cạnh tranh với nhau để trao đổi hàng hóa, xã hội sẽ được lợi. Tuy nhiên, trong thời đại của Aristotle, đơn giản là không có nhiều người mua và người bán cạnh tranh, điều mà dường như quá đỗi bình thường với chúng ta ngày hôm nay.

Aristotle chỉ ra rằng của cải đến từ các hoạt động kinh tế “tự nhiên” có một giới hạn bởi vì một khi có đủ để đáp ứng nhu cầu của gia đình thì sẽ không còn nhu cầu nữa. Mặt khác, không có giới hạn cho sự tích lũy của cải không tự nhiên. Bạn có thể tiếp tục bán nhiều ô liu hơn và tìm đủ loại đồ mới để bán. Điều gì ngăn cản bạn tích lũy của cải cao tới trời? Hoàn toàn không có gì cả - ngoại trừ sự mạo hiểm đối với trí tuệ và đức hạnh của bạn. Aristotle nói, “Loại tính cách xuất phát từ sự giàu có là tính cách của một kẻ ngốc lắm tiền nhiều của”.

Có một điều tồi tệ hơn việc trồng ô liu để tạo ra một đồng tiền ngày càng nhiều thêm, đó là sử dụng tiền để kiếm thêm tiền. Cũng giống như công dụng tự nhiên của ô liu là để ăn (hoặc để trao đổi lấy thứ gì đó mà hộ gia đình cần), thì công dụng tự nhiên của tiền là trong vai một phương tiện để trao đổi. Kiếm tiền bằng cách cho ai đó vay vốn để đổi lấy một mức giá (đổi lấy “lãi suất”) có lẽ là hoạt động kinh tế phi tự nhiên nhất; như chúng ta sẽ thấy trong chương tiếp theo, sự công kích của Aristotle đối với việc cho vay tiền đã ảnh hưởng đến tư duy kinh tế trong nhiều thế kỷ tiếp theo. Như vậy, đối với Aristotle, rõ ràng là đức hạnh chỉ có ở những người nông dân trung thực, chứ không phải là các chủ ngân hàng khôn ngoan.

Trong khi Plato và Aristotle viết, Hy Lạp dần xa rời tầm nhìn của họ cho nền kinh tế. Các thành bang đang trong tình trạng khủng hoảng. Athens và Sparta đã tham gia một cuộc chiến dài. Mô hình kinh tế của các nhà triết học là cách bám víu vào vinh quang quá khứ. Giải pháp của Plato là một nhà nước có kỷ luật, giải pháp của Aristotle là một hướng dẫn thiết thực để cứu xã hội khỏi quá nhiều hoạt động thương mại. Tâm trí người Hy Lạp dành khá nhiều cho tiền bạc, ngay cả khi Aristotle và Plato lên án tình yêu đối với tiền bạc. Người ta nói rằng một nhà cai trị Sparta làm nản chí người ta kiếm tiền bằng cách cho đúc tiền tệ của thành phố dưới dạng các thanh sắt nặng đến nỗi chúng phải cần bò kéo đi. Nhưng trên khắp phần lớn thế giới Hy Lạp, thương mại đã trở nên thịnh vượng. Các thành bang dầu ô liu, ngũ cốc và nhiều hàng hóa khác trên khắp vùng biển Địa Trung Hải. Sau Aristotle và Plato, dòng chảy trao đổi mậu dịch vẫn mở rộng, dẫn tới sự trỗi dậy của người học trò nổi tiếng nhất của Aristotle, Alexander Đại đế, người có quân đội càn quét khắp thế giới Địa Trung Hải và xa hơn nữa, truyền bá văn hóa Hy Lạp trong một đế chế mới rộng lớn.

Giống như tất cả các đế quốc, nền văn minh Hy Lạp vĩ đại và nền văn minh của người La Mã theo sau đó cuối cùng cũng lụi tàn, và các nhà tư tưởng mới nổi lên. Sau sự sụp đổ của Đế chế La Mã trong thế kỷ 5 sau Công nguyên, tư duy kinh tế đã được tiếp tục phát triển bởi các thầy tu Ki tô giáo ỏ khắp châu Âu, những người hăng say học tập trong các tu viện hẻo lánh của họ.

CHƯƠNG 3: Nền Kinh Tế Của Chúa

Theo Kinh Thánh, mọi người phải làm việc để sinh tồn vì đó là hậu quả của tội lỗi mà họ gây ra. Khi họ ở trong Vườn Địa đàng, cuộc sống thật dễ dàng cho Adam và Eve. Họ uống nước từ một con sông và ăn trái cây. Họ ngồi thảnh thơi cả ngày và không phải làm gì nhiều. Nhưng một ngày nọ, họ không vâng lời Chúa và Người đã đưa họ ra khỏi vườn - và từ một cuộc sống sung túc, họ rơi vào một cuộc sống đầy khó khăn. Chúa nói với Adam, “Ngươi sẽ ăn thức ăn của ngươi, bằng công sức mồ hôi của mình”. Từ đó, mọi người phải làm việc để sinh tồn. Tuy nhiên, Jesus cảnh báo rằng khi làm việc, người ta có nguy cơ phạm tội lỗi có thể khiến họ bị cấm đặt chân vào thiên đàng. Họ có thể chỉ quan tâm đến việc làm giàu. Họ có thể ghen tị với của cải của người khác. Rốt cuộc họ có thể yêu thích quần áo, đồ trang sức và tiền bạc hơn cả Chúa.

Vào những năm đầu và cuối đêm trường trung cổ, xuất hiện hai nhà tư tưởng theo Ki tô giáo, những trí tuệ vĩ đại trong thời đại của họ. Họ suy nghĩ trường kỳ và sâu sắc về ý nghĩa lời dạy của Chúa Ki tô. Nó nói gì về cách những người theo Ki tô giáo nên tham gia vào nền kinh tế như thế nào? Những năm đầu thời kỳ trung cổ là Thánh Augustine thành Hippo (354-430), một giảng sư trẻ năng động đã trưởng thành và trở thành một vị thánh nhân thông thái. Cuối thời kỳ trung cổ là Thánh Thomas Aquinas (1224/25-1274), một thầy tu người Ý sống trong thời kỳ nền văn minh thương mại mới nổi lên ở Ý. Các tác phẩm của ông đã hướng dẫn cho những người theo Ki tô giáo về cách sống trong xã hội đang thay đổi này.

Augustine được sinh ra trong Đế quốc La Mã đang hấp hối nên một chân ông vẫn còn đặt trong thế giới cổ đại, chân còn lại bước vào thế giới trung cổ đang manh nha hình thành. Sau những chuyến đi lang thang và tự vấn lương tâm dài đằng đẵng, ông đã cải đạo sang Ki tô giáo. Người Hy Lạp đã nghĩ về xã hội và nền kinh tế tại các thành bang của các vị vua, các nhà nước nhỏ với những người cai trị khôn ngoan. Augustine đã biến nó thành Thành phố của Chúa, ở trên cùng là vị trí của Chúa Ki tô, vị cứu tinh của nhân loại. Thành phố của Chúa được cai quản bởi luật pháp của con người và luật pháp của Chúa. Đó là bởi vì mọi người phải tham gia vào hoạt động bình thường hằng ngày là việc kiếm tiền. Sự giàu có là một món quà mà Chúa ban cho những người đầy tội lỗi cần nó để tồn tại. Cuộc sống tốt đẹp nhất có được bằng cách từ bỏ tài sản sở hữu, mà một số người theo Ki tô giáo đã thực hiện bằng cách sống không tiền như ẩn sĩ hoặc trong cộng đồng của các thầy tu. Nhưng trong một thế giới không hoàn hảo, mọi người phải sở hữu tài sản, và điều quan trọng là phải không yêu tài sản của mình và hiểu rằng chúng đơn giản là phương tiện để sống một cuộc sống tốt đẹp và thánh thiện.

Ý tưởng của Augustine đã giúp định hình xã hội trung cổ thay thế cho xã hội của người La Mã. Người La Mã đã tạo ra một đế chế rộng lớn. Thành phố của họ là những kỳ quan của sự tinh tế thanh lịch và kỹ thuật. Riêng Rome có 1.000 phòng tắm công cộng được cấp nước bằng máng nước. Sau khi Augustine qua đời, đế chế ấy bị lật đổ bởi quân xâm lược, và trong vài thế kỷ tiếp theo, thương mại sụp đổ. Các cộng đồng thu hẹp lại, tự trồng thực phẩm thay vì mua và bán chúng. Các thị trấn co rút lại và cầu đường của người La Mã đổ nát. Từ một đế chế đồng nhất, một sự chắp vá lộn xộn những người cai trị địa phương xuất hiện. Sợi chỉ chung là đức tin Ki tô giáo mới và giáo lý của những người như Augustine.

Một phần khác của xã hội thời trung cổ là một hệ thống kinh tế được gọi là chế độ phong kiến. Những người cai trị cần các chiến binh để ngăn chặn các đoàn quân xâm lược cưỡi ngựa. Thật là tốn kém để duy trì lực lượng chiến binh, do đó, các vị vua đã ban cho họ đất để đổi lấy lòng trung thành của họ. Các chiến binh hứa sẽ chiến đấu cho nhà vua khi ông cần họ. Từ đây, toàn bộ hệ thống sản xuất được phát triển không dựa trên tiền bạc, mà dựa trên những lời hứa được thực hiện giữa những người cai trị và kẻ bị trị. Nền kinh tế của Chúa trên thế gian được sắp xếp như một “chuỗi sinh linh”. Đây là quan điểm thời trung cổ rằng vũ trụ được tổ chức theo một thứ bậc đẳng cấp nghiêm ngặt. Ở trên cùng là Chúa và Chúa Ki tô; đại diện của Người trên Trái đất đầu tiên là giáo hoàng và sau đó là các vị vua đã giao đất cho các lãnh chúa vĩ đại, và ở dưới đáy là những nông dân làm việc trên mảnh đất ấy. Nông dân sẽ giao sản phẩm thu hoạch cho vị lãnh chúa, giữ lại một phần cho chính họ. Nền kinh tế bị chi phối bởi tôn giáo hơn là bởi lợi nhuận và giá cả như trong xã hội ngày nay; những người có uy quyền trong xã hội trung cổ là những người như Augustine và những người đi sau ông, các thầy tu và các nhà thuyết giáo có học thức.

Thomas Aquinas là một trong số họ. Ông được sinh ra trong một gia đình giàu có, nhưng tới tuổi thanh niên ông gia nhập dòng tu Đa Minh, một cộng đồng các tu sĩ sống không có tiền bạc hay tài sản. Cha mẹ ông ghét điều này và cho bắt cóc ông rồi nhốt vào một trong những lâu đài của họ. Họ thậm chí còn đưa một cô gái bán hoa vào trong phòng của ông để cố gắng làm cho ông quên đi ý định trở thành thầy tu, nhưng ông đã từ chối khuất phục trước cám dỗ. Thay vào đó, ông cầu nguyện và viết sách về các phương pháp logic. Cuối cùng thì cha mẹ ông đã phải bỏ cuộc và thả ông ra, và ông chuyển đến Paris, nơi ông tiếp tục hành trình tôn giáo và tri thức của mình.

Aquinas hình dung chuỗi sinh linh giống như tổ ong, với vai trò của các con ong được Chúa ban cho: một số con thu thập mật ong, một số con xây dựng tường của tổ ong, những con khác phục vụ ong chúa. Nền kinh tế của con người cũng giống như thế. Một số người cày cuốc ruộng đất, một số người cầu nguyện và những người khác chiến đấu cho nhà vua. Điều quan trọng là không tham lam và không ghen tị với tiền của người khác.

Đúng như Augustine đã nhận ra, trong một thế giới tội lỗi, người ta cần sở hữu đồ đạc để kiếm sống cho bản thân và gia đình của họ. Aquinas nói, không có vấn đề gì khi bán thứ gì đó để kiếm lợi nhuận miễn là những đồng tiền đó được sử dụng với mục đích tốt; nếu ai đó có nhiều tiền hơn mức họ cần thì họ phải trao một chút tiền cho người nghèo. Giả sử ai đó kiếm sống bằng cách bán thịt. Câu hỏi mà Aquinas đã cố gắng trả lời là “mức giá công bằng” cho thịt là gì? Số tiền công bằng, đúng đắn về mặt đạo đức để đòi các khách hàng là mức nào? Aquinas nói rằng đó không phải là mức giá cao nhất mà người bán có thể nhận được, có lẽ bằng cách nói dối về chất lượng thịt. Gian dối là một mối lo thường trực trong thời trung cổ: một người Anh phàn nàn rằng những người bán thịt ở London đã phải bôi máu vào mắt những con cừu thối rữa để làm cho chúng trông còn tươi. Aquinas nói rằng một mức giá thỏa thuận trong điều kiện như vậy sẽ là bất công; một mức giá công bằng là mức được tính bình thường trong một cộng đồng mà ở đó không có bất kỳ thủ đoạn hay người bán quyền lực nào thống lĩnh về thương mại.

Giống như các nhà tư tưởng đi trước, Aquinas tin rằng tội lỗi tồi tệ nhất trong kinh tế là “cho vay nặng lãi”: việc cho vay tiền đổi lấy một mức giá (nói cách khác, với một mức lãi suất). Việc cho vay nặng lãi bị kết án bởi nhà thờ thời trung cổ. Các linh mục mà lại chôn cất những người cho vay nặng lãi trong thánh địa có thể bị trục xuất khỏi nhà thờ, và những người cho vay nặng lãi sẽ bị đày xuống địa ngục cùng với những kẻ trộm cắp và giết người. Một nhà thuyết giáo kể câu chuyện của một người cho vay tiền, người này yêu cầu được chôn cất cùng với kho báu của mình. Sau khi ông ta qua đời, người vợ đào mộ ông ta lên để lấy tiền. Bà ta thấy những con quỷ đang nhét tiền xu - giờ đã biến thành những viên than rực cháy - xuống cổ họng của chồng mình.

Các nhà thờ thời trung cổ nói rằng việc cho vay tiền lấy lãi là ăn cắp vì tiền “không thể đẻ ra tiền”: nó vô sinh, và vì vậy không thể tạo ra bản sao của nó được. Có để nó thành một đống thì nó cũng không sinh sản giống như một đàn cừu được. Nếu bạn lấy hai mươi lăm đồng xu từ một người đàn ông bạn cho vay hai mươi hai xu, bạn đã lấy lại quá ba đồng xu. Ba đồng xu đúng ra thuộc về người đàn ông đó. Aquinas, giống như các nhà tu tưởng Hy Lạp cổ đại, nói rằng công dụng thích hợp của tiền là để mua và bán. Thật là sai trái khi cố gắng làm cho tiền sinh sản thông qua mánh lới tính lãi lên nó để số tiền họ nợ bạn trở nên lớn hơn. Khi tiền được sử dụng để mua và bán mọi thứ, việc mua và bán “tận dụng” tiền. Cũng giống như khi bạn sử dụng bánh mì vào mục đích ăn uống - bạn tận dụng bánh mì. (Nó khác với một ngôi nhà bởi vì bạn có thể sống trong một ngôi nhà mà không sử dụng hết nó.) Thật là sai trái khi bắt ai đó trả tiền bánh mì và trả tiền cho việc sử dụng bánh mì. Điều đó khiến họ phải trả tiền hai lần. Cũng giống như thật sai trái khi bắt ai đó trả lại số tiền bạn cho vay và bắt họ phải trả lãi cho bạn. Thậm chí tệ hơn, cho vay nặng lãi là một tội lỗi không bao giờ dừng lại. Ít nhất những kẻ giết người ngừng giết người khi chúng đang ngủ. Tội lỗi của những người cho vay tiền cứ thế tiếp diễn kể cả khi họ nằm trên giường vì các khoản nợ cứ lớn lên mãi.

Aquinas viết những điều này vào thời điểm châu Âu tái khám phá mậu dịch và thương mại. Một vài thế kỷ trước khi ông được sinh ra, dân số bắt đầu tăng và các thị trấn hồi sinh. Các sáng chế như lưỡi cày hạng nặng và các loại yên cương ngựa mới đã giúp nông dân khai thác được nhiều hơn từ đất đai. Cối xay nước bắt đầu được sử dụng tại các con sông, cung cấp năng lượng cho các cối xay nghiền ngô. Các cộng đồng đã phá vỡ sự cô lập của họ và bắt đầu giao dịch với nhau, và một lần nữa tiền đã giúp kích thích việc mua bán hàng hóa.

Tại các thành phố lớn là Venice và Florence, chuỗi sinh linh thời trung cổ bị kéo căng ra bởi những loại người mới: những thương nhân mua và bán hàng hóa vì lợi nhuận và các chủ ngân hàng quay vòng tiền. Không còn là xã hội được hợp thành chỉ bởi giới tăng lữ, những người nông dân và những người ra trận. Các cư dân thành thị đã nhen lên đám than hồng sắp tắt của thương mại và giờ thì nó bùng cháy. Các tàu chở thủy tinh và len đến châu Á mang về lụa, gia vị và đá quý. Venice đã tạo ra đế chế thương mại đầu tiên kể từ thời cổ đại.

Khi mậu dịch phát triển mạnh, tài chính cũng vậy. Tại Venice và Genoa, các thương gia đã cất giữ tiền của họ trong hầm an toàn của những người đổi tiền. Sau đó, thương nhân có thể giải quyết các khoản nợ bằng cách cho người đổi tiền chuyển tiền giữa các tài khoản của họ. Họ cũng nhận được khoản vay từ những người đổi tiền. Bằng cách này, những người đổi tiền đã biến mình thành những chủ ngân hàng đầu tiên - nhưng cũng thành những người cho vay tội lỗi. Một sự phát triển khác là giúp giải quyết các rủi ro liên quan đến việc gửi hàng hóa đắt tiền qua các vùng biển nguy hiểm. Giới thương nhân phát triển bảo hiểm: trả cho ai đó một số tiền để đổi lấy lời hứa rằng họ sẽ bồi thường cho bạn những tổn thất do vận rủi gây ra, chẳng hạn việc như con tàu của bạn bị chìm vì gặp bão.

