Lược Sử Tôn Giáo - Phần 2

CHƯƠNG 11: HỒI KẾT

Điều xấu có thể xảy đến với người tốt. Cuốn cuối cùng trong Kinh Thánh Tân ước phân các điều xấu thành bốn loại tương ứng với hình ảnh Tứ Kỵ sĩ Khải Huyền: Chiến tranh, Nạn đói, Bệnh dịch và Chết chóc. Bốn vị kỵ sĩ ấy đã phi nước đại qua lịch sử nhân loại từ thuở ban đầu và chưa hề có dấu hiệu ghìm cương. Bất cứ ai cũng thấy khó khăn khi đối diện với họ, còn những người có tín ngưỡng tôn giáo lại có một vấn đề đặc thù khác. Giả sử bạn không tin vào thần thánh, không tin có một ý nghĩa cuối cùng nào của sự hiện sinh, vậy thì bạn chỉ thấy các sự khổ đau chỉ như một thực tế khó chịu mà mình phải đối phó. Nhưng nếu tin vào thần thánh thì bạn sẽ có thêm các câu hỏi khó trả lời. Tại sao Đức Chúa Trời lại để cho nhiều khổ đau xảy ra trên thế gian đến thế? Và tại sao người tốt lại thường gặp khó khăn còn kẻ xấu lại có thể thoát nạn? Mọi tôn giáo đều có câu trả lời của riêng họ cho những câu hỏi này. Do Thái giáo có câu trả lời từ sớm là: Nếu con dân Israel đang chịu khổ đau, đó là họ đang chịu sự trừng phạt cho các tội lỗi của mình.

Trong chương này, chúng ta sẽ thảo luận về khổ nạn của cả dân tộc Israel thay vì về một cá nhân cụ thể nào và vì một lý do rất hiển nhiên. Đức Chúa Chân chính Duy nhất gọi tên Israel là dân tộc mà ngài lựa chọn, là vị hôn thê và là người yêu dấu của ngài. Thế tại sao mối quan hệ ấy lại đắt đỏ đến vậy? Sao nó khiến dân họ khổ đau nhiều thế? Vị tiên tri Ezekiel nói đó là vì họ chưa hiểu rằng làm dân được Chúa chọn đồng nghĩa với việc tách biệt khỏi đường lối quen thuộc của các quốc gia khác và thần linh của họ. Đằng này, họ lại bắt chước y hệt. Họ có sự lẫn lộn trong hệ thống chính trị. Thậm chí họ tôn thờ Thiên Chúa như thể ngài là một thần tượng muốn được tán dương và nhận cống vật thay cho sự công bình và tính linh thánh. Vì lẽ đó họ đã phải chịu kết cục tù ngục ở Babylon. Sau khi được phóng thích và trở về Jerusalem, họ đã chiêm nghiệm ra được bài học cho dân tộc mình.

Một lần nữa về lại đất Israel, họ lập nên một quốc gia lấy sự trong sạch của đức tin tôn giáo làm mục đích và ý nghĩa của đời sống. Họ tuân theo các hướng dẫn trong Ngũ Thư một cách cẩn thận. Mỗi ngày được đánh dấu bằng các nghi thức lấy Chúa là vị đưa dẫn hàng đầu trong tâm thức. Từng khía cạnh trong đời sống của họ đều được sắp xếp để phụng sự Chúa, từ những gì họ có thể ăn đến những thứ họ có thể chạm vào cũng như những người họ có thể kết giao. Israel trở thành một nhà nước theo chế độ thần quyền, trong đó tôn giáo trở thành mục đích cho toàn bộ sự tồn tại của dân tộc. Cuối cùng, họ đã học được cách chung sống hòa bình với Thiên Chúa của mình và với chính bản thân.

Rồi nền hòa bình đó bị vua Antiochus phá hủy, khổ đau của dân tộc họ lại bắt đầu từ đầu. Thế nhưng lần này có một sự khác biệt. Giờ thì chính sự trung thành của dân họ với Chúa đã gây ra khổ đau. Vì vậy, lời giải thích cũ cho rằng những đày đọa đó là để trừng phạt họ không còn đúng nữa. Người ta cần phải tìm một lời giải thích mới. Trong giai đoạn đọa đày dưới trướng vua Antiochus, một câu chuyện nữa xuất hiện và nó đã mang đến một thành tố khác nữa cho Do Thái giáo, điều không chỉ ảnh hưởng đến lịch sử của dân tộc Do Thái mà còn tác động đến cả lịch sử Ki tô giáo và Hồi giáo.

Chúng ta đã thấy các nhà tiên tri đóng vai trò chủ chốt trong lịch sử Israel đã không nói trước tương lai, mà họ báo trước cơn thịnh nộ của Chúa đối với quá khứ của dân tộc. Trong cuộc đấu tranh chống lại vua Antiochus, một nhân vật mới đã xuất hiện, tuyên bố có thể nhìn xuyên qua cái chết, xuyên qua cả lịch sử, dẫn hướng đến tương lai mà Chúa đã chuẩn bị sẵn cho các con dân khổ đau của ngài. Không như các nhà tiên tri trước đó, vị này không lộ diện trên sân khấu để thông báo những gì Thiên Chúa đã phán truyền. Vị này ở trong bóng tối như một điệp viên, đưa những gì ông đã nghe và thấy vào trong sách. Giống như khi điệp viên gửi báo cáo về từ trong hàng ngũ địch, ông ấy cũng mã hóa thông điệp của mình để chỉ phe ta mới đọc được nó. Cách truyền thông tin bí mật từ Chúa đó được gọi là khải huyền (apocalyptic), một từ cấm trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là “tiết lộ điều bị che giấu”, giống như cách tấm màn được vén lên để lộ những gì diễn ra trên sân khấu. Cách hiểu hay nhất về những người viết sách khải huyền là coi họ như những điệp viên đang làm việc theo kế hoạch của Chúa để thực hiện trận đánh trả cuối cùng chống lại kẻ thù. Họ được Chúa gửi đến để chuẩn bị cho con dân của ngài trước họa xâm lăng.

Điệp viên khải huyền đầu tiên tự xưng là Daniel. Ông viết thông điệp của mình trong một cuốn sách mỏng mà chỉ có dân Do Thái mới hiểu được. Bối cảnh trong cuốn sách là khoảng thời gian bị lưu đày hàng trăm năm trước ở Babylon, nhưng thực chất đó chính là một bản tường thuật được mã hóa về tình trạng ngược đãi do vua Antiochus gây ra ngay trong thời kỳ sách được viết. Cuốn sách gồm sáu câu chuyện và một vài giấc mơ. Câu chuyện nổi tiếng nhất có Daniel là một nhân vật trong đó và nó mang ý nghĩa trấn an người Do Thái là họ sẽ sống sót qua cơn hung bạo của kẻ ngược đãi.

Trong câu chuyện, Daniel là một người Do Thái chịu cảnh lưu đày ở Babylon, sau đó trở thành một viên quan thuộc Đế chế Ba Tư. Daniel được vua Darius, con của Cyprus, vị vua với đức tin tôn giáo và năng lực trị vì từng cho phép dân Do Thái trở lại sinh sống trong vùng đất của họ, kính nể không chỉ vì sự trung thành của ông với Chúa mà còn bởi năng lực khi đảm nhiệm vị trí quản lý ngân khố. Nhưng địa vị cao quý của Daniel khiến các viên quan khác sinh lòng ghen tức và họ đã đặt bẫy hãm hại ông. Họ nịnh bợ vua Darius gọi ý rằng nhà vua nên ban hành một đạo luật áp dụng cho cả vương quốc, theo đó trong vòng một tháng, không ai được phép cầu nguyện vị thần nào ngoài chính nhà vua. Ai phạm luật đó sẽ bị quăng vào hang sư tử. Vua Darius thông qua đạo luật và đám người chủ mưu mừng thầm trong bụng. Họ biết rằng Daniel sẽ tiếp tục cầu nguyện hướng đến Thiên Chúa của dân Do Thái, dù cho điều gì xảy ra đi nữa.

Đám quan này rình bắt tại nhà của Daniel trong lúc ông đang cầu nguyện như thế và áp giải ông đến trước đức vua. Nhà vua buồn bã vô cùng khi nhận ra mình đã sa bẫy, nhưng vì ngài đã ký ban hành luật nên chẳng cách nào thoát khỏi thế tiến thoái lưỡng nan này. Nhà vua đành đau khổ hạ lệnh tống Daniel vào hang sư tử để trừng phạt. Thế nhưng, sáng hôm sau, sau khi trải qua một đêm ở giữa bầy sư tử, Daniel ra khỏi hang bình an vô sự. Các độc giả theo dõi câu chuyện của Daniel biết rằng câu chuyện không kể về một sự việc từng xảy ra ở Babylon cách đó ba trăm năm. Nó ám chỉ những việc đang xảy ra trên đất Israel trong thời kỳ họ chịu sự áp bức của Antiochus vì đã trung thành với Chúa. Daniel đang nói với họ rằng dù họ đang ở cảnh bị lùa vào giữa bầy sư tử nhưng nếu họ kiên định với đức tin thì Chúa sẽ cứu giúp họ. Cuốn sách của Daniel nhằm củng cố sự kiên gan của dân tộc.

Nhưng Daniel vẫn còn một ý định khác. Ông không chỉ muốn động viên dân Israel giữa cảnh khổ đau của họ. Ông muốn giúp họ chuẩn bị trước trận chiến cuối cùng của Chúa chống lại kẻ thù của con dân ngài. Khác với các nhà hiền triết Ấn Độ vốn coi thời gian như một vòng quay vô tận, trong đó các linh hồn vật lộn để thoát ra đến cõi hư vô hỷ lạc, các nhà tư tưởng Do Thái lại thấy thời gian như một mũi tên do Thượng Đế bắn ra và nó sẽ dừng lại khi đã trúng mục tiêu. Theo lời Daniel thì sắp đến lúc đó rồi. Tại chặng cuối của mũi tên thời gian, khổ nạn của dân Israel cuối cùng sẽ được gột rửa. Khi đó, những người chết qua bao năm tháng sẽ sống dậy từ trong mộ phần để gặp đấng sáng tạo và nghe sự phán xét của ngài. Chính tại đây, Daniel đã lần đầu tiên truyền cho dân Do Thái niềm tin về sự sống sau cái chết, một sự tính sổ cuối cùng khi mà mọi công tội sẽ được phân định theo luật của Chúa.

Trước thời điểm đó trong lịch sử, dân tộc Do Thái hầu như không quan tâm đến sự sống sau cái chết. Họ gặp Chúa khi còn sống, nhưng khi chết, thời gian của họ được xem là đã hết và họ rời khỏi màn diễn. Các linh hồn rời khỏi đây sau đó sẽ đi vào một thế giới ngầm tăm tối gọi là sheol, kiểu như “âm phủ”, chốn của sự quên lãng, tại đó ngay cả Chúa cũng không được nhớ đến. Cuốn sách của Daniel đã thay đổi tất cả các quan niệm đó. Ông bảo họ rằng vào hồi cuối của lịch sử nhân loại, Thiên Chúa sẽ hiện ra và “những ai ngủ vùi trong bụi đất sẽ thức dậy, có người được sự sống đời đời, người thì chịu sự nhục nhã và khinh miệt mãi mãi”.

Sự phục sinh người chết là một tư tưởng mới mẻ trong Do Thái giáo và sẽ luôn gây tranh cãi. Sẽ đến lúc các giáo sĩ Do Thái chia thành hai phe, phe tin vào điều đó và phe không tin. Dù sao, đó vẫn là một tư tưởng sẽ tăng tốc trong tương lai. Daniel không tin vào sự phục sinh của từng cá nhân sau khi họ chết đi mà tin vào cái gọi là một sự phục sinh chung hết. Mọi người sẽ nằm trong nấm mồ của mình cho đến khi Chúa đưa lịch sử nhân loại vào hồi cuối, khi mọi người sẽ trỗi dậy cùng một lúc để đối diện với sự phán xét dành cho mình. Daniel cho rằng ngày đó không còn xa nữa.

Daniel còn đưa ra một ý tưởng lớn khác. Để chứng minh hồi kết đã gần kề, Thiên Chúa sẽ gửi một “đặc vụ” bí ẩn gọi là Messiah, hay một Đấng Cứu Thế, đến để giúp mọi người chuẩn bị cho cuộc tấn công cuối cùng. Messiah có nghĩa là “người được xức dầu thánh”. Trong quá khứ, khi người Do Thái bầu ra một vị vua để dẫn dắt dân tộc, họ sẽ bôi dầu thánh lên đầu vị ấy, một dấu hiệu cho thấy đó là một bầy tôi của Chúa. Daniel nói với con dân Israel rằng thời gian sắp hết và nỗi khổ đau của họ sẽ sớm chấm dứt. Và dấu hiệu của thời điểm đó là sự xuất hiện của Đấng cứu thế Messiah. Nhưng ngài sẽ không đến từ vũ trụ, cũng không phải từ Thiên đường. Ngài sẽ là một người đang sống giữa mọi người. Sẽ đến lúc ta trông thấy ngài, danh tính của ngài được hé lộ. Có thể ngài đang ở đây rồi, vậy nên hãy để mắt trông chừng! Bằng cách đó, Daniel đã đem lại cho dân Do Thái niềm hy vọng vào một thời điểm mà các khổ nạn của họ sẽ kết thúc và Thiên Chúa sẽ lau đi những dòng nước mắt của họ. Thế là họ bắt đầu theo dõi và chờ đợi Đấng Messiah. Nhưng ngài đã không bao giờ tới. Tình hình chỉ tệ hơn mà thôi.

Những khổ nạn dưới thời vua Antiochus chẳng là gì nếu đem so với điều xảy ra khi quân La Mã chiếm được Palestine vào năm 63 TCN. Tiếp theo đó là một giai đoạn biến loạn triền miên kéo dài 150 năm, xen giữa là những cuộc chiến tranh, trước khi hồi kết thực sự tới. Một lần nữa, ngôi đền ở Jerusalem giống như cột thu lôi. Với người Do Thái, ngôi đền còn quý giá hơn cả mạng sống của họ. Nó chứa đựng biểu tượng cho vị Thiên Chúa đã gọi dân họ đi khỏi Ai Cập hơn một ngàn năm trước. Sự nồng nhiệt sôi sục họ dành cho vị thần của họ đã làm bối rối cả những kẻ cai trị mới, những người La Mã. Đối với dân La Mã, thần linh là một điều rất phổ biến. Những ai có lý trí sẽ không xem chủ đề đó là quá nghiêm trọng. Vậy thì điều gì ở vị thần thánh Do Thái này lại khiến dân họ sẵn sàng xả thân đến chết như thế?

Theo truyền thuyết, khi vị tướng La Mã là Pompey chinh phục được thành Jerusalem vào năm 63 TCN, ông ấy quyết định tìm kiếm vị Thiên Chúa của dân Do Thái trong ngôi đền của họ. Ngôi đền được xây dựng với một dãy các gian thờ theo mức độ linh thiêng tăng dần. Pompey sải bước qua các gian cho đến khi vào một chốn tôn nghiêm gọi là Nội Điện. Đây là phần linh thiêng nhất của đền thờ mà chỉ có Giáo sĩ Tối cao (hay Thầy Thượng Tế) mới được phép vào. Với lòng thành kính, Pompey bước vào Nội Điện, mong chờ được nhìn thấy vị thần linh của dân Israel. Nội Điện trống rỗng, chẳng có gì ở đó!

Vì người Do Thái biết rằng không có gì hay không vật gì có thể đại diện cho tiếng nói mặc khải đã ám ảnh họ trong hàng thế kỷ qua. Điều răn thứ Hai đã đi sâu vào trong tâm hồn dân tộc họ. Họ đã dựng lên ngôi đền thờ tráng lệ này với những phiến đá được chạm trổ tinh xảo và hàng dãy sân trong đẹp đẽ. Họ đã yêu kính nơi này và khóc thương cho sự mất mát của nó trong suốt chiều dài lịch sử. Thế nhưng, nơi trái tim ngôi đền lại không có gì hết! Tướng Pompey quay trở ra, cảm thấy bối rối trước sự bí ẩn của một tôn giáo mà biểu tượng cho vị thần linh của họ là một gian phòng trống rỗng.

Sang đến thế kỷ tiếp theo, sự bối rối của người La Mã dần chuyển thành cơn hung nộ khi họ nhận thấy không thể nào dung chứa được lối sống của đám dân cứng đầu này cùng với vị thần khó nắm bắt của họ. Thế là người La Mã quyết định kết liễu hoàn toàn dân tộc Do Thái. Vào năm 70 TCN, dưới sự lãnh đạo của tổng tư lệnh Titus, quân La Mã san phẳng thành Jerusalem và phá hủy ngôi đền thờ từng được mở rộng và trang hoàng bề thế kể từ cuộc viếng thăm của tướng Pompey 140 năm trước. Tướng Titus tự nhủ rằng cuối cùng chuyện đã xong, ta đã hủy diệt hết bọn chúng.

Nhưng còn lâu dân Do Thái mới bị hủy diệt. Tản mác ra khắp các ngõ ngách của địa cầu trong một hành trình đày ải dằng dặc khác, họ đã mất tất cả, trừ một thứ quan trọng nhất với họ: Thiên Chúa của dân tộc. Họ đã biết không có một đền đài bằng đá nào có thể chứa đựng Chúa của họ. Họ cũng hoài nghi những ai cho rằng có thể bao hàm Thiên Chúa trong vòng ngôn từ sách vở. Trong khi chịu đựng cuộc đày ải mới này và đợi chờ Đấng Messiah xuất hiện, họ đã lập nên một truyền thống mới phản bác lại bất cứ nỗ lực nào muốn định nghĩa Thiên Chúa bằng lời lẽ của thế gian.

Trên nền bối cảnh đó, một nhân vật quan trọng và khó ưa đã xuất hiện, đó là kẻ dị giáo. Họ là những người khó ưa hay đặt ra các câu hỏi kỳ quặc và thách thức lối nghĩ của số đông. Họ có nhiều điều để dạy chúng ta. Một trong những kẻ dị giáo nổi tiếng nhất lại nằm ngay trong Kinh Thánh Do Thái.

CHƯƠNG 12: KẺ DỊ GIÁO

Khi cựu Tổng thống Mỹ John F. Kennedy muốn giảm số bom hạt nhân toàn cầu vì ông tin rằng càng nhiều bom sẽ càng làm thế giới nguy hiểm hơn, rất nhiều người đã phản đối ông. Người lên tiếng mạnh mẽ nhất là một nhà vật lý hạt nhân, người tin rằng nước Mỹ càng có nhiều bom thì càng được an toàn. Khi được hỏi về ý kiến đó, vị Tổng thống trả lời rằng bất cứ ai có sự quả quyết bất cứ điều gì, nhất là một chuyên gia, người đó nhất định sẽ khiến những ai có đầu óc cởi mở phải thấy sửng sốt. Ông nói tiếp: đó là ưu điểm của một người có đầu óc cố chấp.

Như vậy, với nhũng người có đầu óc cố chấp thì thử thách duy nhất còn lại trong đời là đi chiến đấu để áp đặt góc nhìn của họ lên những người còn lại. Thuật ngữ tiếng Anh để chỉ sự tin chắc kiểu này là orthodoxy, nghĩa là “tư tưởng chính thống”, có gốc từ tiếng Hy Lạp nghĩa là “niềm tin đúng hoặc chính xác”. Khi Tổng thống Kennedy phản đối cái nhìn chính thống về bom hạt nhân thì ông ta được xem là người có tư tưởng dị giáo, heresy, gốc từ tiếng Hy Lạp chỉ “một người phản đối các chính sách lãnh đạo”. Bên chính thống và bên dị giáo có ở khắp nơi trong đời sống quanh ta, nhưng họ đặc biệt mạnh mẽ trong tôn giáo. Nhìn vào cách họ tương tác với nhau, ta sẽ hiểu tại sao nội bộ các tôn giáo lại thường trực bất đồng ý kiến với nhau và đôi khi đến mức bạo liệt.

Thế nhưng hầu hết các tôn giáo đều bắt đầu từ những kẻ dị giáo. Một nhà tiên tri đáp lại lời phán bảo ở bên trong, vốn thách thức quan điểm đương thời, theo cách Abraham khinh rẻ các tượng thần trong cửa hiệu của cha mình. Điều thường xảy ra tiếp theo là một sự chia rẽ, trong đó kẻ dị giáo bỏ đi và thành lập một tôn giáo mới hay một nhánh cạnh tranh với cái cũ. Đôi khi kẻ dị giáo thắng cuộc và tư tưởng của họ trở thành tư tưởng chính thống mới. Hoặc là bên có đầu óc bảo thủ vẫn không xoay chuyển và niềm cảm hứng mới kia biến ra chỗ khác, hoặc là bên bảo thủ chịu cởi mở đủ để hấp thụ thêm hiểu biết mới.

