Lược Sử Tôn Giáo - Phần 4

CHƯƠNG 31: CHÉM ĐẦU CON THÚ

Làm nữ hoàng hay hoàng hậu ở châu Âu thời Trung cổ là một việc nguy hiểm. Nhiệm vụ của bạn là củng cố liên minh giữa các quốc gia và sinh con cho người đàn ông có khi chẳng yêu thương gì bạn. Đó là hoàn cảnh của Catherine xứ Aragon, người vợ đầu của vua Henry VIII. Ít nhất thì bà đã được chết trên giường của mình. Cháu gái của Henry là Nữ hoàng Mary xứ Scotland, một nạn nhân của các mâu thuẫn tôn giáo thời ấy, lại chết trên bệ chém của đao phủ. Bà sinh ra ở Scotland vào năm 1542, con của vua James V và vợ người Pháp là Mary xứ Guise. Những mất mát của bà bắt đầu từ sớm. Cha bà mất vài tuần sau khi bà ra đời, theo đó bà được lên ngôi Nữ hoàng Scotland. Lên năm tuổi thì Mary được gửi sang Pháp sống và đến năm mười lăm tuổi, bà kết hôn với hoàng tủ Francis mười bốn tuổi, người thừa kế ngai vàng nước Pháp.

Bà học hành chăm chỉ, yêu động vật, nhất là chó. Bà sống một đoạn đời thoải mái và an toàn. Thế rồi các mất mát lại đến.

Bố chồng của bà là vua Henry II của Pháp sớm qua đời năm 1559. Francis và Mary trở thành vua Francis II và hoàng hậu của nước Pháp. Một năm sau, mẹ bà là Hoàng hậu nhiếp chính của Scotland cũng qua đời; sáu tháng sau, chồng bà, vua Francis II cũng mất. Mười tám tuổi, Mary thành trẻ mồ côi và quả phụ cùng một lúc. Đức tin Công giáo mà bà được truyền thụ từ thuở nhỏ đã giúp bà trụ vững qua nỗi đau. Bà cũng mang theo đức tin ấy khi trở lại Scotland để chính thức trở thành Nữ hoàng trị vì quốc gia. Tuy nhiên, trong những năm bà ở Pháp thì hầu hết dân Scotland đã cải sang đạo Tin Lành. Họ sẽ phản ứng ra sao với Nữ hoàng theo Công giáo của mình?

Bà đặt chân lên mảnh đất quê hương vào ngày 19 tháng Tám năm 1561. Khi đang sửa soạn cho đêm đầu tiên trong cung điện của mình ở cuối phố Royal Mile ở Edinburgh, bà nghe thấy tiếng hát bên ngoài cửa sổ. Đó không phải là bữa tiệc chào mừng bà trở về mái ấm bằng các bài hát cổ của Scotland. Đó là một nhóm người biểu tình cảnh cáo bà bằng các bài thánh ca mới của họ. Thông điệp của họ là: Hãy cẩn thận đường đi nước bước. Pháp, đồng minh cũ của Scotland, có thể vẫn theo Công giáo nhưng Scotland giờ đã theo Tin Lành rồi. Thế nên hãy cẩn thận, bà nữ hoàng Công giáo kia! Đây quả là điềm xấu báo hiệu các rắc rối cho vị nữ hoàng trẻ tuổi. Thủ lĩnh của nhóm biểu tình ca hát kia là một người đàn ông thấp bé với bộ râu dài tên là John Knox.

Phong trào Kháng Cách vào đến Scotland khá muộn. Chuyện bắt đầu khi một thanh niên tên Patrick Hamilton mang các tư tưởng Tin Lành về đây sau thời gian học hành ở châu Âu. Ngày nay, tại thành phố St Andrews, bạn vẫn có thể thấy nơi Hamilton bị Giáo hội Công giáo thiêu sống năm 1528. Trong buổi xử tử được tiến hành rất vụng về đó, cần đến sáu giờ đồng hồ thì họ mới làm Hamilton chết hẳn. Tuy nhiên, phải đến cái chết của vị tử đạo tiếp theo tại phố St Andrews là George Wishart mới làm bùng lên ngọn lửa cuối cùng thiêu trụi Giáo hội Công giáo ở Scotland. Wishart là một người tử tế, từng lấy những tấm trải giường của mình cho người nghèo ở Cambridge khi ông còn học ở đó. Lòng tốt đó cũng không ngăn được việc Giáo hội cho bắt ông vì mang tư tưởng Kháng Cách. Năm 1546, ông cũng bị thiêu sống trên cọc gỗ trong khi Hồng y Beaton, người đứng đầu Giáo hội ở Scotland, quan sát cuộc hành hình đó từ cửa sổ lâu đài Thánh Andrews. Có lẽ ông muốn kiểm tra việc xử tử cho chắc. Lần này họ làm bài “chắc cú” bằng cách đổ đầy thuốc súng vào túi áo, túi quần ông để lửa cháy nhanh hơn.

Vài tháng sau cái chết của Wishart, một nhóm tín đồ Tin Lành đã tấn công ồ ạt vào lâu đài và đâm Hồng y Beaton đến chết để trả thù. Những người khác cũng gia nhập nhóm và họ cùng lập rào chắn bên ngoài lâu đài. Một trong số họ là John Knox, người chúng ta đã gặp bên ngoài cửa sổ phòng Nữ hoàng Mary ở Edinburgh. Ông từng là linh mục Công giáo nhưng đã chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ tư tưởng đạo Tin Lành của George Wishart.

Knox tiếp xúc với Kinh Thánh khá muộn. Hai cuốn sách gây ảnh hưởng lớn nhất đến ông là sách Daniel trong Cựu Ước và sách Khải Huyền, cuốn cuối cùng trong Tân Ước. Sách Daniel được viết trong giai đoạn vua Antiochus bức hại dân Israel vào khoảng năm 167 TCN, còn sách Khải Huyền ra đời trong thời hoàng đế Domitian áp bức Giáo hội Kitô còn non trẻ vào cuối thế kỷ thứ nhất. Cả hai sách ấy đều được viết bằng một thứ mật mã chỉ có nhóm dân chịu áp bức mới. hiểu, củng cố niềm tin của họ trước kẻ thù. Mọi chuyện tệ hại thật, nhưng đó chỉ là màn đêm trước bình minh, là trận đánh cuối cùng của cuộc chiến mà họ sẽ giành chiến thắng. Thiên Chúa sẽ đến để tống khứ lũ quái vật muốn cắn xé các con của ngài ra khỏi Trái đất. Knox giật nẩy người vì phấn khích. Các sách này không chỉ nói về quá khứ. Chứng cũng nói về những gì đang xảy ra ở Scotland bấy giờ! Giáo hội Công giáo cũng như vua Antiochus hồi đó! Họ cũng giống hoàng đế Domitian! Nhiệm vụ không phải là cải tổ Giáo hội Công giáo mà phải phá hủy nó và thay thế bằng một thứ gì đó khác hoàn toàn.

Trong một bài giảng của mình ở St Andrews, linh mục Knox đã trích dẫn đoạn văn mã hóa năm xưa của Daniel:

Mười cái sừng kia là mười ông vua từ vương quốc ấy trỗi dậy: rồi một ông vua khác sẽ trỗi dậy sau mười ông kia... Vua này sẽ thốt ra những lời phạm đến Đấng Tối Cao và ngược đãi các chư thánh của Người... Chư thánh sẽ bị nộp vào tay vua một thời, hai thời và nửa thời.6

Chẳng phải đó là cái đang diễn ra với họ ngay trong lúc Knox giảng đó sao?

Knox chuyển sang trích dẫn về Con thú trong sách Khải Huyền:

Tôi lại thấy con thú và vua chúa trên mặt đất cùng với các đạo quân của chúng... Con thú bị bắt, cùng với tên ngôn sứ giả từng dùng các dấu lạ hắn làm trước mặt nó... Cả hai bị quăng sống vào hồ lửa có diêm sinh đang cháy ngùn ngụt.®

Với Knox thì những lời đó không nói đến một quá khứ xa xăm nào ở Israel, nó nói về ngày nay, tại St Andrews này. Sự phán xử đang đến với Scotland. Người dân buộc phải lựa chọn. Không thể thỏa hiệp gì nữa. Họ hoặc vì Chúa hoặc vì Con thú Công giáo đang chống lại Ngài. “Không có chuyện trung lập gì cả”, đó là ý của cụm “na middis” mà Knox nói bằng giọng Scotland trong buổi thuyết giảng. Đó là lần đầu tiên ta được nghe giọng của Knox, nhưng suýt nữa đó cũng trở thành lần cuối.

Vào năm 1547, khi mọi điều này xảy ra, Scotland vẫn là một nước Công giáo do Hoàng hậu nhiếp chính, Mary xứ Guise, mẹ của Nữ hoàng Mary xứ Scotland lãnh đạo. Hoàng hậu xem các nhà Kháng Cách như một mối đe dọa đối với việc lên ngôi của con gái mình, thê nên bà đã tìm kiếm sự trợ giúp của nước Pháp trong thời điểm cấp bách đó. Quân Pháp đến bằng chiến thuyền và giúp chấm dứt cuộc vây hãm ở St Andrews. Knox bị bắt giam và kết án hai năm khổ sai trên thuyền galê của Pháp. Galê là loại thuyền dài khoảng 45 mét, rộng 9 mét, có căng buồm nhưng nếu không có gió thì phải dùng sức chèo; sáu tù nhân ở mỗi bên thuyền sẽ bị cùm vào mái chèo và ăn, ngủ, nghỉ tại chỗ. Sau gần hai năm trên các thuyền, Knox được thả nhưng ông quyết định không quay về Scotland, nơi đang có quân Pháp yểm trợ. Ông dành ít năm sau đó để làm việc trong phong trào kháng cách ở Anh. Khi mọi thứ trở nên sôi sục dưới thời của Mary Khát máu, ông trốn thoát sang Geneva nơi các nhóm Tin Lành kiểm soát được tình hình.

Knox quay lại Scotland tháng Năm năm 1559 khi bên Tin Lành đã sắp giành được chiến thắng. Một lần nữa, một bài thuyết giảng của Knox giúp xác lập tinh thần chung cho giai đoạn cuối cuộc đấu tranh. Hoàng hậu nhiếp chính vẫn còn chiến đấu để giữ Scotland theo Công giáo cho con gái mình. Khi bà cố cấm đoán các nhà thuyết giáo Tin Lành, Knox chuyển sang thành phố Perth để thuyết giảng. Đối với Knox, các hình ảnh và tượng trong các nhà thờ Công giáo không phải là thứ nghệ thuật trong sáng. Chúng là sự báng bổ, xúc phạm Chúa, một bằng chứng nữa cho thấy nền Công giáo đã tự trao mình cho Con thú. Knox cũng gay gắt với vấn đề ảnh tượng như nhà tiên tri Muhammad vì cùng một lý do. Chúng chỉ khơi dậy sự ghét bỏ của Đấng Chúa đích thực duy nhất, vốn đã lên án việc thờ ảnh tượng đó trong Điều răn thứ Hai rồi.

Bài thuyết giáo của Knox đã khơi dậy một cuộc nổi loạn. Người ta xé bỏ tranh ảnh trong nhà thờ, giựt sập các bệ thờ và đập nát các bức tượng. Đó chỉ là khởi đầu của một chuỗi tàn phá vô độ khiến Scotland hầu như không còn lưu giữ một dấu tích nghệ thuật nào được tạo ra trong lịch sử Công giáo lâu đời của họ. Hội thánh Tin Lành của Scotland sẽ chỉ thờ phượng Chúa trong các tòa nhà quét vôi trắng đơn sơ, không có một ảnh tượng nào làm họ sao lãng khi đang lắng nghe lời Chúa từ Kinh Thánh, nguồn gọi cảm hứng duy nhất mà họ tin cậy.

Cuộc tranh chấp giữa hai bên Công giáo và Tin Lành khi ấy có vẻ như sẽ còn kéo dài. Bất thình lình, nó kết thúc. Hoàng hậu nhiếp chính qua đời và giới quý tộc của Scotland lập ra một thỏa thuận: theo đó Scotland sẽ trở thành một nước Tin Lành đúng như hình thức mà Knox muốn; đổi lại, họ phải để Mary lên làm Nữ hoàng và được giữ đức tin Công giáo của bà ấy. Nữ hoàng Mary có thể nghe Thánh Lễ trong không gian riêng nhưng ở trước thần dân, bà phải điều hành quốc gia như một nước Tin Lành. Đó là một thỏa hiệp chính trị. Như chúng ta đã thấy, Knox không thích thỏa hiệp. Knox lúc bấy giờ là Mục sư nhà thờ Thánh Giles, cách cung điện Holyrood nửa dặm, không bằng lòng chút nào khi hay tin Mary theo Công giáo quay về làm Nữ hoàng Scotland. Vì thế, ông đã đứng ngoài cửa sổ cung điện trong buổi tối Mary trở về và hát các bài thánh ca để phản đối bà.

Nhưng mọi chuyện đã kết thúc với cả hai người bọn họ. Knox vẫn đi thuyết giảng chống lại thỏa ước mà giới quý tộc đã lập nên với Nữ hoàng Mary. Ông lo sợ rằng bà sẽ tìm cách đưa Con thú Giáo hoàng vào trong đền thờ tinh khiết của nền Tin Lành Scotland. Trong khi đó, nữ hoàng trẻ tuổi Mary đã tìm được sự an ủi trong các thực hành đức tin Công giáo của mình và thường xuyên bị sự căm ghét mà người đàn ông hay diễn thuyết chống lại mình kia làm cho bế tắc. Cuộc va chạm giữa John Knox và Nữ hoàng Mary cho thấy tôn giáo có thể kích động mâu thuẫn giữa những người vốn đều tốt bụng và giàu lòng cảm thông như thế nào. Knox hoàn toàn không phải là người xấu. Ông cũng phải chịu nhiều khổ đau vì tôn giáo của mình. Tuy vậy, ông chỉ thấy mọi thứ theo trắng và đen. Không có xám. Không Trung Đạo. Na middis! Và sự vô tình mang trong mình dòng máu hoàng gia đã khiến Mary, người vốn đã bị sự mất mát và nỗi khát khao tình thương yêu vùi dập, roi vào tình thế đối đầu với một tôn giáo chỉ làm bà kiệt quệ chứ chưa từng chiếm được cảm tình của bà. Giữa tình cảnh thiếu thốn tình yêu thương ấy, bà đã ra các quyết định sai lầm. Năm 1565, khi Mary hai mươi hai tuổi, bà đã kết hôn với một người em họ theo Công giáo là Huân tước Darnley, một bợm nhậu thô bạo và xấu tính. Knox cũng đã thuyết giảng phản đối cuộc hôn nhân này. Năm 1566, Mary sinh hạ cậu con trai tên James, người mai sau sẽ đồng thời thành vua James VI của Scotland và vua James I của nước Anh, tức là hợp nhất cả hai nền quân chủ. Riêng cha của James là Darnley bị ám sát vào năm 1567. Chồng kế của Mary, Huân tước Bothwell, lại là một kẻ đểu giả khác, mới đầu thì bắt cóc bà về nhưng sau lại bỏ roi bà. Liên tiếp hai thảm họa hôn nhân như thế đã khiến giới quý tộc Scotland không chịu nổi nữa. Nữ hoàng đang đe dọa sự ổn định của quốc gia. Bà bị bắt giữ và buộc phải thoái vị cho cậu con trai James.

Vở diễn lại tiếp tục với hồi cuối về bi kịch của Mary. Bà trốn sang Anh, mong được chị họ mình là Nữ hoàng Elizabeth cứu giúp. Nhưng bà đánh giá việc này cũng sai nốt. Với Elizabeth thì sự có mặt của Mary là một mối đe dọa. Elizabeth lúc bấy giờ đã ổn định được tình hình tôn giáo ở nước Anh, cũng như đã cẩn thận dàn xếp các hệ quả chính trị của cuộc Kháng Cách. Bà không bức hại người Công giáo như cách xưa kia chị của bà là Mary Khát máu đã làm với dân Tin Lành. Tuy nhiên, sự bình ổn đó vẫn còn mong manh và Nữ hoàng Mary của Scotland đang đe dọa nó vì bà có thể thành tâm điểm thu hút các tham vọng và bất mãn của dân Công giáo khi ấy. Tại sao không đưa Mary lên ngai vàng nước Anh giờ đã quay lại với Công giáo? Mary là một nữ hoàng đích thực. Còn Elizabeth lại là con gái của Anne Boleyn và nhiều người vẫn không xem hôn ước giữa Henry và Anne năm xưa là hợp lệ. Vậy là tình thế có thể bất lợi cho Elizabeth và thuận lợi cho Mary lên ngôi Nữ hoàng hợp pháp của Anh quốc.