Các thị trấn ồn ào náo nhiệt đã làm suy yếu chế độ phong kiến vì nông dân rời bỏ đồng ruộng và chuyển đến các thành phố để kiếm tiền. Sự ồn ào này cũng bắt đầu át đi những lời rao giảng truyền thống của nhà thờ. Vị thánh đỡ đầu của Milan là Ambrose, người đã yêu cầu phải xử tử những người cho vay tiền, nhưng điều đó chẳng làm được gì nhiều để ngăn cản người dân thành phố Milan trở nên giàu có bằng cách cho vay tiền. Đời sống kinh tế được điều phối nhiều hơn bởi tiền bạc và lợi nhuận, ít hơn bởi truyền thống. Ngay cả các thầy tu cũng bắt đầu thấy rằng việc cho vay tiền là cần thiết cho nền kinh tế và điều đó sẽ không xảy ra trừ phi người cho vay được trả tiền để làm vậy. Aquinas nói rằng, trên thực tế, lãi suất trên các khoản vay đôi khi có thể được chấp nhận. Người cho vay không làm gì sai trái khi tính phí khoản vay để bù đắp cho lợi nhuận họ đã từ bỏ khi họ cho vay tiền của mình. Dần dần, các giáo sĩ cũng nhận ra rằng có một sự khác biệt giữa cho vay nặng lãi - lãi suất cao làm người vay khốn đốn - và mức lãi suất hợp lý cần thiết cho các ngân hàng làm việc.

Vào đầu thế kỷ 11, giáo hoàng nói rằng các thương nhân không bao giờ có thể lên thiên đàng. Vào cuối thế kỷ sau, giáo hoàng đã phong thánh cho một thương gia tên là Homobonus. Ý tưởng cho rằng để có thể gần Chúa thì bạn phải nghèo khổ bắt đầu mất dần ảnh hưởng. Chúa Jesus nói với các môn đệ rằng họ không thể phụng sự cả Chúa lẫn tiền bạc, nhưng vào thời đại của Aquinas, các thương nhân tin rằng họ có thể. Năm 1253, một công ty Ý mở đầu các tài liệu viết tay của mình với dòng chữ “Nhân danh Chúa và lợi nhuận”. Nền kinh tế của Chúa đang hợp nhất với thế giới thương mại mới.

CHƯƠNG 4: Đi Tìm Vàng

Mùa xuân năm 1581, thương nhân kiêm nhà thám hiểm người Anh Francis Drake đã tổ chức một bữa tiệc trên con tàu của mình, tàu Hươu Hung Vàng (Golden Hind). Con tàu đã đưa Drake và thủy thủ đoàn của ông đi khắp thế giới và sống sót sau một chuyến đi nguy hiểm kéo dài ba năm. Lúc này, khi được neo đậu trên sông Thames, con tàu đã được cọ rửa và trang trí với các biểu ngữ để chuẩn bị cho sự xuất hiện của khách mời danh dự và người bảo trợ của Drake, Nữ hoàng Elizabeth đệ Nhất. Ngay sau khi nữ hoàng bước lên tàu, bà ra lệnh cho Drake quỳ xuống trước mặt bà. Một cận thần đặt một thanh kiếm mạ vàng lên lần lượt hai bên vai ông, biến Francis Drake thường dân - người sinh ra trong nghèo khó và được nuôi lớn bởi cướp biển - thành Ngài Francis, qua đó đảm bảo vị thế của ông như một biểu tượng của sự hùng mạnh về quân sự của nước Anh trên biển.

Elizabeth đã cử Drake đi thám hiểm, cùng lúc hướng ông ta đến việc tìm cách trả thù kẻ thù của bà là Vua Philip của Tây Ban Nha. Drake tinh quái đã làm hết sức mình, tấn công các tàu Tây Ban Nha trên toàn cầu. Ông trở về nhà với một kho chiến lợi phẩm khổng lồ bao gồm vàng, bạc và ngọc trai - hiện đang được hoàng gia Anh cất giữ và bảo vệ tại Tháp London.

Vào thời điểm đó, các vị quốc vương của châu Âu đã tạo ra các quốc gia hiện đại từ những vùng đất chắp vá thời trung cổ dưới sự kiểm soát của các hoàng thân và công tước. Các quốc gia cạnh tranh với nhau để trở thành kẻ mạnh nhất. Tây Ban Nha là cường quốc hàng đầu của châu Âu và giờ đây người Hà Lan cùng người Anh đang bám theo sát nút. Cũng vào thời điểm đó, các thương nhân như Drake đã đạt được sức mạnh và tầm ảnh hưởng lớn hơn bao giờ hết. Các thương nhân giúp làm giàu thêm vương quốc của họ, và các vị vua trả tiền cho chuyến đi của các thương nhân. Hành động phong tước hiệp sĩ cho Drake trên boong tàu của Nữ hoàng Elizabeth tượng trưng cho liên minh giữa tầng lớp cai trị và giới thương nhân.

Liên minh này được gọi là “chủ nghĩa trọng thương” (“mercantilism”, bắt nguồn từ tiếng Latinh để gọi thương nhân). Nó xuất hiện khi các nhà tư tưởng bắt đầu quay lưng lại với tôn giáo trung cổ để đi theo hướng lý luận và khoa học. Trong thời gian trước đó, các tác giả viết về các vấn đề kinh tế là các thầy tu khá xa rời nhịp sống thương mại hối hả, nhưng giờ đây các nhà kinh tế mới xuất hiện lại ít quan tâm đến tôn giáo hơn. Họ là những người thực tế, thường là thương nhân hay quan chức hoàng gia, viết về cách các vị vua và nữ hoàng có thể dùng để quản lý tốt nhất sự giàu có của các quốc gia của họ. Một trong số họ là thương nhân có tên Gerard de Malynes (khoảng 1586-1641) người mà Drake từng bán cho ngọc trai cướp được trong một trận chiến với người Tây Ban Nha. Nổi tiếng nhất là Thomas Mun (1571-1641), người Anh, bắt đầu sự nghiệp buôn bán khắp Địa Trung Hải từ khi còn là một thanh niên. Một lần, ở gần Corfu, ông bị người Tây Ban Nha bắt giữ và cộng sự của ông sợ rằng ông sẽ bị trói vào cọc thiêu sống. May mắn là họ xoay xở để ông được thả và Mun tiếp tục sự nghiệp để rồi trở thành một người giàu có, có tầm ảnh hưởng lớn.

Những người theo chủ nghĩa trọng thương đã theo đuổi một mớ niềm tin hỗn độn hơn là một lý thuyết kinh tế được phát triển đầy đủ. Các nhà kinh tế học ngày nay thường chế giễu họ vì không hiểu những chân lý về kinh tế cơ bản nhất. Ví dụ, bạn thực sự có ý gì khi nói rằng một quốc gia là giàu có? Một phiên bản cơ bản của chủ nghĩa trọng thương nói rằng sự giàu có là vàng bạc, vì vậy một đất nước giàu có là một nước có rất nhiều vàng bạc. Lời chỉ trích ở đây là những người theo chủ nghĩa trọng thương đã phạm phải “lỗi ngụy biện Midas”. Trong truyền thuyết Hy Lạp, thần Dionysus đã ban cho vua Midas một điều ước. Midas xin rằng mọi thứ ông ta chạm vào sẽ chuyển thành vàng; khi ông ta cố gắng ăn, thức ăn của ông ta quả thực đã trở thành vàng, và cơn đói ập đến. Câu chuyện kể trên nói với chúng ta rằng thật ngu xuẩn khi nhìn thấy sự giàu có trong những hạt vàng long lanh thay vì trong ổ bánh mì và thịt. Cuối cùng bạn có thể sẽ chết đói, hoặc như Smaug, con rồng trong tác phẩm The Hobbit (Người Hobbit) của J.R.R. Tolkien, lóa mắt khi ngồi trên một đống vàng, chẳng làm gì cả ngày ngoại trừ đếm tiền xu và phun lửa vào đám thợ săn kho báu.

Mặc dù vậy, trong nhiều thế kỷ, các nhà thám hiểm đã tìm kiếm vàng và các vua cố gắng lấp đầy kho vàng của họ. Các nhà thám hiểm đầu tiên của châu Âu, trước Drake một thế kỷ, là người Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha, và một trong số họ, Hernán Cortés, biết một hai điều về sự hấp dẫn của vàng khi ông nói, “Người Tây Ban Nha chúng ta bị mắc một chứng bệnh ở tâm hồn mà chỉ vàng mới có thể chữa khỏi được”. Họ mở cửa châu Âu đón một cơn lũ vàng từ cuối những năm 1400 khi các nhà thám hiểm của họ đi tàu qua Đại Tây Dương và phát hiện ra Tân Thế giới châu Mỹ. Ở đó họ tìm thấy những nền văn minh cổ xưa đầy vàng và bạc. Các nhà thám hiểm tấn công các thành phố, giết hại cư dân và mang kho báu trở lại Tây Ban Nha. Họ cai trị các vùng đất mới để giữ cho vàng chảy vào nước họ. Tây Ban Nha đã thu về cả núi của cải và trở thành quốc gia hùng mạnh nhất ở châu Âu. Đối với người Anh, Tây Ban Nha đã trở thành một cái gì đó giống như con rồng Smaug: một kẻ tích trữ của cải hung tợn, với một lớp da có vẻ là không thể xuyên thủng nhưng vẫn có những điểm yếu có thể bị tấn công. Những người như Drake đã kiếm sống bằng cách cố gắng xuyên thủng lớp da của Tây Ban Nha. Cuối cùng việc đó đã trở thành chiến tranh toàn diện.

Các nhà kinh tế học hiện đại chỉ trích những người theo chủ nghĩa trọng thương là bị ám ảnh bởi vàng thay vì hàng hóa mà chúng ta cần để sống. Ngày nay chúng ta đo lường mức độ giàu có của một quốc gia bằng lượng thực phẩm, quần áo và các hàng hóa khác mà các doanh nghiệp của họ sản xuất ra. Chúng ta không còn dùng vàng để trả cho các thứ. Thay vào đó, chúng ta sử dụng “tiền giấy”: tờ bảng Anh và tờ đô la mà bản thân chúng là vô giá trị. Tiền xu của chúng ta cũng được làm bằng kim loại rẻ có giá thấp hơn nhiều so với giá trị thực của đồng tiền. Tiền giấy và tiền xu có giá trị đơn giản là bởi vì tất cả chúng ta đều đồng ý rằng chúng có giá trị mà thôi. Nhưng trong thời đại của những người theo chủ nghĩa trọng thương thì vàng là phương tiện duy nhất mua được hàng hóa, và khi thương mại mở rộng, có thêm nhiều thứ hữu ích mà mọi người cần, dù là thực phẩm, đất đai hay sức lao động, phải được trả bằng vàng. Ngày nay các chính phủ có thể tạo ra tiền bằng cách in thêm tiền; trước kia, các vị vua và nữ hoàng phải tìm vàng thật để chi trả cho quân đội và xây các pháo đài cần thiết để bảo vệ biên giới của họ. Vì vậy, trong tình yêu của những người theo chủ nghĩa trọng thương đối với vàng, họ không lạc lối như đôi khi người ta vẫn nói. Các ý tưởng kinh tế liên quan mật thiết đến hoàn cảnh mà xã hội tồn tại, và từ xa xưa những hoàn cảnh đó hoàn toàn khác với hoàn cảnh của chúng ta - điều mà chúng ta dễ quên khi nhìn lại quá khứ.

Malynes đã viết một cuốn sách mang tên Luận thuyết về ảnh hưởng nguy hại của Khối thịnh vượng chung Anh (A Treatise of the Canker of England's Commonwealth) đi theo phương châm của những người theo chủ nghĩa trọng thương cho rằng đất nước cần một trữ lượng vàng lành mạnh. Đối với Malynes, căn bệnh của nền kinh tế Anh (“ảnh hưởng nguy hại” của nó) là mua quá nhiều hàng hóa nước ngoài mà số lượng hàng hóa Anh bán cho người nước ngoài lại quá ít ỏi. Người dân ở Anh mua rượu từ những người làm rượu vang ở Pháp và trả bằng vàng; họ kiếm được vàng khi họ bán len của họ cho người Pháp. Khi Anh mua nhiều hàng hóa nước ngoài và không bán nhiều hàng hóa của chính mình cho người nước ngoài, trữ lượng vàng của quốc gia hao hụt đi. Phương thuốc chữa trị của Malynes là đặt ra những hạn chế đối với dòng chảy vàng ra nước ngoài để bảo tồn trữ lượng vàng của quốc gia. Đó là những chính sách chung vào thời điểm đó; một số chính phủ, giống như chính phủ Tây Ban Nha, quy định hình phạt cho việc đem vàng và bạc ra khỏi đất nước là cái chết.

Nhưng trong cuốn sách nổi tiếng nhất của ông, Kho báu của nước Anh từ ngoại thương (England's Treasure by Foreign Trade), Mun nói rằng cách tốt nhất để nước Anh có được vàng không phải là cách hạn chế kim loại quý này chảy ra ngoài, càng không phải bằng cách lấy cắp vàng từ tàu nước ngoài của Drake, mà là bằng cách bán cho người nước ngoài càng nhiều hàng hóa càng tốt. Các nước làm tốt điều này khi họ làm ra được nhiều hàng hóa. Mục đích là để đạt được một “cán cân thương mại” dư thừa, trong đó giá trị xuất khẩu (hàng hóa đi ra) vượt quá mức nhập khẩu (hàng hóa đi vào). Từ thế kỷ 16, với những con tàu chắc chắn hơn, nhanh hơn, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Anh, Hà Lan và Pháp đã cạnh tranh để thống trị về ngoại thương nhằm cải thiện cán cân thương mại của họ. Hàng thủ công của họ đi qua các tuyến mới, vận chuyển đường, vải và vàng trên Đại Tây Dương, và bắt hàng triệu người châu Phi để bán làm nô lệ cho các chủ đồn điền ở châu Mỹ.

Chính phủ đã thực hiện các bước, được hỗ trợ bởi những người theo chủ nghĩa trọng thương, để khuyến khích xuất khẩu và ngăn cản nhập khẩu. Hàng hóa nhập khẩu phải chịu thuế, làm cho chúng đắt hơn, điều đó khiến người ta mua thêm hàng hóa sản xuất tại địa phương. Cũng có những luật “điều chỉnh chi tiêu cá nhân”, cấm các sản phẩm đắt tiền (xa xỉ). Ở nước Anh, những người khoe khoang có thể bị gông lại vì mặc lụa và xa tanh; nhiều thứ xa xỉ bất hợp pháp là hàng nhập khẩu từ nước ngoài.

Khi các nhà thám hiểm và quân đội chinh phục được các vùng đất mới, những người cai trị đã trao cho các thương nhân quyền buôn bán với các vùng lãnh thổ đó. Những chuyến đi biển rất nguy hiểm, vì vậy không cá nhân nào muốn tài trợ cho những chuyến đi đó một mình. Những người cai trị cho phép các thương nhân thành lập các công ty đặc biệt, trong đó một nhóm các nhà đầu tư đóng góp tiền và mỗi người nhận được một phần lợi nhuận. Các công ty dẫn đầu cuộc xâm nhập vào các vùng đất hải ngoại, kiếm được sự giàu có và danh tiếng cho chính bản thân họ và những người cai trị của họ. Công ty Đông Ấn Anh, được thành lập năm 1600, mà trong đó Mun là một thành viên, là một trong số những công ty đó. Công ty này trở thành một tổ chức quyền lực và giúp Anh thiết lập một đế chế ở Ấn Độ.

Bằng cách ngăn họ không nhập khẩu hàng hóa và giúp họ xuất khẩu hàng hóa của chính mình, chính phủ đã giúp các thương nhân trở nên giàu có. Các cây bút theo chủ nghĩa trọng thương cho rằng những gì tốt cho các thương nhân là tốt cho đất nước. Ở đây, chúng ta thấy các ý tưởng kinh tế đôi khi dẫn đến việc một số nhóm nhất định trong xã hội có lợi như thế nào. Bằng cách hạn chế nhập khẩu, chủ nghĩa trọng thương ưu tiên cho thương nhân hơn công nhân. Khi hàng nhập khẩu bị đánh thuế, các doanh nghiệp của đất nước kiếm được nhiều tiền hơn, nhưng những người bình thường sẽ phải trả thêm tiền cho thực phẩm và quần áo mà họ cần. Đây là một lý do khác khiến các nhà tư tưởng sau này nghĩ rằng những người theo chủ nghĩa trọng thương đã sai lầm. Trong một vài chương nữa, chúng ta sẽ gặp Adam Smith, người thường được coi là cha đẻ của kinh tế học hiện đại. Ông đã nghĩ rằng nhiệm vụ của các nhà kinh tế học là phát hiện ra những định luật khách quan về cách mà nền kinh tế hoạt động và ông nói rằng những người theo chủ nghĩa trọng thương không làm được điều này bởi vì họ chủ yếu lập luận vì lợi ích riêng của họ. Smith nói, điều tốt cho các thương nhân không phải lúc nào cũng tốt cho đất nước.