Người Do Thái quen thuộc với quá trình như vậy hơn các tín đồ của các tôn giáo độc thần khác. Ngay từ đầu, các cuộc tranh cãi và bất đồng ý kiến đã đóng vai trò trung tâm trong đời sống dân họ. Tất nhiên, mọi tôn giáo đều có sự tranh luận, nhưng hầu hết đều đóng lại cuộc tranh biện ngay khi có thể và vạch ra lằn ranh mà mọi người hoặc là chấp nhận hoặc đi khỏi đó. Họ thích sự tôn ti trật tự. Tôn giáo của dân Do Thái không bao giờ như vậy, họ biết rằng chẳng có gì trong tôn giáo mà không đem ra bàn cãi được cả. Họ tin là thà rằng cứ cãi nhau, còn hơn là khóa chặt tâm trí vào trong cái hộp và quăng chìa khóa đi. Ngay trong sách thánh của Do Thái giáo, ta cũng dễ dàng tìm thấy một kẻ dị giáo tên là Job dám phản biện lại quan điểm chính thống đương thời.

Chuyện về Job đã lưu truyền từ lâu như một câu chuyện dân gian, nhưng trong thời kỳ đày ải ở Babylon, một nhà thơ vô danh đã dùng lại nó để tìm hiểu sâu hơn sự khổ đau. Dân Do Thái có lẽ có nhu cầu giải quyết vấn đề đó nhiều hơn các dân tộc khác. Trong lịch sử, nhiều quốc gia và dân tộc từng bị các đế chế hùng mạnh xóa sổ; nhưng ít nhất, khổ đau của họ cũng dừng lại tại đó. Còn khổ đau của dân Do Thái dường như không bao giờ chấm dứt. Không còn là một đất nước từ năm 70 TCN và cũng không còn mảnh đất cắm dùi, dân họ chuyển sang giai đoạn lịch sử lang thang và bị chối từ ở mọi nơi họ đi qua. Chẳng bao giờ có sự an toàn lâu dài ở bất cứ đâu, họ cứ phải sẵn sàng hành lý, sẵn sàng cho cuộc ra đi kế tiếp, cuộc lưu đày kế tiếp.

Họ mất đất và đền thờ nhưng vẫn giữ cuốn kinh thánh và nó trở thành một mái ấm tâm linh cho dân họ, thứ họ có thể nhét vào hành lý mỗi khi lần trục xuất tiếp theo bắt đầu. Ngay cả khi có ai lấy mất cuốn sách ấy thì họ vẫn còn mang theo tinh túy của nó trong trí nhớ, đó là một vài câu Shema từ bộ Ngũ Thư mà họ đều thuộc nằm lòng. Shema trong tiếng Do Thái có nghĩa là “lắng nghe” và đoạn đó như sau: “Nghe này, hỡi con dân Israel: Đức Chúa Trời của các ngươi là Đấng duy nhất; ngươi phải hết lòng, hết ý, hết sức kính mến Đức Chúa Trời ngươi”. Chính Daniel, khi ở giữa bầy sư tử, đã làm theo một tục lệ cổ xưa của người Do Thái là tụng đọc đoạn Shema mà được thoát nạn. Câu chuyện về Daniel đã động viên dân tộc Israel trong cơn khốn khó. Thế nhưng giờ đây, điều gì có thể động viên được dân tộc họ khi họ đã bị nghiền thành tro bụi trong hàm sư tử? Tại sao mà giờ đây, khổ đau lại chính là cuộc sống của dân Israel?

Sách Job đã trả lời cho câu hỏi đó. Job thực ra không có một câu trả lời chắc chắn cho câu hỏi mà dân tộc ông đã hỏi qua hàng thế kỷ. Điều ông đã làm là phá hủy tín điều chính thống cho rằng dân họ đang phải chịu sự trừng phạt của Chúa vì những tội lỗi họ gây ra. Đó là một khoảnh khắc lớn lao trong lịch sử tôn giáo. Nó cho ta thấy một người đàn ông bình thường cũng biết rằng ý kiến nào là sai khi nhìn thấy ý kiến ấy. Nhưng tôn giáo của ông ta lại nói nó không thể nào sai được vì Chúa nói rằng nó đúng. Job tự hỏi: liệu Chúa có thể khiến một điều sai trở thành đúng bằng cách nói nó đúng không? Không, cái gì sai thì vẫn là sai, dù Chúa nói gì hay các giáo sĩ nói Chúa đã nói gì. Ta biết cách giải thích của họ là sai và ta vẫn sẽ nói ra điều ấy cho dù các tầng trời có sập xuống đi nữa. Như vậy, Job là một kẻ dị giáo đã đứng lên ngay giữa cuốn Kinh Thánh và thách thức các giáo lý trong đó.

Sách Job cho ta biết ông là một người tốt, công chính và sống rất sung túc. Ngoài việc có bảy đứa con trai và ba đứa con gái mà ông yêu thương hết mực, Job còn sở hữu bảy ngàn con cừu, ba ngàn con lạc đà, năm trăm cặp bò đực, năm trăm con lừa cái cùng nhiều nô bộc và ruộng đất không kể xiết. Theo đơn vị tiền bạc của thời điểm và chốn ấy, ông giàu có đến độ không thể nào tính xuể.

Thế nhưng, chỉ trong vòng vài ngày, mọi tài sản của ông tiêu tán hết cả. Gia súc bị lấy trộm, người hầu và con cháu bị giết, bản thân ông bị một căn bệnh da liễu tệ hại hành hạ. Còn mình ông ngồi lại trên một đống rác, dùng một mảnh sành gãi người mình. Nỗi đau của ông là tuyệt đối. Vợ ông bảo ông hãy nguyền rủa Chúa và chết đi. Nhưng đáp lại tất cả những đày đọa ấy, Job chỉ nói: “Ta trần truồng từ bụng mẹ mà ra, giờ ta trở về cũng trần truồng như vậy; Đức Chúa Trời ban cho, rồi Ngài lấy đi; con xin vinh danh tên Ngài”.

Trong cảnh tiếp theo, ba người bạn tiến đến bên Job nói là họ đến để an ủi ông, nhưng thực chất là thẩm vấn Job. Họ là kiểu tín đồ có sẵn câu trả lời cho mọi thứ, ngay cả cho cơn cuồng phong mất mát đã nhấn chìm Job. Eliphaz xứ Temanite, Bildad xứ Shuhite và Zophar xứ Naamathite cùng ngồi lại trước người bạn tả toi của họ và bắt đầu cuộc thẩm tra. Họ nói đi nói lại các ý giống nhau với mức độ cáu kỉnh ngày càng tăng, trong đó Eliphaz là người mở đầu bằng lời lý giải chính thức cho tình trạng tệ hại của Job.

Eliphaz nói rằng những người vô tội không bao giờ tàn lụi cả, còn kẻ xấu ác thì sẽ gặt hái một bồ khổ đau mà thôi. Ông đang hứng chịu vô số khổ đau như thế, vậy hãy cho chúng tôi biết, ông đã làm gì khiến cho nỗi khổ đau trút cả lên vai ông thế này? Job không chấp nhận lý lẽ buộc tội đó của họ. Bất kể lý do Chúa công kích ông là gì, chắc chắn không phải do tội lỗi nào của ông mà ông phải hứng chịu đau khổ như thế. Job tin rằng mình là người công chính và chưa từng gây ra điều gì để đáng phải chịu khổ như thế này cả.

Những ông bạn của Job chẳng hề đến với ông với đầu óc cởi mở. Họ chẳng bao giờ nghĩ lý thuyết chính thống cũng có thể sai. Nếu họ có mảy may nghi ngờ như thế thì mọi thứ trong vũ trụ tôn giáo ngăn nắp của họ sẽ xổ tung hết thảy. Tốt hơn hết là cứ theo khuôn phép, còn hơn phải ở trong sự hoài nghi. Riêng Job thì vẫn tin ở chính mình. Giáo lý ắt là sai vì Job biết mình chưa từng làm gì để đáng phải chịu sự tàn phá quét sạch gia tài và gia đình.

Là một thường dân bị xô đẩy vào một hoàn cảnh hiếm có, thay vì quy phục theo những cáo buộc chống lại mình, Job đã tìm thấy sự can đảm để thách thức một giả thuyết bạo tàn. Ngay cả khi ông không thể chứng minh sự vô tội của mình trong cuộc đời này, vì chứng minh cho một điều bị xem là tiêu cực luôn là bất khả, Job vẫn tin tưởng rằng sau khi mình chết, Chúa sẽ bào chữa cho thanh danh của ông: “Vì tôi biết rằng Đấng Cứu Chuộc của tôi vẫn sống và cuối cùng Ngài sẽ đứng trên trần gian này; khi ấy da tôi đã tiêu tan, nhưng trong máu thịt mình, tôi sẽ trông thấy Chúa, tôi sẽ thấy Người đang ở cùng bên tôi và mắt tôi sẽ nhìn ngắm Người, chứ không ai khác”.

Tuy vậy, Job đã không phải đợi đến cái chết mới có được sự phán xét ấy. Đức Chúa xuất hiện và lên án những kẻ đã cố cáo buộc Job tội xúc phạm Ngài. “Đức Chúa bảo Eliphaz xứ Temanite rằng: 'Ta vô cùng phẫn nộ vì ngươi và hai bạn của ngươi; vì các ngươi đã không nói với ta điều gì là đúng, là sai như kẻ bề tôi Job đã làm.' “ Như thế, chính một người dị giáo đã được ân phước của Chúa, chứ không phải là các vị thầy chính thống thích rao giảng các giáo điều của họ.

Thế nhưng, ngay cả Chúa cũng không được phép thách thức giáo lý chính thống trong câu chuyện này! Một học giả sau này, do thất vọng về sự ủng hộ của Chúa dành cho hành động dị giáo của Job, đã thêu dệt một kết thúc có hậu vào câu chuyện. Chúa ban thưởng cho Job “gấp đôi những gì ông từng sở hữu”, qua đó củng cố một lý thuyết quen thuộc là người tốt sẽ được trọng thưởng, còn kẻ xấu sẽ bị trừng phạt. Điều tuyệt khéo trong câu chuyện này nằm ở chỗ nó cho chúng ta thấy sự đối đầu giữa phe chính thống và phe dị giáo diễn ra thế nào, rồi để chúng ta tự quyết định quan điểm của mình.

Khi suy xét câu chuyện này, ta cũng nên nhìn lại Điều răn thứ Hai về sự chối bỏ các tượng thần. Điều răn này cảnh báo dân Israel về lối suy nghĩ cho rằng họ có thể gói ghém Thiên Chúa vào các món hàng nhỏ gọn rồi đẩy ra chợ tôn giáo. Thế mà đó lại là điều các tôn giáo có tổ chức thường làm. Họ hay đóng khung Chúa trong các giáo lý chính thống của riêng họ rồi cố ép buộc mọi người phải nghe theo. Giống như cách các ông bạn của Job đã làm. Thay vì ngồi cạnh để chia sẻ với Job nỗi đau buồn và mất phương hướng, họ lại răn bảo cho ông biết bàn tay của Chúa đã can thiệp ra sao rồi nhấn mạnh là ông phải chấp nhận cách giải thích của họ. Đó là cách mà các trường phái tôn giáo chính thống và lâu đời rất thích làm. Bảo người khác phải nghĩ chính xác những gì, giải thích ý nghĩa mọi việc và cách Chúa tham gia vào tình huống đó ra sao. Phải đối diện với làn sóng các lý giải mà một số tôn giáo đưa ra tựa như khi bạn bị kẹt trên một chuyến xe buýt đường dài với một kẻ lắm điều, khăng khăng giãi bày với bạn những điều ám ảnh trong đầu hắn suốt đêm.

Ba ông bạn Eliphaz xứ Temanite, Bildad xứ Shuhite và Zophar xứ Naamathite là những ví dụ kinh điển cho những người cuồng tín tôn giáo, những người nghĩ rằng họ đã ghi âm mọi điều và thích phát cuộn băng đó cho bất cứ ai họ gặp. Điều vĩ đại của Sách Job nằm ở chỗ nó không ngại làm chúng ta chán ngán khi phải nghe những giáo điều đó, để rồi đưa ra luận điểm cuối cùng: Đừng quá tin chắc rằng bạn biết Chúa là gì hay Ngài đang làm gì.

So với hầu hết các tín đồ của các tôn giáo khác, người Do Thái quả thực rất giỏi sống chung với sự không chắc chắn kiểu này. Họ không cố áp đặt Chúa của mình lên người khác. Bản thân họ đã quá bận rộn với việc tranh luận với chính vị Chúa của mình. Và đến giờ họ vẫn đang tranh luận như vậy.

Nhưng đã đến lúc chúng ta phải để họ và các cuộc tranh luận dài hơi với Chúa yên mà chuyển sang xem xét một tôn giáo khác gọi là Hỏa giáo, tên tiếng Anh là Zoroastrianism. Tôn giáo này sẽ đưa ta đến Ba Tư khoảng năm 600 TCN, cùng thời với Đức Phật. Nhưng trước hết, ta hãy ghé qua Ấn Độ một lát.

CHƯƠNG 13: TRẬN CHIẾN CUỐI CÙNG

Trên đỉnh đồi Malabar ở nam thành phố Mumbai, bên bờ biển phía Tây Ấn Độ, qua ống nhòm, du khách có thể thoáng thấy một tháp đá bí ẩn nhô lên trên những tàng cây. Họ bị cấm leo lên ngọn đồi để thăm viếng ngọn tháp, nhưng nếu dùng thiết bị bay để ghi hình từ trên cao, họ sẽ thấy tháp có tầng mái phẳng với tường thấp bao quanh. Tầng mái được chia thành ba vòng tròn đồng tâm và máy quay có thể bắt được cảnh những con chim ăn xác thối đang ngấu nghiến các xác chết được bày ra ở đó, đàn ông ở vòng đầu tiên, đàn bà ở vòng thứ hai và xác trẻ em bé xíu nằm ở vòng tròn thứ ba.

Những hình ảnh mà thiết bị quay thu được không phải là một hành động thể hiện sự thờ ơ và cẩu thả đối với người chết; nó là một tác phẩm của sự tôn kính sâu sắc, một nghi thức tang lễ cổ xưa của người Parsee, cộng đồng tôn giáo nhỏ bé nhất ở Ấn Độ. Người Parsee tin rằng cơ thể người chết là không sạch sẽ, cho nên nếu đem chôn xác người, họ sẽ làm ô uế chỗ đất đã chôn xác; nếu đem hỏa táng thì họ sẽ làm ô uế ngọn lửa đã thiêu xác. Họ cũng tin là cần phải tử tế với các loài vật ăn xác chết vì chúng góp phần giữ cho đất đai được sạch sẽ, thế nên họ xây các tòa tháp gọi là Trầm Mặc Tháp, trên đó họ phơi các tử thi dưới ánh nắng mặt trời và những cái mỏ nhọn hoắt của quạ và kền kền. Một khi các xác người chết đã được trải trên tháp, chẳng mấy chốc phần da thịt sẽ bị chim rỉa hết, để lại bộ xương dần trắng hếu và rời ra. Cuối cùng, xương cốt được gom vào hầm chứa hài cốt ở tâm tháp, từ từ rã thành bụi, ngấm vào trong đất rồi trôi ra biển. Vậy là sự mất mát của con người do cái chết lại trở thành một món quà giúp duy trì sự sống cho các loài động vật đã ăn xác. Mọi thứ được trả về tự nhiên. Không có gì bị lãng phí.

Dù những người Parsee xây các Trầm Mặc Tháp này đã sống ở Ấn Độ trong nhiều thế kỷ, họ vốn xuất xứ từ vùng Persia hay Ba Tư như cái tên của họ đã gợi ý. Ba Tư là tên gọi mà người Hy Lạp đặt cho đất Iran xua kia, vùng nằm phía Tây Bắc Ấn Độ. Người Parsee theo một tôn giáo gọi là Hỏa giáo vốn có nguồn gốc ở Iran, ra đời cùng lúc với thời kỳ người Israel bị lưu đày ở Babylon vào thế kỷ 6 TCN. Ngoài những người Parsee ở Ấn Độ, hiện trên thế giới không có nhiều người theo Hỏa giáo; tuy thế tôn giáo này đã ảnh hưởng sâu sắc đến các truyền thống tín ngưỡng khác, kể cả Do Thái giáo. Bởi Do Thái giáo còn khai sinh ra Ki tô giáo và Hồi giáo, hai tôn giáo thuộc hàng phổ biến nhất thế giới, nên ta có thể coi Zoroaster, vị sáng lập Hỏa giáo, là một trong các nhân vật tôn giáo có sức ảnh hưởng nhất trong lịch sử. Chúng ta không thể chắc chắn về ngày tháng thuộc thời kỳ rất ít di cảo được giữ lại, nhưng có nhiều khả năng Zoroaster sinh năm 628 TCN và mất năm 551 TCN do bị một giáo sĩ đối lập ám sát.

Thực tế, việc một giáo sĩ như Zoroaster bị một giáo sĩ khác giết chết nhắc chúng ta nhớ lại một trong những đặc điểm nổi bật nhất của tôn giáo: khả năng gây ra bất đồng mang tính bạo lực. Vì cội nguồn đích thực của tôn giáo không phải là một nơi chốn mà ta có thể khảo sát như khi đo diện tích một hòn đảo nào ngoài khơi xa để dàn xếp tranh chấp. Cội nguồn của tôn giáo là thứ vượt khỏi Trái đất, trong một thực tại bên ngoài thực tại này. Các bí mật tôn giáo là do các vị tiên tri tiết lộ cho ta biết, khi họ tuyên bố đã xâm nhập được vào các điều bí ẩn đó. Họ thông báo với cả thế giới những gì các tiếng nói mặc khải đã cho họ biết và thế là một tôn giáo mới ra đời. Tuy nhiên, mỗi một tôn giáo mới lại được xem là một mối đe dọa với tôn giáo có trước đó, vậy nên thật dễ hiểu khi các giáo sĩ của cái cũ luôn tập hợp lại để gây sức ép lên các nhà tiên tri của cái mới xuất hiện. Đó là lý do một trong những nhân vật vĩ đại nhất trong lịch sử tôn giáo từng nói rằng các nhà tiên tri luôn phải chịu khổ đau và tử nạn đi vì những khải tượng mà họ thấy. Zoroaster là giáo sĩ của một tôn giáo có trước, rồi ông lại trở thành vị tiên tri mở ra một tôn giáo mới, vì thế ông đương nhiên phải chịu rắc rối.

Kiểu mâu thuẫn dễ hiểu nhất trong tôn giáo là giữa các tín đồ đa thần giáo và tín đồ độc thần giáo, giữa người tin rằng vũ trụ có vô số thần, thánh và người tin rằng chỉ có một vị duy nhất mà thôi. Abraham là người độc thần đầu tiên và Zoroaster có quyền đứng sát cánh với Abraham. Tuy nhiên, những gì ông ấy thấy trong khải tượng và nghe được từ lời phán còn phức tạp hơn nhiều so với những gì Abraham từng biết. Vì giống như các kiến giả tôn giáo khác, Zoroaster cũng đau đáu về một vấn đề.

Tôn giáo độc thần có thể hóa giải sự rối rắm phát sinh từ hàng triệu vị thần linh cạnh tranh với nhau, nhưng nó cũng có các khó khăn riêng. Như ta đã thấy, khó khăn của dân Do Thái nằm ở vấn đề về sự khổ nạn. Tại sao việc Chúa chọn dân tộc họ lại đi kèm vô số hoạn nạn và nỗi đau liên tiếp như vậy? Còn khó khăn của Zoroaster lại sâu sắc và phổ quát hơn nữa. Các nạn nhân hay hỏi tại sao điều xấu lại xảy đến với người tốt. Zoroaster muốn đặt vấn đề sâu hơn thế và tìm hiểu xem làm thế nào cái tốt và cái xấu lại xuất hiện trên thế giới này. Đối với nhân loại, cuộc sống là một cuộc chiến sinh tồn không chỉ để chống lại các yếu tố tự nhiên mà còn chống lại những kẻ đồng loại, nhiều kẻ trong đó thật độc ác và thờ ơ với nỗi đau mà họ đã gây ra cho người khác. Cái ác đó đến từ đâu? Liệu những người chịu đau đớn có được đền bù, còn những ai gây tội ác sẽ bị trừng phạt?

Đó là những câu hỏi giày vò và kéo Zoroaster ra khỏi đời sống đủ đầy của một giáo sĩ của tôn giáo đa thần thuộc vùng Ba Tư xưa. Giống như nhiều người từng đi kiếm tìm trước đó, ông dành nhiều năm thiền định đơn độc để suy nghĩ về bản chất của cái ác. Thế rồi giải pháp đã đến với ông. Trong một chuỗi các khải tượng, ông biết được rằng sự đấu tranh giữa thiện và ác có nguồn gốc xa xưa hơn cả lịch sử loài người. Nó bắt đầu từ trong chính trái tim của Thiên Chúa! Quả thật có một đấng Thiên Chúa tối cao, mà ông gọi ngài là Đấng Toàn Tri hay là Ahura Mazda, đồng thời ông cũng khám phá ra sự phức tạp của cuộc đời đấng Thiên Chúa duy nhất ấy. Lúc đầu, Đấng Toàn Tri có hai người con song sinh khác trứng và ngài cho phép họ được chọn con đường riêng cho mình. Một người chọn cái tốt đẹp. Người kia chọn điều xấu ác. Một người chọn sự thật. Người kia chọn dối trá. Vậy là cả thế giới và từng cá nhân sống trong đó trở thành một đấu trường cho một cuộc chiến kịch tính giữa thiện và ác, nơi hai người con trai đó tranh đấu với nhau để giành lấy mỗi cá nhân về phe họ. Giống như hai người bọn họ, ta cũng phải quyết định mình về phe nào.