Thế là Elizabeth ra lệnh canh giữ Mary trong một loạt thái ấp tại Anh suốt mười chín năm trời sau đó. Rồi khi hay tin Mary có thể đang âm mưu để lật đổ mình, Elizabeth đã hành động. Mary đã bị chém đầu vào năm 1587. Đến buổi xử tử mình, Mary khăng khăng muốn mặc áo màu đỏ, màu của các vị tử vì đạo trong Công giáo. Hôm ấy phải cần đến vài nhát rìu mới chặt lìa đầu bà ra khỏi cổ. Khi đao phủ nhấc cái đầu lên theo thông lệ để chứng minh bà đã chết, anh ta chỉ nắm được một mớ tóc giả trên tay, còn đầu của Mary vẫn còn trong giỏ.

Các cuộc chiến tranh tôn giáo ở châu Âu còn sôi sục suốt nhiều thế kỷ, giữa Công giáo với Tin Lành, rồi giữa Tin Lành này với Tin Lành khác. Đây đó trong đám bụi mù chiến trận, thỉnh thoảng người ta thấy nổi lên một nhóm vượt qua được mối hằn thù và mâu thuẫn chính trị nảy sinh từ công cuộc Kháng Cách. Một trong số đó còn có một biệt danh nổi tiếng đến bây giờ: những người Quaker. Ta sẽ tìm hiểu về họ trong chương sau và như vậy sẽ cần băng Đại Tây Dương sang đến nước Mỹ.

CHƯƠNG 32: CÁC THÂN HỮU

Sẽ là sai lầm nếu cho rằng mỗi khi lời phán của Thiên Chúa cất lên trong tâm trí con người thì quy mô của kết quả sẽ như một bộ phim bom tấn Hollywood, ví như cuộc Xuất hành của dân Do Thái ra khỏi Ai Cập hay cuộc di chuyển từ Mecca của Muhammad hay vụ Martin Luther công kích trò bán phép ân xá ở Wittenberg. Đôi khi, lời ấy phán bảo một điều riêng tư đến nỗi khó ai còn nhớ tới nó sau này. Tuy vậy, nó vẫn có khả năng thay đổi lịch sử.

Đó là trường hợp của George Fox, một trong các nhân vật hấp dẫn nhất lịch sử tôn giáo. Đó là nước Anh thế kỷ 17, khi các nhân vật quyền quý trong Giáo hội và xã hội tự cho mình vẻ ta đây màu mè. Họ mê các tước hiệu và lễ phục đi kèm với chúng. Họ nhất nhất bảo những kẻ bề tôi phải quỳ gối và cỏi mũ một cách kiểu cách để tỏ lòng tôn kính họ. Các tước hiệu của họ khẳng định việc họ đang ở trên đám đông quần chúng bao xa. Đức này, Ngài nọ, Muôn tâu Bệ hạ... là các danh xưng giúp tôn họ lên trên những thường dân đang lon ton như kiến dưới chân họ vậy. Các Kitô hữu xem thái độ này vừa đáng ngạc nhiên lại vừa không có gì lạ cả. Đáng ngạc nhiên vì nó đi ngược lại với giáo lý rõ mồn một của Giê xu, người đã dạy rằng môn đồ của ngài không được phép cao ngạo. Tuy nhiên, thái độ đó cũng bình thường thôi vì đó là kiểu cách của thế giới này và tôn giáo vẫn thường thuận theo thế tục dù nó có ẩn mình trong bao nhiêu bộ áo lễ đi nữa.

Mới đầu, phong trào Kháng Cách bùng phát ở châu Âu thế kỷ 15 và 16 tạo ấn tượng như nó sẽ thách thức mọi thái độ cao ngạo kể trên. Đúng là nó cũng làm được phần nào, tuy nhiên các hội thánh bác bỏ nền chuyên chế của Rôma sớm tìm ra các cách khác để khẳng định sự ưu việt của mình. Có các giáo phái lấy biệt hiệu là Thanh giáo cũng vì lý do đó. Họ tin rằng chỉ mình họ là các Kitô hữu đích thực, những người thanh khiết. Trong mọi dạng trịch thượng mà lòng tự kiêu của con người bày ra thì sự trịch thượng về tôn giáo là quá quắt nhất.

Các tuyên bố về sự ưu việt ở khía cạnh tâm linh hay xã hội đều không cuốn hút được George Fox. Lời phán của Thiên Chúa bảo ông đừng giở mũ hạ mình trước bất cứ ai dù địa vị họ cao hay thấp, cũng đừng dùng danh xưng đặc biệt để gọi họ. Ông sẽ chỉ gọi “bạn” hoặc “mày” với tất cả mọi người, dù đối tượng đó giàu hay nghèo, cao sang hay nhỏ bé. Ông không cúi đầu hay kéo lê chân ra sau để chào ai nên những kẻ có chức vị hết lần này đến lần khác bỏ tù ông vì ông không chịu công nhận sự ưu việt. Trong một lần ra hầu tòa vì tội xấc láo đó, ông đã tuyên bố rằng đấng có thẩm quyền duy nhất khiến ông phải run sợ là Thiên Chúa mà thôi. Vị quan tòa nghe thấy thế đã gạt đi rồi gọi ông bằng cái tên có ý chế nhạo là Cịuaker, hay “đứa run rẩy”. Các tín hữu đi theo Fox dùng tên chính thức là Hội Thân hữu, tuy nhiên cách gọi lăng mạ của vị quan trên vẫn còn hiệu lực đến ngày nay và nhiều người biết đến họ với danh hiệu các Quaker.

George Fox sinh ra ở Leicestershire, nước Anh, vào năm 1624. Bố ông là thợ dệt vải, còn ông từng học nghề đóng giày. Giống các vị tiên tri đi trước, thời thanh niên, ông cũng bỏ nhà đi tìm kiếm sự giác ngộ. Tôn giáo thời đó rất hỗn loạn. Cái chợ tâm linh huyên náo tiếng rêu rao của mấy kẻ buôn thần bán thánh, lớn tiếng về sự độc đáo của nhãn hiệu tín ngưỡng của mình. Dù tất cả đều chống đối lẫn nhau, họ vẫn có một điểm chung. Bên nào cũng tự cho là phiên bản Kitô giáo của mình sẽ đảm bảo sự hiệp thông với Đức Chúa. Ngụ ý của bọn họ là để tìm được Chúa thì bạn cần một người dắt mối, một người bạn có quan hệ tốt giúp giới thiệu bạn vậy.

Năm hai mươi bốn tuổi, Fox nhận được một mặc khải bảo rằng ông đang mất thời gian vô ích khi đi tìm người dẫn mình qua cánh cửa đến gặp Chúa. Rằng ông đang tìm kiếm bên ngoài mình, trong khi câu trả lời gần gũi với ông hơn cả hoi thở. Ông cũng chẳng cần đi qua bất cứ vị điều hành nào, những kẻ tự xưng là người gác cổng chính thức của Chúa. Ông cũng chẳng cần vị linh mục kiểu cũ hay thầy thuyết giáo kiểu mới nào để giúp ông đến với sự hiện diện của Đấng ấy. Cửa đã mở sẵn rồi. Ông chỉ việc bước qua cửa mà thôi.

Vậy thì cũng không cần cái gọi là nhà thờ, hay “nhà có gác chuông” như Fox vẫn tả. Rồi các thứ phụ trợ linh tinh do tôn giáo bày ra cũng chỉ gây sao lãng mà thôi, dù đó là áo choàng đen của các mục sư hay bộ lễ phục màu mè của linh mục, các nghi lễ công phu của người Công giáo hay kiểu giản tiện nghiêm khắc bên Tin Lành. Cả đàn ông và đàn bà đều chẳng cần đến các túi điều hay danh sách các thứ phải tin. Chắc chắn họ cũng không cần một lực lượng cảnh sát tôn giáo để thúc ép họ! Tất cả những gì họ cần làm chỉ là ngồi yên lặng bên cạnh nhau và chờ đợi Đấng Thánh Linh lên tiếng trong tim họ. Ánh sáng của Thiên Chúa vốn đã chiếu rọi sẵn bên trong mỗi người.

Tất cả những điều đó đã đủ tính cách mạng. Nếu chúng được phổ biến thì kiểu tôn giáo có tổ chức sẽ bị quét sạch. Nhưng vẫn chưa hết. Còn một tuyên bố táo bạo nữa nói rằng mọi con người đều bình đẳng với nhau về giá trị, dù nam hay nữ, nồ lệ hay tự do! Chẳng có Giáo hội hay Nhà nước nào khi đó sẵn sàng chấp nhận các mặc khải của George Fox; tuy nhiên, nhóm thân hữu Quaker của ông đã bắt đầu áp dụng chúng trong đời sống của họ. Và điều này khiến họ phải trả giá đắt. Hàng ngàn người bị tống giam vì các niềm tin như thế và nhiều người đã chết trong tù. Không ngã lòng, họ tiếp tục đấu tranh để cải thiện đời sống cho dân nghèo. Trong một thời đại ác nghiệt như thế, họ vẫn ra sức vận động để các tù nhân và bệnh nhân tâm thần được đối xử tử tế hơn. Nhưng chính việc chống lại chế độ nô lệ mới có tác động sâu sắc nhất đến lịch sử. Và sự tình bắt đầu từ nước Mỹ.

Đến đầu thế kỷ 17, Bắc Mỹ đã thành một nơi ẩn náu cho các nhóm tôn giáo đang chạy trốn tình trạng bắt bớ ở châu Âu và tìm kiếm một Miền Đất hứa khác. Cuộc xâm lấn vĩ đại của dân châu Âu vào vùng châu Mỹ hay Tân Thế giới đã bắt đầu và những người Quaker nước Anh nằm trong những người đến sớm nhất. Nổi bật trong số đó là William Penn, người vào năm 1682 đã thiết lập một khu kiều dân trên mảnh đất ngày nay là tiểu bang Pennsylvania.

Dân khai hoang châu Âu không chỉ mang Kitô giáo đến Bắc Mỹ; họ còn mang theo một trong những tội ác lớn nhất của loài người: chế độ nô lệ. Chế độ độc ác đó đã có từ xa xưa và rất phổ biến, tuy nhiên quá trình người châu Âu thực dân hóa châu Mỹ đã cho nó một thúc đẩy mới. Để khai phá mảnh đất hoang sơ mà mình mới chiếm được, người châu Âu cần đến những nhân công khổ sai mà họ có thể thúc ép như súc vật cho đến khi ngã quỵ. Nô lệ là giải pháp và sẵn có rất nhiều nô lệ như thế vào thời điểm đó.

Những chuyến tàu miệt mài chạy qua vùng biển gọi là Hành lang trung tâm chở theo hàng triệu nô lệ từ bờ Tây châu Phi sang làm việc trên những cánh đồng mía ở quần đảo Tây An và các đồn điền ở các bang miền Nam nước Mỹ. Bị cùm tay vào nhau và quây lại trong các khoang tàu bí hơi, hàng nghìn tù nhân châu Phi đã mất mạng trên các hành trình băng Đại Tây Dương đó. Nếu thời tiết quá nguy hiểm thì thuyền trưởng có thể làm tàu nhẹ bót bằng cách ném các chuỗi tù nhân bị xiềng đó xuống biển. Thà dìm chết nô lệ còn hơn là để sự an toàn của con tàu bị đe dọa. Tất nhiên đó chỉ là phương sách cuối cùng. Dù sao, các nô lệ cũng là một loại hàng hóa giá trị. Chỉ cần chở họ đến quần đảo Caribe hay vùng Carolina là người ta có thể dùng nô lệ đổi lấy các mặt hàng khác như đường và sọi bông. Đến thế kỷ 18, Vương quốc Anh đã thống trị mặt trận thương mại, giúp các chủ nô theo Kitô giáo ở Anh và Scotland thu được lợi nhuận khổng lồ. Khi các chủ nô đó về lại mẫu quốc để sống đời huu trí nhàn tản, họ sẽ xây các cung điện lộng lẫy cho năm tháng tuổi già của mình, nhiều cung điện đó vẫn đang duyên dáng tồn tại ở miền quê nước Anh. Làm sao mà các Kitô hữu có thể biện minh cho sự tham gia của họ vào một ngành kinh doanh độc ác đến vậy?

Như ta đã biết, chế độ nô lệ được xem là một điều đương nhiên theo Kinh Thánh. Đó là cách vạn vật vận hành. Tuy nó không nhất quán với thông điệp của Chúa Giê xu, các Kitô hữu đầu tiên vẫn có lý do để bào chữa cho việc họ không làm gì để cải thiện tình hình. Họ cũng chẳng mong đợi thế giới này và cách tổ chức của nó sẽ còn tồn tại lâu thêm nữa. Giê xu sẽ sớm quay lại để khánh thành một vương quốc của Thiên Chúa, mọi thứ trên cõi trần sẽ giống y như trên Thiên đường. Trong thời gian chờ đợi, dân Kitô nên sống đời trong sạch và chuẩn bị tinh thần cho Hồi kết. Và để nguyên thế giới như vậy. Ta cũng đã biết Paul trả người nô lệ Onesimus cho ông chủ Philemon, nài xin ông ta hãy tử tế với người nô lệ vì giờ anh ta cũng là tín đồ theo Giê xu. Tuy nhiên, Paul chẳng hề đề xuất là nên để người nô lệ được tự do. Vì đằng nào mọi thứ cũng sẽ đi đến hồi kết, vậy còn lo giải cứu nô lệ để làm gì?

Đến năm 1688, giáo dân Kitô nhận thấy Giê xu vẫn chưa trở về và có vẻ Ngài cũng sẽ không quay lại trong tương lai gần. Chắc chắn đã đến lúc giải quyết các thứ xấu xa của thế giới thay vì ngồi chờ Chúa đến sửa chữa giùm vào lúc tận thế. Tuy nhiên, một vấn đề nảy sinh khi họ xét đến chế độ nô lệ. Kinh Thánh đã ghi lại lời phán của Thiên Chúa cho Moses về chủ đề này:

Nếu các ngươi mua một người Hebrew làm nô lệ, người đó sẽ phục vụ trong sáu năm; đến năm thứ bảy người đó sẽ được tự do, không cần trả tiền chuộc. Nếu đến nhà ngươi một mình, người ấy cũng ra đi một mình; nếu có vợ khi đến nhà ngươi, người ấy sẽ ra đi với vợ mình. Nếu chủ cưới vợ cho người nô lệ và họ có con cái, khi ra đi người nô lệ sẽ đi một mình còn vợ và con đều thuộc về người chủ.

Trong thư gửi Giáo hội ở Ephesus, Paul cũng khuyên răn các nô lệ là dân Kitô phải biết vâng lời những chủ nhân của họ trên trần gian “như vâng lời Chúa Kitô vậy”.

Vậy là đã quá rõ. Họ là ai mà dám thách thức những lời ấy? Thế mà vào năm 1688, những người Quaker vùng Pennsylvania đã dám làm thế. Cách thực hiện của họ còn tạo ra một ảnh hưởng có tính cách mạng đến cách dân Kitô đọc hiểu Kinh Thánh về sau này. Các thân hữu Quaker tin vào thẩm quyền của thứ ánh sáng nội tâm, hay thứ chúng ta có thể gọi là lương tâm. Họ được thứ ánh sáng bên trong ấy chỉ dẫn cho biết rằng chế độ nô lệ là hoàn toàn sai trái. Nếu ai cũng bình đẳng với ai về giá trị thì sẽ là sai nếu đối xử với một số người như thể họ không bằng con người, như một vật sở hữu hơn là con của Chúa. Nếu Kình Thánh nói khác đi, vậy thì Kinh Thánh đã sai rồiỉ

Những thân hữu Quaker không chỉ biểu tình phản đối việc hợp thức hóa chế độ nô lệ theo như Kinh Thánh, họ còn làm mọi thứ có thể để lật đổ chế độ ấy. Họ chấm dứt nó ở Pennsylvania và giúp tổ chức Đường sắt Ngầm để các nô lệ chạy trốn có đường đi từ phía Nam lên phía Bắc hay sang Canada tìm tự do. Thế giới phải mất một thời gian dài mới theo kịp sự phẫn nộ đó của nhóm Quaker đối với sự tồn tại của chế độ nô lệ trong một xã hội tự nhận là theo Kitô. Mãi đến năm 1833, luật của Đế chê Anh mới bãi bỏ chế độ nô lệ. Rồi phải ba mươi năm sau nữa, khi cuộc Nội chiến Hoa Kỳ kết thúc vào năm 1865, chế độ nô lệ mới bị ngăn cấm trên toàn nước Mỹ.