Những người theo chủ nghĩa trọng thương đã nghĩ rằng nhập khẩu là xấu, mặc dù các nhà kinh tế học ngày nay nghĩ rằng điều đó là vô lý. Vào thời kỳ đó, quan điểm là nếu Anh bán đinh cho người Hà Lan thì lợi ích của nước Anh là sự mất mát của Hà Lan (số vàng dùng để mua đinh). Nhưng nhập khẩu không phải là xấu nếu những gì người Hà Lan cần là đinh của người Anh - hoặc trứng cá muối của Nga và phô mai của Pháp. Thông thường, nhập khẩu là rất cần thiết cho sự tiến bộ kinh tế, ví dụ như nếu đinh nước ngoài bền cứng được sử dụng để đóng các toa xe cần thiết để vận chuyển thực phẩm từ nông thôn đến các thị trấn. Vì vậy, nếu Anh bán đinh cho Hà Lan thì cả Anh và Hà Lan đều thu được lợi ích: Anh kiếm tiền và Hà Lan có được những chiếc đinh rẻ tiền có chất lượng tốt.

Smith tấn công chủ nghĩa trọng thương vào cuối thế kỷ 18. Đồng thời chủ nghĩa trọng thương cũng phải chịu thêm một đòn nữa khi các thuộc địa ở châu Mỹ của Anh tan rã. Sự kiểm soát của Anh đối với các thuộc địa đã cho các thương nhân Anh một thị trường được bảo đảm để bán hàng hóa của họ, nhưng điều này đã kết thúc khi các thuộc địa nổi dậy chống lại sự cai trị của Anh và tuyên bố độc lập.

Các nhà tư tưởng như Mun đứng giữa hai thời kỳ. Ở một đầu là thời kỳ trung cổ, trong đó đời sống kinh tế mang tính địa phương và được định hình bởi tôn giáo và quan hệ cá nhân hơn là bằng tiền. Ở đầu còn lại là sự ra đời của thời đại công nghiệp, trong đó tiền là thứ cai trị và đời sống kinh tế mở rộng trên khắp các khu vực và lan ra toàn cầu. Những người theo chủ nghĩa trọng thương đã kết nối hai thời kỳ này. Họ là một trong những người đầu tiên nhấn mạnh mối quan ngại về tài nguyên và tiền bạc hơn là mối quan tâm về đạo đức, điều này đánh dấu cho nhiều suy nghĩ về kinh tế sau họ. Họ không lo lắng liệu việc theo đuổi sự giàu có có được cho phép bởi các lời dạy trong Kinh Thánh hay không. Với họ, tiền là vị thần mới. Khi những con người của thương mại trở nên quyền lực hơn, những người khác thương tiếc sự qua đời của những lối sống cũ mà trong đó những gì được coi là có giá trị không phải là thương mại và việc kiếm tiền, mà là tinh thần hiệp sĩ: danh dự và lòng dũng cảm của các hiệp sĩ và vua chúa. “Thời kỳ của tinh thần hiệp sĩ đã qua”, chính khách và nhà văn người Ireland Edmund Burke nói năm 1790. “Thời kỳ... của các nhà kinh tế học và những người tính toán đã nối ngôi; vầng hào quang của châu Âu đã bị dập tắt mãi mãi”.

CHƯƠNG 5: Phần Thưởng Của Tự Nhiên

Một buổi chiều năm 1760 tại Cung điện Versailles, Francois Quesnay (1694-1774) đang ở trong tình trạng tuyệt vọng. Người bạn và cũng là cộng sự về tri thức của ông, Hầu tước de Mirabeau, vừa xuất bản một cuốn sách khiến rất nhiều người bực bội. Với cái tên Lý thuyết về thuế (The Theory of Taxation), nó nghe có vẻ khá buồn tẻ. Tuy nhiên, nó đã khiến Mirabeau bị tống vào tù. Quesnay là bác sĩ của Madame de Pompadour, tình nhân được sủng ái của Vua Louis XV. Một vài năm trước đó, ở tuổi 60, ông (với sự giúp đỡ của Mirabeau) trở thành nhân vật hàng đầu trong một nhóm các nhà tư tưởng tụ hợp trong cung điện của Mirabeau vào mỗi thứ Ba để đàm đạo ý tưởng. Họ là “trường phái” kinh tế học đầu tiên trên thế giới. Quesnay là một nhân vật nổi tiếng trong cung điện hoàng gia và ông đã có những lời phê bình mạnh mẽ nền kinh tế Pháp theo một cách tôn trọng. Nhưng Mirabeau là một người bộp chộp: trong cuốn sách của ông, ông đã nêu lên đề xuất của Quesnay với sự phấn khởi rằng thuế đánh lên người nông dân Pháp nên được bãi bỏ và thay vào đó là người thuộc tầng lớp quý tộc bị đánh thuế. Nhà vua giận dữ và giam Mirabeau lại. Madame de Pompadour cố gắng xoa dịu vị bác sĩ đang lo lắng của mình, nói với ông rằng bà đã cố gắng trấn an nhà vua và tất cả mọi chuyện sẽ dịu đi. Quesnay buồn bã nhận xét với bà rằng bất cứ khi nào ông được trình diện trước nhà vua, tất cả những gì ông có thể nhớ là “đây là người có thể chém đầu tôi”.

Như Mirabeau đã phát hiện ra, thuế là một vấn đề tế nhị. Những nhà cai trị phải đánh thuế thần dân của họ. Còn có cách nào khác để chi trả cho cung điện của họ và cho binh sĩ bảo vệ vương quốc? Pháp trong những ngày đó đã bỏ ra rất nhiều tiền để tiến hành chiến tranh và cần nhiều hơn nữa để chi trả cho các lâu đài, tiệc chiêu đãi, đồ trang sức lộng lẫy của nhà vua và những người thuộc tầng lớp quý tộc. Mặc dù vậy, đầu tiên, vấn đề là ai phải chịu thuế, sau đó là đánh thuế họ bao nhiêu. Người cai trị phải giữ các quý tộc quyền lực ở bên cạnh mình, vì vậy việc đánh thuế họ không phải là điều dễ dàng. Nếu thuế đánh vào nông dân trở nên quá nặng, họ có thể ngừng làm việc - hoặc tệ hơn, họ có thể nổi dậy. Jean-Baptiste Colbert, bộ trưởng tài chính của nhà vua một thế kỷ trước đó, đã nghĩ về việc cân bằng này khi ông nói: “Nghệ thuật đánh thuế cốt ở chỗ vặt lông ngỗng sao cho thu được lượng lông lớn nhất mà con ngỗng kêu ít nhất có thể.” Quesnay tin rằng con ngỗng Pháp - xã hội Pháp và nền kinh tế của nó - đã bị vặt quá mức đến nỗi hầu như đã trụi hết lông. Vài thập niên sau, con ngỗng kêu rống lên và vùng lên làm một cuộc cách mạng. Tuy nhiên, bây giờ, nó không kêu nhiều, mà chỉ hấp hối. So với nước Anh, nền nông nghiệp của Pháp lạc hậu và không hiệu quả. Người nông dân đang sống trong cảnh khốn khổ. Cuộc sống ở nông thôn là một cuộc sống vất vả cực nhọc trường kỳ, khó khăn, bủa vây bởi nạn đói và cái nghèo. Quesnay đổ lỗi cho các khoản thuế cao áp đặt lên những người nông dân để chảy vào túi triều đình và những người thuộc tầng lớp quý tộc. Ngược lại, những người thuộc tầng lớp quý tộc và tăng lữ giàu có không phải trả bất kỳ khoản thuế nào cả.

Quesnay nói rằng nông nghiệp là một điều đặc biệt. Thiên nhiên, được khai thác trên các cánh đồng, sông suối và khu vực săn bắn, là nguồn tối thượng cho của cải của một quốc gia. Đây là lý do tại sao các ý tưởng của nhóm các nhà tư tưởng của Quesnay, những người đầu tiên tự gọi mình là các nhà kinh tế học, được biết tới với cái tên “chủ nghĩa trọng nông” (physiocracy, có nghĩa là “cai trị bởi tự nhiên”). Những người theo chủ nghĩa trọng nông nói rằng sự giàu có là lúa mì và lợn được sản xuất từ đất đai. Nông dân sử dụng hoa màu của họ, hoặc thu nhập từ việc bán chúng, để nuôi sống bản thân. Ngoài ra, đôi khi chúng tạo ra thặng dư có thể bán cho người khác. Quesnay tin rằng thặng dư là sức mạnh của nền kinh tế. Ông gọi nó là “sản phẩm ròng”: đó là những gì còn lại từ việc sản xuất nông nghiệp (tổng sản phẩm) sau khi nông dân đã lấy những gì họ cần. Ông nói rằng sản phẩm ròng chỉ có thể được sản xuất bởi những người ở bên cạnh thiên nhiên: bởi người đánh bắt cá trên sông, bởi người chăn cừu chăn thả gia súc trên đồng cỏ.

Những người theo chủ nghĩa trọng nông tin rằng sản phẩm ròng phát sinh từ nền kinh tế theo quy luật tự nhiên bất biến và do Chúa đưa ra. Họ nói, thật là không khôn ngoan khi một người cai trị cố gắng can thiệp vào những quy luật này, nhưng đó chính xác là những gì chế độ quân chủ Pháp đã làm. Nó đã bòn rút nông dân đến mức khô héo và làm kiệt quệ nền nông nghiệp của đất nước. Thậm chí tệ hơn, trong khi những người nông dân bị bóc lột, nhà nước đã liên tiếp trao cho các thợ thủ công và thương nhân ở các thị trấn nhiều đặc quyền. Pháp có một mê cung luật lệ được thiết kế để xây dựng ngành công nghiệp của mình, một phần lớn bằng cách bảo vệ các nhà sản xuất khỏi cạnh tranh trong và ngoài nước. Phần lớn trong đó đi theo các phương pháp được đề xuất bởi các nhà tư tưởng theo chủ nghĩa trọng thương mà chúng ta đã gặp trong chương trước.

Thương nhân và thợ thủ công bảo vệ quyền lợi của họ thông qua “phường”. Phường là những tổ chức có từ thời trung cổ, và họ thường rất mạnh. Một cái nhìn tại Paris vài thập kỷ trước đó cho thấy các phường hội sẽ đi xa đến đâu để bảo vệ vị thế của các thành viên. Vào tháng 6 năm 1696, các nhà sản xuất khuy áo của thành phố đã gây ra một cuộc náo loạn. Họ đã xông vào các hiệu may tìm kiếm các khuy áo bất hợp pháp, thứ đe dọa sự thống trị của họ trong việc buôn bán các khuy lụa. Vấn đề là một số công ty may đã bắt đầu làm ra khuy từ len. Phường sản xuất khuy than phiền và chính quyền đã ban hành lệnh cấm các khuy len. Các chủ cửa hàng ở Paris phớt lờ lệnh cấm, và thế là lính canh của các phường hội săn lùng những thợ may nổi loạn và thậm chí cố gắng bắt giữ bất cứ ai trên đường đang cài khuy len. Ngày nay thật là sửng sốt khi nghĩ rằng hiệp hội của một nhà sản xuất nào đó có quyền hạn như vậy đối với những gì người dân được phép mua. Các đặc quyền được trao cho những nhà sản xuất khuy giúp họ kiếm tiền. Những người theo chủ nghĩa trọng nông tin rằng lợi nhuận của các nhà sản xuất chỉ có thể có được do những đặc quyền được trao cho họ, không phải vì họ đã tạo ra bất kỳ thặng dư thực sự nào.

Quesnay nói các ngành công nghiệp sản xuất trên thực tế hoàn toàn không có khả năng tạo ra thặng dư. Các nhà sản xuất khuy kiếm được lợi nhuận từ việc bán các khuy chỉ vì họ tận dụng hết sức lao động và tơ tằm để tạo ra chúng. Tất cả những gì họ làm là biến đổi những gì thiên nhiên đã tạo ra. Do đó, Quesnay gọi sản xuất là hoạt động “không sinh lợi”. Điều tồi tệ hơn là việc thúc đẩy công nghiệp của nước Pháp đã lấy đi các nguồn lực từ các trang trại sản xuất hiệu quả và đưa chúng vào nhiều ngành công nghiệp không sinh lợi. Ông thậm chí còn chỉ trích nhiều hơn đối với các chủ ngân hàng và các thương nhân, những người trong quan điểm của ông là ký sinh trùng kinh tế, những người trao qua đổi lại các giá trị được tạo ra bởi những người khác mà không đóng góp bất kỳ giá trị gì của riêng mình.

Là một bác sĩ, Quesnay nhìn thấy nền kinh tế như một sinh vật khổng lồ, với thặng dư kinh tế quý giá hoạt động như nguồn cung cấp máu thiết yếu của nó. Để giải thích ý tưởng này, ông đã tạo ra “mô hình” kinh tế đầu tiên, một bức tranh được đơn giản hóa về nền kinh tế. Quesnay khéo léo tạo ra nó trong tác phẩm Bảng Kinh tế (Tableau Économique) xuất sắc của mình. Ông đã vẽ một loạt các đường dích dắc để biểu thị cho sự lưu thông các nguồn lực trong nền kinh tế. Nông dân sản xuất thặng dư, và trả nó dưới hình thức tiền thuê đất cho những người thuộc tầng lớp quý tộc sở hữu đất đai, những người này sau đó mua khuy lụa và chân nến bạc từ các thợ thủ công. Các thợ thủ công lại mua thức ăn từ nông dân, vậy là chu trình hoàn tất. Nền kinh tế là một dòng chảy thặng dư xoay vòng giữa nông dân, chủ đất và thợ thủ công. Khi thặng dư tăng lên, có nhiều nguồn lực lưu thông giữa họ hơn và nền kinh tế phát triển. Khi thặng dư giảm, nền kinh tế co lại, chính là những gì mà những người theo chủ nghĩa trọng nông tin là đã xảy ra ở Pháp.

Những đường dích dắc của Quesnay gây ấn tượng và khiến mọi người khó hiểu. Ngay khi Mirabeau tìm ra ý nghĩa của chúng, ông tuyên bố Quesnay là người thông thái nhất ở châu Âu, thông minh như Socrates. Bảng kinh tế này chắc chắn có ảnh hưởng: các nhà kinh tế học sau đó, kể cả Adam Smith, đã ca ngợi nó và cho đến ngày nay ý tưởng về việc luân chuyển tài nguyên giữa người lao động, công ty và người tiêu dùng vẫn là nền tảng cho hiểu biết của chúng ta về nền kinh tế.

Vị bác sĩ ấy có một phương thuốc chữa bệnh cho nước Pháp. Điều cốt yếu là tăng lượng thặng dư được sản xuất ra trong nền kinh tế. Mirabeau đã tự đưa mình vào một hoàn cảnh nguy hiểm khi cố gắng giải thích cách tăng lượng thặng dư như thế nào. Những đường dích dắc của Quesnay cho thấy vấn đề của việc đánh thuế nông dân. Thuế cao hơn khiến cho họ có ít hạt giống để gieo vào năm sau hơn và ít tiền hơn để chi cho việc cải thiện công cụ của họ. Nếu chỉ những người thuộc tầng lớp quý tộc có ruộng đất bị đánh thuế thì nông dân sẽ có nhiều nguồn lực hơn để canh tác đất đai. Điều này sẽ giúp tăng tổng thặng dư trong nền kinh tế. Cuối cùng, ngay cả các quý tộc cũng sẽ được hưởng lợi vì nền kinh tế sẽ trở nên lớn hơn, nhưng lập luận này của Mirabeau thành nước đổ lá khoai khi ông không may bị cầm tù.

Ngoài việc bị áp bức bởi thuế nặng, nông dân còn không được phép xuất khẩu ngô và phải tuân thủ các quy tắc về cách họ có thể bán nó cho người dân trong nước của họ. Các hạn chế này làm giảm giá mà họ kiếm được, khiến thặng dư giảm hơn nữa. Quesnay thúc giục nhà nước giải phóng nông nghiệp khỏi tất cả các vòng kiểm soát ngột ngạt và bãi bỏ các đặc quyền mà các thương nhân được hưởng. Ông tranh luận ủng hộ chính sách “laissez-faire” (“tự do phóng nhiệm”), theo nghĩa đen có nghĩa là “cho phép làm”; ngày nay chúng ta vẫn sử dụng cụm từ tiếng Pháp này để mô tả chính sách kinh tế không can thiệp của chính phủ. Những người theo chủ nghĩa trọng nông đã tạo ra được một số ảnh hưởng lên chính sách ấy, ví dụ như khi chính phủ Pháp trong thập niên 1760 đã tạo điều kiện cho nông dân bán ngô của họ dễ dàng hơn. Sau đó, trường phái tư tưởng của Quesnay bị suy yếu, và ông rút lui khỏi những câu hỏi thực tế về kinh tế học để đến với những niềm vui trừu tượng của hình học.

Quesnay đã hoàn toàn đi trước thời đại trong việc tìm kiếm quy luật để mô tả hành vi của nền kinh tế và mô tả chúng trong các mô hình; ngày nay đó là phương pháp nghiên cứu của kinh tế học. Trước đó, nền kinh tế được nhìn qua lăng kính của tôn giáo và truyền thống hoặc, khi tôn giáo bị bỏ lại (như với những người theo chủ nghĩa trọng thương), qua một màn sương mù của những ý tưởng mâu thuẫn - hầu như không có một bộ nguyên tắc rõ ràng. Trong lập luận rằng nền kinh tế thường tốt nhất khi được để tự do vận hành, ông đã dự đoán được niềm tin của nhiều nhà kinh tế học ngày nay: cách tốt nhất thường là không để chính phủ can thiệp vào nền kinh tế bằng cách áp đặt rất nhiều loại sưu cao thuế nặng chẳng hạn. Ông đã làm một cuộc cách mạng ở việc xác định nguồn gốc giá trị kinh tế một cách vững chắc trong những vật thể thực tế - lúa mì, lợn và cá - chứ không chỉ trong tiền. Nhưng bằng cách hạn chế nguồn gốc giá trị chỉ trong nông nghiệp, những người theo chủ nghĩa trọng nông đã bị mắc kẹt trong quá khứ. Họ đã viết lý thuyết của mình ngay trước khi một cuộc cách mạng kinh tế biến đổi châu Âu diễn ra, trong cuộc cách mạng đó các nhà sản xuất sẽ tạo ra giá trị bằng cách làm ra hàng hóa theo cách rẻ hơn và bằng cách phát minh ra những hàng hóa mới. Phần thưởng của tự nhiên sẽ sớm đơm hoa kết trái trong các nhà máy chứ không chỉ ở trên các con sông và cánh đồng.