Việc Zoroaster đẩy cuộc đấu tranh thiện-ác trở lại cuộc đời của Chúa thật ra không giải quyết được vấn đề mà ông từng trăn trở. Một sự giải thích đầy đủ hẳn sẽ phải hỏi Đấng Toàn Tri tại sao ngài chọn tạo ra cái ác ngay từ đầu và khiến các con ngài phải chọn theo hướng đó. Tuy vậy, điều mà Zoroaster đã làm được rất tài là kịch tính hóa tình huống mà ai trong chúng ta cũng có thể thấy mình trong đó. Như một tiểu thuyết gia lỗi lạc, ông mô tả đời người như một chuỗi các trận chiến và những đấu tranh về luân lý của mỗi người góp phần tạo ra ngôn ngữ riêng cho cuộc chiến đó. Chúng ta chiến đấu với những ham muốn. Ta đấu tranh chống lại các cám dỗ. Ngay cả ý tưởng về một thực thể tâm linh của cái ác cũng có thể có lý. Có những tư tưởng có thể xâm nhập vào đầu óc người như một loại virus và thúc đẩy tâm trí dẫn đến các hành động tồi tệ. Phân biệt chủng tộc là một ví dụ rõ ràng, bên cạnh nhiều ví dụ khác.

Tuy nhiên, Zoroaster không chỉ là một nhà soạn kịch phản ánh những trải nghiệm của con người. Tương tự Daniel, ông là một nhà tiên tri khải huyền nhìn thấu tương lai đến tận lúc Chúa đưa câu chuyện của cả thế gian đến hồi kết. Những cuốn sách hay đều cần một chương cuối để thắt nút mọi đầu mối còn đang để mở và đạt đến một cách giải quyết thỏa đáng. Động lực đó rất mạnh mẽ trong các tôn giáo coi lịch sử như một mũi tên, không phải một vòng tròn: lịch sử là một câu chuyện có mở bài, thân bài và kết bài, chứ không phải là một vòng quay vô tận.

Zoroaster không tin cái thiện và cái ác sẽ cứ đấu nhau mãi. Sẽ có một cuộc định đoạt sau cuối. Đấng Toàn Tri tạo ra thiện và ác là để chúng ta tự do lựa chọn số phận và thời điểm của chính mình. Và Ngài không thờ ơ với các lựa chọn đó. Bi kịch của những kẻ chọn cái ác là họ nhìn không đủ xa về trước để lường được hệ quả của các hành động của mình. Mỗi lựa chọn đều góp phần hình thành nên nhân cách của họ và cuối cùng, họ sẽ chịu sự phán xét cho kiểu người mà họ đã trở thành. Sau khi chết, mỗi linh hồn sẽ băng qua một cây cầu gọi là Cầu Phán Xử để đến với một định mệnh đã được dọn sẵn cho họ. Cây cầu hẹp như một lưỡi dao. Ở xa bên kia là Thiên đường, còn dưới cầu là Địa ngục. Nếu linh hồn đã tự khiến mình trở nên nặng nề với những điều xấu ác, nó sẽ bị roi khỏi cầu và xuống Địa ngục; còn không, linh hồn nhẹ bỗng với sự thiện lành đến mức có thể nhảy múa tiến vào cõi Thiên đường.

Ngay cả như vậy cũng chưa phải là yếu tố kịch tính nhất trong các khải tượng của Zoroaster về hồi kết. Bản thân vấn đề về sự tồn tại của cái ác vẫn phải được giải quyết, chính cái ác đã kéo các linh hồn roi khỏi cây cầu dẫn đến Thiên đường. Giải pháp Zoroaster đưa ra được gọi là “lượt sáng thế cuối cùng”, đó là khi cuối cùng, Đấng Toàn Tri quyết định hủy diệt đứa con quỷ quyệt, nguồn gốc của cái ác. Thế giới sau đó sẽ được tái thiết, cái tốt và công lý rốt cuộc được lan tỏa. Một vị cứu tinh, gọi là một saoshyant hay “người có ích”, sẽ xuất hiện. Bằng khả năng của mình, vị đó sẽ đánh bại cái ác vĩnh viễn và theo đó, thế giới được phục hồi.

Giáo lý của Zoroaster không chỉ sống động và đáng sợ mà còn có sức ảnh hưởng to lớn. Nó mang lại một số chủ đề mới vào thế giới tôn giáo. Thông qua nó mà lần đầu tiên ta tìm thấy ý tưởng về sự phục sinh của cá nhân, hoặc là vào Thiên đường hưởng phúc, hoặc là xuống Hỏa ngục chịu đọa đày. Ta cũng lần đầu khám phá ra ý tưởng về một trận chiến vĩ đại vào hồi kết, khi mà Đấng Toàn Tri gửi vị cứu tinh đến đánh tan phe xấu ác và thiết lập một thế giới ngay thẳng và công bình. Ta vốn đã nhận ra Daniel áp dụng chính những ý tưởng này khi cố gắng động viên dân Israel đang khổ đau, các ý tưởng có lẽ đã được dân Do Thái học hỏi trong giai đoạn bị đày ải ở Ba Tư. Điều này nhắc ta nhớ rằng các tôn giáo thật ra không tách biệt hẳn với nhau mà vẫn có nhiều sự trao đổi qua lại.

Zoroaster vấp phải sự chống đối nhưng ông cũng được ủng hộ và thành công. Những lời dạy của ông được tập hợp thành kinh thiêng gọi là Kinh Avesta hay cổ kinh Ba Tư. Và quá trình chuyển tư tưởng dị giáo thành chính thống bắt đầu. Tín đồ Hỏa giáo không tin vào các ảnh tượng, nhưng họ vẫn có biểu tượng riêng cho Đấng Toàn Tri, đó là lửa. Họ giữ một ngọn lửa thiêng được thắp sáng trong các ngôi đền, điều khiến nhiều người hiểu lầm là họ tôn thờ thần lửa. Lửa đương nhiên rất linh thiêng với họ nhưng chỉ với tư cách là biểu tượng cho sự sống đời đời của Đấng Toàn Tri.

Giáo lý Hỏa giáo khuyên răn các tín đồ rằng thực hành suy nghĩ, lời nói và hành động thiện lành trong lúc sống sẽ giúp linh hồn sau khi chết của họ băng nhanh qua được Cầu Phán Xử; xác của họ sẽ được trải trên mái Trầm Mặc Tháp làm quà tặng cho chim trời. Ngày nay, ta vẫn có thể tìm thấy Trầm Mặc Tháp trên các ngọn đồi ở Iran như những đài tưởng niệm từ quá khứ của một tôn giáo từng là quốc giáo tại đây. Nhưng Hỏa giáo cũng chịu chung quy luật như khi nó thay thế cho tín ngưỡng có trước nó, đến lúc hồi cáo chung cũng xảy ra. Hỏa giáo tồn tại trong nhiều thế kỷ ở quê hương Iran nhưng 1300 năm trước, nó đã bị một tôn giáo mới là Hồi giáo thay thế. Chính vào lúc đó, các tín đồ Hỏa giáo bắt đầu di chuyển một chặng đường dài sang Ấn Độ để được tự do thêm lần nữa mà thắp sáng lửa thiêng, xây các tòa Trầm Mặc Tháp, nghĩ điều tốt, nói điều hay và làm các việc thiện. Và ở đây, dù ít ỏi nhưng họ vẫn còn tồn tại.

Trước khi sang chương mới, tôi muốn nhìn lại một số nền tảng mà chúng ta đã điểm qua để rút ra một số kết luận từ những gì chúng ta đã học được. Một điểm bắt đầu hợp lý là từ Kỳ-na giáo với câu chuyện ngụ ngôn về những người mù và con voi. Thông điệp của nó là: vì tầm nhìn của con người là hữu hạn nên họ không thể đạt được tri kiến toàn hảo về thực tại tối thượng; thế nên loài người cần khiêm tốn khi tuyên bố bất cứ điều gì về tôn giáo.

Bất chấp lời khuyên đó, các nhà tiên tri và hiền triết tôn giáo hiếm khi thấy nghi ngờ các niềm tin của chính họ, vì họ đã “thấy” và “nghe” được cái ở sau tấm màn ngăn cách giữa con người và thực tại tối thượng. Tôi đặt các từ đó trong dấu ngoặc kép mang tính thận trọng để nhắc chúng ta rằng mỗi người phải tự quyết định xem nên hồi đáp ra sao trước các tuyên bố của các vị ấy. Vì tất cả bọn họ thấy các thứ hoàn toàn khác nhau hoặc họ thấy cùng một thứ nhưng theo những kiểu khác nhau!

Các vị hiền triết Hindu giáo thấy sự xoay chuyển của bánh xe luân hồi tái sinh và vòng thời gian quay vô tận. Các tư tưởng đó trở thành giáo thuyết trung tâm của Ấn Độ giáo.

Các nhà tiên tri Do Thái thấy Đức Chúa Trời duy nhất, đấng mà khi thời gian chín muồi sẽ gửi vị cứu tinh (messiah) đến để đưa lịch sử đến hồi kết. Đây vẫn là niềm hy vọng được nhiều tín đồ Do Thái duy trì cho đến ngày nay.

Zoroaster, hay còn gọi là Zarathustra, lại thấy cuộc chiến cuối cùng giữa thiện và ác vào thời điểm tận thế, trong đó cái thiện sẽ chiến thắng.

Dù mỗi người diễn giải nó khác nhau, tất cả các nhà sáng lập các tôn giáo này đều quan tâm đến cái họ thấy ở phía bên kia của lịch sử hơn là những cái đang xảy ra ngay tại đây.

Thế nhưng khi đến điểm dừng chân tiếp theo là Trung Hoa, chúng ta sẽ khám phá ra các vị hiền triết ở đó lại quan tâm đến việc làm sao để sống tốt nhất trong kiếp này hơn là cái gì đang chờ họ ở kiếp tiếp theo. Vậy ta hãy cùng tiến về phía đông, dọc theo một trong những con đường giao thương cổ xưa nhất và dài nhất trên địa cầu, Con đường Tơ lụa, để đến với đất nước Trung Hoa và một tư tưởng thú vị về cuộc đời được gọi là Khổng giáo.

CHƯƠNG 14: TÔN GIÁO THẾ TỤC

Con đường Tơ lụa chạy dọc theo biên giới Bắc Ấn vào Trung Hoa và bắt đầu giao thương từ khoảng năm 206 TCN, khi hoàng đế Trung Hoa cử các thương nhân đi về hướng Tây để bán mặt hàng xuất khẩu quan trọng nhất của nước mình là tơ lụa cho dân Ấn. Theo thời gian, Con đường Tơ lụa mở rộng phạm vi thêm hơn sáu ngàn cây số ra đến bờ biển Địa Trung Hải sát châu Âu. Các đoàn người trên lưng ngựa theo con đường này mang lụa và các loại hàng hóa khác bán cho phương Tây, rồi trở lại phương Đông với len và vải dệt. Thế nhưng không chỉ có tơ lụa và các hàng hóa được chuyên chở qua đây, các tư tưởng cũng được trao đổi và tôn giáo được du nhập nhờ con đường nổi tiếng này. Đạo Phật được các thương nhân từ Ấn Độ mang đến Trung Hoa, từ đó trở thành một trong ba tôn giáo chính ở Trung Hoa.

Tuy vậy, Trung Hoa có cách tiếp cận tôn giáo của riêng họ và từ chính xác nhất để mô tả nó là thực dụng (Pragmatic). Từ này có gốc từ tiếng Hy Lạp mang ý nghĩa dễ hiểu là hành động hoặc việc làm, cũng là gốc của từ practical, tức thiết thực, trong tiếng Anh. Nó nghĩa là thực hành, hiểu theo ý đối chọi với lý thuyết, làm-đúng hơn là tin-đúng.

Ngay cả tôn giáo đa thần xưa kia của người Trung Hoa cũng có tính thực tiễn và căn theo sự việc thực tế. Các vị thần khi đó đại diện cho sức mạnh của tự nhiên hoặc sự thất thường của thời tiết. Trong các nghi lễ, người dân thường cầu khấn các vị thần ban cho điều kiện thuận lợi và xua đi những gì gây hại cho họ. Vị thần tối cao của họ, vị đứng đầu các thần thánh trên Thiên Đình là Ngọc Hoàng Thượng Đế, sẽ đem mưa tưới tắm các cánh đồng cho họ có cái ăn. Ngoài ra, nơi có mưa thì cũng có lụt lội. Vị thần gắn với bão lụt là Cộng Công (Gong Gong). Và nơi có lụt thì cũng có khi lại bị hạn hán. Nữ thần cai quản việc hạn hán là Nữ Bạt (Ba). Rồi còn gì quan trọng hơn là đồ ăn nuôi sống con người? Vậy nên có thần hạt kê, tên gọi Hậu Tắc (Hou Ji), ca ngợi tầm quan trọng của cây ngũ cốc trên các cánh đồng.

Giữ cho các thế lực tự nhiên cân bằng là điều hợp lý, một hành động thực tiễn đáng làm. Tôn giáo lúc này không phải là việc tin vào cái gì, mà là việc sẽ làm những cái gì. Thật là đúng đắn nếu có thể điều tiết các thế lực tự nhiên để mang đến những điều tốt lành cho cộng đồng.

Bên cạnh việc cố gắng kiềm chế vị thần của giới tự nhiên, người Trung Hoa còn có một bộ các quỷ thần ranh mãnh mà họ muốn tránh: ma quỷ, yêu quái, yêu tinh, quỷ hút máu người, quỷ lùn và rồng. Để xua đuổi chúng, họ đã sáng chế ra pháo hoa và đến nay, dân tộc họ vẫn yêu thích các màn trình diễn pháo hoa hoành tráng.

Người Trung Hoa có cách hồi đáp rất thực tế đối với các hiện tượng tự nhiên nhưng hầu như không có cái nào bắt nguồn từ tôn giáo đa thần của họ cả. Các vị thần của họ là những hình dung phổ biến về quá khứ xa xưa của nhân loại và xuất phát từ sự mơ mộng của tâm trí khi nhìn ngắm vũ trụ diệu kỳ quanh họ. Đến thế kỷ 5 và 6 TCN, chúng ta mới thấy cách tiếp cận thực tiễn này của Trung Hoa đạt đến mức độ rõ ràng và đường hướng mới. Trong khoảng thời gian các tín đồ Phật giáo và Kỳ-na giáo đang phản biện lại Ấn Độ giáo, còn dân Do Thái chịu lưu đày ở Babylon đang nghĩ lại về bản chất của Chúa, ta bắt gặp một phong thái khác ở các nhà tư tưởng Trung Hoa. Các nhà hiền triết này áp dụng tư duy sáng tạo của họ vào chính thế giới này, chứ không phải thế giới sau-cái-chết, thế giới sẽ tới. Và nhà hiền triết quan trọng nhất có tên Khổng Phu Tử hay Khổng Tử.

Khổng Tử là danh hiệu tôn kính mà hậu thế dành cho Khổng Khâu, một vị quan sâu sắc tại một trong các tiểu quốc của Trung Hoa thời đó. Chúng ta chỉ biết sơ lược về cuộc đời ông, nhưng qua các tác phẩm ông viết, ta bắt gặp một tư tưởng thông thái và rộng lượng mà phải rất lâu sau khi ông mất, sức ảnh hưởng của nó mới đạt đỉnh điểm. Ông sinh năm 551 TCN giữa một giai đoạn hỗn loạn của đất nước, khi các tiểu quốc đang liên miên gây chiến với nhau. Giống như các chính trị gia và nhà tư tưởng của thế kỷ 21 này đang cố tìm câu trả lời cho các vấn đề của nhân loại, các hiền triết Trung Hoa khi đó cũng đưa ra giải pháp cho các khó khăn của nước nhà. Và các giải pháp này cũng không khác mấy những gì ta hay nghe được từ các chính trị gia thời nay. Đáp trả bạo lực bằng bạo lực. Lấy lửa đấu lại lửa. Đánh lại kẻ thù mạnh hơn khi chúng đánh ta. Làm ra súng to hơn và bom gây thương vong nhiều hơn. Và tìm những nhà lãnh đạo cứng rắn hơn để đối phó với kẻ xấu. Xuyên suốt lịch sử là các chiến lược chính trị thường nghe như kịch bản của một bộ phim bom tấn Hollywood mới nhất nào đó.

Quan điểm của Khổng Tử lại khác. Ông khuyên các lãnh chúa nên đặt mục tiêu là vì phúc lợi của nhân dân. Và để đạt mục tiêu đó, họ nên chọn các viên quan có đủ đạo đức và kỹ năng để giải quyết các mối bất hòa giữa người với người mà không phải dùng đến bạo lực. Các lãnh đạo thời đó lắng nghe và cúi đầu trước tư tưởng của Khổng Tử, rì rầm tán thưởng. Nhưng không ai sẵn sàng áp dụng như lời ông nói. Bản thân Khổng Tử ngoài sự thông tuệ còn có cả đức kiên nhẫn. Ông dành phần đời còn lại giảng giải những học thuyết của mình cho các đệ tử, hy vọng một ngày nào đó sẽ có một vị vua anh minh có thể đem chúng ra áp dụng. Ông mất năm 479 TCN nhưng các đệ tử đã kịp ghi lại lời ông thành sách nên tư tưởng của ông còn sống mãi và sẽ đến ngày chúng được phát huy. Vào khoảng năm 100 TCN, một vị hoàng đế lên ngôi và đưa các tư tưởng của Khổng Tử vào thực tế, từ đó nó trở thành nền tảng triết học chủ đạo ở Trung Hoa cho đến khi chế độ phong kiến sụp đổ vào năm 1912. Ngày nay, các nguyên tắc do Khổng Tử đề xuất vẫn còn chỗ đứng ngay cả trong Trung Quốc hiện đại.

Tư tưởng chính của Khổng Tử đối nghịch với chủ nghĩa cá nhân thô kệch hay sự cực đoan của những kẻ cô độc muốn chống lại xã hội và các khuôn khổ xã hội. Khổng Tử dạy rằng: từ lúc mới sinh, chúng ta đã ở trong một mạng lưới các mối quan hệ và chúng ta không thể sống thiếu các mối quan hệ đó được. Cái gì tốt cho cộng đồng thì tốt cho cá nhân, dù đôi khi điều đó đồng nghĩa với việc phủ nhận các mong ước riêng tư của cá nhân. Cuộc sống là một mối tương hỗ qua lại. Xã hội là một thể thống nhất mà tất cả chúng ta là thành viên trong đó. Các bộ phận riêng lẻ không thể sống sót nếu tách ra khỏi cơ thể chung là xã hội.

Và tình yêu thương hay lòng từ bi là chất keo kết dính tất cả với nhau. Từ bi cũng có nghĩa là đồng cam cộng khổ. Những người từ bi sẽ cố gắng cảm nhận theo trải nghiệm của người khác để thấy sự việc từ góc độ của người khác. Từ lời dạy của Khổng Tử, ta nhận ra những phiên bản xa xưa của cái ngày nay gọi là Quy tắc Vàng, thường được phát biểu ở cả dạng khẳng định và phủ định: “Hãy làm cho người khác điều bạn muốn họ làm cho bạn” và “Đừng làm cho người khác điều bạn không muốn ai làm cho bạn”.

Chữ Khổng Tử dùng để diễn tả tinh thần hiểu và cảm thông với người khác là Nhân. Để nhất quán với nguyên tắc thực dụng của người Trung Hoa, nhân ở đây nên nhìn theo hành động chứ không đơn thuần chỉ hiểu trên lý thuyết. Nếu bạn hy sinh mạng sống của mình để cứu những người khác, bạn đang hành nhân. Nếu tôi đang trên đường đến cửa hàng mua một món đồ mà tôi đã để dành tiền từ lâu để mua nó, thế rồi tôi đưa số tiền cho một người nhập cư không nhà không cửa, thì tôi đang hành nhân. Nhân là hành vi thông tuệ nhất mà một con người có thể làm. Nó xem người khác quan trọng hơn bản thân mình. Đó cũng chính là tinh thần mà Khổng Tử muốn thấy ở các bậc lãnh đạo và chính trị gia. Ông muốn các vị ấy tập trung vào hạnh phúc của nhân dân chứ không chỉ thỏa mãn tham vọng của cá nhân. Đồng thời, ông hy vọng thường dân sẽ nơi theo tinh thần rộng lượng đó khi phán xét các nhà lãnh đạo đang cố gắng điều hành đất nước trong thời kỳ khốn khó.