Những người Quaker không chỉ kết thúc việc sở hữu nô lệ, họ còn góp phần chấm dứt một lối đọc hiểu Kinh Thánh ngô nghê. Khi quả quyết dùng lương tâm của bản thân để phản biện, họ đã làm cho việc tìm hiểu Kinh Thánh trở nên bình thường như với bất kỳ cuốn sách nào khác chứ không còn là một Thần thánh bất khả xâm phạm. Họ biết sự khác nhau giữa cái đúng và cái Kinh Thánh cho là đúng. Họ tin rằng chính Chúa đã cảnh báo họ về sự khác biệt ấy, như vậy chính Ngài cũng có các nghi vấn về Kinh Thánh! Nếu Kinh Thánh nói sai về chế độ nô lệ, có khi nào chuyện kể về sáu ngày Sáng Thế cũng sai? Có thể chúng ta đã đọc Kinh Thánh sai cách suốt nhiều thế kỷ. Có thể chúng ta cần đọc và diễn giải một cách thông minh hơn và có thể ta không nên sợ hãi khi phải dùng đến chính lương tâm mình để phản biện một số phán xét trong Kinh Thánh.

Bằng cách đó, những người Quaker đã thúc đẩy sự hình thành của công việc nghiên cứu thánh kinh có tính phê phán-lịch sử ngày nay. Công việc này không nhất thiết phải bác bỏ tầm ảnh hưởng của Chúa với Kinh Thánh, mà là cố gắng tách rời các yếu tố con người ra khỏi mệnh lệnh thần thánh. Chế độ nô lệ là do con người tạo ra. Còn “hãy yêu người lân cận với con như yêu chính con” là một mệnh lệnh thần thánh. Hãy tự phán xét!

Hiệp hội Giáo hữu có lẽ là một trong những giáo phái nhỏ bé nhất thế giới nhưng sức ảnh hưởng của họ là cực kỳ lớn. Họ vẫn là lương tâm của Kitô giáo. Họ mang đến một phiên bản Kitô giáo mới mẻ và thách thức cho nước Mỹ. Tuy nhiên, nước Mỹ cũng có đời sống tâm linh của riêng mình trước khi Kitô giáo du nhập. Sau đây, ta sẽ tìm hiểu đời sống đó.

CHƯƠNG 33: XUẤT XỨ TỪ CHÂU MỸ

Christopher Columbus đã “khám phá” ra châu Mỹ vào năm 1492, tức là không ai biết đến châu lục này nằm ở đó cho đến khi ông ấy tìm ra nó. Người châu Âu chắc chắn cũng không biết đến lục địa này trước đó. Columbus lúc bấy giờ trong chuyến hải trình lịch sử của mình đang tìm đường đi sang Ấn Độ. Sau một chặng đường dài vòng qua mũi cực Nam châu Phi, ông biết Ấn Độ nằm về phía Đông của châu Âu. Tuy nhiên, ông hy vọng rằng nếu lái tàu về hướng Tây đủ xa thì ông cũng sẽ đến được Ấn Độ từ một hướng khác dễ dàng hơn. Khi đặt chân đến đất liền ở Tân Thế giới, ông cứ nghĩ mình đã tới Ấn Độ, vì vậy ông gọi dân cư nơi này là Indians, hay “người Ấn Độ” trong tiếng Anh, một sự nhầm lẫn còn được dùng mãi về sau (người Anh-điêng).

Việc “khám phá” đó đã trở thành một thảm họa đối với những người bản địa, những người Anh-điêng vốn đã sống trên đất ấy từ trước. Trong hơn bốn trăm năm tiếp theo, thực dân da trắng đã chiếm lĩnh vùng đất của các bộ lạc bản địa và bao phủ nơi này bằng các phái Kitô giáo cạnh tranh khốc liệt. Tôn giáo đáp ứng cho nhiều mục đích, có mục đích tốt lành, có cái thì hung bạo. Mục đích hung bạo nhất là biện minh cho hành động hất cẳng và trục xuất các chủng tộc khác ra khỏi quê nhà của họ. Tựa như dân Israel năm xưa đến chinh phục Miền Đất hứa Palestine, lần này những kẻ mở đường tràn về phía Tây, quét qua Bắc Mỹ, tin rằng đó là định mệnh của họ được Chúa soi đường chỉ lối. Tư tưởng Kháng Cách mà họ mang theo là một tôn giáo luôn biến động và đã in đậm dấu ấn của nó lên chính nước Mỹ. Nó tạo ra một nền văn hóa lấy ham muốn làm động lực thúc đẩy, không bao giờ thấy thỏa mãn và thường trực khao khát làm giàu. Luôn có những biên giới mới để chinh phục.

Tuy nhiên, mảnh đất mà đám người xâm lăng đó tràn qua không phải là một nơi vắng bóng tôn giáo. Dân bản địa cũng có các truyền thống tâm linh của riêng họ, đối lập với bên Kháng Cách năng nổ đang tràn đến. Người châu Mỹ bản địa nương theo bản chất của tự nhiên chứ không chống lại tự nhiên. Họ có một mối kết nối thiêng liêng với mảnh đất đã nuôi dưỡng họ. Họ tin rằng mảnh đất ấy là do một Đại Linh Hồn, cách họ gọi Thượng đế, truyền cho sinh khí. Điều này đặc biệt đúng với các bộ lạc cưỡi ngựa sống trên một vùng đất mênh mông nằm giữa lục địa, vùng Đại Bình Nguyên của Bắc Mỹ. Vùng này trải dài khoảng 4.000 kilomet và rộng đến 1.000 kilomet, bao phủ một diện tích hơn 1.600.000 kilomet vuông, kéo từ Canada ở phía Bắc xuống đến Mexico ở phía Nam. Đó cũng là nơi cư trú của các đàn bò rừng bison, nguồn cung cấp hầu hết mọi nhu cầu của dân cư cùng chung sống với chúng trên khoảng diện tích bao la ấy. Họ là dân du mục, xem mối quan hệ giữa họ với đàn bò như một kiểu cộng sinh. Họ sống một cách nhẹ nhàng trên trần thế. Một mặt họ rất ít khao khát định nghĩa hay kiểm soát đấng Đại Linh Hồn kia, mặt khác họ sẵn lòng đón nhận điều huyền bí và trải nghiệm trạng thái ngây ngất do đấng ấy khơi dậy. Họ cũng có các nhà tiên tri ra đi tìm kiếm các viễn kiến, sử dụng các loại thuốc và nghi thức tự chữa lành để liên kết với sức mạnh của đấng vĩ đại. Sau đó, các vị này quay trở về cộng đồng dân mình và truyền đạt lại qua các điệu múa và các bài hát tụng về những gì họ đã bắt gặp trong quá trình hiệp thông với đấng Đại Linh Hồn.

Nhưng sẽ là sai lầm nếu chúng ta coi những điều trên là một “tôn giáo”, một thứ gì đó nằm tách rời phần còn lại của cuộc sống hay trong một ngăn riêng có tên “đức tin”. Họ không sở hữu một tôn giáo theo nghĩa ấy. Họ cảm thấy mình được bao bọc trong một điều huyền nhiệm sinh động, chứa đựng trong nó cả Trái đất, các đàn bò rừng và những con gió thổi qua những ngọn cỏ thảo nguyên. Điều huyền nhiệm ấy vừa mỏng manh, vừa khó nắm bắt. Nó sẽ không sống sót trước sự xâm lăng của di dân và cuộc tàn sát có hệ thống các đàn bò rừng, vốn là một kế hoạch nhằm làm dân bản địa chết đói và buộc họ phải lùi bước. Dân họ không giống những người Thanh giáo từng bị bức hại vì đức tin của mình ở Anh nhưng vẫn có thể mang theo đức tin ấy khi băng qua Đại Tây Dương. Khi dân Anh-điêng trên vùng bình nguyên bị đuổi ra khỏi đất của họ và chứng kiến đàn bò bị tận diệt đến con cuối cùng, họ đã mất tất cả.

Bi kịch ấy của dân bản địa đã kích hoạt một đợt bạo động đầy sục sôi nhưng thật đau thương mỗi khi nhớ lại. Các phong trào đấu tranh thảm khốc luôn đến từ bên trong các nhóm dân bị áp bức, những người không thể tin Chúa sẽ tiếp tục lờ đi nỗi khổ đau của họ thêm nữa. Vậy là họ mơ đến những giấc mơ về sự khôi phục sẽ sớm xảy ra. Năm 1889, một phong trào đã nổ ra trong cộng đồng người Anh-điêng bị tước đoạt gia sản ở Đại Bình Nguyên có tên là Ghost Dance hay “Điệu vũ linh hồn”. Vị tiên tri phát động phong trào này đã bảo dân họ rằng nếu họ nhảy múa đủ lâu và đủ nhiệt tình thì đám dân da trắng kia sẽ bị chôn vùi mãi mãi dưới một lớp đất sâu của một địa cầu mới. Tất cả sẽ biến mất hết! Bọn xâm lăng ấy sẽ bị xóa sạch! Khi ấy, hàng đàn ngựa hoang và bò mộng sẽ quay về lang thang trên các thảo nguyên, giữa đồng cỏ xào xạc. Và tất thảy người Anh-điêng từng sống trên đời sẽ trở lại trần gian và chung sống cùng họ tại Thiên đường.

Ta cần nhớ Thiên đường là gì. Đây không phải là một Thiên đường ở trên trời kia để mọi người tận hưởng các lạc thú không tưởng. Thiên đường đây là chính cuộc đời họ đã từng sống trước khi dân da trắng đến phá tan nó. Vậy là họ nhảy múa. Thế nhưng Thiên đường ấy không đến nữa. Họ nhảy và nhảy cuồng nhiệt hơn. Có người nhảy cho đến lúc chết. Trái đất cũng chẳng đổ sụp lên dân da trắng và chôn sống họ cùng các lề lối tàn độc của họ. Đàn ngựa hoang cũng chẳng phóng vút qua đỉnh đồi yêu dấu, bờm ánh lên trong ánh nắng mặt trời. Các đàn bò rừng chẳng còn làm ầm vang ở phương bắc mời gọi họ hòa chung vào cuộc săn đuổi rộn ràng. Điều trớ trêu là với các chính sách bảo tồn gần đây, loài bò rừng giờ đã trở lại với Đại Bình Nguyên. Duy có dân Anh-điêng là ra đi vĩnh viễn.

Các phong trào thảm khốc như Ghost Dance là những tiếng lòng mong mỏi sự khổ đau sẽ kết thúc. Sự thật là hồi kết đó đã chẳng bao giờ đến nhưng nó cũng không giết chết được nỗi khao khát cháy bỏng. Chúng ta tìm thấy nó trong tôn giáo của một chủng tộc bị ngược đãi khác của Hoa Kỳ, những người Mỹ gốc Phi. Họ đã bị lôi ra khỏi chốn quê nhà rồi chuyển đi hàng ngàn cây số trên đại dương để đến phục vụ nhu cầu của các chủ nô lệ Kitô hữu. Một trong những trớ trêu của lịch sử tôn giáo là đức tin Kitô do dân nô lệ tiếp nhận từ chủ nhân còn đúng với nguyên bản hơn bất cứ tín điều nào các ông chủ của họ có thể biết được.

Do Thái giáo đã khởi nguồn là tôn giáo của dân nô lệ. Lời phán cho Moses từ trong bụi cây bốc cháy đã bảo ông phải giải thoát con dân của ngài khỏi Ai Cập và dẫn họ đến Miền Đất hứa. Làm sao một chủ nô có thể phản hồi một cách đồng cảm với điều ấy? Nhưng thử tưởng tượng bạn là một nô lệ nghe được câu chuyện đó lần đầu. Bạn đang nghe chuyện về chính mình! Chuyện đó nói về bạn! Bạn sẽ hiểu nó theo cách mà tên cai ở vị trí chực quất roi vào lưng bạn sẽ không bao giờ hiểu được, dù hắn ta có hát lên bao nhiêu bài thánh ca trong nhà thờ trắng tinh vào mỗi ngày Chủ nhật. Do Thái giáo là tín ngưỡng của một dân tộc đã mong mỏi được tự do thoát khỏi xiềng xích. Do đó, họ đã tự tạo nên tôn giáo của chính mình. Rồi họ hát những bài ca về nó.

Hãy xuống đó, Moses,

Tận vùng đất Ai Cập kia,

Bảo với lão Pharaoh già nua ấy,

Để con dân ta ra đi.

Kitô giáo cũng bắt đầu như một phong trào giải phóng. Giê xu là đại diện của Thiên Chúa trên Trái đất để mang đến một vương quốc chưa từng có tiền lệ trong lịch sử. Vương quốc ấy sẽ làm cho các thế lực vĩ đại phải rời bỏ ngôi vị, đồng thời tôn vinh những kẻ hèn mọn và hiền lành. Nó sẽ thay thế đường lối áp bức bằng con đường công chính. Nó sẽ chữa lành những người bệnh tật cũng như giải phóng các tù nhân. Và vương quốc ấy sẽ do một Đấng Cứu Thế mang tới, vị sẽ chịu đòn roi và chế nhạo trên đường vác cây thánh giá đến pháp trường trên đồi Calvary.

Khi nghe những lời như thế, làm sao các nô lệ không nhận ra chúng mô tả tình cảnh của chính họ cho được? Các ông chủ của họ có thể sở hữu cuốn sách chứa đựng lời ấy, nhưng chính các nô lệ mới nắm được ý nghĩa của chúng. Kitô giáo là tôn giáo dành cho các nô lệ! Làm sao các tên chủ nô có thể hiểu được tôn giáo đó, đừng nói đến chuyện sống theo giáo lý? Bọn chủ ấy khước từ giáo lý hằng ngày trong suốt cuộc đời đầy đặc quyền. Còn dân nô lệ sống cùng nó mỗi ngày! Họ biết đó là tín ngưỡng của họ. Có thể họ chưa thể đọc Kinh Thánh nhưng họ biết cách sống như lời Kinh Thánh. Lòng khát khao tự do trong đó cũng là lòng khát khao bên trong họ.

Rồi một thứ khác bắt đầu xảy đến với cách áp dụng Kinh Thánh của họ. Kinh Thánh hát về nỗi khát khao tự do, đương nhiên rồi. Nó ngân vang tiếng lòng mong mỏi một thứ họ chưa có và có thể không bao giờ có được. Tuy vậy, họ đã bắt đầu dừng sách thánh trong quá trình thờ phượng theo một phương cách giúp đem lại tự do cho họ ngay trong hệ thống đang giam cầm họ. Các thầy thuyết giáo của họ không chỉ nói về các câu chuyện trong Kinh Thánh. Họ biến các câu chuyện đó thành hiện thực, khiến chúng thật theo cách những người nghe có thể bước vào câu chuyện và cảm nhận được. Bằng cách ấy, họ đã sáng tạo ra hình thức nghệ thuật vĩ đại nhất của nước Mỹ, một lối sáng tác âm nhạc về sự khổ đau làm lu mờ chính sự khổ đau tột cùng được hát lên, dù chỉ trong một hay hai giờ chiều ngày Chủ nhật, tại một lán trại ở đồn điền miền Nam nào đó. Họ thoát khỏi đòn roi và lời mắng nhiếc để sống trong một niềm hoan lạc đưa họ sang một miền đất khác.

Hãy lẻn đi, lẻn ra khỏi đây, lẻn đến với Giê xu!

Hãy lẻn đi, lẻn về nhà,

Ta không còn ở đây lâu đâu.