Rốt cuộc, Quesnay vừa là nhà phê bình vừa là người bảo vệ hệ thống kinh tế Pháp. Ông dũng cảm tranh luận ủng hộ việc đánh thuế đối với những người thuộc tầng lớp quý tộc của Pháp: không phải trả thuế là một đặc quyền mà họ tha thiết nắm giữ và là một biểu tượng quan trọng cho địa vị của họ trong xã hội. Ông cũng rất dũng cảm khi chỉ trích các vị vua của Pháp vì đã bóp nghẹt nền kinh tế của họ. (Cuối cùng, những lo lắng của Quesnay về việc làm nhà vua bực bội không trở thành sự thật. Sau khi Mirabeau đã tự làm mất ân sủng với cuốn sách của mình, Madame de Pompadour đã giúp ông được ra khỏi tù, và Quesnay sống một cuộc đời viên mãn, thọ hơn đức vua của mình vài tháng.) Mặc dù Quesnay đã liều mạng khi động chạm đến những người giàu có và đầy quyền lực, ông vẫn trung thành với họ. Ông đã dành nhiều ngày bước dọc hành lang cung điện trước công chúng với nhà vua và Madame de Pompadour. Ông chính là một phần của “chế độ cũ” của các vị vua và nữ hoàng châu Âu và ông tin vào việc phân chia xã hội thành tầng lớp quý tộc và nông dân. Vì vậy, mặc dù ông đã kêu gọi nhà vua thay đổi cách tiếp cận đối với nền kinh tế, ông vẫn muốn một vị vua với quyền năng tuyệt đối cai trị tất cả mọi thứ. Ngay cả các nhà kinh tế học dũng cảm như ông cũng thường phải suy nghĩ có cân nhắc đến những người quyền lực nhất trong xã hội của họ.

Sau khi Quesnay qua đời, các quý tộc của Pháp đã bị cuốn trôi trong bể máu khi cuộc cách mạng dữ dội năm 1789 đập tan chế độ cũ của các vị vua, công tước và nông dân. Cho dù các nhà kinh tế học đã loại bỏ niềm tin của Quesnay về quyền lực tuyệt đối của các quốc vương, nhung ông đã dọn đường cho họ hướng tới hình thức kinh tế học hiện đại ngày nay.

CHƯƠNG 6: Bàn Tay Vô Hình

Nhà triết học người Scotland Adam Smith (1723-1790) được biết đến là người chìm đắm trong suy nghĩ đến mức đôi khi ông quên mình đang ở đâu. Bạn bè của ông có thể nhận ra ông đang nói chuyện với chính mình, môi ông mấp máy và đầu ông gật gù, như thể ông đang thử nghiệm một vài ý tưởng mới. Một buổi sáng, ông thức dậy và bắt đầu đi bộ trong khu vườn bao quanh ngôi nhà của mình ở thị trấn nhỏ Kirkcaldy của Scotland với một sự tập trung cao độ. Chỉ mặc chiếc áo choàng ngủ, ông đi lang thang trên đường, và cứ bước tiếp cho đến khi ông đi đến thị trấn tiếp theo cách đó những 12 dặm. Ông chỉ chợt lấy lại cảm nhận của mình với thế giới xung quanh nhờ tiếng chuông nhà thờ của thánh lễ Chúa Nhật vang lên.

Ông có lý do chính đáng để bị cuốn vào suy nghĩ của mình. Ông đã rời xa khỏi những sự ồn ào chốn thành thị nơi ông đã tạo dựng tên tuổi với tư cách là một nhà triết học, để viết ra tác phẩm sẽ trở thành cuốn sách được cho là nổi tiếng nhất trong lịch sử kinh tế học. Nó khiến một số người gọi ông là cha đẻ của nền kinh tế hiện đại. Được tiếp thêm nhiên liệu bởi những chuyến đi bộ đem lại hứng khởi và những đêm không ngủ, cuốn sách dày ấy được xuất bản năm 1776 và được gọi là Của cải của các quốc gia (The Wealth of Nations).

Trong cuốn sách này, Smith đặt ra một trong những câu hỏi cơ bản về kinh tế học. Lợi ích cá nhân có tương thích với một xã hội tốt không? Để hiểu ý nghĩa của điều này, hãy so sánh cơ chế của xã hội với cơ chế của một đội bóng. Rõ ràng, một đội bóng tốt cần những cầu thủ tốt. Người chơi giỏi không chỉ đơn giản là rê và sút bóng tốt. Họ biết cách chơi như một tập thể. Nếu bạn là hậu vệ, bạn sẽ ở lại và bảo vệ khung thành; nếu bạn là tiền đạo bạn di chuyển về phía trước và cố gắng ghi bàn, v.v. Trong một đội bóng tồi, một cầu thủ chỉ quan tâm đến vinh quang cá nhân: họ chỉ muốn chính họ sẽ là người ghi bàn nên họ đều tập trung đuổi theo bóng thay vì tản ra và giúp đỡ lẫn nhau. Kết quả là sự hỗn loạn trên sân cỏ và có rất ít bàn thắng.

Xã hội là một đội gồm hàng triệu con người làm việc cùng nhau và buôn bán với nhau. Điều gì làm cho nhóm đó hoạt động tốt? Nếu kinh tế học giống như bóng đá, thì điều xã hội cần là để mọi người làm việc cho tập thể, vì lợi ích của xã hội nói chung. Những gì xã hội không cần là những người chỉ quan tâm chủ yếu về bản thân họ - về lợi ích của bản thân họ - như những cầu thủ bóng đá bị ám ảnh bởi vinh quang cá nhân. Ví dụ, thay vì cố gắng kiếm càng nhiều tiền càng tốt, thợ làm bánh sẽ đảm bảo rằng hàng xóm của họ có đủ bánh mì cho bữa tối. Người bán thịt sẽ nhận trợ lý mới không phải vì họ thực sự cần trợ lý, mà bởi vì bạn bè họ cần việc làm. Mọi người sẽ đối xử tử tế với nhau và xã hội sẽ là một nơi hòa thuận.

Smith lật ngược điều này lại. Ông lập luận rằng xã hội làm tốt khi mọi người hành động theo lợi ích riêng của họ. Thay vì cố gắng luôn luôn tử tế mọi lúc, hãy làm những gì tốt nhất cho bạn và cuối cùng nhiều người hơn sẽ được hưởng lợi. Ông nói, “Chúng ta không mong đọi bữa tối của mình từ lòng nhân từ của người bán thịt, người làm bia, hay người làm bánh, mà là từ mối quan tâm của họ, từ lợi ích cá nhân”. Bạn nhận được bữa tối của mình từ thợ làm bánh không phải vì người làm bánh là những người tử tế, tốt bụng. Một số người đúng là tử tế, nhưng một số thì không phải như vậy. Quả thực không quan trọng rằng họ có phải là người tử tế hay không. Điều quan trọng là bạn nhận được bánh mì bởi vì những người làm bánh theo đuổi lợi ích riêng của họ bằng cách bán bánh mì cho bạn để kiếm tiền. Đổi lại, người làm bánh kiếm sống bởi vì bạn theo đuổi lợi ích của riêng bạn bằng cách mua bánh mì. Bạn không quan tâm đến người làm bánh và người làm bánh không quan tâm đến bạn. Có thể hai bên thậm chí không biết nhau. Mọi người đem lại cho nhau lợi ích không phải vì họ giống như Người Samari Nhân hậu muốn làm phúc giúp người lạ, mà là vì họ đang làm những gì tốt nhất cho chính bản thân mình. Cuối cùng, sự tư lợi dẫn đến sự hài hòa của xã hội thay vì sự hỗn loạn.

Có một sự khác biệt quan trọng khác giữa một đội bóng và một nền kinh tế. Một đội bóng đá cần một huấn luyện viên để tổ chức các cầu thủ của mình. Hãy hình dung là huấn luyện viên cầm tay chỉ việc cho các cầu thủ, như vốn thế dẫn họ đến các khu vực khác nhau của sân bóng, như hậu vệ ở phía sau, tiền đạo ở phía trước và cứ tiếp tục như vậy. Bàn tay hướng dẫn của huấn luyện viên đảm bảo rằng đội bóng chơi tốt. Nhưng không có ai làm điều đó trong nền kinh tế. Không ai nói với những người làm bánh rằng họ cần nướng bao nhiêu ổ bánh, nói với người làm bia nên ủ loại bia nào. Họ tự quyết định dựa trên những gì họ nghĩ sẽ khiến mình kiếm được tiền. Xã hội cũng hoạt động tốt trong hoàn cảnh như vậy. Có vẻ như là phải có bàn tay của một người quản lý tổ chức mọi thứ, nhưng khi bạn cố gắng tìm ra bàn tay này thì nó không ở đó đâu. Để mô tả tình hình, Smith đã đưa ra một trong những cụm từ nổi tiếng nhất trong kinh tế học. Ông nói xã hội như thể được hướng dẫn bởi một “bàn tay vô hình”.

Đến đây bạn có thể đang nghĩ: chính phủ thì sao? Nó không dẫn dắt nền kinh tế ư? Đúng là chính phủ có dẫn dắt, ở một mức độ nào đó. Bất kể bạn đến từ nơi nào, có khả năng là có một chính phủ làm đủ mọi thứ. Phần sau của câu chuyện này của chúng ta sẽ chỉ ra chính xác những gì mà chính phủ làm. (Như chúng ta cũng sẽ thấy, trong một số xã hội - chính phủ tiếp quản hoàn toàn và chỉ thị cho mọi người phải làm gì tại mọi thời điểm.) Mặc dù vậy, nền kinh tế của đất nước các bạn có thể có rất nhiều điểm chung với những gì mà Smith nói. Lần tới khi bạn vào cửa hàng địa phương, hãy nhìn những thùng cà chua, hộp sữa và đống báo. Làm sao mà chúng lại ở đó? Bởi vì chủ cửa hàng quyết định mua chúng để bán cho những người cần chúng như bạn. Không ai - không phải chính phủ, không phải bất cứ ai - bảo với chủ cửa hàng phải làm gì.

Thật là khó cưỡng để không nghĩ về ý tưởng bàn tay vô hình của Smith như là “tham lam là tốt”. Dù vậy, nghĩ thế là làm méo mó nó đi. Smith thấy rằng xã hội thương mại liên quan đến một loạt các phẩm chất của con người. Những người làm bánh và những người bán thịt thường đối xử tốt với người khác. Họ cảm thấy buồn khi bạn bè của họ bị bệnh hoặc mất tiền. Đó là cách mọi người phát triển nhận thức về đúng và sai. Thương mại sẽ không hoạt động tốt nếu mọi người lúc nào cũng hoàn toàn vì tư lợi: những người làm bánh sẽ nói dối về trọng lượng của các ổ bánh và người làm bia sẽ làm giảm lượng cồn trong bia của họ bằng cách thêm nước vào. Nói dối và gian lận sẽ trở nên bình thường, và sự hỗn loạn sẽ xảy ra. Chỉ khi mọi người trung thực và đáng tin cậy thì hành động tư lợi của họ mới mang lại lợi ích cho xã hội.

Vậy là, bàn tay vô hình của Smith hoạt động khi những người đàng hoàng tự do trao đổi hàng hóa với nhau - mua và bán mọi thứ. Sự thôi thúc trao đổi những món đồ đã khiến con người tách biệt với các động vật khác. Bạn không bao giờ thấy mấy con chó trao đổi xương, nhung con người làm điều đó mọi lúc. Tôi cung cấp cho bạn bánh mì để đổi lấy một lượng bia của bạn (hoặc nhiều khả năng tôi bán bánh mì của tôi lấy tiền và sau đó đi mua một ít bia). Một hệ quả của tất cả các trao đổi này là người ta chuyên làm các công việc cụ thể: “sự phân công lao động” xuất hiện. Trong một ngôi làng nhỏ, tất cả mọi người có thể ban đầu đều đã nướng bánh mì và nấu bia của riêng họ. Sau đó, một số người trở nên giỏi nướng bánh mì, có số bánh nhiều hơn họ cần và bán phần thừa đổi lấy bia. Cuối cùng họ ngừng sản xuất bia cho bản thân và chỉ cần nướng bánh mì để bán, mua tất cả các loại bia họ cần từ những người giỏi nấu bia, và tất cả đều được lợi.

Sự phân công lao động đang khoác lên mình một hình thức mới trong khi Smith viết sách. Ở Anh, các doanh nhân đã thiết lập các nhà máy được cấp năng lượng bởi các bánh xe nước lớn. Một số nhà máy cao đến vài tầng và thuê hàng trăm người lao động. Trong mỗi phòng, có các dụng cụ và công nhân để thực hiện một giai đoạn sản xuất cụ thể. Smith giải thích cách mà lao động được chuyên môn hóa cải thiện hiệu quả của nền kinh tế. Ông nói, hãy tưởng tượng bạn đang cố gắng làm ra một cái đinh ghim. Trước tiên, bạn phải kéo sợi kim loại, rồi mài một đầu cho nhọn. Sau đó, bạn sẽ phải làm đầu ghim và đính nó vào thân ghim. Cuối cùng, bạn phải đóng gói những cái ghim đã hoàn thành. Smith quan sát mười tám giai đoạn riêng biệt để tạo ra một chiếc đinh ghim. Khi chỉ có mình bạn, bạn có lẽ sẽ vật lộn để làm ra được nhiều hơn một hoặc hai chiếc đinh ghim trong một ngày. Tuy nhiên, nếu một nhóm những người như bạn cùng làm với nhau, mỗi người có thể làm một nhiệm vụ riêng biệt và thực sự trở nên giỏi việc đó, nhất là nếu bạn có các máy móc chuyên biệt cho các nhiệm vụ khác nhau. Cùng nhau, các bạn có thể sản xuất nhiều đinh ghim mỗi ngày. Khi hệ thống công việc chuyên biệt lan rộng khắp nền kinh tế, nhiều loại hàng hóa có thể được làm ra với chi phí thấp hơn .

Sự chuyên môn hóa trở nên sâu sắc hơn khi thị trường mở rộng. Trong một khu định cư chỉ có mười người không có liên kết với thế giới bên ngoài, thị trường nhỏ và có rất ít lý do để một số người chỉ dành cả ngày của mình để mài ghim, những người khác chỉ làm đầu ghim. Sẽ không cần một người làm bánh, một người làm bia và một người bán thịt riêng biệt. Khi thị trường lan rộng, làng này được kết nối với những làng khác và các công việc được chuyên môn hóa phát sinh lợi nhuận. Một thị trấn lớn cho phép sự phân công lao động thực sự phức tạp xảy ra, ở đó kiến trúc sư và người chỉnh đàn piano, những người sản xuất dây thừng và những người đào mộ đều có thể kiếm sống. Tất cả những điều này xảy ra thông qua bàn tay vô hình khi mọi người mua và bán nhiều thứ với nhau.

Smith nói nó giúp ích cho mọi người, ngay cả những người nghèo nhất trong xã hội. Việc sản xuất áo sơ mi rẻ tiền của một người lao động phụ thuộc vào nỗ lực của nhiều người và máy móc thực hiện các công việc chuyên biệt: người xe sợi tạo sợi chỉ, thợ dệt tạo ra vải và thợ may khâu khuy cài. Sau đó, hãy nghĩ đến những người đã chặt gỗ để tạo ra khung dệt mà trên đó vải được dệt và các thợ mỏ đào sắt để làm ra những cái đinh của con tàu mà trên đó những chiếc áo thành phẩm được vận chuyển. Công sức của hàng ngàn người đã đi vào chiếc áo sơ mi. Hành động của họ cùng nhau tạo thành một cơ chế xã hội rộng lớn, mỗi phần chuyển động cùng với những phần khác giống như những bộ phận của một chiếc đồng hồ, để đưa chiếc áo sơ mi lên cơ thể của người lao động chính xác vào lúc họ muốn.

Smith cũng mang đến một sự hiểu biết mới về của cải. Những người theo chủ nghĩa trọng nông nghĩ rằng của cải là những gì mọc lên từ trong lòng đất, còn đối với những người theo chủ nghĩa trọng thương, của cải là vàng. Với Smith, của cải của một quốc gia là toàn bộ số lượng hàng hóa hữu ích - lúa mì, bia, áo sơ mi, sách - mà nền kinh tế của một quốc gia sản xuất cho người dân. Đây là cách các nhà kinh tế học ngày nay nghĩ về nó. Thu nhập của một quốc gia (“thu nhập quốc dân” của quốc gia đó) là tổng giá trị của tất cả các hàng hóa mà hoạt động kinh doanh của một quốc gia làm ra. Smith nhận ra rằng điểm cốt yếu của nền kinh tế là cung cấp hàng hóa cho mọi người tiêu thụ. Ngược lại, những người theo chủ nghĩa trọng thương không quan tâm đến lợi ích người dân có được khi tiếp cận hàng hóa. Điều quan trọng đối với họ là sản xuất hàng hóa bán cho người nước ngoài để đổi lấy vàng; sự sẵn có của nhiều hàng hóa, kể cả hàng nhập khẩu, thậm chí có thể là một điều xấu nếu chi tiêu cho chúng dẫn đến một dòng chảy vàng ra khỏi đất nước.