Cách Khổng Tử giải quyết bất đồng và mâu thuẫn giữa người và người dạy chúng ta bài học về sự kiên nhẫn, quan tâm cũng như lòng nhân ái với người xung quanh. Chính vì thế mà trong quá trình thực hành, tư tưởng đó thường gắn liền với một tác phong nhã nhặn bặt thiệp. Nhã nhặn và kiên nhẫn là chỉ dấu của một tâm thức nhận biết được sự phức tạp của các mối quan hệ và sự thận trọng khi xây dựng chúng. Đến tận bây giờ, sự nhã nhặn trong tương tác giữa người với người có vẻ phổ biến ở người phương Đông tâm tính kiên nhẫn hơn là ở người phương Tây nóng vội.

Thế nhưng, chẳng phải tư tưởng Khổng Tử nên được hiểu như một trường phái triết học hơn là một tôn giáo sao? Định nghĩa được sự khác nhau giữa hai thuật ngữ này sẽ giúp ta xác định được câu trả lời. Triết học, có gốc từ tiếng Hy Lạp, nghĩa là “yêu sự hiểu biết trong mọi dạng thể của nó”. Một dạng được hiểu là triết học đạo đức là ngành nghiên cứu cách sống tốt nhất hay thông thái nhất trên thế giới này. Trong khi đó, tôn giáo quan tâm nhiều hơn đến cái nằm ngoài thế giới này, ở ngoài kia, cái gì chờ đợi chúng ta sau khi đời này chấm dứt.

Đạo Khổng lại không chú ý đến những câu hỏi đó mà tập trung vào việc giải quyết cuộc sống trên Trái đất này vì lợi ích tốt đẹp của cộng đồng con người, chứ không đi kiếm công lao hay tránh các hình phạt trong kiếp sau. Cuộc đời là để sống tốt và trọn vẹn trong chính nó, chứ không chỉ là khúc dạo đầu cho những gì có thể xảy đến sau cái chết.

Tuy vậy, có một khía cạnh trong đạo Khổng khiến nó có phần giống như một tôn giáo: cách nó nhìn nhận cái chết và sự tôn kính dành cho ông bà tổ tiên. Nhưng điều này có thể hiểu là sự mở rộng của triết lý xem con người được gắn kết với nhau trong xã hội. Ngay cả cái chết cũng không chia rẽ được mối gắn kết đó giữa chúng ta. Vì thế mà trong xã hội theo đạo Khổng, người chết thường được khóc thương da diết và ký ức về họ cũng được lưu giữ mãi mãi. Thời gian tưởng nhớ sau khi một người qua đời là khác nhau nhưng có thể kéo dài hơn hai năm với con cháu của người đã khuất; trong hai năm đó, họ không làm việc, quan hệ tình dục, chỉ ăn thức ăn đơn giản nhất, không mặc quần áo đẹp hay tận hưởng các thú vui nói chung.

Thế nhưng đạo Khổng không chỉ tôn kính tổ tiên bằng cách tưởng nhớ sự mất mát như vậy. Người chết vẫn chưa chấm dứt sự tồn tại. Ta cũng chưa mất liên lạc với họ. Họ có thể đã rời trần gian và đi đến cõi khác, nhưng sự hiện diện của họ trong đời sống của ta vẫn được duy trì. Xa mặt không có nghĩa là cách lòng. Thế nên, đạo Khổng có một ngày lễ mùa xuân phổ biến là Tết Thanh Minh, khi đó các gia đình cùng đi viếng mộ ông bà tổ tiên để được gần gũi và vui vầy bên nhau một lần nữa. Thái độ hòa nhã và tôn trọng dành cho tất cả, ngay cả với người đã khuất, là dấu ấn của đạo Khổng vậy.

Nhưng đạo Khổng chưa bao giờ giữ vị trí độc tôn ở Trung Hoa. Nó là một trong ba cách tiếp cận cuộc sống gần như có thể hoán đổi cho nhau, bên cạnh đạo Lão và Phật giáo. Trong chương kế tiếp, chúng ta sẽ tìm hiểu đạo Lão và cùng xem Phật giáo đã được duy trì ra sao khi du nhập vào Trung Hoa trong thế kỷ thứ nhất.

CHƯƠNG 15: ĐẠO THUẬN TỰ NHIÊN

Đạo Khổng có thể gần gũi và dễ hiểu nhưng nó lại nghiêm túc và không mấy vui vẻ. Với đạo Lão, một truyền thống tư tưởng khác của Trung Hoa, mọi chuyện lại đảo ngược. Khi tìm hiểu đạo Lão, bạn có thể thấy rất khó hiểu nhưng một khi đã nắm được tinh thần của nó, bạn có thể thấy hay ho. Tương tự các vị hiền triết của các tôn giáo khác, những vị khởi thủy ra đạo Lão khám phá ra một điều gì đó, nhưng chính nơi họ tìm thấy điều đó mới khác biệt. Các vị hiền triết của Hindu giáo thấy thế giới và cuộc đời của chúng ta đều là những ảo ảnh cần phải bị diệt trừ nếu muốn đạt sự giải thoát. Các nhà tiên tri của Do Thái giáo thấy Đức Chúa Trời dự định sẽ đưa thế giới đến ngày tận thế rồi phán xử những gì từng cá nhân đã làm khi họ còn sống. Với cả hai tôn giáo trên, thế giới và chỗ đứng của con người trong đó là các vấn đề cần được giải quyết. Và thế là họ đi ra ngoài thế giới đó để tìm câu trả lời.

Các Đạo gia thì khác, họ xem xét chính thế gian này và họ yêu những gì họ thấy được. Người theo đạo Lão xúc động trước sự thống nhất và tương thuộc trong thế giới, cách vạn vật vận hành cùng nhau. Trừ khía cạnh con người! Con người đã không còn hòa đồng với vũ trụ vì tâm trí vị ngã của con người đã khiến họ lạc điệu với nhịp tự nhiên của vũ trụ này. Sự bình an nằm ở việc khôi phục sự hòa hợp với tự nhiên và sống thuận theo nhịp điệu đó. Cách đạo Lão diễn tả điều đó khiến nhiều người thấy khó nắm bắt. Họ mời gọi con người sống thuận theo Đạo của vũ trụ, nhưng họ không giải thích Đạo đó là cái gì. Chuyện còn khó hiểu hơn nữa khi họ bảo rằng không thể học được Đạo nếu không biết Đạo. Khó hơn nữa khi họ bảo ai đã biết Đạo thì không nói về nó, còn ai nói về nó tức là không biết gì về nó cả. Đọc xong những dòng này, hẳn bạn thấy như ong não khi cố hiểu rốt cuộc Đạo là gì. Như những người duy lý khác, bạn muốn mọi sự được giải thích rõ ràng. Bạn muốn hiểu cái gì đang diễn ra. Đầu óc bạn đòi hỏi phải như thế. Trong lúc đó, các Đạo gia chỉ làm bạn thêm bực mình vì họ chỉ cười với bạn một cách hiền từ và không nói gì thêm cả!

Vậy bạn thử nhớ lại những lần bạn chăm chăm làm cái gì cho bằng được thì lại không được như ý. Chỉ khi bạn thôi cố gắng thì việc lại thành. Giống như khi bạn học bơi lần đầu, hay một chiều hè nọ, bạn tự nhiên tìm ra cân bằng và thấy mình lái xe đạp băng băng trên đường. Mấu chốt là sự cân bằng. Chỉ những ai đã trải qua cân bằng đó mới biết nó là gì. Ta có thể gọi nó là Đạo của việc đạp xe. Như vậy đạo Lão muốn chúng ta tìm thấy sự cân bằng tương tự trong cách ta sống và liên hệ, với không chỉ mọi người quanh ta mà với cả vũ trụ.

Người đứng đằng sau triết lý sống trên là một vị sinh cùng thời và lớn tuổi hơn Khổng Tử gọi là Lão Tử. Ông sinh khoảng năm 600 TCN và được cho là từng làm việc trong thư viện của một trong các hoàng đế Trung Hoa. Khi được yêu cầu giải thích quan niệm sống của mình, ông đã cho ra đời một trong những văn bản ngắn nhất và được tôn kính nhất lịch sử tôn giáo và triết học gọi là Đạo Đức Kinh. Ý tưởng xuyên suốt trong đó là cân bằng và quân bình. Lão Tử nhận thấy trong tự nhiên, mọi điều đều có thứ đối lập để bổ sung cho nó. Ông gọi hai cực đó là Âm và Dương. Cái Âm nào cũng có phần Dương của nó, cứ có Dương thì sẽ có Âm. Để làm rõ điều này, ông vẽ ra một hình tròn có một đường cong bên trong chia nó thành hai phần bằng nhau, một phần màu trắng, phần kia màu đen. Mỗi nửa vòng tròn như vậy có một chấm tròn nhỏ đại diện cho nửa còn lại, cụ thể là chấm màu đen trong nửa màu trắng và chấm trắng trong nửa màu đen. Triết lý này khuyên chúng ta biết tìm thấy bản thân trong người khác: màu trắng trong màu đen, sắc đen trong sắc trắng, có tính nữ trong tính nam, có tính nam trong tính nữ; rồi có bạn ẩn trong mỗi kẻ thù hay có kẻ thù ẩn trong mỗi người bạn; tôn giáo của tôi hiện ra trong tôn giáo của anh và ngược lại. Về cơ bản, nó cũng giống với điều Khổng Tử dạy chúng ta phải hình dung mình trong địa vị của người khác. Lão Tử thì có cách nói vui vẻ hơn. Ông không bảo ta phải chịu đựng sự đa dạng. Ông muốn ta phải hân hoan cùng sự đa dạng như vậy. Thế giới khi đó là một dàn nhạc giao hưởng của hàng trăm nhạc cụ khác nhau cùng tạo ra thứ âm nhạc tuyệt đẹp. Sự cân bằng, đúng lúc đúng thời và tính hòa hợp là các dấu ấn của Đạo.

Lão Tử nhận thấy một cách khác khiến con người mất cân bằng là khi họ có nhu cầu kiểm soát người khác. Thay vì để cho người khác sống theo nhịp điệu của riêng họ, ta lại cứ liên tục can thiệp. Ví dụ điển hình là kiểu người xem cách làm của họ là cách duy nhất đúng, từ việc rửa chén bát như thế nào đến chuyện điều hành quốc gia ra sao. Những người đó luôn ở trong trạng thái khó chịu và bất mãn vì thực tại không đi theo quy luật mà họ muốn áp đặt. Lão Tử khuyên những người này hãy thư giãn và học cách sống của một cái cây. Cây không cần ai bảo ban phải làm thế nào mà cứ theo bản chất tự nhiên của nó thôi. Tại sao con người không thể làm điều tương tự? Tại sao họ không thể ngừng kích động và cứ để mọi thứ thuận theo tự nhiên? Lão Tử gọi lối sống đó là vô vi, làm mà lại không làm, để cho mọi thứ đúng như nó vốn dĩ, cho phép mọi việc xảy ra. Ông không thích các phép tắc và quy định cũng như cách các nhà tổ chức gò ép mọi người sống theo khuôn mẫu thay vì ngọi ca sự khác biệt của họ.

Những người theo lối sống như Lão Tử nói là người theo chủ nghĩa vô chính phủ, tiếng Anh là anarchist, một từ khác trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là chống lại chính phủ. Với người theo đạo Lão, đó không phải là chống đối chính phủ hoàn toàn. Vấn đề là họ muốn tìm ra sự cân bằng và cân xứng trong quá trình cai trị. Là cảnh giác trước vai trò lấn át của các nhà hoạch định chính sách trong xã hội và không thích việc họ cố gắng ép buộc mọi người vào cùng một cái khuôn. Trái ngược với kiểu người vô chính phủ đó là kiểu người theo pháp gia, tức legalist, những người tin rằng luật pháp là cách duy nhất kiểm soát được bản tính con người. Một thứ trở thành vấn đề cho xã hội ư? Họ sẽ luôn kêu gào thống thiết rằng: Cấm nó! Bãi bỏ nó đi!

Khác với Khổng Tử, người muốn kiểm soát bản tính con người vì lợi ích chung của toàn xã hội, Lão Tử muốn đem lại cho mỗi cá nhân sống trong xã hội sự tự do tối đa có thể. Hai cách tiếp cận trái ngược nhau, như Âm và Dương vậy, đều có ưu điểm riêng. Nhưng những người theo pháp gia thường là những nhà tổ chức vĩ đại và hiếm khi ngơi nghỉ nên họ thường chiếm ưu thế trong xã hội và tôn giáo, áp đặt ý chí chủ quan của họ lên người khác. Nếu cần, họ thậm chí còn phát động chiến tranh để đạt được mục tiêu. Lão Tử ghét chiến tranh, thứ hủy hoại sự hòa hợp của nhân loại. Có lẽ, nếu con người biết lắng nghe ông hơn thì thế giới này đã bớt đi các cuộc chiến tranh và có thêm nhiều niềm vui.

Bạn có thể học được nhiều từ đạo Lão mà không cần phải chấp nhận hết các ý tưởng có tính tôn giáo trong đó, nhưng sẽ là sai lầm nếu chúng ta lờ đi sự tồn tại của những ý tưởng ấy. Đạo Lão vẫn tiếp tục phát triển sau khi Lão Tử qua đời vào năm 524 TCN. Bên cạnh việc giảng về Đạo, đạo Lão cũng có rất nhiều vị thần tiên. Những vị thần tiên tối cao, còn gọi các vị Thiên Tôn, được tin là ra đời cùng lúc với khởi thủy của thế giới. Các vị này cai quản triều đình trên thiên đình, được một nhóm các thần tiên cấp dưới hỗ trợ. Ngoài các vị thần tiên ra đời cùng với vụ trũ ấy, con người cũng có thể trở thành thần tiên hay bất tử. Để đạt đến mức này, mỗi người phải thanh lọc các điểm chưa hoàn hảo của bản thân thông qua một chế độ thiền định và tiết chế ham muốn như cách làm của Đức Phật để được giải thoát khỏi vòng luân hồi tái sinh. Điểm khác biệt là ở chỗ người theo đạo Lão tin vào sự hiện tồn của vũ trụ này. Với họ, thắng lợi của linh hồn không phải là biến đi như một giọt mưa rơi xuống đại dương Niết bàn mà đạt được sự bất tử như thần tiên. Một đặc điểm khác giúp phân biệt đạo Lão với các tôn giáo khác là vị trí nó dành cho phụ nữ. Ngoài các thần tiên là nữ, đạo Lão có các tu sĩ và học giả nữ từng giữ vai trò quan trọng trong lịch sử đạo này. Tuân theo đúng triết lý của mình, các Đạo gia sống theo cả nguyên lý tính nữ-Âm và nguyên lý tính nam-Dương.

Đạo Khổng và đạo Lão là hai tôn giáo nội sinh trong đất nước Trung Hoa, còn tôn giáo thứ ba là Phật giáo thì được du nhập từ Ấn Độ. Sau khi Phật giác ngộ dưới cội bồ đề, giáo lý của ngài lan truyền khắp Ân Độ, Đông Nam Á, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản và xa hơn nữa. Trong quá trình phát triển đó, giáo lý nhà Phật được phân chia thành các tông phái khác nhau, dựa trên các cách giải thích lời Phật dạy khác nhau. Phật giáo Tiểu thừa (Theravada) tuân theo đúng tinh thần nghiêm ngặt của thời kỳ truyền pháp đầu tiên, theo đó thì cách nhanh nhất để đạt giác ngộ là phải xuất gia thành một nhà sư. Chữ “thừa” có một nghĩa là “cỗ xe”, ở đây ý nói những cá nhân có năng khiếu, căn cơ phù hợp rồi thì có thể đi phương tiện nhỏ và nhanh như chiếc xe đua để đến sự giác ngộ. Còn tông phái kia là Phật giáo Đại thừa (Mahayana), như một chiếc xe buýt dành cho người bình thường cần thời gian tu tập dài hơn.

Sự khác nhau giữa hai tông phái đó không chỉ ở tốc độ. Như ta từng thấy các tôn giáo khác có sự chia rẽ lớn giữa một bên thích các hình ảnh và tôn tượng, còn bên kia lại căm ghét chúng. Đức Phật không ủng hộ việc thờ cứng các tôn tượng, nhưng tôn giáo phổ biến lại thích có thứ gì đó để các tín đồ nhìn ngắm, vậy thì còn hình ảnh nào được các Phật tử yêu mến cho bằng hình ảnh của chính Đức Phật? Từ đó, các bức tượng Phật, thường là đẹp đẽ đến choáng ngợp, trở thành một yếu tố nổi bật trong các ngôi chùa theo truyền thống Phật giáo Đại thừa. Chính truyền thống Đại thừa đó đã đi theo Con đường Tơ lụa vào Trung Hoa trong thế kỷ 1 và 2, bám rễ và làm đổi thay tình hình tôn giáo của đất nước này, đồng thời chịu ảnh hưởng từ các tôn giáo khác.

Người Trung Hoa vẫn duy trì cách tiếp cận thực dụng của họ trong tôn giáo. Họ không ngại pha trộn những điểm hay nhất từ các truyền thống khác nhau, cũng không ngại trung thành với một tín ngưỡng đơn lẻ nào đó một cách nghiêm ngặt. Vì thế, khi Phật giáo gặp gỡ đạo Lão, cả hai đã cùng thay đổi. Kết quả là sự ra đời của phái Thiền tông trong Phật giáo. Bạn còn nhớ việc hiểu Đạo là khó khăn như thế nào không? Thiền tông đã vay mượn cách tiếp cận đùa bỡn đó của đạo Lão.

Làm sao con có thể tìm thấy sự bình an và chấm dứt ham muốn này? Xin hãy dạy cho con. Xin cho con hay kinh sách đã giải thích tình huống này thế nào và làm sao để thoát ra khỏi nó.

Ra... vào... ra... vào.

Sao cơ ạ?

Ngồi yên, thật yên... đếm hơi thở: ra... vào... ra... vào.

Con đến để thưa về vấn đề của mình, vậy mà thầy bảo con tập thở! Con cần cái khác cơ, cái gì để con ngẫm nghĩ được đó ạ.

Được thôi. Con hãy nhìn thật lâu vào bông hoa cúc này đi...

SAO CƠ Ạ?

Thiền tông có tinh thần vui đùa đó của đạo Lão, thế nên các nền văn hóa chịu sự thống trị của lý tính có thể học được nhiều từ nó.

Một nhánh thứ ba nổi lên trong Phật giáo có ảnh hưởng sâu sắc đến một trong những đất nước bí ẩn nhất trên thế giới. Đó là Phật giáo Mật thừa, hay Mật tông, trong đó có sự hướng dẫn chuyên sâu của một thầy tu trên con đường hướng đến giác ngộ và chính tông phái này đã bám rễ trên đất Tây Tạng. Nằm bên kia dãy Himalaya, phía Tây Nam Trung Quốc, Tây Tạng là một trong những vùng đất khó tiếp cận nhất của địa cầu. Nơi đó được gọi là “Mái nhà của thế giới” vì có những ngọn núi khổng lồ và cao nguyên bát ngát. Sự hẻo lánh của nó đã tạo điều kiện cho Mật tông phát triển và biến cả đất nước thành một tu viện khổng lồ. Dưới sự lãnh đạo của các sư thầy gọi là các lạt ma, Tây Tạng trở thành một đất nước lấy các nguyên lý về tinh thần của Phật giáo làm trung tâm.

Các vị lạt ma Tây Tạng đã khiến một trong những truyền thống của Phật giáo trở nên đặc biệt hữu dụng: sau khi đạt đến giác ngộ, vị sư có thể chọn từ bỏ tấm vé đến Niết bàn và tình nguyện quay lại thế gian như một vị “Phật sống” để giúp người khác tìm kiếm sự giải thoát. Theo truyền thống ở Tây Tạng, một số lạt ma cấp cao được phép chọn vị tái sinh tiếp theo của mình, nhưng người ta cần phải đi tìm xem người được chọn kế vị đó đang ở đâu. Sau khi vị lạt ma cấp cao viên tịch, cuộc tìm kiếm vị tái sinh của ngài có thể kéo dài vài năm. Một khi vị tái sinh đã được nhận diện vượt qua được một số bài kiểm tra, vị đó được tuyên bố chính thức là tái sinh của vị lạt ma đi trước và được đưa vào tu viện. Nổi tiếng nhất trong số các dòng truyền thừa ngày nay là bộ phái của Đức Đạt lai Lạt ma, người có khuôn mặt tươi cười đã trở nên quen thuộc tại các nước phương Tây. Ngài là vị tái sinh thứ mười ba của vị Đạt lai Lạt ma thứ nhất và có thể cũng là vị tái sinh cuối cùng. Điều đó không có nghĩa là đạo Phật đã hết thời ở đất Tây Tạng. Tôn giáo nói chung luôn có cách tồn tại ngoài vòng kiểm soát của các thế lực đàn áp. Tôn giáo như cái đe có thể làm hao mòn những cây búa giáng xuống. Giống như khi Phật giáo đến Trung Hoa và không chỉ dừng lại ở đó. Đạo Phật tiếp tục di chuyển về phương Đông cho đến khi tới Nhật Bản để gặp gỡ tôn giáo mà chúng ta sẽ nói đến tiếp theo: Thần đạo (đạo Shinto).