Họ đang thực thi một mục đích khác của tôn giáo, đó là khả năng an ủi và làm dịu đi số phận của những người đang khổ sở không kể xiết. Triết gia sống ở thế kỷ 19, Karl Marx, một trong những nhà tôn giáo với cách tiếp cận phê phán khá mạnh, cũng tán đồng mục đích đó của tôn giáo. Marx muốn xóa bỏ các bất công trên thế giới, thứ đã gây ra nỗi khổ đau mà tôn giáo phải xoa dịu. Marx mô tả tôn giáo là một thứ “thuốc phiện của nhân dân”. Ông xem nó như một thứ thuốc gây mê. Tuy vậy, cũng có lúc chúng ta cần đến thuốc gây mê. Nếu phải trải qua một ca phẫu thuật, bạn sẽ vui lòng để cho bác sĩ đưa mình vào giấc ngủ trước khi mổ xẻ bạn ra. Tôn giáo có thể là một loại thuốc giúp xoa dịu con đau của cuộc sinh tồn. Chỉ những tâm hồn hẹp hòi mới không thể cảm thông với những người cần được giảm bớt khổ sở theo cách như vậy. Phải có trái tim sắt đá thì người ta mới không động lòng trước cảnh một giáo đoàn các nô lệ đang tìm kiếm sự động viên nơi lời hứa của Chúa Giê xu rằng sẽ đưa họ về nhà.

Nhưng đó chưa phải là cách duy nhất dân Mỹ gốc Phi đã sử dụng đức tin Kitô-Do Thái và các câu chuyện Kinh Thánh. Họ còn làm một việc khác có tính chính trị rõ rệt hơn. Họ dùng các thông điệp của nó để vận động chống lại chủ nghĩa phân biệt chủng tộc và tình trạng bất công tại Mỹ trong thế kỷ 20. Với họ, nước Mỹ vẫn là một vùng đất như Ai Cập năm xưa và chính họ vẫn còn chịu ách gông cùm. Vị tiên tri Moses của họ lúc này là một mục sư có tên Martin Luther King, người kêu gọi vị Pharaoh già nua giải phóng nhân dân mình một lần nữa.

King sinh năm 1929 ở thành phố Atlanta, bang Georgia, trung tâm của nhóm các bang miền Nam nước Mỹ. Năm 1954, ông trở thành mục sư của một nhà thờ phái Baptist ở Montgomery, bang Alabama; tại đó, ông đã khởi xướng phong trào đấu tranh vì quyền công dân đầy đủ cho người Mỹ gốc Phi. Vào cái đêm ông bị ám sát năm 1968, Martin Luther King ví mình như ngài Moses năm ấy đã trông thấy Miền Đất hứa từ xa nhưng đã chết trước khi kịp đến nơi. Đối với King, dân Mỹ gốc Phi đã xem như thoát khỏi Ai Cập khi chế độ nô lệ bị hủy bỏ vào năm 1865 nhưng trong một trăm năm tiếp theo, họ vẫn còn cách xa Miền Đất hứa của bình đẳng trọn vẹn. Thực tế là hơn nửa thế kỷ nữa trôi qua từ sau cái chết của King, họ vẫn chưa đến được miền đất ấy.

Như ta đã thường xuyên thấy trong các phần trước, tôn giáo có thể bắt đầu với các trải nghiệm huyền bí nhưng nó luôn dẫn đến chính trị. Tôn giáo khởi đầu bằng lời phán cho các vị tiên tri, công cụ trung gian do Đấng Toàn Tri chọn. Rồi những điều các vị ấy nghe được luôn dẫn tới các hành động ảnh hưởng đến lối sống của con người: cũng tức là chính trị. Đôi khi chính trị thật tệ. Con người bị bức hại vì đi theo đức tin hay nghe theo lời phán sai lầm nào đó. Hoặc họ bị ép phải tuân theo một thông điệp do nhà tiên tri nổi danh và tân thời nhất lan truyền. Thế là lịch sử tôn giáo trở thành một môn nghiên cứu về các dạng thức đàn áp khác nhau.

Nhưng đôi khi chính trị cũng tốt. Khi nó liên quan đến giải phóng, chứ không phải áp bức. Ta thấy chính trị tốt khi ở lập trường của những người Quaker ở Pennsylvania phản kháng lại chế độ nô lệ năm 1688. Hay trong Giáo hội người Mỹ gốc Phi ngày nay, chính trị Kitô giáo cũng nói về giải phóng. Các mẹo của Moses và những lời hứa của Chúa Giê xu được dùng để kiến tạo một thế giới tốt đẹp hơn. Tôn giáo không còn được dùng như một thứ thuốc phiện để giảm nhẹ con đau của sự bất công và bất bình đẳng; tôn giáo là một tác nhân kích thích giúp vượt qua tình trạng ấy. Đó vẫn là thứ níu giữ nhiều người ở lại với trò choi tôn giáo.

Và người Mỹ rất thích choi trò mang tên tôn giáo đó. Trong thế kỷ 19 và 20, các tôn giáo mới đã ra đời ở nước này và chúng ta sẽ tìm hiểu trong một vài chương kế tiếp.

CHƯƠNG 34: SINH RA Ở MỸ

Tôi sống ở thành phố Edinburgh và thích đi dạo. Tôi hay đi về hướng các ngọn đồi nằm ngoài thành phố; nếu không có nhiều thời gian cho việc đó thì tôi đi quanh các khu phố gần nhà. Cứ vài lần mỗi tháng, tôi lại gặp các thanh niên đến chào mòi. Họ luôn đi theo cặp, đóng bộ chỉnh tề kiểu doanh nhân, cung cách lịch sự. Giọng họ lúc nào cũng là giọng Mỹ và họ luôn hỏi tôi các câu hỏi: Ông có muốn biết về Giê xu Kitô không? Ông có muốn tìm hiểu thêm về Kinh Thánh không? Tôi thường từ chối nhẹ nhàng và đi tiếp. Nhưng tôi biết họ sẽ còn bắt chuyện kiểu đó với mình thêm nhiều lần nữa suốt đường đi bộ quanh khu phố. Tôi không thấy bực mình gì cả. Tôi biết họ có nhiệm vụ đến Scotland để truyền giáo. Tôi biết họ muốn cứu vớt tôi.

Họ không biết gì về tôi, còn tôi thì biết chút ít về họ. Họ là những người theo Mormon giáo (hay Mặc Môn), thuộc Giáo hội các Thánh hữu Ngày sau của Chúa Giê xu Kitô. Tôi biết trụ sở của họ nằm ở Salt Lake City, bang Utah, một bang miền Tây nước Mỹ. Tôi cũng biết mỗi tín hữu nam của Giáo hội phải dành ra hai năm đi truyền giáo ở quê nhà hoặc nước ngoài. Vì vậy, tôi cư xử lịch sự với các thanh niên đang cố cải đạo cho mình. Họ sống xa nhà, làm việc trong tiết trời lạnh giá, ở một đất nước hầu như xa lạ, cố gắng thuyết phục tôi tin rằng Chúa Giê xu sẽ trở lại. Dĩ nhiên là tôi đã được nghe việc đó từ trước, nhưng không phải theo cách họ đang làm. Họ báo cho tôi biết rằng khi Chúa Giê xu tái lâm, ngài sẽ không đến Jerusalem mà sẽ đến nước Mỹ. Và đó sẽ không phải là lần đầu ngài đến nước Mỹ, ngài đã từng đến trước đó rồi.

Làm sao họ biết điều đó? Họ lấy thông tin đó từ đâu? Như cách mọi tư tưởng tôn giáo khác xuất hiện trên thế giới, họ biết từ một vị tiên tri thấy những khải tượng và nghe các lời phán rồi viết lại những gì mình đã nhận được, kế đến ông ta đi thuyết phục mọi người tin nó. Lần này, vị ấy là một người Mỹ tên là Joseph Smith. Ông sinh năm 1805 ở Sharon, bang Vermont, trong một gia đình nông dân bình thường, sau này đã chuyển lên bang New York sống. Từ khi còn bé, ông đã băn khoăn trước những bất hòa và cạnh tranh giữa các nhà thờ Tin Lành ở thành phố mình ở. Làm sao ông biết phải chọn bên nào?

Tương tự các vị tiên tri trước đó, ông đã đi xa để cầu nguyện về vấn đề của mình và trong lúc đang cầu nguyện ấy, ông nhận được mặc khải. Một thiên thần bảo ông phải tránh xa các nhà thờ địa phương, bọn họ đã đi chệch khỏi viễn kiến của Chúa Giê xu. Các tư tưởng đồi bại đã len vào Kitô giáo sau cái chết của các vị sứ đồ đầu tiên, thế nên tôn giáo này đã lầm đường lạc lối. Tuy nhiên, sự khôi phục sẽ sóm trở lại và ông chính là phương tiện hỗ trợ cho quá trình đó. Ông nên trong tư thế sẵn sàng để khi thời điểm chín muồi, ông sẽ phục dựng Giáo hội về với sự thanh khiết ban đầu và dẫn nó vào đường ngay nẻo chính.

Thế là Smith đợi. Và đến năm hai mươi lăm tuổi, ông đã nhận được một mặc khải có tính quyết định. Một thiên thần nói ông biết về sự tồn tại của một tập các văn tự của các nhà tiên tri Mỹ cổ xưa. Đâu đó khoảng thế kỷ 4, một người đàn ông tên Mormon đã khắc một cuốn sách vào các tấm vàng mỏng rồi chôn trên một ngọn đồi tại Palmyra, bang New York. Sách ấy chứa những tư liệu về nhiều thế kỷ trước Công nguyên. Nó kể một câu chuyện về bộ lạc người Nephite cùng các bộ lạc khác từ Trung Đông đã thoát sang nước Mỹ trong quá khứ xa xưa. Vị thiên thần truyền đạt những kiến thức này cho Joseph Smith có tên là Moroni. Sau này, Smith mới khám phá ra Moroni cũng được nhắc đến trong cuốn sách mà ông được mặc khải. Sau khi hy sinh trong chiến trận, Moroni đã được phục sinh và đưa lên địa vị thiên thần. Chính trong vai trò thiên thần đó, ông mới báo cho Smith biết về các tấm vàng khắc cuốn Sách Mặc Môn.

Người ta kể rằng Smith đã khai quật các tấm vàng ấy bốn năm sau khi nhận mặc khải trên, rồi bắt đầu dịch sang tiếng Anh. Ba tháng sau, ông đã cho ra đời hơn năm trăm trang của cuốn Sách Mặc Môn mà ta biết đến ngày nay. Phiên bản cuốn sách được tuyên bố là có từ thế kỷ 4 đó có khoảng 311 đến 385 đoạn rất giống một bản dịch nổi tiếng khác ra đời 1200 năm sau, bản Kinh Thánh của vua James năm 1611, vốn được các nhà thờ Tin Lành ưa chuộng và cũng là bản dịch quen thuộc với Smith. Ba tiết sau đây trong Sách Mặc Môn là ví dụ:

Vì điều đó sẽ xảy ra, Cha các người nói vậy, rằng vào ngày đó những ai không ăn năn và đến với Con trai Yêu dấu của ta thì ta sẽ loại ra khỏi dân ta, ngôi nhà của Israel đó. Rồi ta sẽ tiến hành trả thù và trút con thịnh nộ lên chúng, ngay cả với người dân ngoại, vì chúng đã không nghe ta.

Sách Mặc Môn nằm trong nhóm các văn tự khải huyền tuyên bố sự trở lại của Đức Giê xu Kitô và sự quy hồi của vạn vật dưới quyền cai trị của ngài; chỉ khác là lần này xứ Thiên đường sẽ được thiết lập ở nước Mỹ. Không có gì đáng ngạc nhiên vì chúng ta dễ dàng đọc được trong Sách Mặc Môn là Chúa đã thay đổi kế hoạch từ Trung Đông sang bờ Tây Hoa Kỳ. Và để xác nhận vị thế của nước Mỹ như là vùng Đất Thánh mới, chính Chúa Giê xu đã đêh lục địa này vào năm 34, vài tháng sau cuộc phục sinh. Sách bảo rằng “Giê xu Kitô đã đến với dân Nephi, khi quần chúng tụ hội về mảnh đất thành phố Bountiful và ngài đã chăm sóc dân họ...” Tin này rất quan trọng và cần được báo cho thế giới. Thế nên Joseph Smith đã ra mắt sách phúc âm của mình ở Fayette, New York vào ngày 6 tháng Tư năm 1830. Ông không xem phong trào của mình là một giáo hội mới mà là việc làm thanh sạch giáo hội cũ. Các Kitô hữu đầu tiên tự gọi họ là các thánh hữu. Giờ đây, thành viên giáo đoàn của Smith cũng là các thánh hữu, thánh hữu ngày sau. Thế là Giáo hội các Thánh hữu Ngày sau của Chúa Giê xu Kitô ra đời. Sách Mặc Môn là kinh thánh của giáo hội này.

Như ta có thể thấy ở các phần trước, việc ra mắt một phong trào tôn giáo mới không tốt cho sức khỏe của bạn lắm. Con người vốn không thích nghe ai đó nói tôn giáo của họ sai. Chính Giê xu cũng nói là các vị tiên tri không được dân của các vị ấy tôn kính. Thật khó tin khi một người mà mình biết bấy lâu nay giờ lại được Chúa chọn là nhà tiên tri. Smith cũng không là ngoại lệ. Ông ta nghĩ mình là ai cơ chứ? Lãnh đạo của các nhà thờ khác vô cùng giận dữ trước các tuyên bố của Smith. Ông và các tín đồ đi theo ông bị ném vào tù hoặc bị săn đuổi từ thành phố này sang thành phố khác. Tuy thế, các mặc khải vẫn cứ đến. Thêm nhiều sách được bổ sung vào kho tàng kinh Mặc Môn. Cuối cùng, chính chuyện tình dục đã kết liễu hình ảnh của Smith trong mắt các Kitô hữu khác. Nói rằng một thiên thần nào đó đã mặc khải cho bạn một thánh kinh mới là một chuyện. Còn khi thiên thần bảo bạn đi cướp vợ người khác thì lại là chuyện khác.

Thiên thần đã bảo Smith rằng Giáo hội các Thánh hữu Ngày sau là sự phục dựng lại tín lý chân chính của Israel cổ. Abraham và các giáo trưởng khác đã có nhiều vợ nên Smith phải theo gương họ và khôi phục chế độ đa thê trong Kinh Thánh, tức một người nam được phép có nhiều vợ cùng lúc. Smith đã làm theo và lấy đến bốn mươi bà vợ, một số trong đó vốn đã kết hôn với tín hữu nam khác trong Giáo hội.

Đó là giọt nước làm tràn ly đối với các kẻ thù của Smith. Để trốn thoát sự truy bức ở miền Đông, Smith dẫn theo các giáo dân chạy về hướng Tây đến các bang Illinois và Ohio; tại đó, vào năm 1836, đền thờ Mặc Môn đầu tiên được xây dựng. Smith rất vất vả trốn chạy những kẻ truy đuổi mình và buộc phải di chuyển liên tục. Cuối cùng vào năm 1844, ở Carthage, bang Illinois, trong một lần vào tù nữa của Smith, ông và người anh trai Hyrum đã bị giết chết. Tuy nhiên, đó còn lâu mới là sự kết thúc của Giáo hội mà ông đã khởi tạo. Máu của các vị tử vì đạo luôn là hạt mầm của Giáo hội. Năm 1847, các tín hữu Mormon chọn Brigham Young làm người lãnh đạo mới của mình. Nếu Smith là nhà tiên tri của Mặc Môn giáo thì Young là người hợp nhất và xây dựng hệ thống mang lại sự tồn tại lâu dài của tôn giáo này.

Young sinh năm 1801 ở Vermont và là con thứ chín trong gia đình có mười một người con. Ông thuộc mẫu người cực kỳ khéo léo có thể làm tốt mọi loại việc trên đời. Khi được nhận phép thanh tẩy để gia nhập Giáo hội các Thánh hữu Ngày sau vào năm 1832, ông vận dụng tài năng ghê gớm của mình để sắp xếp phong trào lúc đó còn non trẻ. Trong quá trình phục hồi lại Giáo hội, Smith đã lập ra một nhóm quản trị gồm mười hai sứ đồ. Bản thân Young được thụ phong sứ đồ vào năm 1835. Nhận ra khả năng của Young, Smith đã giao cho ông quản lý các hoạt động kinh doanh của Giáo hội. Một trong những điều thú vị ở Mặc Môn giáo là ngay từ đầu họ đã có một lối tiếp cận thiết thực theo hướng kinh doanh để quản lý các sự vụ của bên đạo đối với đời.