Smith đã có một tầm nhìn về một nền kinh tế mới mà lúc đó đang được cho ra đời, một nền kinh tế dựa trên sự phân công lao động và làm lợi cho bản thân. Ông đã được hoan nghênh nhu một nhà hiền triết, thường là bởi những người tin rằng thị trường nên cai trị trên tất cả mọi điều khác, rằng các chính phủ nên làm càng ít càng tốt và các đơn vị kinh doanh nên làm những gì họ thích. Hai trăm năm sau khi Của cải của các quốc gia được xuất bản, Tổng thống Mỹ Ronald Reagan đã ủng hộ những nguyên tắc này, lấy Smith làm nguồn cảm hứng của ông. Một số quan chức Nhà Trắng của ông thậm chí còn đeo cà vạt có hình chân dung của Smith.

Nhung Smith có lẽ không cảm thấy hãnh diện vì điều này. Lý do đầu tiên, ông ủng hộ vai trò của thị trường nhu là một cuộc tấn công vào hệ thống những người theo chủ nghĩa trọng thương thời đó đang cai trị châu Âu với nhiều hạn chế đối với việc mua bán. Ông muốn hệ thống được tháo dỡ, nhung ông vẫn tin rằng chính phủ có vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Ngoài ra, đằng sau âm hưởng hòa hợp của những người đàng hoàng theo đuổi lợi ích cho bản thân, Smith nghe thấy những hợp âm xung đột. Việc phân công lao động làm cho nhiệm vụ của mỗi công nhân trở nên đơn giản. Mặc dù nó gia tăng sản xuất, nhung nó lại khiến cho người lao động trở nên “ngu ngốc và thiếu hiểu biết”. Ngoài ra, tất cả của cải mới được chia ra cho các công nhân và người sử dụng lao động của họ như thế nào? Nền kinh tế mới có tiềm ẩn cả xung đột và hài hòa; các nhà kinh tế học đi sau Smith lần lượt nhấn mạnh một trong hai điều này hơn điều còn lại.

CHƯƠNG 7: Ngô Gặp Sắt

Nhà sử học và nhà du hành người Pháp Alexis de Tocqueville đã rất ngạc nhiên trước những dấu hiệu của một xã hội mới mà ông đã nhìn thấy khi đến thăm Manchester vào những năm 1830. Các nhà máy cao vút phun khói và bồ hóng lên đường phố và nhà cửa. Từ mọi phía, ông nghe thấy những âm thanh của công nghiệp: “bánh xe trong các máy móc răng rắc, tiếng rít của hơi nước từ nồi hơi” và “nhịp đập đều đặn của khung dệt”. Các nhà máy như những nhà máy ở Manchester đã biến đổi nền kinh tế của Anh trong thế kỷ 19. Chủ nhà máy đã mua các công cụ và máy móc cần thiết để sản xuất hàng hóa - vải, thủy tinh và dao nĩa - và trả lương cho những công nhân kéo đến hằng ngày từ những khu nhà lân cận. Hàng hóa được sản xuất với chi phí thấp hơn và những hàng hóa mới được sáng chế ra. Đàn ông, phụ nữ và trẻ em rời các nông trại và chuyển đến các thị trấn đang mở rộng. Ở đó, họ làm việc cần cù cùng với máy móc chạy bằng hơi nước và không còn bị cai quản bởi mặt trời mọc và lặn trên cánh đồng nữa, thay vào đó là bởi đồng hồ và lịch trình của những người thuê họ. Những thay đổi ấy sâu sắc đến nỗi sau này chúng được gọi là cuộc Cách mạng Công nghiệp.

Ngoài thị trấn là vùng nông thôn, nơi trồng sản lượng lúa mì cần thiết để nuôi sống công nhân nhà máy. Nông nghiệp từ lâu đã là xương sống của nền kinh tế, và các địa chủ giàu có mạnh mẽ là nhờ đó. Trong quá khứ, đất đai được phân chia theo phong tục cũ của làng xóm. Mặc dù vậy, từng chút một, địa chủ quây các khu đất lại để tạo ra các trang trại lớn, rồi những người nông dân và người chăn cừu trong làng trở thành những người lao động được thuê và trả lương để làm việc trên các khu đất. Những người nông dân tư bản sử dụng lao động và sản xuất hoa màu để kiếm lợi nhuận, chứ không phải để tiêu thụ. Các phương pháp canh tác mới đã cho phép tạo ra một lượng thức ăn lớn hơn để nuôi sống dân số ngày càng tăng ở các thành phố. Sau đó, như Manchester và các thị trấn tương tự nó được lấp đầy bởi các kho chứa và nhà máy, cơ sở của sự giàu có của đất nước dịch chuyển từ nông nghiệp sang công nghiệp. Mọi người bắt đầu xây dựng cơ ngơi bằng cách đầu tư vào nền kinh tế công nghiệp. Một trong số họ là David Ricardo (1772- 1823), một nhà môi giới chứng khoán hàng đầu của Anh (một người giao dịch trên thị trường chứng khoán). Sau khi làm bản thân mình trở thành một người giàu có, ông đã quay sang kinh tế học, thể hiện sức mạnh logic chưa từng thấy ở một nhà kinh tế học trước đây.

Vào thế kỷ 18, các bé trai từ những gia đình khá giả đã được dạy kèm bằng tiếng Hy Lạp và tiếng Latinh trước khi vào đại học. Ricardo trẻ tuổi không như vậy. Cha ông, một doanh nhân Do Thái thành công, tin rằng một nền giáo dục thực tế quan trọng hơn, vậy nên ở tuổi 14, Ricardo được gửi đến làm việc trên thị trường chứng khoán. Ông rất giỏi trong công việc và kiếm được nhiều tiền. Sau đó, ông đã cho chính phủ Anh vay tiền để tiến hành chiến tranh với Napoléon. Một trong những thỏa thuận của ông thực ra là một cuộc đặt cược vào kết quả của Trận Waterloo năm 1815. Bằng cách cho chính phủ vay, Ricardo gặp một rủi ro rất lớn: nếu người Anh bị đánh bại, ông sẽ mất rất nhiều tiền. Người bạn và là nhà kinh tế học đồng nghiệp của Ricardo, Thomas Malthus, người mà chúng ta sẽ gặp sớm thôi, có một khoản tiền nhỏ trong khoản cho vay đó. Malthus hoảng hốt, và viết cho Ricardo để yêu cầu ông hãy bỏ phần của Malthus ra. Tuy nhiên, Ricardo đã giữ vững tư tưởng và bám trụ với phần cho vay của chính mình. Khi tin tức chiến thắng của Anh đến, ông trở thành một trong những người giàu nhất nước Anh chỉ qua một đêm.

Ricardo tình cờ gặp gỡ kinh tế học trong một thư viện, nơi ông phát hiện ra cuốn Của cải của các quốc gia của Adam Smith. Hóa ra đó là cuốn sách quan trọng nhất mà ông từng đọc, và truyền cảm hứng cho ông áp dụng trí tuệ phi thường của mình để phân tích nền kinh tế vào thời điểm các nhà tư bản mới cạnh tranh quyền lực với các quý tộc địa chủ cũ. Câu hỏi đặt ra là của cải ngày một tăng của đất nước được phân chia giữa các địa chủ, các nhà tư bản và số lượng công nhân đông đảo như thế nào. Mặc dù Smith chỉ ra cách thị trường mang lại sự thịnh vượng, ông cũng phát hiện ra các chỉ dấu xung đột. Những điều này trở nên đáng chú ý hơn vào đầu thế kỷ 19 khi người lao động trở nên giận dữ về giá lương thực cao.

Một số người nghĩ rằng giá lương thực cao là do giá thuê đất trả cho các địa chủ cao, làm tăng chi phí của nông dân. Ricardo không đồng ý, khẳng định điều ngược lại: giá lương thực cao khiến giá thuê cao. Ricardo tin rằng các địa chủ đã nhận phần lớn nhất trong của cải quốc gia trong khi tất cả những người khác phải trả giá vì giá thực phẩm quá đắt. Giảm giá thuê đất sẽ không giúp ích gì trong việc khắc phục sự mất cân đối.

Để giải thích logic của mình, Ricardo đề nghị chúng ta nghĩ về nền kinh tế như một trang trại khổng lồ sản xuất ngũ cốc. Địa chủ cho nông dân tư bản thuê đất. Người nông dân thuê công nhân đào đất và gieo hạt, rồi bán những gì họ sản xuất. Khi dân số tăng lên, nhu cầu về ngũ cốc nhiều hơn. Nguồn cung đất đai thiếu thốn nên để trồng nhiều ngũ cốc hơn nữa, nông dân đành phải trồng ngũ cốc ở những vùng đất ít màu mỡ. Khó sản xuất được ngũ cốc hơn do đó giá của nó tăng lên. Nông dân trên mảnh đất ít màu mỡ nhất cần rất nhiều công nhân để sản xuất một giạ ngũ cốc, vì vậy họ thu được ít lợi nhuận còn lại sau khi trả lương cho công nhân. Bạn có thể nghĩ rằng nông dân trên mảnh đất màu mỡ hơn sẽ có thành quả với lợi nhuận cao hơn bởi vì họ có thể sản xuất một giạ ngũ cốc với ít công nhân hơn. Trên thực tế, địa chủ mới là người có lợi vì nông dân cạnh tranh nhau để sử dụng đất: nếu nông dân kiếm lợi nhuận cao vì họ ở trên mảnh đất màu mỡ thì những nông dân khác sẽ trả tiền thuê đất cao hơn để thuê được mảnh đất đó. Do đó, giá ngũ cốc cao làm tăng tiền thuê đất mà địa chủ thu được, chứ không phải làm tăng lợi nhuận thu được của các nông dân tư bản. Còn những nhà tư bản sở hữu nhà máy ở các thị trấn thì sao? Lợi nhuận của họ cũng giảm vì giá ngũ cốc cao làm cho bánh mì đắt hơn và do đó họ phải trả lương cao hơn để đảm bảo cuộc sống của công nhân. Đối với người lao động, họ tiêu tốn nhiều tiền vào thực phẩm hơn vì giá ngũ cốc cao. Do đó Ricardo kết luận rằng “lợi ích của địa chủ luôn đi ngược lại lợi ích của mọi tầng lớp khác trong cộng đồng”.

Ricardo nói, sức mạnh của các địa chủ kéo nền kinh tế đi xuống. Khi các nhà tư bản xây dựng các nhà máy và thuê công nhân để chế tạo và trồng trọt mọi thứ, họ tăng hoạt động sản xuất trong nền kinh tế. Nhưng với lợi nhuận thấp hơn, các nhà tư bản chi tiêu ít hơn và việc tạo ra của cải sẽ chậm lại. Các địa chủ trở nên giàu có đơn giản chỉ bằng cách thu tiền thuê đất. Thay vì đầu tư thu nhập của họ như các nhà tư bản, họ tiêu thụ nó vào người giúp việc và quản gia, vào thư viện cho biệt thự của họ, có lẽ tiêu vào cả các cuộc thám hiểm đến vùng nhiệt đới để sưu tầm cây cối cho khu vườn của họ, không có việc nào góp phần vào sự giàu có lâu dài của đất nước.

Trong thời đại của Ricardo, sự mất cân đối đã càng nghiêng về phía các địa chủ hơn nữa vì Anh có các luật cấm ngũ cốc nước ngoài giá rẻ. Chúng được gọi là Luật Ngô, và chúng đã ngăn nước Anh nhập khẩu thêm ngũ cốc cần thiết để nuôi sống dân số ngày càng tăng của nó. Kết quả là giá ngũ cốc còn cao hơn nữa. Lập luận của Ricardo cho thấy rằng luật pháp đã giúp tăng tiền thuê đất của địa chủ, làm teo nhỏ lợi nhuận của các nhà tư bản và làm công nhân nghèo đi. Vào năm 1819, một cuộc biểu tình được tổ chức tại các Cánh đồng Thánh Peter ở thành phố Manchester yêu cầu quyền bỏ phiếu cho tất cả mọi người và bãi bỏ Luật Ngô. Cuộc biểu tình biến thành một cuộc tắm máu khi những người lính bắn vào đám đông, giết chết nhiều người và làm bị thương hàng trăm người. Được ví với Trận Waterloo, sự kiện này được gọi là vụ thảm sát Peterloo.

Cùng năm đó, Ricardo đã trở thành một thành viên của nghị viện. Ở đó, ông đưa ra giải pháp của mình cho các vấn đề của đất nước: loại bỏ Luật Ngô. Nó sẽ giúp làm cho nước Anh trở thành “quốc gia hạnh phúc nhất thế giới”, ông nói. Đề xuất của ông như nước đổ lá khoai. Mọi người không quen nghe các lập luận dựa trên phân tích kinh tế học chặt chẽ. Đối với nhiều người, chúng có vẻ khá xa rời thực tế. Một thành viên khác của nghị viện nói rằng Ricardo đã “lập luận như thể ông ta đến từ một hành tinh khác”. (Ngày nay người ta vẫn còn càu nhàu về các nhà kinh tế học vì cùng một lý do đó.) Cuối cùng ông đã giành được phần thắng trong tranh luận và nước Anh đã bãi bỏ Luật Ngô - nhưng chỉ từ nửa sau thế kỷ 19, nhiều thập kỷ sau khi Ricardo qua đời.

Theo Ricardo, điều gì sẽ xảy ra nếu Luật Ngô được loại bỏ? Ngũ cốc nước ngoài giá rẻ sẽ tràn vào. Người lao động sẽ không phải vật lộn với giá lương thực quá cao. Các nhà tư bản có thể trả lương thấp hơn, bởi vì công nhân của họ sẽ không cần phải chi quá nhiều vào thực phẩm. Lợi nhuận của các nhà tư bản sẽ tăng lên và họ sẽ bắt đầu đầu tư trở lại. Sự tạo ra của cải sẽ tăng tốc.

Nếu không có Luật Ngô, đất nước sẽ mua ngũ cốc nước ngoài giá rẻ và sản xuất ít ngũ cốc của riêng mình hơn. Ricardo cho biết việc trồng tất cả ngũ cốc của mình không phải lúc nào cũng hợp lý. Một quốc gia có thể làm ra những thứ khác - vải và sắt trong các nhà máy - để bán cho người nước ngoài đổi lấy ngũ cốc của họ. Nếu Nga có thể sản xuất ngũ cốc rẻ hơn Anh và Anh có thể sản xuất sắt rẻ hơn Nga, thì ta dễ dàng nhận thấy rằng cả hai nước đều có lợi khi nước Anh chỉ sản xuất sắt, Nga chỉ trồng ngũ cốc và hai nước sau đó trao đổi sắt lấy ngũ cốc.

Lập luận thông minh của Ricardo đã tiến thêm một bước nữa. Cả hai nước đều có thể đạt được lợi ích từ giao thương, ngay cả khi một trong hai sản xuất cả ngũ cốc và sắt tốt hơn. Để hiểu logic của ông ấy, hãy tưởng tượng rằng bạn và một người bạn được giao việc vặt để làm: di chuyển một số hộp nặng từ ga ra và quét nhà. Bạn có thể di chuyển hộp nhanh hơn bạn của bạn. Bạn cũng nhanh hơn trong việc quét nhà. Vậy bạn có nên quét nhà và di chuyển hộp không? Không cần thiết. Bằng cách quét nhà, bạn đã từ bỏ việc nhanh chóng di chuyển các hộp. Tuy nhiên, bạn của bạn khi quét một mét sàn có thể không bỏ phí quá nhiều hộp có thể di chuyển như bạn. Có lẽ trong thời gian bạn của bạn phải quét một mét sàn, cô ấy có thể di chuyển hai hộp. Trong thời gian bạn phải quét một mét sàn, bạn có thể di chuyển năm hộp. Nói một cách tương đối, bạn của bạn có lợi thế hơn bạn trong việc quét nhà. Cô ấy có một “lợi thế so sánh” trong việc quét nhà ngay cả khi ở phương diện tuyệt đối cô ấy làm tệ hơn trong việc đó. Cùng nhau, các bạn sẽ hoàn thành công việc nhanh nhất nếu bạn tập trung vào di chuyển hộp, còn bạn của bạn tập trung vào việc quét nhà.

Logic tương tự ngụ ý rằng nếu nước Anh có lợi thế so sánh về sắt và Nga có lợi thế so sánh về ngũ cốc, thì nước Anh chỉ nên sản xuất sắt và nhập ngũ cốc từ Nga, ngược lại Nga chỉ nên trồng ngũ cốc và nhập khẩu sắt từ Anh. Ý tưởng này rất có giá trị bởi vì mỗi quốc gia đều có lợi thế so sánh trong một cái gì đó và vì vậy mọi quốc gia đều có tiềm năng đạt được lợi ích bằng cách chuyên môn hóa và thương mại. Sẽ tốt hơn cho các quốc gia khi họ mở biên giới chào đón mậu dịch nước ngoài hơn là cố gắng tự cung tự cấp. Mặc dù một vài nhà kinh tế học đã phản biện nó (xem Chương 12), ý tưởng về lợi thế so sánh của Ricardo đã trở thành một trong những nguyên tắc được ủng hộ nhiều nhất của các nhà kinh tế học.