CHƯƠNG 16: KHUẤY BÙN ĐẤT LÊN

Khi nói về Tây Tạng ở chương trước, tôi đã mô tả nó là vùng hẻo lánh và khó tiếp cận. Nói như thế cũng có phần thiển cận. Truyện ngụ ngôn về những người mù và con voi đã cảnh báo chúng ta đừng đưa ra giả định là thế giới đúng như những gì mình thấy thôi. Với tôi thì Tây Tạng xa xôi. Với người Tây Tạng thì đó là nhà và Scotland mới là nơi xa xôi. Tôi sắp có một sai lầm tương tự với Nhật Bản. Đất nước này là quốc đảo và cách xa Trung Quốc. Ngay cả người Trung Quốc, láng giềng gần nhất của họ, mãi đến năm 600 mới sang Nhật lần đầu. Do đó, ta rất dễ hiểu nhầm Nhật Bản bị cách biệt với phần còn lại của thế giới. Tại sao ta không nghĩ chính thế giới mới bị tách khỏi nước Nhật nhỉ? Trong một thời gian dài, người Nhật không biết có một thế giới bên ngoài như thế. Họ nghĩ nước Nhật chính là thế giới luôn rồi. Không chỉ vậy, nước Nhật còn là tôn giáo của họ và họ yêu tôn giáo của mình rất nhiều! Như vậy để hiểu tôn giáo Nhật Bản, ta phải cố gắng hiểu người dân cảm nhận ra sao về mảnh đất của họ.

Trong tiếng Anh, tên của nước Nhật (Japan) là do người châu Âu gắng phát âm từ tiếng Trung mà thành. Người bản xứ gọi nước họ là Nippon hay đất nước mặt trời mọc, một miêu tả rất phù hợp. Nhìn về hướng đông, họ chỉ thấy khoảng không lấp lánh của Thái Bình Dương, từ đó mặt trời lên cao mỗi ngày, tỏa ánh sáng của mình trên 6852 đảo nhỏ thuộc quần đảo Nhật Bản. Do đó, thật dễ hiểu khi trong câu chuyện khai thiên lập quốc của họ, hình ảnh mặt trời chiếm vị trí đáng kể. Mọi tôn giáo đều có câu chuyện sáng thế, đưa ra cách lý giải của họ về việc thế giới này đã hình thành ra sao. Giờ ta sẽ xem lại một vài câu chuyện như thế và rút ra một số kết luận trước khi quay lại nước Nhật.

Ấn Độ có rất nhiều câu chuyện về sự khai thiên lập địa. Một trong số đó kể rằng trước khi thời gian hiện hữu và thế giới ra đời, một thực thể khổng lồ là Purusha đã nổ tung và từ những mảnh vụn vỡ đó, mọi thứ thành hình hài sống động, kéo dài đến khi có hệ thống tầng lớp xã hội cụ thể trong Hindu giáo.

Dân cư vùng Lưỡng Hà, quê hương của Abraham, lại nói rằng thời khởi thủy có hai người khổng lồ là Apsu, nghĩa là Nước Ngọt, và Tiamat, tức Nước Mặn. Họ kết đôi và sinh ra các vị thần khác và lũ quái vật biển cả. Đôi khi, nước biển dâng gây ngập lụt đất liền là do người nữ là Tiamat muốn đứng ra kiểm soát mọi thứ. Bà bị chính gia đình mình chống đối và tiêu diệt. Họ chia hài cốt của bà thành hai phần là Thiên đường và Hạ giới. Thiên đường dành cho các vị thần. Con người được tạo ra để phục vụ các thần và được ở trong khu vực của bầy tôi tớ là Hạ giới.

Ai Cập cũng có các câu chuyện tương tự, trong đó nước lại đóng một vai lớn. Lúc mới đầu, thế giới chỉ toàn là biển cả. Sau khi trận lụt rút đi, một ngọn núi nhô lên khỏi mặt nước. Một văn tự khác kể rằng thần mặt trời Ra xuất hiện để tạo thêm các vị thần khác và lập nên Trái đất. Một phiên bản khác kể là thần đất Ptah mới là vị hiện ra đầu tiên và làm cho mọi thứ được sinh ra sau đó.

Nếu nhằm phương Bắc tiến đến vùng Bắc Âu, ta cũng sẽ gặp mô tip tương tự về nước. Thời xa xưa đó, tất cả chỉ là một vực sâu thăm thẳm chứa đầy nước là nước. Rồi chỗ nước đó đóng băng. Rồi nó tan ra. Từ khối nước tan đó hiện ra một người khổng lồ tên là Ymir. Từ nách Ymir sinh ra một người nam và một người nữ. Trong lúc đó, một con bò liếm cho băng mỏng đi đủ để một người khổng lồ khác trỗi dậy. Từ vị khổng lồ đó mà thần Odin xuất hiện. Giống những gì thường xảy ra trong cuộc đời của các vị thần, mọi thứ trở nên hỗn loạn điên cuồng. Odin và các anh em trai giết chết Ymir và dùng thân xác ấy để tạo ra Trái đất, dùng cái đầu lâu tạo ra các tầng trời và dùng máu làm ra đại dương. Xương của Ymir thành các dãy núi, còn cây cối thì tỏa ra từ tóc. Còn nhiều chi tiết khác nữa, nhưng tổng thể là như vậy.

Sau mọi sự hỗn mang kiểu đó, câu chuyện sáng thế trong Kinh Thánh Do Thái quả là nhẹ nhõm, xuất hiện từ khoảng năm 900 TCN. Có hai phiên bản trong Sáng Thế Ký, mỗi câu chuyện đều độc thần và biển cả luôn đóng vai chính. Thượng Đế đã nghiền ngẫm về “đáy sâu” và hiệu triệu mọi thứ từ cõi thăm thẳm đó ra cõi đời. Ngài làm công việc này trong sáu ngày và nghỉ ngơi vào ngày thứ bảy. Từ đây, tục lệ người dân Do Thái nghỉ làm vào ngày thứ bảy trong tuần, gọi đó là ngày Sabbath, hình thành.

Câu chuyện của người Nhật ra đời vào cùng khoảng thời gian với Sáng Thế Ký và biển cả một lần nữa đóng vai trò chính. Thuở ấy cũng chỉ có biển mà thôi. Rồi vị nam thần Izanagi và nữ thần Izanami dùng một cây giáo dài để khuấy bùn đất ở đáy biển lên và từ đống bùn đất này, các hòn đảo của nước Nhật mới hình thành. Cặp vợ chồng thần thánh này sau đó sinh ba đứa con, Nữ thần Mặt trời và các anh em của bà là Nam thần Mặt trăng và Nam thần Bão tố. Nữ thần Mặt trời có con và rồi người cháu trai của bà trở thành vị hoàng đế đầu tiên của nước Nhật.

Chúng ta cũng nên nghĩ về các câu chuyện kể trên một chút vì nó cho ta biết cách vận hành của tôn giáo. Các câu chuyện ấy đúng hay sai? Còn tùy theo bạn nghĩ mục đích của chúng là gì. Bạn còn nhớ câu chuyện nhà tiên tri Nathan kể cho vua David chứ? Nó là thật hay bịa? Xét theo dữ kiện thực tế thì nó là chuyện bịa. Chẳng có người chủ giàu có nào đi cướp cừu của kẻ tôi tớ nghèo hèn cả. Thế nhưng về mặt luân thường đạo lý thì chuyện đó là thật. Nó được chế ra để buộc vua David phải nghĩ về những việc ông ấy từng làm. Và nó đã có tác dụng. Câu chuyện hàm chứa sự thật theo nghĩa nghệ thuật, không phải sự thật kiểu khoa học. Khoa học quan tâm đến sự kiện có thật, cách mọi thứ vận hành. Nghệ thuật lại quan tâm đến việc tiết lộ cho chúng ta biết sự thật về cuộc đời của chính ta. Chính vì thế, một câu chuyện nào đó có thể làm bạn bật khóc khi nhận ra: Là tôi đó! Tôn giáo là một nghệ thuật, không phải là khoa học. Vì thế câu hỏi cần đặt ra cho một câu chuyện sáng thế không phải là nó có thật hay không mà là câu chuyện có ý nghĩa gì, nó muốn nói với chúng ta điều gì. Nhiều người theo tôn giáo cũng không ý thức được sự khác biệt đó. Rồi ta sẽ thấy một số tín đồ thật ngớ ngẩn khi cố chứng minh câu chuyện sáng thế trong Kinh Thánh là một công trình khoa học chứ không phải là một tác phẩm nghệ thuật.

Không có câu chuyện sáng thế nào ở trên là có thật ở ngoài đời, tuy thế chúng đều chứa đựng một ý nghĩa nào đó. Câu chuyện trong Kinh Thánh là dễ nắm bắt nhất, dù bạn có thể chưa đồng ý với nó: vũ trụ không tự sinh ra mà nó do Đức Chúa Trời tạo thành. Câu chuyện của vùng Lưỡng Hà và Bắc Âu về các mối tranh chấp từ xưa phản ánh tình trạng bạo lực và tàn ác vẫn đang tiếp diễn của thế giới.

Các câu chuyện là sáng tạo của đầu óc con người. Câu hỏi ở đây là chúng được Đức Toàn Tri đưa vào đầu óc con người hay hoàn toàn là do ta tự nghĩ ra. Dù câu trả lời của bạn có thế nào thì bản thân các câu chuyện vẫn có sự thú vị riêng. Những chi tiết nhỏ trong đó có thể là những ký ức từ rất xa xưa: một vụ nổ khỏi đầu cho vạn vật và một đại dương sinh ra muôn loài. Câu chuyện sáng thế của khoa học hiện đại lần về khởi thủy của vũ trụ là vụ nổ Big Bang cách đây mười bốn tỷ năm và dự đoán thời điểm sự sống bắt đầu trên hành tinh này là khoảng ba tỷ rưỡi năm trước. Các đại dương vào thuở ban đầu ấy như một món xúp hỗn hợp các hóa chất sinh ra từ các núi lửa phun trào và nhờ những tương tác của chúng mà những dạng sống đầu tiên xuất hiện. Hàng tỷ năm sau, loài người chúng ta mới ra mắt. Liệu những ký ức của Trái đất về thời khai thiên lập địa đó đã thấm vào tâm trí các nghệ sĩ nọ, những người nhìn xuyên suốt lịch sử để tìm ý nghĩa vạn vật? Với tôi thì điều đó không phải là bất khả thi. Có thể là vì cả vũ trụ này vốn khá kỳ lạ và hầu như chuyện gì cũng có thể tưởng tượng ra được.

Điều đáng yêu trong câu chuyện sáng thế của người Nhật nằm ở chỗ khi các vị thần khuấy bùn đất ở đáy biển lên thì cái họ tạo ra không phải là thế giới mà là nước Nhật! Hoặc các thần tạo ra một thế giới chỉ có nước Nhật. Đó là cách dân tộc họ biểu thị tình yêu dành cho đảo quốc quê hương xinh đẹp. Các quốc đảo thường không tránh khỏi việc tập trung chú ý vào nước mình. Họ ít tiếp xúc với giao thông vượt qua các biên giới trên đất liền nên những thôi thúc về tôn giáo của họ hiếm khi chịu ảnh hưởng từ thần linh của các nước láng giềng. Những gì ta biết về tôn giáo sơ khai của Nhật đã khẳng định điều đó. Và nếu ta nhớ thêm rằng nước Nhật chưa bao giờ bị chinh phục cho đến năm 1945, vào cuối cuộc Thế chiến thứ Hai, ta sẽ không ngạc nhiên khi khám phá ra rằng người Nhật không chỉ yêu đảo quốc quê hương bằng một tình yêu nồng nhiệt mà họ còn tin đất nước họ là độc đáo. Trong thời quá khứ xa xăm, có lẽ dân họ đã nghĩ chẳng có gì khác tồn tại trên đời ngoài đất nước họ.

Nước Nhật không chỉ do các thần linh tạo ra mà nó còn là nơi chốn đi về, là mái nhà thân thương của họ. Các tôn giáo khác tin rằng dù thần linh có thể ghé thăm trần gian thì nơi ở chính thúc của các vị ấy vẫn rất xa bên trên chúng ta, thuộc một lãnh địa khác có tên là Thiên đường. Với dân Nhật, đảo quốc xinh đẹp của họ chính là chốn cao xa đặc biệt đó. Thiên đường và mặt đất là một. Thiên đường nằm ở Hạ giới, Hạ giới ở trong Thiên đường. Một số tôn giáo xem cơ thể con người là nơi trú ngụ hữu hình của một linh hồn bất tử. Đó cũng là cách người Nhật nghĩ về mảnh đất của mình. Các hòn đảo của Nhật là biểu hiện về mặt vật chất của các tâm linh thần thánh gọi là kami, vốn hiện diện khắp nơi trong tự nhiên. Kami ngụ trong các loài động vật. Kami nằm trong các ngọn núi, mà ngọn núi đẹp và thiêng liêng nhất là núi Phú Sĩ. Kami cũng có trong cây cối và sông ngòi.

Tôi nói đó là tôn giáo của họ, nhưng như thế cũng chưa chính xác lắm. Cách nói ấy gọi lên một thứ gì đó tách biệt, một niềm tin họ lưu giữ trong tâm trí. Nó cũng sai không khác gì việc nói cảm giác của bạn về bản thân là một loại tôn giáo, điều bạn nắm hắt hay tin tưởng về chính mình, chứ không phải con người thật của bạn. Người Nhật cảm nhận về bản thân như được bao bọc trong một mạng lưới hiện hữu vĩ đại gồm có mảnh đất này, họ và các thể tâm linh thổi sự sống vào vạn vật. Đó không chỉ là điều họ tin. Đó chính là con người họ.

Thuật ngữ chỉ thái độ sống này là thuyết vật linh. Nó không khác lắm với một lý thuyết hiện đại gọi là thuyết Gaia, trong đó hành tinh này không phải một đối tượng để con người cưỡng đoạt và khai thác mà là một sinh vật sống cần được quan tâm như cách ta chăm sóc gia đình và bạn bè mình. Nghĩa là giới tự nhiên cũng sống động và có linh hồn, có tầm quan trọng như con người vậy. Người Nhật cảm thấy điều này từ tận tâm can. Không ai bảo họ là phải yêu theo kiểu đó như một mệnh lệnh tôn giáo. Không ai bảo họ phải tin thế giới là như vậy. Họ không có những ngày đặc biệt trong năm để kỷ niệm việc họ khám phá ra bản chất của Trái đất. Họ không có tín ngưỡng về chuyện này. Chỉ đơn thuần là một tình yêu dành cho hồn đất thể hiện qua các đền thờ họ dựng lên ở các địa điểm đẹp đẽ, mỗi đền ghi dấu ấn với kiểu cổng đặc trưng gồm hai cột đứng và hai xà ngang. Nhật Bản ngày nay có hơn một trăm ngàn đền thờ như vậy và đó vẫn là những nơi được yêu kính.

Cách nhìn nhận thế giới của họ thậm chí còn không có tên gọi cho đến khi người Trung Hoa đến nước Nhật vào khoảng năm 600. Họ đến không phải với tư cách là những kẻ chinh phục hay người truyền giáo; nhưng quả thực, họ mang theo đạo Khổng, đạo Lão, Phật giáo và về sau, các tôn giáo đó đều có chỗ đứng ở nước Nhật. Có lẽ do người Trung Hoa thích phân loại các tín ngưỡng và thực hành tôn giáo mà họ gặp. Có lẽ do người Nhật Bản quyết định là họ cần một cái tên vừa diễn tả được tình yêu mà họ dành cho mảnh đất thiêng liêng này, vừa phân biệt được nó với các tôn giáo mới đến. Thế nên họ gọi nó là Thần đạo, hay đạo Shinto, với shin nghĩa là “thần linh” và to là thuật ngữ mượn từ đạo Lão, nghĩa là “con đường”. Đạo của Thần. Con đường của các thần linh, tức Shinto. Nếu thay bằng chữ “tình yêu” thì tinh thần có lẽ vẫn không đổi.

Bạn không phải tin rằng các thần linh đã tạo ra đảo quốc Mặt trời mọc từ bùn đất để thấy ngưỡng mộ Thần đạo. Thần đạo nhìn xuyên khắp thế giới để thấy một thứ gì đó sâu sắc hơn. Đôi khi nó thể hiện cái mình thấy qua những bức họa tinh tế đầy ám ảnh. Và thường thì nó chỉ cần ngợi ca tình yêu thế giới thông qua ba dòng thơ gọi là thơ haiku như sau:

Qua sông mùa hạ

Đôi dép trên tay

Thật là thoải mái!

CHƯƠNG 17: TÔN GIÁO CHO CÁ NHÂN

Trong lịch sử nhân loại, tôn giáo từng đáp ứng cho nhiều mục đích khác nhau. Trước khi khoa học hiện đại đưa ra quan điểm về nguồn gốc thế giới, các nhà viễn kiến tôn giáo cũng đã có những mô tả của mình, như ta đã thấy qua một số câu chuyện ở chương trước. Bên cạnh việc cố gắng mô tả thế giới đã được tạo thành như thế nào, tôn giáo cũng giải thích tại sao thế giới này lại có một trật tự như vậy. Nếu hỏi tại sao con người lại là giống loài thống trị hành tinh và thoải mái làm những cái họ muốn với Trái đất, Kinh Thánh sẽ trả lời đó là do Thiên Chúa đã sắp xếp ra như thế. Chúa đã trao trách nhiệm với Trái đất cho chúng ta và bảo ta phải chinh phục, kiểm soát nó. Còn để giải đáp tại sao nhân loại được phân thành các nhóm và tầng lớp dựa trên màu da của họ, kinh sách Hindu giáo bảo rằng mọi sự phân theo thứ bậc đó là vì một trí tuệ đứng sau vũ trụ này đã chủ đích quy định thế. Đó chính là nghiệp.

Các câu trả lời này không chỉ nói mọi sự vốn là thế và bảo ta hãy quen với điều đó. Chúng luôn có dấu ấn “chấp thuận” của một đấng thiêng liêng nào đó đặt lên cách thế giới được tổ chức. Đó là cách Chúa đã hoạch định thế giới. Chính vì thế, tôn giáo rất giỏi thuyết phục người ta chấp nhận vận mệnh của họ dù cho có khổ đau ra sao, đặc biệt là khi nó còn đem đến cho họ hy vọng về một điều gì đó tốt đẹp hơn trong kiếp sau.

Và tôn giáo cũng giỏi khiến người ta chấp nhận các luật lệ và quy tắc do xã hội đặt ra với họ. Nếu bạn muốn con người sống hòa thuận với nhau, họ sẽ cần một bộ các tục lệ được giao ước sẵn, tức là một đạo lý. Không nói dối. Không trộm cắp. Không sát sinh. Bất kỳ xã hội thông minh nào cũng sẽ tự bảo vệ mình bằng các ngăn cấm như vậy. Cái tôn giáo làm là tăng thêm sức nặng cho các quy tắc đó bằng cách nói rằng chúng không phải do con người đặt ra mà là mệnh lệnh từ đấng tối cao. Không phải người Do Thái cổ khi lang bạt nơi hoang dã đã dựng nên Mười Điều Răn. Chính Thiên Chúa đã phán bảo cho họ. Như vậy, một vai trò quan trọng nữa của tôn giáo là người bảo hộ cho đạo lý.

Giờ ta phải xem xét một xu hướng phát triển nữa đã đưa tôn giáo rẽ sang một hướng cá nhân hơn. Ngoài việc là một hoạt động nhóm, một cách để kiểm soát cộng đồng, tôn giáo còn bắt đầu đem đến cho các cá nhân sự cứu chuộc khỏi tội lỗi. Từ cứu chuộc trong tiếng Anh (salvation) có gốc từ tiếng Latinh nghĩa là “sức khỏe”, có ý nhắc nhở rằng con người vốn dễ mắc bệnh và hay lo âu. Con người không cảm thấy khỏe mạnh hay hạnh phúc hay yên ổn với chính bản thân. Họ hay lo lắng về điều gì chờ đợi họ tiếp theo đây. Khi tôn giáo chuyển sang một hướng cá nhân hơn, nó có thể đem lại sự bình an cho những cuộc đời bất an, trải nghiệm được các tín đồ mô tả như khi đã chết đi rồi được hồi sinh, bị mù rồi lại được sáng mắt hoặc bị liệt rồi lại đi đúng như bình thường. Bước chuyển này của tôn giáo có lẽ bắt nguồn từ khi các tôn giáo riêng lẻ bắt đầu gặp gỡ với nhau lần đầu tiên.