Sau vụ ám sát của Smith, thách thức dành cho Young khi tiếp quản là làm sao để đảm bảo an toàn cho Giáo hội. Giải pháp ông đưa ra là đưa Giáo hội đi xa hơn nữa về phía Tây để đến Utah, khi ấy còn dưới quyền kiểm soát của Mexico. Utah có thể là miền Đất hứa của những người theo Mormon, tuy ở đó đã có dân Bắc Mỹ bản địa, tộc người Ute chiếm giữ. Khởi đầu như thế sẽ không khiến Smith phiền lòng vì chính Sách Mặc Môn đã báo ông biết rằng người Anh-điêng là hậu duệ của dân Do Thái cổ và họ đã đến nước Mỹ hàng trăm năm trước Chúa Kitô. Vì thế, người Ute là những người kế tục của nhóm dân mà Giê xu Kitô đã đến gặp và nói chuyện sau khi ngài phục sinh. Việc này có nghĩa là khác với các thực dân đã xâm lăng miền Tây Hoa Kỳ, người Mặc Môn không có thái độ thù địch với dân Anh-điêng mà họ gặp. Dân Anh-điêng vốn đã là một phần trong câu chuyện tôn giáo của họ rồi. Họ dự định sẽ cải đạo cho dân ấy và hoàn tất sứ mệnh mà Giê xu đã bắt đầu làm một ngàn tám trăm năm trước.

Thế là Brigham Young dẫn đầu cuộc di cư với đoàn xe ngựa chở theo hàng ngàn người Mặc Môn hướng đến núi Zion mới của họ, háo hức được gặp các hậu duệ của dân Do Thái cổ. Chẳng mấy chốc người ta nhận ra những gì người Mặc môn muốn ở người Ute lại chẳng hề giống với điều dân Ute muốn từ họ. Đó lại là một trong những cuộc chạm trán thảm khốc đối với dân Bắc Mỹ bản địa trên khắp lục địa. Young nhận ra cái ông cho là “các tập tục văn minh” không thích hợp với lối sống của tộc người Ute. Và các tập tục văn minh mới là thứ phải thắng thế và lan truyền. Từ đó người Ute bị dồn vào các vùng đất dành riêng cho dân bản địa, còn Utah thì trở thành Đất Thánh của Mặc Môn.

Khi Utah chính thức thuộc về Hợp chúng quốc Hoa Kỳ sau cuộc chiến với Mexico, Young thành thống đốc đầu tiên của bang. Cuối cùng, Giáo hội các Thánh hữu Ngày sau đã bảo vệ được mảnh đất quê hương cho họ. Nhưng điều đó cũng phải trả giá. Giống như Smith, bản thân Young là người theo chế độ đa thê. Lúc đó, ông đã có hai mươi bà vợ và bốn mươi bảy đứa con. Nếu ông muốn các tín hữu Mặc Môn ở Utah được yên thân thực hành đức tin, họ cần phải thỏa hiệp với một chính quyền liên bang vốn không cho phép chế độ đa phu, đa thê. Từ ấy, họ từ bỏ tục đa thê, dù sự quyến rũ của tục ấy chưa bao giờ phai hẳn. Lịch sử Mặc Môn giáo luôn có một số người cố gắng phục hồi lại chế độ đa thê trong đời sống Giáo hội như đó là một phần trong viễn kiến ban đầu của Joseph Smith. Họ thường thất bại, dù bên cạnh là một phần thưởng an ủi: tục đa thê vẫn được thực hành trên Thiên đường. Nếu người vợ chết trước và ông chồng tái hôn trên trần gian, ông ta sẽ được có cả hai bà vợ sau khi chết.

Giáo hội các Thánh hữu Ngày sau có một khởi đầu rực rỡ, dù ngày nay họ đã khoác lên mình một bộ áo chừng mực. Tín hữu Mặc Môn không hút thuốc lá hay dùng bất kỳ loại ma túy nào. Họ cũng không dùng rượu, trà hay cà phê. Họ không được phép xăm mình hay xỏ khuyên. Không cờ bạc. Không tình dục trước hôn nhân. Họ coi trọng đời sống gia đình và sinh nhiều con sau khi kết hôn. Họ làm việc chăm chỉ và nhiều người trở nên rất giàu có. Thanh niên theo Mặc Môn giáo dành hai năm tuổi trẻ để đi truyền đạo tại Mỹ hoặc các nước khác. Bạn có thể sẽ gặp họ ở đâu đó trên một con phố gần nhà cũng nên.

CHƯƠNG 35: THẤT VỌNG LỚN

Joseph Smith không phải là vị tiên tri duy nhất ở bang New York vào thế kỷ 19. Cũng như Giáo hội các Thánh hữu Ngày sau không phải là tôn giáo mới ra đời duy nhất ở đó. Nhiều sự sôi nổi đã diễn ra nhưng những người hăng hái không phải lúc nào cũng nhìn về cùng một hướng. Smith đã khai quật được một phiên bản Kinh Thánh mới từ quá khứ, tuy nhiên có những người thích nhìn về tương lai thay vì dĩ vãng. Họ quan tâm đến tương lai, bởi lẽ mọi lời hứa hẹn trong Kinh Thánh về sự trở lại của Đấng Kitô đều sắp thành hiện thực rồi! Ngài sẽ tái lâm! Sớm thôi!

Người tin vào điều đó nhất là William Miller ở Low Hampton. Miller là một người đọc Kinh Thánh say mê và rất hứng thú với một chi tiết có trong cả Cựu Ước và Tân Ước tiên đoán sự quay lại của Đấng Kitô để phán xử người sống và người chết. Ông tin chắc rằng Kinh Thánh chứa đựng một mật mã ẩn nào đó mà nếu làm sáng tỏ được, ông sẽ biết chính xác ngày Chúa đến lần thứ hai, hay Chúa Tái lâm. Chúng ta đã thấy Sách Tiên tri Daniel là cuốn cần đọc nếu đi theo hướng này và đó chính xác là nơi Miller đã tìm thấy manh mối.

Trong chương tám của Sách Daniel, nhà tiên tri đã viết: “Mất hai ngàn ba trăm ngày; khi đó đền thờ sẽ được thanh tẩy”. Miller dám chắc rằng đó là mật mã mà mình đang tìm kiếm: nghĩa là 2300 năm! Đếm theo chiều tiến thì ông ra được ngày 21 tháng Ba năm 1844 là ngày Đấng Kitô quay lại. Ông đã sẵn sàng cho ngày ấy. Tuy nhiên, nó đã không xảy ra. Ông cho rằng tính toán của mình hoi lệch một ít nên đã tính lại. Lần này, ông ra ngày 22 tháng Mười cùng năm. Ngày đó đến rồi trôi qua, cũng không có gì xảy ra cả. Với Miller và các tín đồ theo ông thì những lần tính sai đó đã trở thành “Thất vọng lớn”. Cũng dễ hiểu là sau đó, Miller đã thôi không chơi trò tính ngày đó nữa.

Những người khác vẫn tiếp tục và đến năm 1860, họ tự lập ra một hệ phái với một vị tiên tri riêng, lấy tên là Các tín đồ Phục lâm An Thất nhật, tiếng Anh là Seventh Day Adventists. Phục lâm nghĩa là “lại đến, trở lại”, vì họ đều tin vào việc Chúa Giê xu sẽ sớm trở lại, dù họ không biết chắc là vào ngày nào. Còn “an” là nghỉ ngơi, “thất nhật” là ngày thứ Bảy, vì dân họ nghỉ lễ Sabbath vào thứ Bảy chứ không phải Chủ nhật. Họ đổ lỗi cho Giáo hội Công giáo đã thay đổi ngày Sabbath từ ngày cuối tuần sang ngày đầu tuần. Tuy nhiên, đó mới chỉ là cáo buộc nhẹ nhất của họ dành cho Giáo hội Rôma. Họ đồng ý với nhà cải cách người Scotland John Knox rằng Giáo hội Rôma là ngược với Chúa.

Nhà tiên tri của các tín đồ Phục lâm là Ellen White. Sinh năm 1827 và mất năm 1915, các ghi chép mà bà để lại được xem như thánh kinh trong cộng đồng Cơ Đốc Phục lâm. Giống các hệ phái khác, dân họ cũng tuân theo một quy tắc đạo đức nghiêm ngặt, bao gồm ăn chay và ngăn cấm hút thuốc, uống rượu bia, nhảy múa và hầu hết các hình thức giải trí khác. Họ tin vào thuyết Ba Ngôi và sự thần thánh của Đức Kitô. Họ tìm kiếm sự trở lại của Đức Kitô với quyền năng và hào quang vĩ đại. Tuy nhiên, các niềm tin của họ về những điều diễn ra sau khi chết lại phi chính thống.

Tín lý Kitô chính thống nói rằng vào Ngày Phán xử con người sẽ được chia thành hai nhóm. Một nhóm sẽ chịu khổ hình đời đời trong Địa ngục vì sự đồi bại của họ; trong khi đó, nhóm ngay thẳng sẽ được hưởng phúc lạc vĩnh viễn nơi Thiên đường. Ellen White bác bỏ thuyết đó. Bà viết rằng:

Đáng ghê tởm và mâu thuẫn với mọi xúc cảm yêu thương và khoan dung, thậm chí với cả quan niệm về công lý của chúng ta, là học thuyết nói rằng người chết xấu xa sẽ bị đày đọa vĩnh viễn trong đống lửa và hồ diêm sinh ngụt cháy ở cõi Địa ngục; rằng vì các tội lỗi của một đời trần tục ngắn ngủi mà họ phải chịu đựng nhục hình cho đến chừng nào Thiên Chúa còn sống.

White cho rằng thay vì gửi các tội nhân vào cõi nhục hình đời đời như thế, Thiên Chúa đã đưa họ vào cõi của sự lãng quên vĩnh viễn. Chính sự tiêu hủy đó chứ không phải nỗi thống khổ bất diệt mới là số phận của kẻ có tội: “Khi ấy sẽ không còn linh hồn lạc lối nào báng bổ Đức Chúa khi phải quằn quại với khổ hình không dứt; sẽ không còn tiếng kêu hét inh tai của sinh linh nào trong Địa ngục xen lẫn các bài hát của kẻ được cứu rỗi”. Nhà thần học vĩ đại, Thánh Thomas Aquinas, hẳn sẽ không tán thành nhận định đó.

Một người Mỹ khác ở thế kỷ 19, người cũng đang truy tìm hồi tận thế của thế giới, đã tiếp thu quan điểm bác bỏ Địa ngục của White. Là chủ một cửa hiệu ở thành phố Pittsburgh, Charles Taze Russell chịu ảnh hưởng từ các tiên đoán của William Miller. Nhưng không như Miller, ông không thừa nhận sự thất bại hay thất vọng lớn khi sự kiện Chúa Tái lâm không xảy ra. Ông giải quyết vấn đề đó bằng cách nói rằng Đấng Kitô thực ra đã đến lần nữa nhưng ngài giấu mình trong một tấm áo choàng tàng hình. Do đó, những Ngày cuối và Hồi tận thế vốn đã bắt đầu. Đỉnh điểm hiện thân của nó sẽ là vào năm 1914, trong trận chiến cuối cùng của Đức Chúa Trời ở Armageddon.

Giống nhà cải cách người Scotland John Knox, Russell đúc kết cả lời tiên tri của Daniel trong Cựu Ước với nội dung trong Tân Ước của nhà tiên tri John, tác giả Sách Khải Huyền. Bản thân John từng bị lưu đày đến đảo Patmos trong thời kỳ Giáo hội chịu sự áp bức của hoàng đế La Mã Domitian. Sách của John mở đầu như sau: “Đức Chúa Trời đã nhờ Chúa Cứu Thế Giê xu khải thị cho các tôi tớ ngài về những việc sắp phải xảy ra...” Sau đó, John kể rằng trong một trạng thái xuất thần vào Ngày của Chúa, ông đã nghe lời phán: “Hãy để ý, ta sẽ đến bất ngờ như kẻ trộm. Phước cho kẻ nào tỉnh thức...” Giọng nối ấy cũng thông báo trận chiến cuối cùng sẽ diễn ra ở “một nơi trong tiếng Do Thái gọi là Armageddon”. Armageddon là một cánh đồng nằm ở phía Bắc thành Jerusalem và là nơi từng diễn ra vài cuộc chiến trong lịch sử Israel.

Tất cả những gì Russell cần chỉ có thế. Năm 1879, ông phát động một phong trào tên là Tháp Canh dành cho những ai đang trông ngóng sự kiện Chúa Tái lâm và trận Armageddon tiếp theo đó. Họ phải cảnh báo cho càng nhiều người biết về những gì sắp đến càng tốt, dù sẽ chỉ có 144.000 người được cứu. Mọi người còn lại, theo như Ellen White tiên đoán, sẽ chịu số phận bị hủy diệt và lãng quên hoàn toàn. Russell tiếp nhận nhiều điều từ các tín đồ Phục lâm, tuy nhiên ông cũng chọn lọc các quan điểm bên ấy. Ông vui mừng loại bỏ Địa ngục, nhưng ông còn muốn bỏ nhiều hơn nữa. Giáo lý Một Chúa Ba Ngôi cũng không được ông công nhận. Chỉ mình Thiên Chúa, hay Đấng Jehovah (đọc là Giêhôva) theo cách gọi ưa thích của ông, là tất cả những gì Russell cần.

Một thứ tựa như Armageddon quả đã nổ ra ở châu Âu năm 1914, khải đầu cuộc Thế chiến thứ Nhất. Tuy vậy, đó không phải trận chiến mà Russell mong đợi. Cho đến khi qua đời năm 1916, ông vẫn còn mong ngóng một sự kiện như thế ngoài đời thực. Người kế tục ông làm lãnh đạo Tháp Canh là một doanh nhân cứng rắn tên là Joseph R. Rutherford. Ông sớm tổ chức các tín đồ của Russell cho một chiến dịch dài hoi. Năm 1931, ông đổi tên nhóm thành các Chứng nhân Jehovah. Ông khép họ vào kỷ luật nghiêm ngặt, tách biệt họ với xã hội xung quanh. Ông khiến họ quay lưng lại với thế giới và chỉ còn bận tâm đến chính bản thân.

Cần phải rất dũng cảm thì mới quay lưng được với xã hội hiện đại và loại bỏ mọi giá trị của xã hội đó, bao gồm cả các thực hành y học. Chứng nhân Jehovah không chấp nhận việc truyền máu. Với họ, máu là sự sống và chỉ có Chúa mới có quyền trao sự sống đó. Do đó, đôi khi dân họ bị khởi tố vì tội từ chối việc truyền máu cho con em mình. Chống lại thế giới bằng cách đó có thể đem lại cho nhóm một ý thức mạnh mẽ về bản sắc riêng. Sự áp bức của xã hội càng củng cố cam kết của các tín đồ. Nó cũng khiến việc ra khỏi nhóm khi ai đó đổi ý về các tín lý của đạo trở nên khó khăn hơn.

Rutherford mất năm 1942. Trận Armageddon vẫn chưa xảy ra dù Thế chiến thứ Hai đang diễn ra ác liệt lúc đó là một mô phỏng rất tốt. Một lần nữa, phái Chứng nhân Jehovah đã vượt qua được nỗi thất vọng. Các nhà lãnh đạo mới khuyên họ nên nhìn về tương lai xa hơn. Chúa Kitô sẽ quay lại, thế nên cứ phải trông chừng. Giống như các tín đồ Mặc Môn, tín đồ Chứng nhân Jehovah cũng rất nhiệt tình với hoạt động truyền giáo đến từng nhà và họ vẫn tiếp tục thu nhận thêm những tín đồ cải đạo sang tôn giáo của mình. Nơi thờ phượng của họ không gọi là nhà thờ mà là Đại sảnh Vương quốc. Họ tiếp tục bán tạp chí của mình trên khắp thế giới, tờ The Watchtower tức Tháp Canh. Họ vẫn đứng canh gác, rà soát khắp đường chân trời để chờ Đấng ấy có thể xuất hiện như một tên trộm trong đêm.