Ricardo được ca ngợi vì đưa ra một tiêu chuẩn mới về lý luận cho kinh tế học. Nhà văn người Anh thế kỷ 19 Thomas de Quincey đã chuyển sang nghiên cứu kinh tế học sau khi phát hiện ra rằng việc tiêu thụ thuốc phiện đã khiến ông không thể giải quyết được khối lượng nghiên cứu toán học và triết học thông thường của mình. Ông từng hoàn toàn không ấn tượng với các tác phẩm của các nhà kinh tế học. Ông nói rằng bất cứ ai có một chút đầu óc sẽ bóp cổ các nhà kinh tế học nông nổi và “tán cái hình nấm mốc của họ thành bột bằng cái quạt của một quý cô”. Sau đó, ai đó đã cho ông mượn một cuốn sách của Ricardo và trước khi kết thúc chương đầu tiên, ông đã thốt lên “Ông thật là tuyệt vòi!” Phong cách suy nghĩ của Ricardo là bắt đầu từ một điểm khởi đầu đơn giản - mảnh đất có độ màu mỡ khác nhau, chẳng hạn - và xem nó dẫn tới đâu, trong lúc đó không rời khỏi con đường của logic nghiêm ngặt. De Quincey ca ngợi ông vì sử dụng logic để tìm ra các định luật kinh tế học, các tia sáng trong sự hỗn loạn của các sự kiện và lịch sử. Nhiều điểm khởi đầu của Ricardo đã bị loại bỏ bởi các nhà kinh tế học sau này, nhưng phương pháp xây dựng một chuỗi dài nguyên nhân và hệ quả của ông trở thành phương pháp của kinh tế học. Bạn bè của ông thường nói rằng ông không quan tâm nhiều đến việc thắng cuộc trong tranh luận, chỉ quan tâm đến việc sử dụng lý trí để tìm ra sự thật, ngay cả khi sự thật đi ngược lại lợi ích của chính ông. Năm 1814, ông đã mua một bất động sản rộng 5.000 mẫu Anh, từ đó ông kiếm được một khoản thu nhập khá lớn. Ricardo đã trở thành một địa chủ. Nhưng vị trí đó không ngăn cản ông tranh luận không mệt mỏi cho mậu dịch tự do - thứ sẽ đe dọa tài sản ông kiếm được từ đất đai của mình, nhưng cũng là điều mà nguyên tắc kinh tế học của ông đã chứng minh là đúng.

CHƯƠNG 8: Một Thế Giới Lý Tưởng

Đôi khi người ta nói rằng người nghèo xứng đáng bị như vậy: họ nghèo đơn giản là vì họ lười biếng hoặc xấu xa. Nhưng vào thế kỷ 19, nhà văn Victor Hugo, trong cuốn sách nổi tiếng nhất của ông, Những người khốn khổ (Les Misérables), kể cho chúng ta nghe về Fantine, người sau khi bị sa thải khỏi nhà máy, đã không còn cách nào khác, phải bán răng cửa của cô ấy để có tiền nuôi con gái mình. Fantine không lười biếng hay xấu xa. Cô ấy là nạn nhân của một nền kinh tế tàn nhẫn, quan tâm đến lợi nhuận nhiều hơn là con người. Vào thời điểm đó mọi người đã bắt đầu đặt câu hỏi về quan điểm cho rằng người nghèo phải chịu trách nhiệm cho những bất hạnh của chính họ, và một số người nói rằng họ không nên phải chịu đựng cảnh nghèo khó nữa.

Cuộc Cách mạng Công nghiệp đã làm cho một số người giàu có, nhưng nhiều người vẫn tiếp tục sống trong nghèo đói. Mọi người đổ về các thành phố nơi điều kiện sống rất nghiệt ngã. Có hàng ngàn người như Fantine. Trẻ em bị tê liệt bởi những giờ làm việc dài trong nhà máy và bệnh tật ở khắp mọi nơi. Ở Anh, những người nghèo nhất có thể đến “trại tế bần” nơi họ được cho ăn và ngủ, nếu họ có thể chịu được những điều kiện khắc nghiệt.

Chúng ta đã gặp Adam Smith và David Ricardo, những người đã nói rằng thương mại và cạnh tranh dẫn đến sự thịnh vượng. Họ biết rằng kiếm tiền không phải lúc nào cũng là tốt, nhưng trên tổng thể, họ tin rằng chủ nghĩa tư bản có nghĩa là tiến bộ. Một nhóm các nhà tư tưởng khác hoàn toàn thất vọng về xã hội xung quanh họ. Họ nhìn vào sự nghèo khổ của các thành phố - những đứa trẻ gầy gò, mù chữ và những người lao động tiêu những đồng xu cuối cùng của họ vào bia rượu để tạm quên đi nỗi buồn - và nghĩ rằng không thể được cứu chữa chủ nghĩa tư bản. Chỉ có một xã hội hoàn toàn mới mới cứu được nhân loại.

Một trong những nhà tư tưởng này là Charles Fourier (1772-1837), một người Pháp đã trải qua một cuộc sống cô đơn và tẻ nhạt với công việc thư ký. Bù lại cho cuộc sống cô đơn và tẻ nhạt đó, ông đã tuôn ra những tác phẩm lập dị với những tiêu đề kỳ lạ như Học thuyết về bốn chuyển động và về những số phận phổ quát. Fourier lên án toàn bộ nền văn minh châu Âu. Ông nghĩ rằng xã hội của các nhà máy và việc kiếm tiền là tàn bạo và vô nhân đạo. Hãy nghĩ lại về nhà máy đinh ghim của Adam Smith, nơi mỗi người thực hiện một nhiệm vụ nhỏ. Nhiều cái đinh ghim được làm ra, nhưng thật là buồn chán khi dành mỗi ngày chỉ để ghè chân ghim! Xã hội thương mại cũng khiến mọi người thù địch với nhau. Người bán kính hy vọng một cơn mưa đá sẽ đập vỡ cửa sổ của mọi người để họ có thể bán thêm kính. Bên cạnh đó, trong xã hội thương mại, người giàu có và quyền lực làm mọi thứ có thể để bảo vệ địa vị của họ và cuối cùng chà đạp lên người nghèo.

Fourier đã đề xuất một xã hội mới. Ông gọi đó là một hệ thống hài hòa. Ông tưởng tượng mọi người sống trong các cộng đồng nhỏ gọi là “phalanstery”. Phalanstery sẽ là một tòa nhà hình chữ nhật có chứa các xưởng chế tạo, thư viện, thậm chí cả một nhà hát opera. Đây sẽ là nơi bạn có thể theo đuổi niềm đam mê của mình hết mức. Fourier nói về những đam mê quen thuộc như tình bạn, tham vọng và tình yêu với thức ăn và âm nhạc. Ngoài ra còn có niềm đam mê của “con bướm”, tình yêu di chuyển giữa rất nhiều hoạt động khác nhau, và thậm chí là tình yêu của “thành viên băng đảng”, một sự thích thú về âm mưu và mưu đồ. Fourier nói các niềm đam mê có thể kết hợp để tạo ra 810 loại tính cách.

Trong phalanstery, các niềm đam mê sẽ được tổ chức một cách cẩn thận. Mỗi ngày mọi người sẽ bắt tay vào làm việc theo nhóm với những người có những niềm đam mê khác nhau có ích cho công việc họ phải thực hiện. Có những nhóm trồng hoa hồng, một số chăn gà, những người khác sáng tác opera. Hơn nữa, mỗi người có thể thuộc về hàng tá nhóm khác nhau. Thay vì dành mỗi ngày càng trở nên chán ngán cực độ vào việc mài chân ghim, bạn sẽ có thể làm bất cứ điều gì mà mình thích và thực hiện tất cả niềm đam mê của bạn. Tuy nhiên, mọi người sẽ kiếm tiền như thế nào? Thay vì được trả tiền lương, như ở chủ nghĩa tư bản, mọi người sẽ được chia một phần lợi nhuận mà phalanstery làm ra.

Fourier ở nhà vào buổi trưa mỗi ngày đợi ai đó gọi và cho ông tiền để thiết lập phalanstery của mình. Không ai đến cho ông tiền cả. Thế giới mới của ông chỉ mãi là một hình ảnh tuyệt vời trong tâm trí ông. Ông viết rằng sau khi thành lập phalanstery, mọi người sẽ mọc đuôi với đôi mắt ở cuối cái đuôi, sáu mặt trăng sẽ xuất hiện và nước biển sẽ biến thành nước chanh. Động vật hoang dã sẽ kết bạn với con người: “phản- hổ” thân thiện sẽ đưa chúng ta từ nơi này đến nơi khác trên lưng chúng. Tất cả điều này là căn cứ tuyệt vời cho những người nói rằng Fourier là một kẻ điên. Tuy nhiên, ông đã đặt ra câu hỏi về công việc mà kinh tế học phổ biến hầu như không đề cập tới. Một khi chúng ta có thức ăn và nơi trú ẩn, làm thế nào chúng ta có thể tìm được công việc tận dụng tất cả các phần trong tính cách của chúng ta? Có lẽ, xu hướng ngày nay, có các cố vấn nghề nghiệp trong các trường học giúp sinh viên chọn các công việc phù hợp với kỹ năng và sở thích của họ, là một nỗ lực trả lời câu hỏi đó.

Giống như Fourier, người con xứ Wales Robert Owen (1771-1858) nghĩ rằng việc tạo ra các cộng đồng mới sẽ cứu rỗi nhân loại. Tuy nhiên, Owen khác xa Fourier. Ông đã gặp may trong nền kinh tế công nghiệp non trẻ của Anh, sử dụng động cơ hơi nước mới lạ để cung cấp năng lượng cho máy móc trong các nhà máy kéo sợi bông của mình. Ông đã vươn lên từ vị trí trợ lý cửa hàng để trở thành nhà công nghiệp nổi tiếng và đã giao lưu với tất cả mọi người từ các công nhân nhà máy đến những vị công tước. Ông tự hào về việc giao lưu với mọi kiểu người. Điều này đã truyền cảm hứng cho ý tưởng chính trong các bài luận của ông, Quan điểm mới về xã hội (A New View of Society). Owen tin rằng tính cách của mọi người là sản phẩm của môi trường nơi họ sống. Người ta xấu vì họ đến từ những nơi có điều kiện sống xấu. Nếu bạn muốn có một xã hội tốt, bạn phải thiết lập các điều kiện thích hợp. Trong một môi trường không có sự cạnh tranh khốc liệt của chủ nghĩa tư bản, người nghèo có thể trở thành người tốt và hạnh phúc. Owen đã có kế hoạch tạo ra môi trường hoàn hảo.

Ông ta đã kiếm đủ tiền để xây dựng một ngôi làng “kiểu mẫu”, một thử nghiệm trong việc tạo ra một lựa chọn thay thế cho các nhà máy bẩn thỉu, nguy hiểm ở các thành phố lớn. Ông đã xây dựng ngôi làng tại một nhà máy bông ông mua lại ở New Lanark, Scotland. Owen tưởng tượng ra một thế giới đầy những nơi như thế. Cuối cùng, điều đó đã không xảy ra - nhưng ngay cả như vậy, Owen đã làm những điều đáng chú ý vào thời đó và rất nhiều nhân vật quan trọng đã đến để chứng kiến cộng đồng nhỏ bé của ông. Ông đã mở một trường mẫu giáo, một trong những trường được mở sớm nhất ở Anh, và gọi nó là Viện Hình thành Tính cách. Ông rút ngắn giờ làm việc và khuyến khích công nhân của mình giữ cho bản thân và ngôi nhà của họ sạch sẽ và tránh uống rượu bia quá nhiều. Để thúc đẩy thói quen làm việc tốt, Owen treo trước mặt mỗi nhân viên một “người giám sát im lặng”: một khối lập phương bằng gỗ với các mặt được sơn màu khác nhau. Mỗi màu đại diện cho cách hành xử của người lao động: màu trắng tượng trưng cho xuất sắc, màu vàng tượng trưng cho tốt, màu xanh dương tượng trưng cho bình thường, màu đen tượng trưng cho xấu. Một người giám sát sẽ đổi màu khối lập phương dựa trên chất lượng làm việc của công nhân và màu sắc cho mỗi công nhân sẽ được viết vào trong một “cuốn sách tính cách”. Khi một công nhân đang lười biếng, thay vì hét vào mặt họ, người giám sát đơn giản chỉ cần xoay khối lập phương sang màu đen. Lúc đầu hầu hết các khối lập phương đều chỉ màu đen và xanh dương. Theo thời gian thì có ít màu đen hơn, và màu vàng và trắng xuất hiện nhiều hơn .

Sau đó, Owen thành lập một cộng đồng tại New Harmony, Indiana. Nó thậm chí còn nhiều tham vọng hơn New Lanark, một thị trấn của các nông trại, nhà xưởng và trường học, mà Owen tin rằng sẽ đưa ra một lựa chọn thay thế hoàn chỉnh cho chủ nghĩa tư bản. Các nhà khoa học, giáo viên và nghệ sĩ tin vào một cuộc sống tốt hơn đổ xô đến nơi đó từ khắp nơi trên nước Mỹ và châu Âu (cùng khá nhiều kẻ bất lương và kỳ quặc cũng đến đó). Thật không may là các nhà văn và nhà tư tưởng đã đến đó, trong khi giỏi viết lách và tư duy, lại không giỏi trong việc đào mương và chặt gỗ. Những kẻ bất lương thì hoàn toàn tránh làm việc. Chẳng mấy chốc mọi người bắt đầu cãi nhau và thử nghiệm thất bại. Khi về già, Owen quay sang “chủ nghĩa tâm linh”, phong trào giao tiếp với người chết nổi lên trong thời Nữ hoàng Victoria. Ông đã nói chuyện với William Shakespeare và Công tước Wellington và ông nghĩ rằng xã hội mới sẽ hình thành với sự giúp đỡ của những vong linh của những người vĩ đại trong quá khứ. Xét cho cùng, những người như Owen và Fourier hy vọng một nền kinh tế sẽ nâng cao điều kiện tinh thần, chứ không chỉ là vật chất, của người dân, ngay cả khi họ không biết cách để khiến nó hiện hữu.

Một quý tộc đầy tham vọng người Pháp tên là Henri de Saint-Simon cảm thấy những khát khao này một cách mãnh liệt đặc biệt. Saint-Simon (1760-1825) có tham vọng rất lớn từ khi còn nhỏ, và tin rằng mình là hóa thân của chính Socrates. Khi còn là một cậu bé, ông đã được người đầy tớ của mình đánh thức mỗi sáng với lời hô: “Hãy đứng dậy, Monsieur le Comte, ngài có những điều vĩ đại để làm hôm nay!” Công việc đầu tiên của ông đã được nhắm đến “vì nhân loại”. Ông đã chiến đấu trong cuộc Chiến tranh giành độc lập của Mỹ và trải qua một năm tù trong cuộc Cách mạng Pháp. Khi được thả, ông đã làm giàu bằng cách mua đất nhà thờ, nhưng trong một vài năm ông đã tiêu hết tiền của mình. Sau đó, ông đã cố gắng tự sát, bực bội về những gì ông cảm thấy là sự thiếu công nhận đối với những ý tưởng của ông.

Saint-Simon nghĩ rằng xã hội nên được cai trị bởi những người tài năng, không phải bởi các hoàng thân và công tước. Mọi người nên cho phép những người ngang hàng với họ bộc lộ tài năng và phát triển tốt nhất có thể. Sẽ có những sự khác biệt giữa mọi người, nhưng đó là vì sự khác biệt về khả năng chứ không phải sự khác biệt về xuất thân. Con người sẽ không còn bóc lột lẫn nhau nữa. Thay vào đó, họ khai thác thiên nhiên cùng nhau, sử dụng các nguyên tắc khoa học để làm giàu cho xã hội. Đứng đầu sẽ là các nhà khoa học và các nhà công nghiệp, những người chỉ đạo nền kinh tế như một công xưởng tầm quốc gia duy nhất. Dưới họ là các công nhân sẽ hành động cùng nhau trong tinh thần hợp tác. Nhà nước sẽ tạo ra một xã hội công nghiệp nhân đạo và thoát khỏi đói nghèo.

Vào cuối đời, Saint-Simon đã xuất bản cuốn sách Tân Ki tô giáo (The New Christianity), biến tầm nhìn của ông thành một tôn giáo trong thời đại công nghiệp. Sau khi ông qua đời, những người đi theo ông thành lập các nhà thờ. Họ mặc quần trắng, áo gi lê màu đỏ và áo dài màu xanh: màu trắng tượng trưng cho tình yêu, màu đỏ cho lao động và màu xanh cho đức tin. Họ chế ra một chiếc áo gi lê được làm theo cách khiến nó chỉ có thể mặc được với sự giúp đỡ của người khác, để tượng trưng cho mối liên hệ bằng hữu giữa người với người. Không có gì đáng ngạc nhiên khi những người Paris tò mò thường ghé thăm nơi ẩn dật của những người đi theo Saint-Simon để nhìn chòng chọc vào họ.

Fourier, Owen và Saint-Simon tin rằng thị trường và cạnh tranh không phải là con đường dẫn đến một xã hội tốt. Đó là lý do tại sao đôi khi họ được cho là những nhà phát minh ra chủ nghĩa xã hội, một lựa chọn thay thế cho chủ nghĩa tư bản đã được một số quốc gia thử nghiệm trong nhiều thế kỷ sau đó. Dưới chủ nghĩa xã hội, tài nguyên không thuộc sở hữu của cá nhân như là tài sản riêng của họ. Thay vào đó, chúng được mọi người chia sẻ để họ đều có một tiêu chuẩn sống tương tự nhau. Tuy nhiên, trên thực tế, những nhà tư tưởng này có một mớ ý tưởng hỗn độn, không phải tất cả những ý tưởng đó chúng ta ngày nay đều sẽ nghĩ tới như một phần của chủ nghĩa xã hội. Ví dụ, một số người trong số họ nghĩ rằng tài sản tư nhân là ổn nếu nó không dẫn đến sự khác biệt lớn giữa mọi người.