Điều khó ngờ nhất, chính những người lính La Mã đã trở thành tác nhân lớn nhất. Cho đến năm 30 TCN, người La Mã đã áp đảo hết đế chế Ba Tư và Hy Lạp. Về mặt chính trị, họ là kẻ chiến thắng; tuy vậy, họ lại tắm trong nền văn hóa của các nước chư hầu đến độ cuối cùng, người ta rất khó kết luận ai mới là bên chiến thắng thực sự. Người La Mã bị thần thoại Hy Lạp và Ba Tư mà họ khám phá được cuốn hút đến mức họ đã tiếp nhận chúng theo một cách đã gây ảnh hưởng lớn đến tương lai của tôn giáo nói chung.

Tương tự như khi người Trung Quốc tiếp nhận Phật giáo và biến đổi nó cho phù hợp với cách sống của họ, người La Mã cũng làm vậy với thần thoại Hy Lạp. Dân La Mã vốn thực tế, và ưa hành động. Họ tiếp biến các truyện thần thoại cổ xưa thành một thứ ngày nay ta gọi là sắm vai hay đóng kịch. Bằng cách đảm nhiệm các vai trong các câu chuyện, cuộc sống của chính họ cũng đổi thay. Vấn đề không phải là họ tin vào những thần thoại từ tôn giáo Hy Lạp hay không. Cái chính là họ đã biến chúng thành những trải nghiệm về mặt cảm xúc hoặc tâm lý quan trọng đối với mình.

Nhưng sẽ là sai lầm nếu nghĩ người Hy Lạp đã có tôn giáo theo cùng một cách như người Do Thái có Do Thái giáo hay dân Ba Tư có Hỏa giáo. Họ giống trường hợp của người Nhật với Thần đạo hơn. Dân Hy Lạp theo tư tưởng đa thần, đúng vậy, nhưng các vị thần của họ là một phần của cảnh quan thiên nhiên giống như núi non, biển cả và mặt trời chiếu rọi vùng đất của họ vậy. Các vị thần làm việc của họ giống như cách thời tiết làm nhiệm vụ của nó. Và giống như thời tiết, các vị thần có khi ôn hòa và có khi dữ dội. Đơn giản họ là như thế. Vị thần tối cao là thần Zeus, chúa tể của bầu trời, và ngài có hai anh em trai là thần Poseidon, vị thần của biển cả, và thần Hades, thần cai quản Địa ngục. Còn hàng trăm vị thần khác nữa, một số trong đó liên quan đến nhịp điệu của tự nhiên. Nhưng một trong vô vàn cuộc phiêu lưu thần thánh đó đã trở thành nền tảng cho một giáo phái cuồng tín quan trọng và có sức ảnh hưởng dài lâu của Đế chế La Mã.

Câu chuyện ban đầu là một thần thoại về tự nhiên, nhưng người La Mã đã biến nó thành cái mà ta hay gọi là “tôn giáo bí truyền”, tức một hệ thống các loại thực hành và nghi lễ bí mật giúp khơi gọi các trải nghiệm cảm xúc sâu sắc trong các tín đồ. Trong chuyện của người Hy Lạp, vị thần âm phủ Hades bấy giờ đang khao khát có một người vợ để cùng chia sẻ cung điện nguy nga u ám với mình. Thần bèn bắt cóc Persephone, con gái của Demeter, nữ thần của cây trái, mùa màng và cây cỏ. Demeter suy sụp vì mất đi con gái đến nỗi đắm chìm trong than khóc và bỏ bê nhiệm vụ của mình. Từ đó, mùa màng thất bát, cây không đậu quả, loài người bị nạn đói và chết chóc đe dọa. Để cứu vãn tình hình, thần Zeus can thiệp và dàn xếp một thỏa thuận để cho mỗi bên được huởng một nửa những gì họ muốn. Persephone chịu phán quyết ở cõi trần nửa năm và nửa năm còn lại phải sống dưới Địa ngục với ông chồng chán ngắt của mình. Mỗi khi hè qua, đến lúc nàng phải xuống thế giới dưới lòng đất với Hades, mẹ nàng là Demeter lại khóc thương con gái. Vậy là mùa đông ập đến và mọi thứ chết đi. Lá lìa cành, cây trơ trụi, cánh đồng cằn cỗi. Đến mùa xuân, khi Persephone lên trần gian sống, mẹ nàng mừng vui vì nàng quay về và mọi vật lại tràn đầy sức sống.

Đây là một ví dụ sinh động cho thấy một câu chuyện thần thoại được cắt gọt để nói về sự vận hành của thiên nhiên cũng có thể được dùng để thể hiện sự thăng, trầm của đời người như thế nào. Sự tồn tại của con người cũng có nhịp điệu của sự mất mát và hồi phục, thất bại và thành công, chết đi và sống lại. Ý tưởng về một vị thần chết đi và sống lại phù hợp với nhu cầu sâu thẳm trong tâm hồn mỗi người. Câu chuyện vừa kể và các nghi lễ đi kèm giúp bộc lộ ý nghĩa của nó đã làm nên một trong nhũng tôn giáo bí truyền quan trọng nhất thời Đế chế La Mã. Chữ bí truyền trong tiếng Anh (mystery) có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp nghĩa là “giữ im lặng” hoặc “khép chặt môi”, vì các thành viên của giáo phái này đã thề sẽ giữ bí mật về các nghi lễ và nghi thức mà họ từng tham gia.

Giáo phái đó bắt nguồn ở xứ Eleusis gần thành Athens vào khoảng năm 1400 TCN như một ngày lễ tôn vinh quyền năng của nữ thần Demeter đã ban hoa trái cho Trái đất. Tuy nhiên, trong dạng thức đã được nghi thức hóa của nó tại Đế chế La Mã, nơi nó còn được gọi là giáo phái Eleusinian, người ta nhấn mạnh vào trải nghiệm tâm linh của các cá nhân, những người được trải nghiệm sự huyền bí của quá trình chết đi và sống lại của thần thánh. Người nào được gia nhập giáo phái sẽ phải cảm thông với vị nữ thần và trải qua cảm giác của mùa đông khi nữ thần chết đi rồi đến mùa xuân khi nữ thần sống lại. Điều này đạt được thông qua các nghi thức sao chép lại trải nghiệm khi đi xuống một nơi tối tăm trước khi được đưa trở lại nơi có ánh sáng của một cuộc đời mới. Sự hấp dẫn của các nghi thức đó nằm ở cảm xúc của người tham gia. Nó liên quan đến những gì họ cảm thấy chứ không phải những điều học được. Rồi những cảm xúc họ đã trải qua đó sẽ khiến họ thay đổi. Hãy nhớ rằng: tất cả những điều này diễn ra bên trong tâm trí con người mà thôi. Và ta biết đầu óc mình kỳ lạ như thế nào rồi đấy. Nó có cả Thiên đường và Địa ngục, cao xa và sâu thẳm, bóng tối và ánh sáng. Các thầy tu của giáo phái Eleusinian chính là các bậc thầy về tâm trí con người vậy. Họ biết cách dẫn dắt các tín đồ đi theo những ngả rẽ và khúc lượn quanh co của tâm trí cho đến khi vào tới cánh đồng ngập nắng của sự cứu rỗi.

Thế nhưng không chỉ các vị thần Hy Lạp như Demeter và Persephone mới có những vai trò mới trong các giáo phái huyền bí của Đế chế La Mã. Một vị thần cổ xưa của Hỏa giáo Ba Tư tên là Mithras cũng đã trở thành trung tâm của một giáo phái La Mã khác. Sinh ra trong một hang động, Mithras là thần mặt trời, vị đã ra tay giết một con bò thiêng để lấy máu đó mà tạo dựng mặt đất và vạn vật trên đó. Quân La Mã đã biết đến câu chuyện về Mithras qua các cuộc viễn chinh của họ ở phương Đông. Họ thích nội dung máu me và gươm đao như thế. Họ ngưỡng mộ khí phách một tay giết cả một con bò mộng. Và họ cũng thích chi tiết giết chóc và đổ máu, vốn cũng là sở trường của họ, có thể dẫn tới sự sinh sôi của một cuộc đời mới, tốt đẹp hơn cho những kẻ khác. Thế là họ đem thần thoại đó về dùng cho mục đích riêng và nó đã trở thành giáo phái bí truyền được ưa chuộng nhất của dân họ.

Giáo phái Mithraism có vẻ khát máu hơn so với giáo phái Eleusinian nhưng những chủ đề của nó không khác lắm. Nó cũng ngợi ca cái chết và xem cái chết như cánh cửa để đi vào cuộc đời mới. Các nghi lễ cũng được tổ chức kín đáo và có tác động mạnh mẽ về mặt cảm xúc. Nó cũng đề cao cái cảm thấy được hơn là cái học được. Các hang động, hốc đá vốn là những nơi ghê rợn nên việc các tín đồ được dẫn vào đó sẽ có tác động khó chịu với họ. Bản thân lính La Mã phải đối diện cái chết mỗi ngày, vì vậy họ sẽ thấy rất thuyết phục khi có giáo phái nào kịch tính hóa cái chết có tính hiến dâng và sự sống tuôn trào từ đó. Giáo phái Mithraism chỉ gồm nam giới, đây cũng là yếu tố thu hút trong một xã hội trọng nam như quân đội La Mã. Ngoài ra, các nhóm kín với các nghi lễ bí truyền và ngôn ngữ riêng thường khiến các thành viên trong đó cảm thấy mình đặc biệt, hơn hẳn một bậc so với người khác. Việc thuộc về một nhóm riêng biệt như vậy luôn hấp dẫn một bộ phận người dân. Và giáo phái Mithraism hội đủ tất cả các điều kiện ấy.

Sự xuất hiện của những giáo phái bí truyền trong Đế chế La Mã là một bước ngoặt trong lịch sử tôn giáo. Trước đó, tôn giáo chủ yếu là một hoạt động theo nhóm và gắn với một bản sắc chung. Với dân Do Thái, tôn giáo của họ là thứ gắn liền với mỗi người từ lúc mới sinh, là sự triệu tập Chúa hướng đến một dân tộc đặc biệt do ngài lựa chọn. Sự nghiêm trang mang tính đạo đức của họ thường cuốn hút những người ngoài có cảm tình với tôn giáo này, dù vậy những người không phải dân Do Thái và người nước ngoài không thể đổi xuất thân dân tộc để được gia nhập. Hindu giáo cũng là một thứ gắn liền với con người ta từ khi ra đời tầng lớp xã hội vậy. Đến đây thì Phật giáo là ngoại lệ duy nhất. Nó đã bắt đầu thách thức số phận gắn với nhóm và đưa ra một lối giải thoát cho các cá nhân. Và đến thời điểm đó, tính ở phạm vi châu Á, Phật giáo đang trên đường trở thành một tôn giáo phổ quát, một tôn giáo dành cho bất cứ ai ở bất cứ đâu và ở bất cứ thời điểm nào.

Điều thú vị là các tôn giáo mang lại sự giúp đỡ cho mỗi cá nhân riêng lẻ có nhiều khả năng phát triển và lan rộng hơn, bởi lẽ thế giới luôn có vô số cá nhân đang tìm kiếm sự cứu rỗi. Các giáo phái bí truyền là minh chứng cho khuynh hướng đó. Các cá nhân tình nguyện gia nhập các giáo phái đó. Từ đây mà quan niệm xem tôn giáo là bản sắc của một nhóm đã thay đổi và được thay thế thành sự chuyển hóa có tính cá nhân. Ngay cả phương pháp mà các giáo phái đó dùng để mang lại cho tín đồ trải nghiệm cảm xúc về sự cứu rỗi cũng mang một đặc trưng mà các tôn giáo sinh sau đẻ muộn sẽ sao chép theo. Ý tưởng về một vị thần chết đi và sống lại một lần nữa hấp dẫn với bản tính con người, nhất là khi nó gợi ý một cách trỗi dậy từ nấm mồ của chính họ.

Phải mất vài thế kỷ nữa thì các khuynh hướng này mới được thể hiện rõ ràng nhất trong lịch sử tôn giáo. Tuy thế, bối cảnh cho sự xuất hiện của một tôn giáo chiếm ưu thế và đông đảo nhất trên thế giới đang được dựng lên. Kitô giáo1, mà vào giai đoạn đỉnh cao phát triển thì tên gọi phổ biến của nó là Công giáo, tiếng Anh là Catholic. Từ này có gốc từ tiếng Hy Lạp nghĩa là “phổ quát”. Tín điều nền tảng của nó nằm ở sự chết và sự phục sinh của Đức Chúa. Trong những chương tiếp theo, chúng ta sẽ khám phá xem làm thế nào thứ ban đầu chỉ là một nhánh Do Thái nhỏ bé ở thế kỷ thứ nhất đã chuyển mình thành một tôn giáo phổ quát đích thực đầu tiên, Giáo hội Công giáo, cũng như danh xưng đó từ đâu mà ra.

CHƯƠNG 18: NGƯỜI CẢI ĐẠO

Người cải đạo là kiểu nhân vật thường thấy khác trong các câu chuyện tôn giáo. Cải hoán nghĩa là quay đầu theo hướng ngược lại. Hầu hết mọi người sẽ thay đổi quan điểm theo thời gian, nhưng đó thường là một quá trình từng bước một, như một cú xoay chậm. Cải hoán trong tôn giáo lại hiếm khi diễn ra như thế. Người cải đạo có thể thay đổi trong nháy mắt. Họ bất thình lình quay ngoắt 180 độ. Đột ngột đến mức sau đó họ kể lại như thể họ vừa được sinh ra lần nữa.

Cách ví von tái sinh như vậy rất hợp vì nó nhắc ta nhớ rằng luôn cần thời gian thai nghén để một em bé thành hình, dù lúc sinh nở có nhanh chóng đến đâu. Tương tự như vậy, thời điểm cải đạo có thể đột ngột, nhưng thực chất nó chỉ là cao điểm của một quá trình đã diễn ra hàng năm trời. Những người cải đạo là những tâm hồn đang chông chênh giữa đôi bờ, tranh đấu cưỡng lại một thứ gì đó mà họ không thể thừa nhận là mình thấy hấp dẫn. Nếu họ từ bỏ, đời họ sẽ đi theo một hướng mà họ không mong muốn. Thế là họ chiến đấu, có khi theo cả nghĩa đen, chống lại chính cái mà họ ước ao được phục tùng.

Trong số các nhân vật có cuộc đời xoay chuyển sau những biến cố xảy đến và cải đạo sang Kitô giáo, nổi tiếng nhất là một người Do Thái tên là Saul mà về sau trở thành tín hữu Kitô tên là Paul (hay Phaolô). Quá trình cải đạo của ông nổi tiếng đến mức nơi xảy ra việc đó đã trở thành một thuật ngữ chỉ sự đổi ý bất ngờ. Khi muốn mô tả một thời điểm trong đời có sự đổi thay theo hướng ngược lại, ta gọi đó là một biến cố đường Damascus vì chính trên con đường đến Damascus này, Saul đã quy phục Kitô giáo, tín ngưỡng mà ông bài bác suốt nhiều năm trước.

Chúng ta không biết chính xác Saul sinh ra khi nào nhưng theo phỏng đoán thì đó là khoảng năm thứ 2 Công nguyên. Ngày mất của ông cũng không rõ, nhưng một truyền thống đáng tin cậy cho ta biết rằng ông đã bị hành hình vì những tư tưởng của mình tại thành Rome (hay Rôma, La Mã) vào khoảng giữa năm 62 và 65. Ta biết ông sinh ở Tarsus, xứ Cilicia thuộc La Mã cổ đại và giờ là vùng Đông Nam Thổ Nhĩ Kỳ. Chuyện kể rằng ông là dân Do Thái và được hưởng tư cách công dân La Mã từ cha mình. Paul có lẽ là tên La Mã của ông. Ông có nghề làm lều và là một người có học thức, nói thông viết thạo tiếng Hy Lạp. Những bức thư ông gửi đến các nhà thờ do ông sáng lập nên là những thư tịch Kitô giáo cổ nhất mà ta còn giữ được. Có thể ông đã từng học tập một thời gian ở Jerusalem với một người thầy quan trọng tên là Gamaliel. Ông cũng nhận mình thuộc phái Pharisee.

Dù các tôn giáo có nhận mình thống nhất ra sao, họ đều là một liên hiệp các nhóm nhỏ với những cách thực hành tín ngưỡng khác nhau. Do Thái giáo vào thời của Saul cũng như thế. Sự phân chia thường thấy nhất trong tôn giáo là giữa phe bảo thủ và phe cấp tiến. Biết tôn giáo của mình bắt nguồn từ các nhà tiên tri nhận lời phán bảo của Thiên Chúa rồi truyền lại đường hướng cho nhân loại biết, những người bảo thủ sẽ giới hạn đức tin ở giai đoạn mặc khải đầu tiên. Còn bên cấp tiến muốn chấp nhận những phát triển mới và tuyên bố của các lần mặc khải sau. Do Thái giáo trong thế kỷ 1 có hai phái đại diện cho hai xu hướng mâu thuẫn với nhau này, một là phía những người Sadducee thuộc nhóm bảo thủ và hai là những người Pharisee của nhóm cấp tiến, chính là phái Saul tham gia.

Khác biệt lớn nhất giữa hai phái là ở niềm tin của họ về cuộc sống sau khi chết, một đề tài vốn không có trong Do Thái giáo thời kỳ đầu. Phát hiện của Abraham là chỉ có một đấng Thượng Đế duy nhất. Còn Moses khám phá ra Thiên Chúa đã tuyển chọn dân Do Thái làm dân riêng, là dân tộc gìn giữ giáo luật của Thiên Chúa. Đó cũng là điểm tinh túy nguyên sơ của Do Thái giáo mà phái Sadducee muốn giữ vững. Họ không tin vào những quan niệm được cho là đã được du nhập trong thời kỳ dân Do Thái bị lưu đày ở Babylon, ví dụ như niềm tin vào sự phục sinh của người chết hay sự tưởng thưởng và trừng phạt dành cho những người đó. Một tư tưởng nữa được lấy từ Babylon bị người Sadducee phản bác là niềm tin vào các thiên thần. Các thiên thần lúc bấy giờ được xem là trung gian giữa Thiên Chúa và loài người. Được mô tả như những “trí tuệ phi thể xác” hay có tâm thức mà không có cơ thể, các thiên thần được Chúa dùng để đưa các thông điệp đến con dân của ngài trên Trái đất. Người Sadducee thấy khái niệm đó là không cần thiết. Chúa không cần vị sứ giả nào để truyền đi lời của ngài cả. Chúa vốn đã ở khắp nơi và gần gũi với mọi người hơn cả chính hơi thở của họ.

Phía Pharisee lại nhìn nhận khác. Họ cấp tiến và không cho rằng Chúa đã ngừng phán dạy con dân của người những điều huyền bí về chính Ngài cũng như các kế hoạch của Ngài cho cõi thế. Tại sao họ nên tin rằng Chúa đã truyền hết nguồn tri thức cho con dân của Ngài từ hàng trăm năm trước? Tại sao đó không thể là một Đức Chúa vẫn hằng sống, vẫn có thể gọi các nhà tiên tri mới để truyền dạy lại những sự thật mới cho dân chứng? Chẳng phải vị tiên tri Daniel từng bảo Chúa đã trao cho thiên thần Michael trách nhiệm với dân Israel và rằng sau một khoảng thời gian khó khăn chưa từng có, dân họ sẽ được đưa vào nước Chúa để người chết sống dậy trong mồ, một số thì được sự sống đời đời, một số thì mãi đọa đày tủi hổ? Chính giai đoạn khổ ải của họ dưới thời cai trị của quân La Mã là một minh họa chính xác cho lời mô tả của Daniel đấy thôi? Chẳng phải tất cả họ đang mong chờ đến hồi kết mà Daniel đã hứa và sự xuất hiện của vị cứu tinh hay Đấng Messiah để thực thi hồi kết đó?

Thời kỳ đó ở Israel chứng kiến sự xáo động cả về mặt tôn giáo và chính trị. Jerusalem đầy những nhóm người muốn tìm kiếm vị cứu thế. Tuy vậy, bất cứ kẻ giả dạng nào tự xưng là vị cứu thế rồi được nhân dân tung hô lên cũng đều phải đối mặt với hiểm nguy gấp ba lần bình thường. Khi ấy Israel do một nhóm các vị quan La Mã nóng vội quản lý, mà họ vốn rất nhạy cảm với những dấu hiệu bạo động dù là nhỏ nhất. Theo các vị ấy, Đấng Messiah chỉ là một tên gọi mỹ miều dành cho một kẻ nổi loạn chống lại nền cai trị của La Mã. Mà họ thì biết cách đối phó với các kẻ nổi loạn như vậy.

Các giáo sĩ cai quản đền thờ ở Jerusalem cũng là mối nguy đối với những kẻ giả mạo đấng cứu thế. Với người La Mã, họ có thể là những kẻ gây bạo loạn chính trị, còn với các giáo sĩ, họ bị xem là những tên báng bổ Chúa khi dám thách thức quyền hành độc tôn của các giáo sĩ trong việc xác định ý chí của Chúa. Và các vị giáo sĩ cũng biết phải xử lý những kẻ báng bổ Chúa như thế nào.