Các hệ phái như Phục lâm An Thất nhật và Chứng nhân Jehovah nhắc chúng ta nhớ đến một trong những điều đáng xấu hổ nhất của Kinh Thánh: thực tế là sau hai ngàn năm đợi chờ và trông ngóng, Đấng Kitô vẫn chưa quay trở lại. Các Kitô hữu thuộc trào lưu tự do đã giải quyết vấn đề ấy khá khéo léo. Họ vẫn tin sự kiện Chúa Tái lâm. Làm sao lại vậy được? Chuyện đó có một chỗ đứng vững chắc trong Kinh Thánh. Nó được nhắc đi nhắc lại trong các tín lý của họ. Rồi một tháng trước Lễ Giáng Sinh, gọi là (Advent) Mùa Vọng, được dành riêng để suy niệm về ý nghĩa của sự kiện ấy.

Họ xử lý vấn đề bằng cách đề xuất rằng thực ra vương quốc của Thiên Chúa đã ở sẵn đây rồi. Việc các Kitô hữu cần làm là tìm kiếm bằng chứng cho sự tồn tại đó. Vương quốc ấy nằm ở nơi người nghèo được giúp đỡ và các bất công được nhận diện. Vương quốc ấy nằm ở nơi những người tốt làm việc để khiến thế giới trở nên tốt đẹp hơn, một nơi giống với hình mẫu thế giới mà Chúa Giê xu đã tả hơn. Cũng có những lời từ chính Giê xu ủng hộ cách tiếp cận này. Lời ấy nằm trong một cuốn sách không được đưa vào Kinh Tân Ước, dù đó vẫn là lời thật sự của Giê xu. Đó là Sách Phúc Âm của Thomas. Trong đó, các sứ đồ đã hỏi Chúa: “Thưa Thầy, khi nào vương quốc ấy ra đời?” Giê xu trả lời họ: “Nó sẽ không đến nhờ việc chờ đợi nó đến. Nó không phải là chuyện nói rằng, nó ở đây rồi hay nó ở kia đấy. Đúng hơn là vương quốc của Đức Chúa Cha lan tỏa trên khắp địa cầu và con người không nhìn thấy nó được.”

Các tín đồ thực thụ của sự kiện Chúa Tái lâm lại thấy cách lý giải trên rất yếu ớt. Họ muốn một cái gì đó oanh liệt hơn. Họ muốn một trận Armageddon. Và Kitô giáo tại Mỹ đã hỗ trợ rất tốt cách lý giải mạnh mẽ ấy. Có lẽ do các tín hữu người Mỹ vốn tự xem mình là dân tộc được Chúa chọn, một nhóm dân xuất chúng có định mệnh được Chúa dẫn dắt. Dù giải thích cách nào đi nữa, lịch sử Kitô giáo ở Mỹ đã luôn có đầy các hệ phái muốn tìm kiếm hồi mạt thế và thời điểm Đấng Kitô Tái lâm. Đến giờ họ vẫn như thế. Các nhà tiên tri mới vẫn thường xuyên xuất hiện, tuyên bố rằng hồi kết đang ở rất gần. Họ cũng có những cách mới mẻ và phong phú khác để truyền đi thông điệp của mình. Một trong các vị thành công nhất còn dùng sự hư cấu để truyền bá thông điệp, trong một loạt tiểu thuyết mà người dân có thể dễ dàng mua ở siêu thị địa phương.

Tim LaHaye là vị mục sư Tin Lành Mỹ từng được nhìn nhận là người Kitô hữu có ảnh hưởng nhất ở Hoa Kỳ trong vòng bốn mươi năm trở lại đây. Ông đã làm được việc là đem đến một cách lý giải mới mẻ cho sự kiện Chúa Tái lâm. Bộ tiểu thuyết ông viết gồm muôi sáu tập có tựa đề Left Behind (tạm dịch: Bỏ lại phía sau). Sức hút của tác phẩm này đến từ bối cảnh đương đại của nó, thay vì một Israel cổ đại. Câu chuyện đang diễn ra ngay lúc này, trong một thế giới bạo lực và hỗn loạn. Trong các cuốn sách ấy, cái gọi là Sự Vinh quang vào ngày phán xử và cứu vớt đã xảy đến. Hồi tận thế cũng đã bắt đầu. Các tín đồ thực thụ đã được đưa lên Thiên đường khi đang làm đủ thứ việc trên Trái đất vào lúc ấy. Dù đang lái xe hay lái máy bay thì họ đều bị kéo khỏi ghế ngồi và lập tức được chuyển tới cuộc sống vĩnh hằng, bỏ lại các phương tiện dưới kia va vào nhau đầy ngoạn mục như trong phim bom tấn. Thế giới “Bỏ lại phía sau” đó chìm ngập trong hỗn loạn và mọi người bắt đầu la hét đời có một nhà lãnh đạo cứu họ khỏi những cảnh kinh hoàng ấy. Và một người đã xuất hiện. Tác giả cho người đó là Tổng thư ký Liên Hợp Quốc vì trông ông có vẻ là người có thể đưa hành tinh này vào trật tự. Điều mọi người lúc đó không biết là ông ta chính là tên Phản Chúa đã được báo trước trong Kinh Thánh, kẻ lừa đảo ngoại hạng có ý định dẫn thế giới vào con đường lầm lạc, chính là Con thú ấy! Vào thời Cải cách Kháng nghị thì mọi người cho giáo hoàng là kẻ ấy. Còn bây giờ, đối tượng để giáo dân Tin Lành Mỹ thù ghét không còn là giáo hoàng nữa mà là Liên Hợp Quốc. Trong tiểu thuyết, một phi công và những người bạn của mình đã sớm nhận ra sự thật. Họ tiến hành phản công chống lại tên Phản Chúa mới ấy để cứu những kẻ lạc lối và chuẩn bị cho họ đối mặt với Con Đại nạn, khúc dạo đầu của Những Ngày cuối cùng. Bộ tiểu thuyết đã bán được hơn sáu mươi lăm triệu bản. Nước Mỹ vẫn còn nhiều đất để kiếm lợi từ mảng tôn giáo về ngày tận thế.

Tuy vậy, đó không phải là loại tôn giáo duy nhất từng hoạt động ở đất nước này trong một trăm năm qua.

CHƯƠNG 36: NHÀ HUYỀN HỌC VÀ CÁC NGÔI SAO ĐIỆN ẢNH

Sinh viên tôn giáo luôn phân biệt rõ ràng giữa một “giáo hội” và một “giáo phái”. Giáo hội phức tạp hơn giáo phái vì giáo hội có một phạm vi các tín lý rất rộng và họ cố giữ cho hệ thống giáo lý đó phần nào được cân bằng. Một giáo phái thường bám chặt vào một khía cạnh nào đó của tôn giáo và lấy đó làm mối quan tâm chính, ơ chương trước, ta đã thấy giáo phái Phục lâm An Thất nhật và Chứng nhân Jehovah đã tập trung vào các chi tiết của Kinh Thánh nói về sự tái lâm của Đức Kitô để phán xử thế giới và đưa tất cả vào hồi tận thế như thế nào. Vì thế mà giới học giả khi phân loại luôn xếp họ là các giáo phái hơn là giáo hội. Giáo hội Khoa học gia Kitô ra đời ở Boston, Mỹ năm 1879, cũng được xếp là một giáo phái. Giáo phái này lấy một phần trong sứ vụ của Giê xu Kitô để theo đuổi và xem đó là chủ đề chính của họ.

Phái Khoa học Kitô xem công việc chữa lành của Chúa Giê xu là sứ mệnh của mình. Nhà tiên tri sáng lập phong trào đó là Mary Baker, sinh năm 1821 Ở New Hampshire. Thuở nhỏ Mary là một đứa bé yếu ớt, bệnh tật liên miên theo bà đến thời trưởng thành. Giống người phụ nữ được nhắc đến trong Phúc Âm của Mark phải chịu nhiều khổ sở trong bàn tay của các thầy thuốc, bản thân Mary cũng mất nhiều thời gian tìm cách chữa bệnh. Bên cạnh y học đại chúng, bà đã thử thuật thôi miên và các phương pháp thay thế khác. Không có phương pháp nào hữu hiệu được lâu. Năm 1866, bà bị trượt ngã trên đường đóng băng và bị tổn thương cột sống. Lần này, bà đã thử một cách điều trị khác, không phải đến bác sĩ mà dựa vào Kinh Tân Ước. Trong khi đang suy ngẫm về một đoạn trong Phúc Âm Matthew, đến chỗ Giê xu yêu cầu một người đàn ông bị liệt đứng dậy và bước đi, chính Mary đã được chữa lành. Không chỉ cột sống của bà lành lại mà bà còn tin mình đã khám phá ra một khoa học đứng đằng sau công việc chữa bệnh của Chúa Giê xu.

Mặc khải Mary nhận được là các loại bệnh tật vốn chỉ dựa trên một ảo giác. Ảo giác rằng vật chất có một sự tồn tại độc lập. Thực tế không phải thế. Vật chất do ý thức của Chúa tạo thành. Ý thức là nguyên nhân. Vật chất là hệ quả theo sau. Vì thế, cách chữa bệnh là qua tâm chứ không qua vật. Đây là cách bà ấy diễn tả trong cuốn sách Science and Health (tạm dịch: Khoa học và sức khỏe) của mình: “Hiểu biết của con người gọi chúng là các lực vật chất; tuy nhiên khoa học thiêng liêng tuyên bố chúng hoàn toàn thuộc về ý thức thần thánh... và luôn sẵn có trong ý thức này”. Áp dụng nguyên lý tâm thay vì vật đó vào các khổ đau của con người tức là nhận ra các bệnh mà ta mang là không có thực. Chúng là trò lừa dối, ảo ảnh, trò chơi do vật chất lấn át ý thức mà ra. Cách chữa lành không phải thông qua các bác sĩ vốn cũng choi trò choi vật chất đó. Cách chữa sẽ đến thông qua việc chứng ta mở lòng đón nhận sức mạnh yêu thương của Thiên Chúa, thứ sẽ xua tan ảo giác về tật bệnh và phục hồi sức khỏe cũng như hiện thực cho chúng ta. Khoa học Kitô không chữa khỏi bệnh cho ta. Họ chỉ chữa ảo tưởng ban đầu cho rằng ta có bệnh gì đó!

Các nhà thờ chính thống ở New England không sẵn sàng chấp nhận một học thuyết như thế. Họ không tin khổ đau có thể biến mất bằng cách mơ ước dễ dàng như vậy. Khổ đau là thật, không phải là ảo giác. Họ nghi Mary Baker không tin vào sự thực của các tội ác và ngày phán xử, Thiên đường và Địa ngục. Và bà ấy không tin thật. Trong sách của bà, không ai là không thể được cứu chuộc, không có vấn đề nào là không có giải pháp, một khi đã hiểu được nguyên lý về tâm thay vật. Thất vọng vì sự phản đối của các nhà thờ đối với các phát hiện của mình, Mary đã sáng lập Giáo hội Kitô Khoa học tại Boston năm 1879; trước đó, vào năm 1877, bà kết hôn lần thứ ba với chồng là ông Asa Gilbert Eddy. Năm 1908, bà sáng lập tờ báo có tên là Christian Science Monitor (tạm dịch: Người răn bảo khoa học Kitô), hiện vẫn còn xuất bản và được quan tâm rộng rãi. Nổi tiếng không kém là Giáo hội Mẹ của Khoa học Kitô có trụ sở trên một mảnh đất rộng hơn 5 hécta ở Back Bay, thành phố Boston.

Công việc thờ phượng của phái Khoa học Kitô bao gồm việc xướng đọc Kinh Thánh và các tác phẩm của Mary Baker Eddy, cụ thể là cuốn Khoa học và sức khỏe. Có các bài thánh ca và suy niệm, tuy nhiên hình thức cầu nguyện duy nhất được dùng là bài Kinh Lạy Cha. Phái Khoa học Kitô chưa bao giờ trở thành một phong trào của đại chúng nhưng nó vẫn được truyền bá rộng rãi khắp thế giới. Hầu như ở mọi thành phố bạn đều có thể tìm thấy một phòng đọc của hệ phái này với các tác phẩm của Mary Baker Eddy được trưng bày bên trong và tự mình tìm hiểu cách áp dựng nguyên lý tâm thay vật đó cho các tật bệnh đang làm bạn lo lắng. Mary qua đời tại nhà riêng ở ngoại ô Boston năm 1910.

Bốn mươi năm sau, vào năm 1952, một tôn giáo khác của nước Mỹ ra đời và thậm chí còn gạt bỏ y học hiện đại thô bạo hơn cả phái Khoa học Kitô. Họ nhận mình là Giáo hội Khoa luận giáo (hay Scientology trong tiếng Anh) và vị tiên tri là một nhà văn chuyên viết truyện khoa học viễn tưởng tên là Lafayette Ronald Hubbard, sinh năm 1911 ở Nebraska. Các ngôi sao điện ảnh Hollywood thường ưa chuộng giáo phái này. Các nam diễn viên Tom Cruise và John Travolta xem thành công sự nghiệp của mình là nhờ các nguyên lý và thực hành của Khoa luận giáo. Họ dùng công nghệ hiện đại và các kỹ thuật khám phá tâm thức, tuy nhiên triết lý nền tảng của họ là học thuyết Hindu cổ về luân hồi tái sinh, tức sạmsara. Họ tin vào sự tồn tại của các linh hồn bất tử gọi là thetan di cư từ cơ thể này sang cơ thể khác qua hàng tỷ tỷ năm. Khó mà chắc chắn về các chi tiết trong Khoa luận giáo, nhưng nói chung các linh hồn bất tử ấy không phải do ai tạo ra mà chính chúng là các đấng tạo lập vũ trụ. Để hoạt động được trong vũ trụ, chúng chế tác ra các phương tiện di chuyển cho chính mình và cơ thể con người chỉ là một trong số nhiều hình hài mà chúng lựa chọn.

Đến đây thì chuyện trở nên phức tạp hơn. Mọi tôn giáo đều cố giải thích và cung cấp phương thuốc chữa trị cái xấu ác và khổ đau trên thế gian. Kinh Thánh thì đổ cho hành vi bất tuân, sự sa ngã đã khiến Adam và Eva bị đuổi khỏi Vườn Địa Đàng. Từ ấy, lịch sử loài người trở thành một cuộc kiếm tìm sự chuộc tội và phục dựng lại Thiên đường. Với thần học Hindu giáo thì chính nghiệp báo hay luật nhân quả đã đẩy chúng ta qua hàng triệu kiếp sống cho đến lúc ta gột rửa được hết tội lỗi và cuối cùng thoát vào cõi Niết bàn. Khoa luận giáo sử dụng các yếu tố của cả hai triết thuyết kể trên trong giáo lý của mình.

Theo họ thì trong cuộc lang thang qua hàng triệu kiếp sống, các linh hồn bất tử đã bị các trải nghiệm mà chúng kinh qua làm cho bầm giập cả về mặt cảm xúc lẫn tâm lý. Vậy là chúng sẽ bị tổn thương, tựa như một tuổi thơ chịu bạo hành có thể để lại bóng đen lên cuộc đời trưởng thành của một người vậy. Một số trải nghiệm gây thương tổn đó chỉ vô tình xảy ra, mà Hubbard gọi chúng là engram hay các vết tích. Giống như các vết bầm do thời gian để lại trên các linh hồn bất tử khi chúng du hành qua hàng triệu kiếp, một sự hao mòn hết sức bình thường. Đôi khi sự tổn hại là cố ý, do chính các linh hồn bất tử đã đi sang phía bóng tối và muốn áp chế quyền lực lên các linh hồn bất tử khác. Hubbard gọi các thương tích có chủ đích về mặt tinh thần ấy là implant, những vết cấy. Chúng là nguồn gốc chủ yếu không chỉ của các bất hạnh về thể xác và tâm lý mà còn của những tư duy xấu xa, được cấy vào với mục đích là khiến các linh hồn lầm đường lạc lối. Ông viết: “Các vết cấy ấy gây ra mọi loại bệnh tật, sự lãnh đạm, thoái hóa, loạn thần kinh và điên rồ là nguyên do chính yếu của những tình trạng ấy ở con người”. Ông nói rằng quan niệm Kitô giáo về Thiên đường đã được cấy vào từ bốn mươi ba ngàn tỷ năm trước đây và đó là kết quả của hai vết cấy đã được thực hiện hết sức tinh vi để đánh lừa các linh hồn bất tử và khiến chúng nghĩ rằng mình chỉ sống có một đời duy nhất thay vì một chuỗi vô tận các đời kế tiếp.