Nhưng tất cả họ đều tin rằng một thế giới hoàn hảo - một thế giới “không tưởng” - có thể được tạo ra bằng cách lôi cuốn lý trí và thiện chí của mọi người. Họ chống lại cách mạng và xung đột giữa người giàu và người nghèo. Hy vọng của họ về sự thay đổi trong hòa bình đã bị cuốn trôi bởi một loạt các cuộc cách mạng nổ ra khắp châu Âu vào giữa thế kỷ 19. Không chỉ vậy, mà kế hoạch của họ còn có vẻ ngây thơ sau những tác phẩm mang tính cách mạng của Karl Marx, người chúng ta sẽ gặp trong Chương 10 và là nhà phê bình chủ nghĩa tư bản nổi tiếng nhất trong lịch sử. Mặc dù họ ảnh hưởng đến ông, Marx nói rằng Fourier, Owen và Saint-Simon là những người mộng mơ đã nghĩ ra những thế giới mới nhưng không biết làm thế nào để có được chúng. Marx nói, một thế giới tốt đẹp hơn sẽ không đến bằng cách lôi kéo thiện chí của mọi người. Xung đột giữa công nhân và ông chủ của họ sẽ phải trở nên khốc liệt đến nỗi chủ nghĩa tư bản sẽ sụp đổ trong một cuộc cách mạng hùng mạnh. Xã hội mới sẽ không xuất hiện một cách hài hòa, mà phải đến trong một sự hỗn loạn và chấn động lớn.

CHƯƠNG 9: Quá Nhiêu Miệng Ăn

Trong câu chuyện của Charles Dickens, Giáng sinh yêu thương (A Christmas Carol), chúng ta gặp gỡ kẻ keo kiệt tồi tệ nhất, Ebenezer Scrooge. Vào đêm Giáng sinh, ông ta đang ngồi trong văn phòng đếm tiền và càu nhàu về thư ký của mình, người muốn ở nhà với gia đình vào Ngày Giáng sinh. Hai quý ông đến để xin một vài xu để mua thịt và nước uống cho người nghèo. Scrooge cau mày với hai người và đuổi họ ra khỏi phòng. Về người nghèo, ông ta nói với những vị khách rời đi: “Nếu họ thà chết còn hơn thì họ nên làm vậy đi và giảm dân số thặng dư xuống”.

Chúng ta đã gặp một thiên tài tài chính và một trong những nhà kinh tế học vĩ đại của Anh, David Ricardo và người bạn tốt của ông, giáo sĩ Thomas Malthus. Malthus (1766-1834) không giỏi kiếm tiền như Ricardo nhưng hóa ra lại rất giỏi trong việc đưa ra những lý thuyết kinh tế khiến mọi người phải ngồi thẳng dậy và chú ý. Ông là giáo sư kinh tế học đầu tiên, được bổ nhiệm vào năm 1805 tại trường Cao đẳng Đông Ấn, nơi đào tạo các viên chức của Công ty Đông Ấn, công ty thương mại nổi tiếng của nước Anh. Ý tưởng của một số nhà tư tưởng không được biết đến một cách rộng rãi khi họ còn sống, nhưng Malthus chắc chắn đã khiến cho ý tưởng của mình được biết đến một cách rộng rãi khi ông còn sống. Một thời gian ngắn trước khi Dickens viết câu chuyện của mình, Malthus đã có được danh tiếng về một học thuyết kinh tế khiến mọi người nghĩ rằng ông ta là Scrooge của kinh tế học, là người rêu rao một lý thuyết thực sự bủn xỉn và keo kiệt. Malthus lo sợ dân số không ngừng tăng lên: ông tuyên bố, nhiều người hơn có nghĩa là nghèo đói hơn. Tất cả những gì mà việc dân số ngày càng tăng sẽ gây ra là ngày càng nhiều người bị đẩy vào một sự tồn tại khốn khổ. Và không có ý nghĩa gì trong việc giúp đỡ người nghèo; điều đó sẽ chỉ làm cho tình hình thêm tồi tệ hơn .

Các nhà kinh tế học trước đó đã không chia sẻ sự bi quan của Malthus về tác động của dân số đông. Những người theo chủ nghĩa trọng thương ủng hộ họ. Họ tin rằng dân số đông giúp các quốc gia giành chiến thắng trước các đối thủ nước ngoài vì lực lượng lao động lớn làm việc với mức lương thấp cho phép các nhà sản xuất tạo ra hàng hóa giá rẻ để bán ở nước ngoài, và lục quân và hải quân lớn có thể bảo vệ các tuyến thương mại của các quốc gia.

Sau những người theo chủ nghĩa trọng thương, những nhà tư tưởng theo chủ nghĩa không tưởng - Charles Fourier, Robert Owen và Henri de Saint-Simon - nói rằng mọi người không phải chịu chết trong cảnh nghèo đói. Họ tin tưởng trên hết vào sự tiến bộ. Họ nói, nếu mọi người giúp đỡ nhau, sự nghèo đói và sự túng quẫn có thể được xóa bỏ. Cha của Malthus, ông Daniel, ngưỡng mộ những người theo chủ nghĩa không tưởng, tin rằng ý tưởng của họ là chiếc chìa khóa mở ra một xã hội tốt hơn. Malthus phản đối một cách mạnh mẽ, và cha con họ đã bỏ ra nhiều giờ để tranh luận. Cuối cùng Malthus đã viết ra những ý tưởng của mình trong một cuốn sách nhỏ mà ông xuất bản năm 1798, cuốn sách đã đem lại cho ông danh tiếng. Trong nhan đề của cuốn sách, ông đã nêu tên một số nhà tiên tri về tiến bộ người Anh và Pháp mà ông không đồng ý với. Nó được gọi là Bài luận về nguyên tắc của dân số, khi nó ảnh hưởng đến sự cải thiện trong tương lai của xã hội với nhận xét về những phỏng đoán của Godwin, Hầu tước Condorcet và những tác giả khác (An Essay on the principle of population, as it affects the future improvement of society with remarks on the speculations of Mr. Godwin, M. Condorcet, and other writers). Cái tên cuối cùng, Hầu tước Condorcet, là một nhà lãnh đạo trong cuộc Cách mạng Pháp năm 1789, thời điểm người dân vùng lên và lật đổ nhà vua của họ với hy vọng tạo ra một xã hội tốt hơn, một xã hội mà trong đó người dân bình thường nắm quyền. Cuộc cách mạng là một ngôi sao chổi rực sáng, nhưng liệu nó có dẫn đến chiến thắng của nhân loại trước sự nghèo đói không? Condorcet nói rằng nó sẽ làm được như vậy: nhân loại đang trên đà tiến tới sự hoàn hảo. Nền văn minh đã tiến triển qua chín giai đoạn cải tiến, và giai đoạn thứ mười - bình đẳng giữa tất cả các dân tộc và các quốc gia - đã sắp tới.

Malthus giội một gáo nước lạnh lên tất cả những điều này. Ông lấy một số điểm khởi đầu nghe có vẻ vô hại. Đầu tiên, con người cần thức ăn để tồn tại. Thứ hai, họ phải quan hệ tình dục để sinh sản. Hơn nữa, họ thích quan hệ tình dục và sẽ tiếp tục làm việc đó. Trong một vài thập kỷ, đứa trẻ ngày nay sẽ tạo ra đôi đứa trẻ mà đến lượt chúng sẽ sinh ra đôi đứa con, và cứ như vậy. Dân số tăng thêm mức lớn hơn cùng với thời gian trôi. Malthus nói rằng nếu không được kiểm soát, dân số có xu hướng tăng gấp đôi qua mỗi thế hệ, vì vậy sau hai thế hệ dân số 1.000 người sẽ tăng lên 4.000, sau sáu thế hệ lên 64.000. Thế còn thức ăn cần thiết để nuôi số người tăng lên thì sao? Bạn chắc chắn có thể tăng sản lượng lương thực một chút, nhưng không thể tăng nhanh gấp đôi như dân số. Một lý do là bạn không thể tăng gấp đôi diện tích của đất. Malthus nói rằng sản lượng lương thực tăng lên một lượng cố định mỗi thế hệ, với tốc độ chậm hơn nhiều so với tốc độ tăng dân số. Dân số sẽ nhanh chóng vượt xa nguồn cung cấp thực phẩm. Cái cảnh có quá nhiều miệng ngấu nghiến quá ít thức ăn sẽ sớm xảy ra.

Vậy điều gì sẽ xảy ra? Những cái phanh kìm hãm dân số sẽ hoạt động để đưa số lượng người trở lại phù hợp với nguồn cung thực phẩm. Đầu tiên, nạn đói và bệnh tật khiến nhiều người chết. Thứ hai, người ta có ít con hơn. Vấn đề là họ có ít con hơn bằng cách phạm tội. Điều tồi tệ nhất sẽ là giết trẻ sơ sinh. Nhưng con người cũng làm giảm số con bằng cách tiến hành nạo phá thai và sử dụng biện pháp tránh thai, cả hai đều bị phán xét là tội lỗi trong thời đại đó. Kết quả là đau khổ và tội ác: nhiều cái chết hơn đến từ bệnh tật và đói kém, ít trẻ được sinh ra hơn do tội lỗi của loài người.

Giả sử rằng đất nước đã có được một nguồn của cải mới - có lẽ là đất chiếm được trong một cuộc chiến tranh, cho phép nó nuôi nhiều người hơn. Đầu tiên, sẽ có nhiều thức ăn hơn để phân phát. Khi giàu hơn, mọi người sẽ có nhiều con hơn, và khi khỏe mạnh hơn, ít người chết hơn. Khi dân số tăng lên, sẽ có nhiều miệng ăn hơn tiêu tốn nguồn cung cấp thực phẩm và có ít thực phẩm hơn cho mỗi người. Cuối cùng xã hội sẽ quay lại đúng nơi nó bắt đầu. Mọi người đơn giản sẽ tự trở lại với mức sống thấp hơn mà họ từng có trước khi vùng đất mới được phát hiện. Niềm tin cho rằng mọi người có xu hướng mắc kẹt ở một mức sống tối thiểu - chỉ đủ để tồn tại - được các nhà kinh tế học thế kỷ 19 khác như David Ricardo chia sẻ. Nó ngụ ý rằng tiền lương của người lao động chỉ đủ để chi trả cho sinh hoạt tối thiểu của họ và được gọi là “quy luật sắt về tiền lương”. Với tỉ lệ giữa thực phẩm và dân số của mình, Malthus đã cho thấy logic nghiệt ngã của quy luật đó.

Phép tính của Malthus có một hàm ý ảm đạm khác. Trong nhiều thế kỷ, các khu vực địa phương ở Anh đã hỗ trợ người nghèo và người ốm đau. Trong thời đại của Malthus, người nghèo được phát chẩn tiền để giúp họ mua thực phẩm. Malthus chỉ trích điều này. Các khoản tiền chỉ đơn giản là trao thưởng cho sự lười biếng: nếu mọi người không được giúp thì họ có nhiều khả năng sẽ tự giúp bản thân mình hơn. Theo nguyên tắc dân số của ông, giúp người nghèo giống như tìm ra vùng đất mới. Nó làm tăng dân số nhưng sau đó tạo ra nhiều đau khổ và tội lỗi hơn để đưa dân số trở lại sao cho phù hợp với năng lực sản xuất lương thực. Từ thiện không giúp ích cho người nghèo hay xã hội nói chung mà chỉ đơn giản là tạo ra nhiều người ăn xin vô đạo đức, khổ sở hơn. Hôn nhân và tình dục là một trong số niềm vui lớn lao của cuộc sống, nhưng cuối cùng chúng sẽ dẫn đến sự khốn khổ. Quá đủ cho sự tiến bộ của con người mà những người theo chủ nghĩa không tưởng vô cùng trân trọng! Mặc dù vậy, có một tia hy vọng: đàn ông và phụ nữ có thể quyết định kiềm chế ham muốn tình dục của họ và do đó làm giảm phần đóng góp của họ vào gánh nặng của việc dân số đông hơn. Malthus khuyến khích mọi người trì hoãn việc kết hôn, và tự nghe theo lời khuyên của ông bằng cách đợi cho đến gần bốn mươi tuổi mới kết hôn. Mặc dù vậy, đối với một số người, việc đó có thể đồng nghĩa với chuyện không bao giờ kết hôn.

Không có gì ngạc nhiên, các tác phẩm của Malthus đã làm dấy lên tiếng la ó phản đối. Ông bị công kích vì là một kẻ gắt gỏng ưa phá hỏng niềm vui, hay tệ hơn, một kẻ lạnh lùng lên án những người nghèo trên thế giới. Karl Marx đã gợi ý tưởng của Malthus là “một sự phỉ báng lên nhân loại”. Nhà triết học và nhà sử học thời Victoria Thomas Carlyle coi những ý tưởng này là tang tóc và buồn thảm và ông đã đặt cho kinh tế học một biệt danh: “ngành khoa học ảm đạm”.

Lịch sử sau đó đã chứng minh nhiều ý tưởng của Malthus là sai. Dân số bắt đầu phát triển nhanh chóng nhưng yếu tố kìm hãm dân số là bệnh tật và nạn đói đã giảm đi. Trong thế kỷ 19, thuốc men tốt hơn và những thành phố sạch hơn đã giúp con người sống lâu hơn; họ đã không còn bị xóa sổ bởi nạn đói và bệnh tật. Malthus nói rằng khi mọi người trở nên giàu có hơn thì họ có nhiều con hơn. Nhưng điều ngược lại xảy ra trong thế kỷ 19 và 20, khi ở nhiều nước, sự tăng trưởng dân số chậm lại. Các biện pháp tránh thai đáng tin cậy hơn đã được phát minh và trở nên dễ tiếp cận hơn, và hầu hết mọi người ngừng tin rằng sử dụng chúng là sai trái. Ngay cả những người nghèo khổ của Malthus cũng bắt đầu có ít con hơn vì những loại công việc mới - trong các nhà máy và văn phòng - đem lại thu nhập tốt hơn là cuốc xới các cánh đồng. Với ít con phải nuôi hơn, họ có thể chi tiêu nhiều hơn cho việc học của chúng để chúng có thể làm các công việc mới.

Trong thế kỷ 19, một điều gì đó khác đã xảy ra mà cả Malthus lẫn các nhà tiên tri về sự tiến bộ đều không lường trước được. Công nghệ mới nâng cao mức sống để mọi người có thể kiếm được nhiều tiền hơn mức tối thiểu cần thiết để tồn tại. Anh là một trong những quốc gia đầu tiên tăng năng suất các trang trại của mình để có thể nuôi sống nhiều miệng ăn hơn. Sau này, một khi ảnh hưởng của hơi nước, sắt và đường sắt cùng đến trong cuộc Cách mạng Công nghiệp, những nhu yếu phẩm khác của đời sống được sản xuất với ít chi phí hơn và cho một số lượng người lớn hơn. Nếu bạn vẽ đồ thị dân số và thu nhập trung bình ở châu Âu từ đầu câu chuyện của chúng ta đến hiện tại, bạn sẽ thấy hai đường thẳng đó lên và xuống nhẹ trong nhiều thế kỷ nhưng hầu như là nằm ngang. Sau thế kỷ 18, hai đường vọt lên và tiếp tục như vậy: có nhiều người hơn và họ có thu nhập cao hơn bao giờ hết. Hãy nghĩ về những gì người Anh có ở giữa thế kỷ 20 - thực phẩm dồi dào, quần áo, có lẽ là một chiếc xe - so với năm 1700 khi họ phải ăn đồ thừa và đi qua bùn trong nhiều giờ để đến bất cứ đâu. Và vào giữa thế kỷ 20, dân số đã tăng lên gấp sáu lần kể từ năm 1700! Lần đầu tiên, các nền kinh tế của châu Âu và Mỹ hỗ trợ được các thành phố lớn và dân số không ngừng tăng lên. Đó là một trong những biến đổi phi thường nhất trong lịch sử nhân loại, chắc chắn là một sự biến đổi về kinh tế đáng chú ý nhất. Sau cuộc chiến lâu dài của loài người chống lại khó khăn, tiến bộ vật chất đã tăng tốc một cách đáng kể.

Tuy nhiên, trước khi cất cánh, các nền kinh tế khá giống như cách Malthus mô tả chúng. Thu nhập không bao giờ tăng lên nhiều; nông dân thường phải vật lộn để tồn tại. Đôi khi người thân hoặc nhà thờ giúp đỡ những lúc khó khăn, nhưng một vụ mùa thất thu hoặc một đợt bùng phát dịch bệnh có thể đồng nghĩa với đói rét và cái chết. Nhiều người mẹ đã chết trong khi sinh con và nhiều trẻ em không bao giờ sống sót qua tuổi ẵm ngửa. Nếu những ý tưởng của Malthus là buồn rầu và ảm đạm, thì điều kiện sống của nhiều người cũng không khác gì. Malthus đã nói về những hạn chế mà mọi người sống trong những xã hội thuở ban đầu này phải chịu đựng với một sự rõ ràng đến nghiệt ngã. Trong thời đại của chúng ta, đây vẫn là số phận của nhiều người ở những quốc gia nghèo nhất thế giới.

Ngày nay, khi mọi người nói về “bùng nổ dân số”, họ thường mượn các ý tưởng của Malthus. Nhiều người tin rằng có quá nhiều người và thế giới đang trở nên chật chội một cách khó chịu. Tuy nhiên, trong một số tác phẩm của ông thường bị lãng quên, Malthus nói rằng ông không chống lại tăng dân số, và ông nghĩ rằng có nhiều người là một điều tốt miễn là xã hội có phương tiện để nuôi họ. Có lẽ rốt cuộc thì ông không phải là một người như Scrooge - bạn bè nhớ đến ông như một người đàn ông tử tế và thân thiện, không ích kỷ và keo kiệt chút nào. Nhiều nhà kinh tế học ngày nay nghiên cứu sự tăng trưởng của nền kinh tế trong dài hạn cho rằng dân số lớn đi đôi với nền kinh tế lành mạnh. Mọi người sử dụng hết tài nguyên, nhưng họ cũng tạo ra những tài nguyên mới: nhiều người hơn đồng nghĩa với nhiều trí óc hơn và nhiều ý tưởng mới hơn về cách tạo ra của cải của xã hội.