Các thành viên của hoàng tộc Herod do người La Mã phân công cai quản bốn vùng lãnh thổ của Israel cũng là mối nguy hiểm đối với kẻ xưng là đấng cứu thế. Các hoàng thân nhỏ bé này vẫn bám vào chút tàn dư quyền lực nên những kẻ cứu thế kia sẽ là mối đe dọa cho địa vị của họ. Và họ cũng biết cách xử lý những ai đe dọa chỗ đứng của mình.

Vào dịp lễ Quá Hải nọ, một người xưng là đấng cứu thế có tên Jesus (hay Giê xu) đã bị người La Mã kết tội nổi loạn; thầy Thượng Tế cũng đồng lòng kết án người đó phạm tội báng bổ thánh thần; vua Herod Antipas xứ Galilee cũng xem Giê xu là mối phiền toái cần bị loại trừ. Thế nhưng sự phiền toái không chấm dứt bằng việc đóng đinh vào thập giá người đàn ông mang tên Giê xu Kitô (hay Jesus Christ), hay Đấng Cứu Thế Giê xu. Và đây là lúc nhân vật Saul xuất hiện trong câu chuyện.

Những người theo Giê xu không ngừng nói về ngài sau khi ngài chết. Họ còn trở nên táo bạo hơn và nói rằng họ có bằng chứng cho thấy Giê xu chính là Đấng Messiah do Thiên Chúa gửi đến để chuẩn bị cho dân Israel đối diện với ngày tận thế. Sau khi Giê xu chết, họ còn thấy ngài xuất hiện trong nhiều dịp và ở nhiều địa điểm khác nhau, dặn họ hãy ở bên nhau và chờ đợi sự trở lại sau cuối của ngài. Việc này làm các giáo sĩ tức điên vì họ nghĩ là đã vĩnh viễn loại bỏ được kẻ phiền toái nguy hiểm đó. Thế là họ tuyển Saul người phái Pharisee vào đơn vị đặc nhiệm của Cảnh vệ Đền thờ và lệnh cho Saul phải truy bắt những kẻ gọi là “tín hữu Kitô” này trước khi chúng gây thêm rắc rối. Saul vốn rất thèm khát công việc đó nên đã rất hăm hở sau khi được lệnh.

Chúng ta có chút mô tả về Saul từ sau thời điểm này. Ông nhỏ người, hói đầu và chân vòng kiềng. Ngay chính ông cũng thừa nhận mình không có gì ấn tượng về mặt hình hài. Thế nhưng có một điểm khác biệt ở ông, ở trong đôi mắt ông. Ông có cái nhìn nhiệt thành, mãnh liệt của một kẻ chuyên tìm kiếm. Trong ông cháy bỏng nguồn năng lượng không biết mệt mỏi. Và ông cũng biết tranh luận! Đó là người đàn ông giờ đã mang danh nghĩa người truy lùng dân Kitô. Tuy nhiên, xin nhớ cho Saul cũng là người phái Pharisee. Phía Sadducee thì không tin bất cứ ai có thể sống dậy lần nữa nên họ xem các tuyên bố của dân Kitô là nhảm nhí. Lập luận của họ rất thẳng thừng: không người nào có thể phục sinh cả, Giê xu cũng là người, vậy thì Giê xu không hề phục sinh.

Phía Pharisee lại thấy khác. Họ tin đến một ngày nào đó, Thiên Chúa sẽ gọi người chết sống dậy để nhận sự phán xét cuối cùng. Họ chỉ không tín rằng Chúa đã gọi đến Giê xu và Saul cũng không tin thế. Vậy nên ông mới trên đường đuổi bắt những kẻ báng bổ tin điều ngược lại. Nhưng liệu Saul có chút ngờ vực nào không? Đó có phải là lý do khiến ông dữ dội như thế? Biết đâu khi đuổi theo các tín đồ Kitô trên cùng khắp đất nước, ông cũng đang chạy trốn chính bản thân mình?

Cứ thế ông lên đường. Ông nghe nói đã bắt đầu có những người tin theo Giê xu ở Damascus, nơi cách Jerusalem hơn một trăm cây số về hướng Bắc. Họ sẽ làm gì tiếp theo? Saul được thầy Thượng Tế cho phép truy bắt những người đó đến cùng. Trên đường đến Damascus, một luồng sáng dữ dội làm ông choáng váng và ngã xuống đất. Kế đến, ông nghe thấy một giọng nói: “Tại sao ngươi ngược đãi ta như thế?” Saul hét lên: “Ngươi là ai?” và nghe được lời đáp: “Ta là Giê xu, kẻ mà ngươi đang hành hạ.” Sau đó, giọng nói ấy bảo Saul đứng lên và tiến vào Damascus rồi sẽ được bảo phải làm gì tiếp theo. Lúc Saul đứng dậy thì ông đã bị mù. Đừng bỏ qua chi tiết bị mù này và xem đó là sự mê tín. Hãy nhớ rằng đầu óc con người có thể khó lường thế nào. Có một câu nói rằng: Chẳng ai mù lòa cho bằng kẻ không chịu nhìn cả. Việc Saul mù là triệu chứng của sự không chịu thừa nhận cái mà giờ đây ông đã biết là đúng suốt một thời gian dài. Các cận vệ của Saul đã dẫn ông đến Damascus và tìm phòng cho ông nghỉ. Ông ở đó trong ba ngày, mù lòa và bối rối, không ăn cũng chẳng uống gì được, chỉ chờ đợi xem điều gì sẽ xảy đến.

Một môn đồ địa phương của Giê xu tên là Ananias đến gặp và chăm sóc cho Saul ở phòng trọ của ông trên Phố Straight. Thị lực của Saul được phục hồi và ngay lập tức, ông làm một việc nguy hiểm. Ông đến giáo đường địa phương và thông báo với các tín đồ ở đó Giê xu chính là Con trai của Đức Chúa Trời (hay Thiên Chúa), Đấng Messiah mà bọn họ hằng kiếm tìm. Ông biết điều đó, ông báo cho họ biết vì Giê xu đã hiện ra với ông.

Hãy thử hình dung tác động của việc này đến các môn đồ của Giê xu. Kẻ truy bắt họ giờ lại khẳng định hắn cũng là một người như bọn họ. Trò mưu mẹo gì chăng? Hay Saul đang giả dạng để xâm nhập vào phong trào của họ rồi chỉ điểm và kết tội họ? Họ hẳn đã thấy căng thẳng vì kẻ cải đạo mới xuất hiện này.

Ngay chính Saul cũng không biết chắc mình nên làm gì tiếp. Quyết định của Saul cũng rất hợp với con người ông. Thay vì quay sang các lãnh đạo Giáo hội để tìm hiểu tín lý của họ và xin được gia nhập, ông tự đi một mình đến bán đảo Ả Rập để chiêm nghiệm và cầu nguyện về những gì đã xảy đến với mình. Ông cho rằng mình không cần thêm hướng dẫn của ai khác về tín ngưỡng Kitô. Giê xu khi hiện ra trên đường đến Damascus đã trao cho ông tất cả những gì ông cần. Sự phục sinh của Giê xu chính là thông điệp rồi. Nắm lấy điều đó và bạn đã có mọi thứ cần thiết.

Mất ba năm nữa thì Saul, giờ tên là Paul, mới đến Jerusalem để gặp các vị lãnh đạo khác của phong trào đi theo Giê xu. Gọi là “các vị lãnh đạo khác” vì lúc bấy giờ, chính Paul cũng tuyên bố mình là một Thánh Tông đồ (hay Sứ đồ), nghĩa là một môn đồ được Giê xu sai ải rao giảng thông điệp của Người. Thế nên các vị Tông đồ lãnh đạo kia cần làm quen với sự thật đó.

Các vị Tông đồ khác nghĩ: không phải kỳ lạ hay sao khi người mới tôn xưng trước mặt họ này chưa từng gặp và cũng không biết gì về cuộc đời trần thế của Giê xu lại nói về sự phục sinh của Người. Dù đã biết Giê xu, chính chúng ta vẫn còn thấy rối rắm về nhân vật này. Chúng ta chưa từng nghe ai nói chuyện như Giê xu cả. Liệu Giê xu có phải là Đấng Cứu Thế, một Messiah không? Chúng ta đã theo Người để tìm hiểu. Nhưng mọi thứ không như chúng ta mong đợi.

Thế thì người đàn ông có tên Giê xu này là ai? Chuyện gì đã thực sự xảy ra với ông?

CHƯƠNG 19: ĐẤNG CỨU THẾ

Điều đầu tiên ta nên biết về Giê xu Kitô (Jesus Christ) là Kitô (hay Christ) không phải là họ. Christ là một tước hiệu, bắt nguồn từ chữ Christos trong tiếng Hy Lạp vốn được dịch từ chữ Messiah trong tiếng Do Thái. Như vậy, ông là Giê xu Đấng Messiah. Chỉ có điều không phải ai cũng đồng ý như vậy nên ngay cả tên của ông cũng còn là đề tài gây tranh cãi đến tận lúc ông chết. Khi người La Mã đóng đinh ông trên thập giá, họ tiếp tục để trò tranh cãi đó diễn ra. Phía trên đầu Giê xu, trên thập giá, họ gắn một tấm biển đề: VUA CỦA DÂN DO THÁI! Họ xem ông chỉ như một trò đùa, một kẻ Do Thái ngông cuồng khác cố gắng thay đổi thế giới.

Ngay từ đầu, người ta đã tranh cãi về Giê xu: ông đến từ đâu, bố mẹ ông là ai, ông nghĩ mình là ai và điều gì xảy đến với ông sau khi chết. Đến giờ vẫn thế. Hàng tỷ tỷ câu chữ đã được viết ra về ông. Nguồn tư liệu cổ nhất về ông là Kinh Thánh Kitô giáo hay Kinh Tân Ước, cách gọi giúp phân biệt với Kinh Thánh Do Thái hay Kinh Cựu ước. Sự tách biệt đó là manh mối cho thấy các vị môn đồ đầu tiên đã nhìn nhận ông ra sao. Với họ, Giê xu không đến đây để tạo ra một tôn giáo mới. Ông xuất hiện để hoàn thành trọn vẹn tôn giáo trước đó của dân Do Thái. Thiên Chúa đã phán gọi Abraham và Moses để họ thiết lập ra giao ước hay kinh thánh đầu tiên. Giờ đây Thiên Chúa yêu cầu Giê xu lập nên một thỏa ước mới và hoàn thiện nó trong thời đại của Đấng Cứu Thế.

Để tìm hiểu cuộc đời của Giê xu, ta cần phải tìm đến bộ Tân Ước. Không may là cách sắp xếp nội dung trong đó dễ gây lầm lẫn. Tân Ước mở đầu bằng bốn cuốn sách gọi chung là Sách Phúc Âm, trong đó từ Phúc Âm có nghĩa là “tin mừng, tin lành”. Thứ tự bốn cuốn là: Phúc Âm Matthew (hay Mát thêu), Phúc Âm Mark (hay Mác cô), Phúc Âm Luke (hay Luca), rồi đến Phúc Âm John (hay Gioan). Sau đó là Sách Công vụ Tông đồ, rồi đến rất nhiều thư tín các loại, hầu hết do kẻ cải đạo tên Paul mà ta đề cập ở chương trước viết ra. Thế thì tại sao tôi không mở đầu chương trước bằng nhân vật Matthew, người viết cuốn đầu tiên trong Kinh Thánh Kitô giáo?

Vì đó không phải là tư liệu đầu tiên. Tư liệu đầu tiên hay sớm nhất mà ta biết chắc chắn là một lá thư do Paul viết cho những kẻ cải đạo sang Kitô giáo ở thành phố Corinth thuộc Hy Lạp vào khoảng năm 55, tức là hai mươi lăm năm sau khi Giê xu chết. Thư không nói gì về cuộc đời của Giê xu mà chỉ quan tâm đến những gì diễn ra sau cái chết của Ngài. Thông điệp của lá thư đó là cái chết của Giê xu chưa phải là tận cùng. Nó chỉ đưa ông sang một cuộc đời mới trong hồng ân Thiên Chúa mà ở đó ông vẫn có thể liên lạc được với người còn lại trên trần thế. Paul liệt kê ra hàng trăm người được thấy Giê xu hiện ra sau khi ông chết, kể cả trường hợp của chính Paul trên đường đến Damascus.

Thế thì điều trước nhất mà Tân Ước kể ta nghe về Giê xu là cái chết của ông đã không loại ông khỏi dòng lịch sử. Những lần xuất hiện trở lại của Giê xu chứng tỏ cái chết chưa phải là hồi kết với ông. Đó chỉ là khởi đầu của một thời đại mới mà Chúa đã hứa, phát pháo mở màn cho sứ vụ thiết lập một trật tự mới trên thế giới của Chúa. Cái chết cũng không phải là dấu chấm hết với các môn đồ của Giê xu. Nếu họ chết đi, họ cũng sẽ đạt đến sự sống mới sau cái chết. Nhưng có thể họ cũng chẳng cần phải chết. Sự phục sinh của Giê xu cho thấy cuối cùng Thiên Chúa cũng thực hiện sứ vụ của ngài. Thế giới hoàn mỹ mà Giê xu từng mô tả sắp được tạo dựng trên Trái đất này. Và mọi thứ sẽ đổi thay. Ngay cả cái chết!

Lá thư Paul gửi cho các tín hữu thành Corinth vào năm 55 là nét phác họa đầu tiên về Giê xu mà chúng ta có và nó chỉ nói về những gì xảy ra sau khi ông ấy chết. Còn để biết về cuộc đời ông thì ta phải tìm hiểu trong bộ Phúc Âm ra đời sau này. Mark xuất hiện đầu tiên, vào khoảng cuối những năm 60 hay đầu những năm 70. Matthew và Luke theo sau vào khoảng giữa những năm 80 và 90. John ra đời sau cùng vào khoảng năm 100. Những ngày tháng này rất đáng chú ý. Câu chuyện về cuộc đời của một vị tiên tri càng xa thời điểm xảy ra thì chúng càng được thêu dệt và thêm thắt nhiều hơn. Đó là điều đã xảy ra với Giê xu. Tôi không muốn sa đà vào cuộc tranh cãi xem việc ông ấy đã sinh ra ở đâu, như thế nào và đã sống dậy chính xác ra sao. Hay có bao nhiêu thiên thần hiện diện lúc ông ra đời ở Bethlehem hay khi ông phục sinh ở Jerusalem. Tôi những muốn bám sát các dữ kiện được chấp nhận rộng rãi nhất về ông, như vậy cũng đủ hấp dẫn rồi.

Mark đưa chúng ta đến thẳng một cảnh trong vở diễn ngày tận thế. Một người du mục khổ hạnh sống nhờ ăn châu chấu, uống mật ong, khoác trên người tấm lông lạc đà, ra khỏi hoang mạc và bắt đầu đi giảng đạo. Mọi người gọi ông là John Tẩy Giả (hay là Gio-an Báp-tít) vì ông dìm toàn thân mọi người xuống sông Jordan như một dấu hiệu cho thấy họ hối hận vì các tội lỗi đã gây ra và muốn một khởi đầu mới. Họ nhấn chìm cuộc đời cũ và nổi lên với cuộc đời mới. John không nhận mình là Đấng Messiah nhưng ông nói mình đến để dọn đường cho vị sẽ đến cứu thế. Rồi Mark kể rằng một người đàn ông từ xứ Nazareth thuộc vùng Galilee đã sải bước đến sông Jordan và được John thực hiện nghi thức thanh tẩy. Đó là lần đầu tiên trong lịch sử chúng ta thấy Giê xu. Lúc ấy, ông đã ba mươi tuổi. Những gì diễn ra sau đó mới là khởi đầu thực sự của câu chuyện về ông.

John giữ Giê xu ngụp dưới nước một chốc rồi đưa ông lên mặt nước; khi ấy, Giê xu bị lóa mắt vì ánh sáng và nghe thấy Chúa gọi ông là con trai yêu dấu của Ngài. Ta không chắc đó có phải thời điểm Giê xu biết ông chính là một Messiah không nhưng chắc chắn đó là lúc sứ mệnh của ông bắt đầu. Hãy nhớ lại công việc của các nhà tiên tri. Họ nghe lời phán của Thiên Chúa rồi đi kể lại những gì mình nghe được cho những người khác. Việc đó khiến họ rơi vào xung đột với những người nghĩ rằng mình đã biết hết những gì có thể biết về Chúa. Họ là những chuyên gia về tôn giáo. Họ không muốn nghe một anh chàng quê mùa vùng Galilee rao giảng. Ba điểm xung đột giữa Giê xu và các vị giới chức của Do Thái giáo cho ta biết các thế lực đã đẩy Giê xu đến chỗ chết.

Điểm xung đột đầu tiên được nhắc đến trong Phúc Âm của Mark. Mark kể rằng sau buổi rửa tội, Giê xu bắt đầu giúp đỡ những người nghèo khổ và gặp khó khăn. Quan điểm chính thức thời đó xem khổ đau là sự trừng phạt cho các tội lỗi đã khiến Giê xu tức giận và bản thân sự khổ đau của con người cũng khiến ông thấy không yên. Khổ đau không phải do cách Chúa xếp đặt thế giới mà ra, nó là do thế lực cầm quyền tôn giáo và chính trị đã tổ chức ra như thế. Đức Chúa căm ghét những gì loài người đã làm với thế giới của ngài, thế nên ngài phái Giê xu đến để cho mọi người thấy vương quốc của Chúa ở trần thế thì trông như thế nào. Đây sẽ là tín tốt lành cho những người nghèo và nó sẽ giải phóng con dân của Chúa ra khỏi những mối dây mà nhà cầm quyền đã trói buộc quanh cuộc đời họ.

Cuộc đụng độ công khai đầu tiên với giới cầm quyền liên quan đến điều răn nghỉ làm việc trong ngày Sabbath. Khi ấy Giê xu đang dẫn một nhóm môn đồ đi ngang qua một cánh đồng lúa mì. Trong lúc đang đi, các vị ấy bứt các ngọn lúa mì để nhai chơi thì những người phái Pharisee cáo buộc họ đã làm việc trong ngày Sabbath vì họ đã hái lúa. Câu trả lời Giê xu dành cho họ mang ý nghĩa cách mạng. Ông nói: ngày lễ Sabbath được tạo ra dành cho loài người chứ không phải con người ra đời để phụ thuộc ngày đó. Chúng ta cần quy tắc và luật lệ trong xã hội nhưng chúng là tôi tớ chứ không phải chủ nhân của ta. Nếu ta áp dụng chúng quá nghiêm ngặt, chúng sẽ thành ra quan trọng hơn chính những người mà luật lệ vốn được tạo ra để phục vụ họ. Việc đạo Lão nhận ra điều đó từ sáu trăm năm trước cho thấy tư tưởng pháp gia đã bám rễ bền chặt ra sao. Giờ thì Giê xu lại thách thức nó lần nữa. Luật pháp chịu sự chi phối của con người, chứ người không lệ thuộc vào luật. Chẳng trách những người theo pháp gia không ưa Giê xu. Đó là tội điểm đầu tiên chống lại Giê xu. Hồ sơ tội trạng của ông từ đó dài thêm.

Cuộc đụng độ thứ hai nằm ở Bài giảng trên Núi trong sách Phúc Âm Matthew và lần này còn nguy hiểm hơn. Giê xu thách thức cách cai trị thế giới của giới cầm quyền. Theo lý thuyết, con người là một đám tiện dân hỗn loạn cần được kiểm soát. Cho đám dân ấy “sai một ly là chúng sẽ di đi cả dặm”. Vì vậy, phải đánh đập chúng nặng tay và thường xuyên. Đấm vào hàm và đạp vào gáy là thứ ngôn ngữ duy nhất mà chúng hiểu. Trong bối cảnh đó, sách Matthew thuật lại cảnh Giê xu đứng trên ngọn núi như Moses khi xưa với Mười Điều Răn, mô tả những gì sẽ xảy ra khi vương quốc của Chúa hiện diện trên cõi trần.

Nếu ai tát ngươi vào một bên má, ngươi sẽ đưa má còn lại cho hắn tát nữa. Nếu ai lấy mất áo khoác của ngươi, ngươi sẽ bằng lòng trao luôn áo chùng cho hắn. Ngươi yêu mến kẻ thù của mình chứ không thù ghét họ. Ngươi làm điều tốt với những kẻ gây điều xấu cho ngươi. Và ngươi sẽ tha thứ và tha thứ và tha thứ và tha thứ... mãi mãi như vậy. Trên Thiên đường, mọi việc là như thế nên trần gian cũng nên theo như vậy. Điểm mấu chốt của cái thế giới ngược đời mà Giê xu mô tả ở đây nằm ở trong câu từ mà ông nghe thấy ở lễ rửa tội bên sông: “con là con trai yêu dấu của ta”. Thiên Chúa không phải là kẻ cai trị, hay ông chủ, hay quản giáo của nhà tù loài người, không phải kẻ chăn dắt nô lệ, mà ngài là cha! Cả nhân loại là một gia đình. Một bài giảng mang tính cách mạng! Không khó hình dung giới cầm quyền đã trông chừng Giê xu. Việc này là tội điểm thứ hai và hồ sơ kết tội ông lại dài thêm.