Các vết tích và các vết cấy mà Khoa luận giáo nói đến được các Kitô hữu gọi chung là sự sa ngã. Sự sa ngã giải thích vì sao con người bất hạnh. Khoa luận giáo đưa ra cách chữa sự sa ngã cũng rất cụ thể. Các vết tích nằm sâu trong tiềm thức của con người, hay như Hubbard gọi là “tâm thức phản ứng”, nên chúng kích hoạt các nỗi đau buồn trong cuộc đời chúng ta. Sự cứu rỗi sẽ đến thông qua việc thanh tẩy hay “làm sạch” các vết tích ấy trong một quá trình gọi là thẩm tra. Nghe giống như một nhà tư vấn tâm lý lắng nghe khách hàng khi họ dần dần hé mở các sự kiện trong quá khứ đã khiến họ đau buồn trong hiện tại. Tuy vậy, cách làm của Khoa luận giáo không giống như thế. Các nhà thẩm tra của họ cũng lắng nghe, nhưng họ dùng các công nghệ khi làm điều ấy. Họ có một công cụ gọi là E-meter, hay tiếp xúc cảm ứng kế, hoạt động như một máy phát hiện nói dối. Nó giúp nhà thẩm tra tìm được câu hỏi phù hợp sẽ khơi ra sự kiện đã bị chôn giấu. Mục tiêu của mỗi phiên thẩm tra như vậy là có được một win hay thời khắc hiển lộ. Thời khắc hiển lộ sẽ phoi bày trải nghiệm tội lỗi và ngay lập tức xóa bỏ trải nghiệm đó, khiến nó không còn tồn tại nữa. Biến cố tội lỗi ấy không được nhớ rồi chữa lành, mà bị loại khỏi trí nhớ. Chúng ta không thú nhận và chuộc lỗi cho quá khứ ấy, mà quá khứ ấy bị xóa sạch.

Khoa luận giáo còn có các kỹ thuật khác nữa mang lại phiên bản cứu rỗi của giáo phái mình. Tuy nhiên, đó là sự cứu rỗi được hiểu theo ý chuyên biệt hóa. Nó bị giới hạn trong đời này, cuộc đời mà tín đồ ấy đang trải qua ngay đây. Không có một sự cứu chuộc hay nguyền rủa cuối cùng nào. Không có Thiên đường. Không có Địa ngục. Cuộc sống không phải là một lần duy nhất rồi thôi. Chỉ có sự quy hồi bất tận, hết đời này sang đời khác. Một kiểu luân hồi mà không có Niết bàn. Cái mà khoa luận giáo làm là giúp bạn cải thiện chính đời sống hiện tại bằng cách làm sạch các vết tích cũng như nhận diện các vết cấy của mình.

Nhưng cái giá là không hề rẻ. Bạn phải trả tiền thật cho các công nghệ cứu rỗi ấy mà chúng thì đắt đỏ. Càng đi sâu, đi xa hơn vào các bí ẩn của Khoa luận giáo, bạn càng phải trả nhiều tiền cho họ. Vì thế, các nhà phê bình gọi đó là doanh nghiệp chứ không phải là tôn giáo. Đáp lại sự phê phán ấy, giáo phái này cho rằng nếu các tôn giáo khác cũng có đủ cách lấy tiền của tín đồ để duy trì hoạt động thì tại sao họ không được làm thế? Lafayette Ronald Hubbard mất năm 1986. Không thể nói chắc là ông ấy quay lại làm một tín đồ Khoa luận giáo hay cái gì khác nên ta cũng không biết ông ta có còn trong chương trình mà phái này mô tả không.

Các tôn giáo như Khoa luận giáo vẫn cứ xuất hiện, tuy ta khó thấy được điều gì mới mẻ trong những gì họ nói. Như Sách Truyền đạo thuộc kinh Cựu Ước đã đề cập, có lẽ đó là do chẳng có điều chi mới để mà nói nữa: “Việc gì đã xảy ra, sẽ còn tái diễn. Điều đã làm ngày nay, sẽ được làm trong tương lai. Có sự việc nào mới mẻ dưới cõi trần này nữa đâu”. Điều đó có vẻ cũng đúng với tôn giáo cuối cùng mà tồi muốn nhắc đến trong chương này: Giáo hội Thống nhất (tên tiếng Anh là Unification Church) hay tên đầy đủ là Hiệp hội Thánh linh vì sự Thống nhất của Kitô giáo Toàn cầu. Tên thường gọi của họ là Moonies, đặt theo tên của vị tiên tri và nhà sáng lập Sun Myung Moon. Ông Moon sinh ra ở Hàn Quốc vào năm 1920. Năm mười sáu tuổi, ông thấy Chúa Giê xu hiện ra và bảo rằng ông đã được trao nhiệm vụ để giúp hoàn thành sứ mệnh của Chúa. Bản thân Moon rất quan tâm đến tình dục. Ông tin rằng Eva đã làm tình dục của loài người suy đồi khi tách nó ra khỏi tình yêu. Không những gian dâm với Adam, Eva còn quan hệ với cả quỷ Satan và từ đó, vết nhơ cứ lan truyền đi.

Vậy là Thiên Chúa đã phái Giê xu đi cứu chuộc tình hình. Kế hoạch của Ngài là để Giê xu kết hôn và sinh ra những đứa trẻ trong sạch, không vướng chút tội lỗi nào. Theo đó, nếu mượn một thuật ngữ bên Khoa luận giáo thì việc Eva “cấy” tội lỗi vào hoạt động tình dục của con người hẳn đã bị xóa đi, Giê xu và cô dâu có thể sinh ra những đứa trẻ vô tội. Không may là Giê xu đã bị đóng đinh trên thập giá trước khi tìm thấy một vị hôn thê hoàn hảo và cứu chuộc cho nhân loại. Kế hoạch của Thiên Chúa một lần nữa bị ngăn trở. Tuy nhiên, giờ đây kế hoạch ấy đang trở lại đúng đường. Sun Myung Moon đã được chọn làm Đấng Messiah để hoàn tất công việc khi xưa của Giê xu. Cách ông Moon làm là tạo dựng ra một gia đình lý tưởng, sự trong sạch của tình yêu trong gia đình đó sẽ vãn hồi tội lỗi của Eva.

Phải lấy đến người vợ thứ tư thì Moon mới khám phá ra người bạn đời hoàn hảo và có thể bắt đầu chiến dịch cứu rỗi thông qua hôn nhân. Ông kêu gọi các học trò làm theo gương của ông, khuyến khích họ tổ chức các lễ cưới tập thể với hàng ngàn cặp tình nhân chi trả một khoản phí để được cử hành hôn lễ cùng một lúc. Nhiều người tham gia có người bạn đời do người khác chọn sẵn. Các sự kiện ấy hẳn đã thu bộn tiền. Khi Sun Myung Moon mất năm 2012, thọ 92 tuổi, ước tính gia sản của ông vào cỡ 900 triệu đô la.

Giáo hội Thống nhất lan đến phương Tây vào những năm 1970 và thu hút thêm nhiều thanh niên vào đội ngũ của mình. Phác thảo sơ bộ giáo lý của họ cho thấy các chủ đề về Sa ngã và Cứu chuộc được lặp lại và thay mới ra sao trong tôn giáo. Sự bất mãn của con người nằm ở chỗ họ cứ liên tục tìm kiếm một câu trả lời cho các rắc rối của mình. Luôn có ai đó đang chờ sẵn bên đường và háo hức cung cấp cho sự bất mãn ấy một tôn giáo mới khác. Vì vậy mà ở chương kế tiếp, ta sẽ thấy nhẹ nhõm khi gặp một phong trào không có ý định gia tăng số lượng tôn giáo mà muốn nối kết các tôn giáo lại với nhau.

CHƯƠNG 37: NHỮNG CÁNH CỬA MỞ

Bạn có thể thêm vào vốn từ vựng tôn giáo của mình từ tiếng Anh ecumenical, ý nói “hòa hợp toàn cầu”. Nguồn gốc của nó là một từ Hy Lạp oikos, “căn nhà”, từ đó mà ra từ oikoumene nghĩa là “toàn nhân loại”. Ý nghĩa ở đây là chuyển từ phạm vi một gia đình đơn lẻ ở sau các cánh cửa khóa kín đến toàn nhân loại trong thế giới ngoài kia. Như vậy, “hòa hợp toàn cầu” có nghĩa là tiến đến nhau và tôn vinh các điểm chung giữa ta và họ. Nó cũng có nghĩa là bước ra từ sau cánh cửa đóng kín và nắm tay kết đoàn với những người lân cận. Sự cởi mở như thế là một câu chuyện đáng kể trong tôn giáo của thế kỷ 20. Nó đã xảy ra ở một vài nơi, nhưng trước hết ta sẽ bắt đầu với Kitô giáo.

Phong trào Kháng Cách vào thế kỷ 16 đã chia rẽ dân Kitô thành các nhóm xung khắc nhau. Sau khi ngừng sát phạt nhau, họ dành vài thế kỷ tiếp theo để lờ nhau đi. Mỗi hệ phái thu về một góc và sống tiếp đời mình. Thế rồi các cánh cửa nặng nề dần mở ra, các Kitô hữu bước ra ngoài và bắt đầu nói chuyện với nhau qua lớp hàng rào. Cuộc đối thoại khởi đầu tại một hội nghị ở Edinburgh năm 1910; tại đây, một số hiệp hội truyền giáo Tin Lành đã gặp nhau để chia sẻ về mối quan tâm của các bên. Đến năm 1938, các lãnh đạo của khoảng một trăm giáo hội đã biểu quyết để lập ra một Hội đồng Giáo hội Toàn cầu dựa theo mô hình của Liên Hợp Quốc. Thế chiến thứ Hai bùng nổ đã làm tham vọng hòa hợp tôn giáo ấy bị chững lại. Tuy nhiên, đến năm 1948, Hội đồng Giáo hội Toàn cầu đã tổ chức cuộc hợp hội đồng đầu tiên với sự tham dự của đại diện từ 147 giáo hội. Ngày nay có đến 345 hệ phái khác nhau đã là thành viên của hội đồng, một con sô nhắc chúng ta nhớ Kitô giáo vẫn còn phân nhỏ đến mức nào.

Trong những năm đầu, phong trào hòa hợp tôn giáo hy vọng về một sự tái thống nhất, đưa các nhóm Kitô giáo đã bị phân chia hợp thành một thể duy nhất, một Giáo hội. Đây không phải là một phép loại suy hoàn hảo, nhưng ta có thể xem đó như một nỗ lực để sáp nhập một số công ty đang cạnh tranh nhau vào một tập đoàn lớn. Như một mô hình kỹ thuật vậy: lấy một chút khỏi chỗ này, thêm một chút vào đằng kia, chốt chúng với nhau và nhìn kia, một Liên Hợp Giáo hội! Một số ít các hội thánh theo Kháng Cách đã thành công trong việc sáp nhập như thế, ví dụ Liên Hợp Giáo hội Kitô hình thành năm 1957 từ hai chi phái riêng rẽ; hay Giáo hội Hợp nhất ở úc thành lập năm 1977 từ ba nhánh khác nhau. Ngoài một số thành công ở địa phương, việc tìm kiếm sự đoàn kết như trên đều bất thành. Tuy vậy, quá trình nỗ lực cũng giúp thay đổi bầu không khí giữa các giáo hội.

Theo sau quá trình nỗ lực hợp nhất đó là một đường lối tiếp cận nhẹ nhàng hơn, trong đó các giáo hội quyết định là dù họ không muốn kết hợp với nhau thì cũng không có lý do gì ngăn họ trở thành bạn hữu cả. Tình hình sẽ dễ dàng hơn nếu họ đã có sẵn các điểm chung và sẵn sàng bỏ qua các khác biệt. Theo ngôn ngữ của phong trào hòa hợp tôn giáo thì khi đó họ đã “cùng nhau dự vào một nhóm đạo”. Thế là các giáo hội Anh giáo của quần đảo Anh dự chung một nhóm đạo với các giáo hội Luther của Bắc Âu vào năm 1992. Họ không sáp nhập và trở thành một hệ phái tôn giáo mới. Họ đều ở trong nhà mình như trước, tuy nhiên đã mở cửa chào đón nhau và trở thành một gia đình lớn.

Còn quá sớm để nói tất cả các hoạt động hòa giải tôn giáo này sẽ đưa Kitô giáo đi về đâu. Một phỏng đoán có lý cho rằng việc tìm kiếm một sự thống nhất do sắp đặt có lẽ đã trở nên lỗi thời. Lối tiếp cận nhẹ nhàng có ưu thê hơn vì nó coi những khác biệt giữa các giáo hội là điều đáng được tôn vinh. Sau cùng thì mọi gia đình đều có kiểu cách và lề lối sinh hoạt riêng; mặt khác, tất cả đều thuộc chung một cộng đồng nhân loại toàn cầu. Lối tiếp cận tôn vinh sự đa dạng đang dần trở nên nổi bật. Có rất ít cơ hội để hàn gắn hàng ngàn hệ phái Kitô thành một doanh nghiệp khổng lồ. Tuy vậy, lối tiếp cận ấy đang tạo điều kiện để ta nhìn thấy đức hạnh và vẻ đẹp trong sự đa dạng. Tựa như một khu vườn có trăm hoa đua nở, con người có thể hiểu và thờ phượng Thiên Chúa theo nhiều cách khác nhau.

Nếu điều này nghe có vẻ phương Đông hơn phương Tây, Hindu hơn Kitô, thì vì nó đúng là vậy. Phong trào hòa hợp tôn giáo có thể chính thức khởi động ở Kitô giáo vào năm 1910 nhưng động lực đằng sau nó đã có từ khá lâu trước đó. Ta đã thấy phong trào ấy trong Sikh giáo khi dân họ có thái độ cởi mở đối với các truyền thống tín ngưỡng khác. Thái độ ấy cũng phản ánh một ẩn dụ của Hindu giáo là hình ảnh nhiều dòng sông tìm đường đổ ra biển lớn. Quan niệm này hẳn sẽ không hấp dẫn với nhà tiên tri Muhammad, người vốn không xem Hồi giáo như một tín ngưỡng như bao tín ngưỡng khác mà coi nó là sự hoàn thiện và hội tụ của mọi tôn giáo ở trên đời.

Như vậy, điều hấp dẫn nằm ở chỗ chính từ Hồi giáo, chứ không phải Hindu giáo, đã phát sinh ra một tôn giáo mang tính toàn cầu nhất trên Trái đất ngày nay gọi là Baha'i. Nó bắt nguồn từ năm 1844 ở Ba Tư, nay là Iran. Giống Kitô giáo và Hồi giáo, Baha'i giáo là tôn giáo theo truyền thống tiên tri cổ điển. Điểm cốt yếu của việc tiên tri là tâm ý của Đấng Toàn Năng được mặc khải cho những người chọn lựa đặc biệt, thường là nam giới, rồi các vị này truyền tiếp những gì đã thấy và nghe được. Từ đó, một cộng đồng sẽ hình thành để đem giáo lý mới đó ra với thế giới. Hồi giáo ca tụng truyền thống tiên tri này, trải dài từ Abraham qua Giê xu rồi đến Muhammad. Nhưng họ tin rằng Muhammad là vị tiên tri cuối cùng, tột đỉnh hoàn hảo của dòng suối nguồn mặc khải, phong ấn của các Đấng Tiên Tri. Con sông cuối cùng đã tìm thấy biển hồ của nó. Dòng tiên tri đã dừng lại.