CHƯƠNG 10: Công Nhân Toàn Thế Giới

“Một bóng ma đang ám ảnh châu Âu - bóng ma của chủ nghĩa cộng sản”. Đây là dòng đầu tiên trong Tuyên ngôn Cộng sản, được viết vào giữa thế kỷ 19 và có lẽ là cuốn sách về chính trị nổi tiếng nhất. Bóng ma - một thứ gì đó đáng sợ và đầy hăm dọa - là mối đe dọa đối với hệ thống chủ nghĩa tư bản đương thời của châu Âu. Mối đe dọa đến từ một hệ thống thay thế, chủ nghĩa cộng sản, sắp sửa quét sạch chủ nghĩa tư bản. Dưới thời chủ nghĩa cộng sản, sẽ không có tài sản tư nhân, và công nhân, chứ không phải là ông chủ, sẽ có quyền kiểm soát mọi thứ. Những câu chữ ấy được viết bởi hai người Đức, Karl Marx (1818-1883), nhà triết học, nhà sử học, nhà kinh tế học, nhà cách mạng nổi tiếng nhất trong lịch sử, và người bạn của ông - Friedrich Engels (1820-1895). Marx được một số người coi là nhà tiên tri về xã hội, một nhà tư tưởng vĩ đại có thể nhìn thấy tương lai không giống bất kỳ ai khác. Có người thì nghĩ rằng ông là một nhân vật phản diện đã đưa kinh tế học vào một lối đi nguy hiểm.

Marx đã cảnh báo về sự kết thúc của chủ nghĩa tư bản vào năm 1848, đúng lúc các quốc gia châu Âu có vẻ sắp sửa tuột dốc. Ở Pháp, chế độ quân chủ đã được khôi phục sau khi bị loại bỏ trong cuộc cách mạng năm 1789. Bây giờ, một lần nữa, người dân lại tức giận với vị vua của họ. Ngay sau khi Marx xuất bản tuyên ngôn của mình, các cuộc biểu tình đã nổ ra ở Paris. Những người biểu tình xây dựng các rào chắn và chiến đấu với binh lính trên đường phố. Marx vội vã tham gia cuộc đấu tranh. Khi ông đến nơi, nhà vua đã bỏ trốn và một nền cộng hòa đã ra đời. Những người cách mạng tràn ngập khắp quảng trường ăn mừng cho chiến thắng của họ.

Những câu nối tiếp lời mở đầu nổi tiếng ấy đã giải thích cho sự phấn khích của Marx. Ông nói: “Lịch sử của tất cả các xã hội tồn tại từ trước đến nay là lịch sử của đấu tranh giai cấp”. Qua đây, ông thể hiện quan điểm rằng lịch sử là tranh chấp và xung đột, giữa giàu và nghèo, giữa ông chủ và người làm thuê. Marx tin rằng ở Paris, ông đã nhìn thấy tận mắt cuộc đấu tranh lịch sử. Ông đã dự đoán việc những người lao động (“giai cấp vô sản”) lật đổ các ông chủ tư bản (“giai cấp tư sản”). Ông hy vọng rằng các cuộc nổi dậy là khởi đầu của điều này, nhưng một vài tháng sau các cuộc cách mạng của châu Âu đã bị thoái trào. Dường như cái chết của chủ nghĩa tư bản sẽ là một cái chết từ từ và dai dẳng.

Marx sang Anh, một trong những cường quốc cuối cùng còn sót lại của châu Âu không trục xuất ông vì những bài viết gây nhiều rắc rối. Ở London, ông trở thành lãnh đạo của một nhóm các nhà cách mạng nước ngoài.

Marx bắt đầu nghiên cứu chuyên sâu về kinh tế học và cho ra đời một cuốn sách khổng lồ, trong đó ông đặt mục tiêu đưa ra một lý thuyết toàn diện về chủ nghĩa tư bản. Việc này tiêu tốn của ông rất nhiều thời gian. Ông có một sự bền bỉ đáng kinh ngạc, nhưng cuộc sống đôi khi đẩy ông vào ngõ cụt. Những người bán hàng thường xuyên phải đập cửa yêu cầu ông thanh toán các hóa đơn quá hạn. Vợ và con của ông thường xuyên bị bệnh và khi cô con gái nhỏ của ông qua đời, ông đã phải mượn 2 bảng từ hàng xóm của mình để mua quan tài. Ông thường trú ngụ tại Phòng Đọc sách Bảo tàng Anh, nơi ông đã nghiền ngẫm những cuốn sách khó nhằn về lịch sử và kinh tế học. Ông trở về nhà mang theo hàng đống giấy ghi chú và thức suốt đêm để viết, hút xì gà hết điếu này đến điếu khác, đồ chơi của các con và những mảnh đồ đạc vỡ vương vãi xung quanh. Việc viết lách thường gây ra cho ông khá nhiều đau đớn vì ông bị bệnh hậu bối*, những mụn nhọt kinh khủng mà ông đang cố gắng điều trị bằng cách sử dụng asen. Cuối cùng, vào cuối những năm 1860 - khoảng hai mươi năm sau khi ông bắt đầu - ông đã hoàn thành tập một của quyển sách của mình, tuy phải hy sinh sức khỏe, hạnh phúc và gia đình mình. Ông viết những trang cuối cùng trong khi đứng lên bàn làm việc vì những cái nhọt đã viêm nhiễm quá nặng. Khi viết xong, ông nói, “Tôi hy vọng giai cấp tư sản sẽ nhớ đến bệnh hậu bối của tôi cho tới lúc chết”.

Những nhà tư tưởng không tưởng mà chúng ta đã gặp ở các chương trước nói rằng chủ nghĩa tư bản đầu độc xã hội loài người. Giống như họ, Marx tin rằng một xã hội mới là cần thiết để mọi người thực sự phát triển, nhưng ông cho rằng những người không tưởng là kẻ ngốc khi nghĩ rằng lòng tốt của con người sẽ mang lại điều ấy. Thay vào đó, Marx tin rằng bản thân chủ nghĩa tư bản đã chứa mầm mống của một xã hội mới. Ông nói rằng lịch sử mở ra theo một loạt các hệ thống kinh tế. Trước chủ nghĩa tư bản, nền kinh tế bị chi phối bởi truyền thống phong kiến. Không có nhà tư bản nào sở hữu nhà máy, chỉ là những thợ thủ công nhỏ, nông dân tá điền và quý tộc. Chủ nghĩa tư bản nổi lên khi những người có quyền lực chiếm lĩnh đất đai và thành lập các nhà máy, và nông dân cùng thợ thủ công trở thành công nhân nhận lương từ các nhà tư bản. Cuối cùng đến lượt chủ nghĩa tư bản bị thay thế; điều này xảy ra vì cái cách mà các nhà tư bản kiếm lợi nhuận.

Các nhà tư bản mua nguyên liệu thô (vải, nút áo, chỉ) để sản xuất ra một loại hàng hóa (áo sơ mi) để bán và thu lại lợi nhuận. Lợi nhuận đến từ đâu? Để hiểu điều này, bạn cần xem giá trị kinh tế đến từ đâu. Giống như Adam Smith và David Ricardo, Marx nói rằng giá trị của hàng hóa là hàm lượng lao động được sử dụng để tạo ra nó. Điều này được gọi là “lý thuyết giá trị lao động”. Nếu một chiếc áo sơ mi mất ba mươi phút lao động để tạo ra, thì nó có giá trị tương đương với hàm lượng lao động đó. Giống như Smith và Ricardo, Marx cũng tin rằng những người lao động kiếm được những gì họ cần để trang trải sinh hoạt phí của họ, một số tiền tối thiểu để mua thực phẩm và quần áo. Giả sử rằng sau năm giờ lao động vất vả, công nhân làm ra đủ số áo để kiếm số tiền vừa đủ sống. Đây là mức lương mà nhà tư bản trả để thuê họ. Tuy nhiên, nếu ca làm việc của công nhân là mười hai giờ, thì có nghĩa là có thêm bảy giờ so với năm giờ cần thiết để công nhân kiếm đủ tiền sinh hoạt. Điều gì xảy ra với “giá trị thặng dư”, số tiền kiếm được từ việc bán số áo sơ mi được thực hiện trong bảy giờ làm thêm đó? Đó là lợi nhuận nhà tư bản thu được. Thặng dư cho phép nhà tư bản mua nhiều máy móc và có nhiều vốn hơn và điều này khiến nền kinh tế trở nên lớn hơn.

Các nhà tư bản “bóc lột” công nhân theo nghĩa là họ muốn ép công nhân sản xuất ra càng nhiều giá trị thặng dư càng tốt bằng cách khiến công nhân làm việc chăm chỉ và nhiều giờ. Công nhân muốn ngày làm việc ngắn hơn và lương cao hơn. Sự cạnh tranh giữa các công nhân khiến tiền lương được giữ ở mức thấp, bởi vì những người có việc làm luôn đứng trước nguy cơ mất việc vào tay người khác. Tương lai của những người vô sản thật là ảm đạm: chủ nghĩa tư bản khiến cuộc sống của một công nhân không có gì khác ngoài làm việc cật lực và “kéo vợ và con của mình nằm xuống dưới bánh xe Juggernaut* của tu bản”.

Với Marx, xung đột giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản là một mâu thuẫn sâu sắc của chủ nghĩa tư bản. Các nhà tư bản cố gắng bảo đảm lợi nhuận của họ bằng cách ngày càng vắt kiệt sức lao động của công nhân. Công nhân được chia một phần nhỏ hơn bao giờ hết của chiếc bánh kinh tế. Cuối cùng, đơn giản là họ không có tiền để mua tất cả các hàng hóa được sản xuất ra từ các nhà máy và vì vậy các nhà tư bản nhận ra rằng họ không thể bán tất cả hàng hóa của họ. Trong khi đó, công nhân càng ngày càng trở nên khốn khổ và bất mãn hơn. Cuối cùng toàn bộ hệ thống sụp đổ. Công nhân vùng lên, chiếm giữ các nhà máy, ruộng đồng và thiết lập một xã hội cộng sản, đặt dấu chấm hết cho sự bóc lột. Đó là bởi vì sẽ không có tài sản tư nhân: một lò nấu kim loại hoặc cần cẩu sẽ không thuộc sở hữu của một nhà tư bản cụ thể nào, nó sẽ thuộc sở hữu của cộng đồng. Mọi người sẽ được cung cấp những gì họ cần để sống chứ không phải là những gì một ông chủ tư bản trả cho họ. Chủ nghĩa cộng sản sẽ loại bỏ sự phân chia xã hội thành các tầng lớp không ngừng đấu tranh với nhau.

Tiếp đến, Marx tin rằng chủ nghĩa tư bản luôn chứa đầy sự hỗn loạn và căng thẳng - ở đó không có dấu hiệu của bàn tay vô hình của Adam Smith mà qua đó việc kiếm tiền sản sinh ra sự hài hòa. Dưới thời chủ nghĩa tư bản, các nhà tư bản sở hữu “tư liệu sản xuất”: nguồn vốn cần thiết để sản xuất hàng hóa. Các công nhân không có gì ngoài chính sức lao động của mình. Không giống như nông dân trong xã hội phong kiến bị gắn liền với một địa chủ, công nhân được tự do làm việc cho bất cứ ai. Nhưng tất cả những gì họ có là sức lao động nên lựa chọn duy nhất của họ là làm việc cho một nhà tư bản và bị bóc lột. Các nhà tư bản có thể gây dựng vốn của họ và trở nên giàu có vì luật pháp và hệ thống chính trị của đất nước cho phép họ sở hữu vốn và giữ lợi nhuận là giá trị thặng dư do công nhân tạo ra. Trong kinh tế học phổ biến, mà chủ nghĩa tư bản được xem là hầu như không có xung đột, vốn chỉ được xem như là tập hợp của nhiều thứ khác nhau. Đó là các tòa nhà, băng tải, cưa và khung dệt được sử dụng để sản xuất hàng hóa. Với Marx, tư bản còn bao gồm nhiều hơn là vốn. Nó là quyền lực. Tư bản phụ thuộc vào sự phân chia xã hội thành những người có tài sản và những người không có tài sản và việc tạo ra chủ nghĩa tư bản liên quan đến những người có tài sản nắm giữ tất cả quyền lực. Hiểu được điều này là tối quan trọng để nhìn thấy thực tế của chủ nghĩa tư bản, đó là lý do tại sao Marx gọi cuốn sách của ông đơn giản là Tư bản luận.

Ý tưởng của Marx sau đó đã phát triển thành một thế giới quan, chủ nghĩa Marx, trở thành một trong những phong trào chính trị có ảnh hưởng nhất của thế kỷ 20. Rất lâu sau khi ông qua đời, hệ thống xã hội chủ nghĩa đã được thiết lập ở Nga, Hungary, Ba Lan, Trung Quốc và những nơi khác. Nhà nước tiếp quản nền kinh tế và chỉ đạo các nhà máy và trang trại cần sản xuất những gì. Ban đầu, công nghiệp phát triển nhanh. Nhưng người dân ở các nước này thường xuyên phải đối mặt với những khó khăn hằng ngày. Nhiệm vụ quản lý quá nhiều nhà máy của nhà nước cuối cùng trở nên quá phức tạp. Các đơn vị sản xuất trở nên không hiệu quả và chậm phát triển sản phẩm. Ở nhiều nước xã hội chủ nghĩa, như ở châu Âu, nền kinh tế tan vỡ hoàn toàn và hệ thống xã hội chủ nghĩa sụp đổ.

Các nhà kinh tế học sau này tranh luận về nhiều ý tưởng của Marx. Các nhà phê bình nói rằng những thất bại của hệ thống xã hội chủ nghĩa hiện hữu đã chứng minh rằng Marx không đúng. Tuy nhiên, lý thuyết của ông nói nhiều đến những căng thẳng tồn tại trong chủ nghĩa tư bản hơn là về các chi tiết của tương lai chủ nghĩa cộng sản. Và người ta thường nói rằng các nước xã hội chủ nghĩa không thiết lập hệ thống mà Marx đã hình dung. Ngoài ra, Marx nói rằng các xã hội chỉ thành công trong việc thiết lập các hệ thống cộng sản chủ nghĩa khi họ đã có nền kinh tế tư bản phát triển tốt. Nhưng cuộc cách mạng cộng sản đầu tiên lại xuất hiện vào đầu thế kỷ 20 ở Nga, nơi có nền kinh tế nông nghiệp nghèo nàn, không phải là hình thái tư bản chủ nghĩa mà Marx đã nói đến.

Khi thế kỷ 19 chậm chạp trôi đi, có rất nhiều người, trong khi lo ngại về hoàn cảnh khốn khó của người nghèo, không nghĩ rằng câu trả lời là lật đổ hệ thống. Họ nghĩ rằng chủ nghĩa tư bản có thể trở nên tử tế hơn. Ở nhiều nước, quyền bỏ phiếu đã được mở rộng từ những người giàu sang các tầng lớp lao động, do đó họ đã có tầm ảnh hưởng mới trong xã hội. Chính phủ đã cố gắng giảm bớt những hậu quả khắc nghiệt của chủ nghĩa tư bản đối với người nghèo. Vào đầu thế kỷ 20, Pháp, Đan Mạch và các quốc gia khác đã bắt đầu cung cấp các khoản trợ cấp cho người thất nghiệp. Các bang thuộc Đức dẫn đầu trong việc cung cấp giáo dục cho quần chúng vào đầu thế kỷ 19, Mỹ, Pháp và Anh sau đó đã làm điều tương tự. Dần dần, các chính phủ cấm lao động trẻ em, nên trẻ em không biết chữ và nghèo đói hiếm khi bị đưa vào các hầm mỏ và nhà máy.

Mức sống của người lao động cuối cùng cũng được cải thiện. Điều này có làm cho Marx không còn quan trọng? Không, bởi vì chủ nghĩa Marx nói rằng chủ nghĩa tư bản gây tổn hại cho mọi người ngay cả khi họ có đủ tiền mua ô tô và tivi. Điều này bắt nguồn từ cái mà Marx gọi là “sự tha hóa”. Ông tin rằng dưới chủ nghĩa tư bản, công nhân trở thành những bánh răng trong một cỗ máy khổng lồ. Họ mất tất cả mối liên kết thực sự với hàng hóa mà họ làm ra để ông chủ của mình bán kiếm lời. Họ đi đến chỗ xem những người khác như là công cụ sản xuất chứ không phải là con người. Cuối cùng, họ đã không còn có mối quan hệ nào với nhân tính của mình, điều quan trọng nhất giúp đoàn kết họ với những người khác. Tiền lương cao hơn không thể phá vỡ được xiềng xích nặng nề của sự tha hóa.

Sự tha hóa phát sinh do tài sản tư nhân, thứ phân chia xã hội thành những người sở hữu tư bản và những người không có tư bản. Chỉ bằng cách loại bỏ tài sản riêng thông qua một cuộc cách mạng của người lao động, mọi người sẽ có thể hoàn toàn nắm giữ được nhân tính của họ. Vì vậy, Tuyên ngôn Cộng sản kết thúc bằng một lời kêu gọi đấu tranh: “Người vô sản chẳng có gì để mất ngoài xiềng xích trói buộc họ. Họ có một thế giới để giành lấy. Vô sản tất cả các nước, đoàn kết lại!”

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.