Xung đột lần ba được kể lại trong Phúc Âm của Luke. Giê xu không bao giờ thuyết giảng để bảo mọi người phải nghĩ gì. Giống các nhà tiên tri của Israel, ông chỉ kể các câu chuyện khiến mọi người tự suy ngẫm. Có lần, một người nghe đã nhờ ông nhắc lại những điều răn quan trọng nhất trong luật Do Thái. Giê xu đáp lời: ngươi phải hết lòng, hết tâm ý, hết sức lực mà kính yêu Chúa. Đó là nội dung Điều răn thứ Nhất. Thứ hai là yêu thương những người lân cận như yêu thương chính bản thân. Người kia đáp: đúng thế rồi, tuy nhiên người lân cận với tôi là những ai? Giê xu đưa ra dụ ngôn về người Samari Nhân lành thay cho câu trả lời.

Dụ ngôn kể rằng một người nọ rơi vào tay bọn cướp, bị chúng lột trần, đánh đến bất tỉnh rồi quẳng lại trên một con đường hoang vu, nguy hiểm. Một tu sĩ cùng với phụ tá đi ngang qua. Cả hai đều là người tốt và muốn giúp người đang gặp nạn kia nhưng tôn giáo của họ lại không cho phép. Người nằm bên vệ đường có thể đã chết, mà theo tôn giáo của họ thì việc chạm vào xác chết sẽ khiến họ bị ô uế. Rồi người này có thể thuộc một chủng tộc mà dân Do Thái không được phép giao thiệp, thế nên việc đụng đến anh ta sẽ làm họ bị dơ bẩn. Thế là cả hai người tránh sang bên kia đường và để anh này nằm lại đó. Sau đó, một người Samari, một chủng tộc mà dân Do Thái không được phép tiếp xúc, đi đến. Tôn giáo của người Samari nọ cũng có những điều cấm tương tự, tuy nhiên lòng thương xót của anh với cảrth ngộ của người gặp nạn đã lấh át vấn đề tôn giáo. Anh đến bên người đàn ông để giúp đỡ và đã cứu sống anh ta. Theo Giê xu, một người lân cận không hẳn chỉ là người thuộc cùng tôn giáo với bạn. Người lân cận là bất cứ ai cần sự trợ giúp của bạn. Nếu Chúa là cha của chúng ta và chúng ta là con của ngài, vậy thì tất cả mọi người đều là anh chị em và người lân cận của ta hết.

Rất dễ bỏ qua cái đích được nhắm đến của dụ ngôn trên. Trong chuyện về ngày Sabbath ở sách của Mark, cái đích nhắm đến là vấn đề luật pháp. Bài giảng trên Núi của sách Matthew thì nhắm đến chính trị cường quyền. Còn trong câu chuyện về người Samari Nhân lành, tôn giáo là đích nhắm. Giê xu đã nói rằng thiết chế tự cho mình là đại diện của Thiên Chúa có thể dễ dàng trở thành kẻ thù lớn nhất của Chúa vì nó đặt những quy tắc của mình cao hơn tình yêu của Thiên Chúa. Thật dễ hiểu là các giáo sĩ khi nghe Giê xu nói thế đã thù ghét ông và bắt đầu chuẩn bị tố giác ông. Vụ việc này là điểm tội thứ ba trong hồ sơ kết tội của Giê xu. Việc họ đến bắt ông đi giờ chỉ còn là vấn đề thời gian.

Giê xu đã dạy cho các môn đồ một câu kinh. Nó ngắn nhưng đã cô đọng mọi thứ Giê xu từng dạy họ: “Lạy Cha chúng con ở trên trời, chúng con nguyện danh Cha cả sáng, nước Cha trị đến, ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời”. Câu kinh này đã lâu đời đến mức nó đã phần nào mất đi sức mạnh ngay cả với các Kitô hữu còn đang tụng đọc nó. Thế nhưng hãy tưởng tượng tác động của nó nếu bạn là một vị giáo sĩ nghĩ mình đã phụng sự trọn vẹn Chúa trên trần gian; hay bạn là một nhà cầm quyền đang cố giữ một xứ thuộc địa bất kham trong tầm kiểm soát thì đây là ngôn từ dễ khiến cho một người bị bức hại.

CHƯƠNG 20: GIÊ XU ĐẾN THÀNH RÔMA

Họ đến bắt Giê xu vào nửa đêm. Xưa nay, mật vụ vẫn luôn đến vào thời điểm đó. Khi thành phố chìm vào tĩnh lặng và năng lượng con người ở múc thấp nhất, bọn họ tấn công. Họ bắt ông trong một khu vườn riêng và do một người bên phía Giê xu chỉ điểm.

Giê xu là bậc thầy sử dụng các cử chỉ có ý nghĩa biểu tượng. Khi khởi đầu phong trào giải phóng tâm linh của mình, ông đã nhắc lại sự kiện dân Do Thái tiến vào vùng đất Canaan năm xưa. Kinh Thánh kể rằng đoàn người Do Thái sau khi thoát khỏi Ai Cập để đến miền Đất hứa đã chia ra thành mười hai nhóm nhỏ, gọi là Mười hai Chi tộc Israel. Thế là Giê xu chọn ra mười hai người trong số các môn đồ để giúp ông lãnh đạo một sứ vụ rất khác biệt này. Ông gọi họ là các sứ đồ hay tông đồ, tiếng Anh là apostle, một từ có gốc từ tiếng Hy Lạp nghĩa là “sứ giả, người đưa tin”. Các vị sứ đồ mang đến tin tốt lành là vương quốc hòa bình của Thiên Chúa đã đến cận kề chúng ta rồi.

Tuy nhiên, các sứ đồ đó không phải là một nhóm toàn hảo. Hai vị nổi tiếng nhất hóa ra lại gây thất vọng, đó là Peter và Judas. Peter giàu tình cảm nhưng lại yếu đuối. Ông bỏ rơi Giê xu sau khi ngài bị bắt giữ, trong khi đó Judas chính là kẻ đã dẫn lính đến nơi Giê xu đang ẩn náu. Chúng ta không rõ tại sao Judas làm thế. Các giáo sĩ trả cho ông ta ba mươi đồng bạc để phản bội lại thầy mình, nhưng có vẻ như ông không làm vậy vì tiền. Có thể Judas thất vọng khi thấy Giê xu không phải là kiểu Đấng Cứu Thế mà mình hằng mong đợi. Giê xu có một lượng lớn tín đồ đi theo là những người nghèo và bị áp bức ở Israel, tuy nhiên ông không cầm gươm đao chống lại quân La Mã. Liệu một cú hích có khiến ông kêu gọi dân chúng nổi dậy mở ra một vương quốc như đã hứa hẹn hay không? Đó là động cơ của Judas chăng? Chúng ta không biết. Có lẽ bản thân Judas cũng không biết luôn. Sách Matthew kể rằng những gì xảy đến với Giê xu sau khi bị bắt ở vườn Gethsemane đã làm Judas tan nát cõi lòng và treo cổ tự vẫn. Đã quá muộn để sửa chữa việc ông ta đã làm. Khi ấy Giê xu đã ở trong tay quân La Mã rồi.

Lính La Mã cũng rất giỏi dùng các cử chỉ mang ý nghĩa biểu tượng. Sau khi giới chức kết án xử tử Giê xu bằng cách đóng đinh trên thập tự giá, quân lính đã ấn một vòng gai vào đầu ông và quấn quanh người ông một tấm áo choàng cũ màu tía. “Vua của dân Do Thái muôn năm!” Họ đã chế giễu như vậy trên đường dẫn ông đến nơi xử tử. Đóng đinh trên cây thập tự, cái chết từ từ do bị đóng đinh lên thập giá, là hình phạt kinh khủng nhất của người La Mã. Nạn nhân có thể bị treo như thế suốt nhiều ngày rồi mới chết hẳn. Khi Spartacus lãnh đạo các nô lệ chống lại quân La Mã năm 73 TCN, cuộc nổi dậy đó đã bị đàn áp vô cùng dã man. Tổng tư lệnh La Mã là Crassus ra lệnh hành hình đóng đinh sáu ngàn người nổi dậy và để họ treo trên các thập giá hàng tháng trời dọc theo một trong những con đường lớn dẫn vào thành Rôma. Với Giê xu thì mọi sự kết thúc nhanh hơn. Ông chỉ sống được sáu tiếng trên cây thập tự, có lẽ do ông đã bị quân lính đánh đập bằng roi quá nặng từ trước nên ông cũng đã quá yếu lúc bị đóng đinh vào cây thập giá gỗ.

Giê xu đã nghĩ gì khi đang treo trên thập giá đó? Ông có thấy mình như bị những gì ông nghĩ là Chúa đã nói đánh lừa không? Hay ông chấp nhận cái chết như một phần trong kế hoạch của Chúa? Cả hai trường hợp đó đều đã được nhắc đến. Một giả thuyết cho rằng Giê xu tin chắc khi ông ở vào cảnh nguy nan nhất trong lúc đấu tranh với chính quyền, Chúa sẽ hành động. Điều này gần giống giả thuyết về việc Judas cố gắng thúc ép Giê xu hé lộ kế hoạch của ngài. Liệu Giê xu có đang cố thúc ép Chúa? Phải chăng Giê xu nghĩ rằng bằng cách chỉ ra có một thế giới không giống bất cứ thứ gì từng có trên thế gian và sẵn sàng chết vì nó, Thiên Chúa sẽ hiện ra trong dòng lịch sử và đảo ngược tình thế với những kẻ đang cai trị thế giới hiện tại? Nếu quả thật ông mong đợi điều đó, chuyện đó đã không xảy ra. Không ai hay cái gì được giải thoát khỏi người La Mã. Không có vị Chúa Trời nào thình lình giáng xuống lịch sử trần thế để chấm dứt khổ nạn. Chỉ có một cây thập tự và Giê xu cầm chắc cái chết trên đó. Ông đã đạt được gì? Phúc Âm của Mark cho biết trước khi trút hơi thở cuối, Giê xu đã thốt lên: “Thiên Chúa của con! Thiên Chúa của con hỡi! Sao Ngài lìa con?”

Các tác giả Phúc Âm khác khi tường thuật sự kiện đóng đinh Giê xu đã đưa ra một giả thuyết khác. Họ cho rằng Giê xu thật ra luôn làm chủ tình huống. Ngay từ đầu, cái chết của ông đã là một phần trong kế hoạch của Chúa. Ông biết đó là một phần của thỏa ước. Đến thời điểm Phúc Âm của John được viết ra thì giả thuyết đó đã trở thành câu chuyện chính thống. Trong sách John, những lời cuối của Giê xu không phải là tiếng than như Mark mô tả, mà nó là tiếng hô vang chiến thắng: “Mọi việc đã được trọn vẹn!”

Dường như không ai trong số những người đi theo Giê xu lường được chuyện sẽ xảy ra tiếp theo. Ngoài một nhóm nhỏ các phụ nữ trung thành, những người còn lại đều bỏ rơi Giê xu khi quân lính tìm đến bắt ông. Họ sợ sẽ đến lượt họ, rồi họ đợi chờ tiếng gõ cửa trong những giờ tuyệt vọng trước bình minh. Nhưng điều đó đã không xảy ra. Cái thật sự xuất hiện khiến họ ngỡ ngàng. Là Giê xu đã đến với họ, dù họ không thể diễn tả chính xác làm sao họ biết điều đó. Trong lá thư gửi cho các tín hữu ở Corinth, Paul đã tả lại nỗi niềm kinh ngạc ấy. Paul dẫn ra tên tất cả những người đã được Giê xu hiển linh. Cuối cùng, Paul kể, ngài đã hiển linh với tôi nữa. Và chúng ta quay lại sự kiện trên đường đến Damascus được đề cập ở trên. Biến cố đó của Paul là điều kinh ngạc kế tiếp đối với các sứ đồ.

Những lần Giê xu hiện ra đã giúp củng cố tinh thần cho Peter và các vị sứ đồ khác. Nhóm họ đã tan tác sau khi thầy họ bị bắt, nhưng giờ đây họ đã trở lại với nhau và Peter tỏ ra can đảm hơn. Dù không chắc diễn biến tương lai sẽ thế nào, họ vẫn bắt đầu kể chuyện đã xảy ra cho những người đồng hương Do Thái khác. Với lòng dũng cảm ngày càng tăng, họ nhắc lại niềm tin của mình, rằng dù Giê xu đã phải chịu một hình thức xử tử mà Kinh Thánh gọi là bị nguyền rủa, ông vẫn đúng là Đấng Messiah từng được hứa hẹn ấy. Bằng chứng là những lần hiện ra của ông.

Nhưng lịch trình để vương quốc mới, mà giờ họ đã tin là nó đang trên đường thành hiện thực, đâu? Họ nghĩ là không thể trì hoãn hơn được nữa. Tất cả họ đều sống để thấy được thế giới đó thành hình. Lần này sẽ không có gì nhầm lẫn nữa. Khi Giê xu trở lại, hẳn sự xuất hiện ấy sẽ không cần phải bí mật như các lần ông hiển linh sau cái chết. Lần tới, ông sẽ xuất hiện trong sự uy nghi trọn vẹn của cả một vương quốc. Paul đã có cách diễn tả điều đó hay nhất. Paul ví sự phục sinh của Giê xu như là bó lúa đầu tiên của một mùa vụ thánh linh sắp được thu hoạch.

Các môn đồ đầu tiên của Giê xu vẫn không biết phải nghĩ sao về Paul. Từ chỗ là kẻ đi truy lùng họ dữ dội nhất, Saul hay giờ là Paul đã hóa thành mối phiền toái khó chịu nhất. Sau khi bớt sửng sốt vì sự cải đạo của Paul, sau khi cho phép ông tự xem mình là một vị tông đồ vì ông đã được Giê xu “gọi” trên đường đi Damascus, giờ đây họ vẫn coi ông ta là một kẻ khó nhằn. Giống như Giê xu, các vị môn đồ đều là người Do Thái và họ muốn mọi thứ cứ y nguyên như vậy. Dù Giê xu trở lại với cái gì và khi nào việc đó xảy ra, họ chắc chắn địa điểm xảy ra vẫn ở Jerusalem, thành phố thiêng của Chúa. Vì thế, họ chỉ muốn ngồi yên tại chỗ và chờ đợi Giê xu. Họ sẽ tiếp tục truyền bá tin Giê xu là một Messiah và Ngài sẽ sớm trở lại, nhưng chỉ báo tin cho dân Do Thái thôi, chỉ cho những ai cùng sắc dân với Giê xu.

“Không!” Paul lên tiếng phản đối. Chẳng lẽ các vị không nhận ra Chúa đã xé bỏ giao ước cũ và ban bố cái mới rồi sao? Cái cũ đã làm xong nhiệm vụ của nó và đó là một sứ mệnh vẻ vang. Tuy vậy, nó đã kết thúc rồi. Giống như việc các vị phải đến trường khi còn nhỏ, chuyện đó rất quan trọng khi ta còn trẻ nhưng nó chấm dứt khi ta đủ lớn khôn. Còn một điều cần lưu ý nữa. Giao ước mới này không chỉ dành cho người Do Thái. Nó dành cho tất cả mọi người. Cho cả thế giới này!

Paul bảo họ rằng, các vị không nên túm tụm với nhau ở Jerusalem chờ Giê xu quay lại một cách thụ động như thế. Các vị nên đi ra ngoài kia nói với thế giới rằng họ không cần phải là dân Do Thái để đi theo con đường của Giê xu. Chúng ta dĩ nhiên sẽ tiếp tục là những người Do Thái trung thành và tuân thủ giáo luật. Đó là di sản của dân tộc này. Nhưng chắc chắn các vị sẽ không bảo những ngoại dân kia là nếu muốn theo Giê xu, họ phải cắt bao quy đầu, vì rằng qua bao thế kỷ trước đến nay, các cậu bé Do Thái phải chịu lễ cắt bì như một cách đánh dấu chúng là con dân của Đức Chúa. Đó là chuyện xưa. Chuyện nay thì khác. Điều cần thiết bây giờ không phải là cắt lớp da quy đầu mà là cắt đi những cái ở trong tim. Một sự giải phẫu về tâm linh! Những ngoại dân cũng phải cắt đứt lối sống cũ và khỏi sự sống theo tinh thần của Giê xu. Và chúng ta không còn nhiều thời gian để truyền thông điệp đó. Giê xu sẽ quay lại sớm hơn ta tưởng. Những ai đang hấp hối giờ vẫn chưa được nghe thông điệp đó. Chúng ta phải gấp rút hơn vì không còn đủ thời gian nữa.

Paul cứ thế công kích các môn đồ ấy cho đến khi họ trút bỏ được sự hoài nghi e dè. Dù vậy họ cũng không xuôi theo ý ông hoàn toàn, mà cùng nhau dàn xếp một thỏa hiệp. Những người theo Giê xu từ ban đầu sẽ ở lại Jerusalem. Họ sẽ ở đó và chờ ông quay về. Họ vẫn tuân giữ mọi luật tục và truyền thống của dân tộc Do Thái. Họ sẽ gìn giữ trọn vẹn mọi điều. Riêng Paul sẽ đi gặp các ngoại dân và kể cho họ biết về Giê xu. Những người cải đạo sẽ không bị buộc phải theo các truyền thống của Do Thái giáo. Thế là Paul lên đường. Ông đã đi ròng rã qua các lãnh thổ của người La Mã ở vùng cực đông vùng Địa Trung Hải, truyền đạo cho nhiều ngoại dân hoán cải theo con đường của Giê xu và xây dựng các nhà thờ ở mọi nơi ông ghé đến.

Đó là lý do vì sao có ý kiến cho rằng không phải Giê xu mà Paul mới là vị sáng lập thật sự của Kitô giáo. Không có Paul thì phong trào của Giê xu đã phai nhạt như một nhánh tin vào đấng cứu thế khác đã từng thất bại trong Do Thái giáo. Chính nhờ Paul đã hiện thực hóa nó trong lịch sử. Điều đó đúng, nhưng nên nhớ rằng Paul cũng đã mang theo Giê xu. Đối tượng được ông thuyết giảng là Giê xu: một Giê xu mà Paul gặp trên đường đi Damascus; một Giê xu đã tiết lộ tin mừng về tình yêu của Thiên Chúa dành cho thế giới; một Giê xu sẽ sớm trở lại nên không thể trì hoãn việc loan tin thêm nữa.

Chỉ có điều Giê xu đã không trở lại. Cho đến nay, ngài cũng vẫn chưa trở lại, dù kỳ vọng rằng một ngày nào đó ngài sẽ quay lại chưa bao giờ tan biến. Ước vọng ấy là một phần trong tín điều chính thống của Kitô giáo, nói rằng đến ngày đó “người sẽ quay trở lại, với ánh hào quang, phán quyết cả kẻ đang sống hay đã chết”.

Paul đã chiếm được lòng kính trọng bất đắc dĩ của các vị sứ đồ khác và được khuyến khích thực hiện sứ mệnh với lớp ngoại dân và xây các nhà thờ. Đối với giới chức Do Thái giáo thì chuyện lại khác. Họ đã để mất người trợ thủ đắc lực nhất giúp họ trừ khử dân Kitô hữu. Họ đã sai ông đi lùng diệt kẻ thù của họ nhưng ông đã xoay chuyển lòng trung thành của mình và gia nhập bên kia. Giờ chính Paul lại là kẻ thù của họ. Vậy là họ đuổi bắt ông cũng dữ dội như năm xưa ông hùng hổ lên đường tiến đến Damascus. Paul liên tục bị bắt giữ và trừng phạt. Đã năm lần ông phải chịu khung hình phạt quất ba mươi chín roi da. Trong ba lần khác, ông bị đánh bằng gậy, một lần bị ném đá. Cuối cùng, khi thấy mọi sự trừng phạt ấy cần phải kết thúc, ông quyết định thỉnh cầu giới chức La Mã. Dù gì ông cũng là một công dân La Mã và như thế, ông yêu cầu phải có phiên tòa xét xử nghiêm túc cho tội danh rao giảng phúc âm của Kitô của mình.

Chính quyền La Mã cuối cùng cũng ghi nhận lời thỉnh cầu của ông với tư cách một công dân là hợp pháp, thế nên họ đưa ông đến thành Rôma để xét xử. Họ giam cầm ông khi ông đến nơi. Điều đó không ngăn cản được ông tiếp tục cải đạo cho mọi người theo tín ngưỡng Giê xu. Paul là kiểu người sẽ không dừng việc cải đạo của mình trước hoàn cảnh, dù đang ở trong tù đi nữa. Giờ đây, Kitô giáo đã đến thành Rôma. Chuyện diễn ra thầm lặng và tránh khỏi mọi sự nhòm ngó, khi người đàn ông thấp bé có đôi chân vòng kiềng và ánh nhìn cương quyết này đêh sống ở thủ phủ của Đế quốc La Mã.

Những sự kiện diễn ra kiểu rón rén từng chút một thường làm thay đổi thế giới. Đây là một trong những trường hợp như thế. Và nó sẽ làm thay đổi cả tiến trình lịch sử.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.