Baha'i giáo không cho là như vậy. Với họ thì không có con sông hay đập nước nào giam hãm được dòng mặc khải của Thiên Chúa. Dòng sông vẫn đang chảy. Dòng tiên tri vẫn đang tiếp diễn. Nó sẽ chảy cho đến hồi cuối của lịch sử. Thỉnh thoảng dòng chảy ấy sẽ nổi bọt nước trên bề mặt, tức là có các mặc khải dành cho một vị tiên tri mới. Tín đồ Baha'i tin rằng mặc khải tiếp theo đã nổi lên vào giữa thế kỷ 19 ở Iran, khi Thiên Chúa phái vị tiên tri mới nhất đến trần gian. Chắc bạn còn nhớ các Sách Phúc Âm kể rằng Giê xu Kitô có một người báo hiệu đến trước là John Tẩy Giả. Khi người dân hỏi John có phải là Đấng Cứu Thế không, ngài bảo là không, ngài chỉ đến để dọn đường cho đấng sắp đến ấy.

Điều tương tự đã xảy ra ở Iran năm 1844. Một thanh niên tự xưng là Báb, nghĩa là cánh cửa, loan báo rằng mình là một sứ giả do Thiên Chúa gửi đến để chuẩn bị cho sự xuất hiện của vị tiên tri kế tiếp. Báb không phải là nhà tiên tri nhưng anh cũng chịu chung số phận thường thấy của các vị. Việc anh tuyên bố mình là cánh cửa để vị tiên tri mới bước qua bị những người Hồi giáo chính thống khép vào tội dị giáo. Với họ, Muhammad đã là vị tiên tri cuối cùng. Không thể có một vị tiên tri nào nữa. Vậy nên năm 1850, Báb bị bắt giữ và hành hình.

Vài năm sau, một người đàn ông tên là Mirza Husayn Ali Nuri, đang bị cầm tù vì đi theo Báb và háo hức mong chờ vị tiên tri sắp đến, đã nhận được một mặc khải báo rằng chính ông là vị tiên tri mà ông hằng tìm kiếm. Ông lấy tên mới là Bahá'u'lláh, nghĩa là “vinh quang của Thiên Chúa”. Baha'i giáo ra đời từ đây. Cảnh ngộ của Bahá'u'lláh khá hơn Báb. Chính quyền Iran không xử tử ông, dù bốn mươi năm tiếp theo, ông phải sống trong cảnh lao tù và luu đày. Ông qua đời tại nhà tù thành phố Acre ở Palestine năm 1892, một minh chứng nữa của việc khỏi tạo một tôn giáo mới có thể tổn hại nghiêm trọng đến sức khỏe của bạn thế nào.

Con trai ông là Abdu'1-Bahá, cũng từng ở tù giống cha, đã lên kế vị ông làm lãnh đạo. Khi ra tù năm 1908, ông đã đi khắp Ai Cập, châu Âu và Mỹ, truyền bá nội dung mặc khải mới và thu hút thêm các tín đồ. Ông mất năm 1921 và người cháu nội Shoghi Effendi tiếp tục kế tục. Baha'i giáo cứ thế phát triển khắp toàn cầu. Sau khi Shoghi Effendi mất ở London năm 1957 thì sự lãnh đạo của phong trào chuyển từ một cá nhân trong dòng truyền thừa nhà tiên tri sang hình thức Tòa Công lý Quốc tế, tức là một nhóm tín đồ cùng lãnh đạo.

Vẻ đẹp của Baha'i giáo nằm ở chỗ nó không có gì phức tạp cả. Quan niệm chính yếu của đạo là dòng mặc khải cấp tiến. Thiên Chúa vẫn luôn gửi các vị tiên tri và tình cờ Bahá'u'lláh là vị mới nhất. Điều đó không có nghĩa ông ấy là vị truyền mặc khải cuối cùng. Nó chỉ có nghĩa là nhân loại nên chú ý đến ông trong thời điểm này vì từ ông, ta có thể biết được mặc khải mới nhất. Đó là một bài học đơn giản, phù hợp với tinh thần hòa hợp tôn giáo của thời đại. Ta đã có một Đấng Tối Cao hiện tồn ngoài tầm hiểu biết của con người. Điều các nhà tiên tri nắm bắt được chỉ là một thoáng tâm ý của Đấng Tối Cao. Không may là các tôn giáo ra đời xoay quanh những thoáng hiện đó luôn mắc một lầm lẫn giống hệt nhau: Họ nghĩ cái mình nắm bắt được là lời cuối cùng của Đấng Tối Cao.

Tín đồ Baha'i tin rằng mọi tôn giáo trên thế giới đều đã hiểu được điều gì đó về sự huyền nhiệm của Đấng ấy, vậy nên tất cả các tôn giáo đều đáng được tôn trọng. Những thoáng tâm ý mà họ mặc khải được đều có giá trị. Tuy nhiên không bên nào có được bức tranh hoàn thiện, ngay cả Baha'i giáo cũng vậy. Tôn giáo này chỉ ngẫu nhiên được nhận phiên bản mặc khải mới nhất và nó mang vẻ đẹp của sự đơn giản. Nó nhận ra rằng tuy có nhiều tôn giáo khác nhau nhưng họ đều nhìn về cùng một Thiên Chúa. Theo nghĩa đó thì tất cả họ vốn là một. Và chính đối tượng họ cùng hướng đến, chứ không phải góc nhìn của mỗi bên, giúp thống nhất các bên. Các tôn giáo đã quên điều đó. Họ lẫn lộn giữa đối tượng được quan sát với người đang quan sát ấy. Lại là dụ ngôn về những người mù và con voi nhưng theo một cách khác. Con voi có thể chỉ có một nhưng mỗi người lại xem xét nó ở một hướng khác nhau.

Thế thì góc nhìn của Baha'i giáo là gì? Việc nói chỉ có một Thiên Chúa duy nhất thì không có gì mới cả. Điều mà tín đồ Baha'i liên tục chỉ ra là cả nhân loại này cũng là một mà thôi. Sự thống nhất của loài người cũng là một bài học quan trọng không kém gì bài học về sự nhất thể của Thiên Chúa. Và bài học ấy có những ý nghĩa thiết thực vững chắc. Bi kịch của các tôn giáo coi mình nắm bắt được những lời cuối cùng của Chúa là họ chia nhân loại thành các khối xung đột với nhau. Khi ấy, tôn giáo thành ra kẻ thù lớn nhất của nhân loại. Còn một khi họ đã nhận ra dù các tôn giáo đều nhìn Thiên Chúa theo các góc khác nhau, họ chỉ đang nhìn cùng một Đấng mà thôi thì tôn giáo có thể trở thành động lực cho sự đoàn kết hơn là chia rẽ.

Vì thế nên các tín đồ Baha'i đóng một vai trò nổi bật trong phong trào đem các tôn giáo trên thế giới lại gần nhau, qua một hình thức hợp nhất toàn cầu mới gọi là Nghị viện Tôn giáo Toàn cầu. Các nhóm họp lần đầu ở Chicago năm 1893, hợp lần kế tiếp sau đó một thế kỷ, năm 1993. Cuộc hợp mới đây nhất là ở Salt Lake City tháng Mười năm 2015. Nghị viện này là một dấu hiệu cho thấy trong thời đại của chúng ta, một số tôn giáo đang bứt khỏi những năm tháng phân tranh và ngờ vực để mở ra một kỷ nguyên mới của hữu nghị và đối thoại.

Bên cạnh vai trò là một chứng nhân toàn cầu trước sự hiệp nhất của Chúa Trời và sự thống nhất của nhân loại, các tín đồ Baha'i cũng có lối thực hành tâm linh giản dị và đặc trưng riêng của mình. Họ không có một đoàn tu sĩ riêng, cũng không áp đặt một nền giáo lý đồng nhất nào lên các tín đồ. Đức tin của dân họ mang tính nội bộ với các nghi thức chủ yếu được cử hành trong phòng khách tại nhà mỗi người. Tuy vậy, các nghi thúc hành lễ vẫn phản ánh nguồn gốc Hồi giáo của họ. Sau phần tắm rửa tẩy thể, tín đồ Baha'i tiến hành cầu nguyện quay mặt về một hướng nhất định, không phải hướng Mecca mà hướng về mộ vị tiên tri của họ Bahá'u'lláh ở Israel. Và lời cầu nguyện của họ rất đơn giản: “Lạy Đấng Trên Cao của con, con xin làm chứng, rằng Ngài đã tạo ra con để con biết đến và thờ phượng Ngài... Không có một Thượng Đế nào khác mà chỉ có Ngài, đấng giúp con lúc nguy khốn...”

Baha'i giáo đã minh chứng cho một xu hướng của tôn giáo trong thời đại chúng ta, đi từ các mối chia rẽ trong quá khứ hướng đến một dạng thống nhất khác. Không phải dạng thống nhất xuất phát từ việc dồn ép các hệ thống sẵn có vào trong các thiết chế mới, mà bằng cách hé lộ một sự thống nhất đã có sẵn: sự hòa hợp chung của loài người chúng ta. Và chúng ta khám phá khả năng hòa giải đó bằng cách lắng nghe nhiều hơn là lên tiếng. Nó được biểu lộ qua trạng thái lặng yên nhiều hơn là tiếng ầm ĩ ồn ào.

Tuy vậy, tinh thần hòa giải đó còn lâu mới thành một xu hướng toàn cầu. Một xu hướng đối nghịch đang cân bằng với nó. Xuất phát từ những người theo chủ nghĩa cơ yếu đang tưng bừng giận dữ, tự xem mình là kẻ độc nhất sở hữu chân ý của Đức Chúa. Và họ chịu trách nhiệm cho một số cuộc xung đột tồi tệ nhất trên thế giới hiện nay. Ta sẽ tìm hiểu câu chuyện của họ ở chương kế tiếp.

CHƯƠNG 38: TÔN GIÁO CUỒNG NỘ

“Người theo chủ nghĩa Cơ yếu” là một danh từ được gắn với một số nhóm tôn giáo ngày nay, tuy nhiên lần đầu tiên khái niệm này được sử dụng là vào đầu thế kỷ 20 để chỉ một nhóm cụ thể trong tôn giáo Tin Lành ở Mỹ. Vào thời ấy, khoa học hiện đại ngày càng gây nhiều khó khăn cho đời sống của các Kitô hữu vốn quen đọc hiểu Kinh Thánh theo đúng nghĩa đen. Kinh Thánh bảo họ rằng Thiên Chúa đã mất sáu ngày để tạo ra vũ trụ rồi nghỉ ngơi vào ngày thứ bảy. Vào một thời điểm chính xác trong ngày thứ sáu, ngài đã sản sinh ra những con người đầy đủ hình hài như bây giờ. Cho đến thế kỷ 19 thì nhiều người vẫn nghĩ chuyện đã diễn ra đúng như thế. Thế rồi các nhà khoa học chân chính vào cuộc và bắt đầu thắc mắc về chủ đề đó. Một trong số đó đã khiến các tín đồ phải đau đầu.

Tên nhà khoa học ấy là Charles Darwin. Trong nghiên cứu của mình, Darwin đã rút ra kết luận rằng mọi giống loài trên hành tinh của chúng ta đã tiến hóa trong một khoảng thời gian rất dài thông qua một quá trình thích nghi từng chút một với môi trường xung quanh. Thế là thuyết sáu-ngày sáng thế bị loại. Như vậy đã đủ gây chấn động. Nhưng kinh hoàng hơn là tuyên bố của Darwin rằng con người hoàn chỉnh không phải là kết quả của một sự tạo tác đặc biệt nào chỉ trong một ngày cách đây sáu ngàn năm. Loài người cũng đã tiến hóa dần dần qua hàng triệu năm. Và các tổ tiên gần nhất của loài người là những con vượn! Khi cuốn sách On the Origin of Species (tạm dịch: Nguồn gốc muôn loài) của Darwin ra mắt năm 1859, nó đã gây nên một cuộc khủng hoảng cho những ai không xem câu chuyện trong Kinh Thánh như một bài thơ ca ngợi công việc sáng thế vũ trụ của Thiên Chúa mà xem đó là một mô tả chính xác quá trình ngài tạo lập vạn vật. Các tín hữu Kitô đã có những phản hồi khác nhau dành cho cuốn sách của Darwin.

Nhiều tín đồ đã đọc và tin chắc rằng Darwin đúng. Như vậy Kinh Thánh đã sai! Đức tin tôn giáo của họ như đang sụp đổ trước mắt. Mất đi tôn giáo của mình khiến họ buồn, tựa như cảm nhận của con trẻ khi chúng không còn tin vào Ông già Noel nữa. Tuy nhiên, các tín đồ khác đã theo lời Darwin và điều chỉnh tôn giáo của họ theo khoa học mới. Họ bắt đầu đọc Kinh Thánh theo cách mới, xem đó là nghệ thuật chứ không phải khoa học. Kinh Thánh được viết ra để thúc đẩy chúng ta suy ngẫm về những ý nghĩa của cuộc sống, chứ không cung cấp thông tin về cơ chế của nó. Tôn giáo của họ vẫn tồn tại, tuy đã mất đi sự chắc chắn xưa nay. Như thế, lần đầu tiên trong lịch sử, nó trở thành một niềm tin! Sự chắc chắn không phải là niềm tin, mà là cái đối ngược với niềm tin, hay đức tin. Nếu bạn chắc chắn về một điều gì thì bạn không còn cần phải tin nó nữa. Bạn đã biết nó. Tôi không tin 2+2=4 vì tôi biết nó là vậy, tôi chắc chắn vậy rồi. Tôi có thể làm phép tính ấy trên bàn tay. Tuy nhiên, tôi không thể chắc là cuộc sống có một ý nghĩa bao trùm nào đó, có một đấng nào đó đã tạo ra thế giới và yêu quý tạo vật của Ngài. Hay tôi sẽ đi sang một cuộc đời khác sau cái chết.

Những điều như thê thì không biết chắc chắn được. Ta hoặc là tin, hoặc là không tin. Ta có đức tin. Hoặc không. Khoa học hiện đại đã giúp tôn giáo hiểu về chính họ nhiều hơn cũng như thay đổi cách tôn giáo tuyên xưng về mình.

Nhưng một số Kitô hữu từ chối chấp nhận khoa học hiện đại. Họ không từ bỏ tín ngưỡng, cũng như không tìm cách hiểu khác về tín ngưỡng vì khoa học. Họ quyết định tuyên chiến. Khoa học không làm họ buồn, cũng không khiến họ suy nghĩ. Nó chỉ khiến họ nổi giận! Và cơn giận dữ ấy là thành phần chính trong chủ nghĩa cơ yếu. Để hiểu được chủ nghĩa này, bạn phải cảm được trạng thái hung nộ và phiền muộn đã gây ra nó.

Bạn đã bao giờ nổi nóng vì một thiết bị điện tử bị trục trặc và chỉ muốn ném phắt nó vào góc phòng? Bạn có bao giờ thấy một vận động viên quần vợt ném vợt trên sân như thể tại cây vợt mà anh ta đánh bóng hỏng chưa? Cuộc sống không ngừng thay đổi, buộc ta phải ra khỏi vùng an toàn của bản thân. Một số người đối phó với các thay đổi đó giỏi hơn những người khác. Một số dễ dàng thích ứng với các thách thức mới. Chúng ta gọi họ là những người “thích nghi nhanh”. Họ háo hức được cầm trên tay mẫu điện thoại hay máy tính bảng mới nhất. Những người khác thì điều chỉnh một cách miễn cưỡng hơn, có người còn từ chối không thích nghi gì cả. Họ ghét thay đổi và giận dữ chiến đấu để cưỡng lại các thay đổi. Nhất là khi sự đổi mới ấy thách thức các niềm tin vốn là thiêng liêng đối với họ! Khoa học là nhân tố thay đổi vĩ đại nhất trong thời hiện đại; vì thế, khoa học trở thành mục tiêu tấn công của các tín đồ hung hăng nghĩ rằng nó đang phục kích họ. Sự hung hăng ấy bùng lên sôi sục ở nước Mỹ trong khoảng từ năm 1910 đến năm 1925. Chính thuyết tiến hóa của Darwin đã khởi đầu cuộc chiến ấy.

Chướng ngại đầu tiên chống lại thuyết tiến hóa là một loạt các cuốn sách nhỏ do một nhóm tự xưng là Hiệp hội Cơ yếu Kitô giáo Thế giới ấn hành. Chủ nghĩa Cơ yếu là các nền móng rất vững chắc. Nếu bạn dựng nhà trên đó thì cả cơn lũ thời gian cũng không quét nó đi được. Với các tác giả của cuốn sách nhỏ nói trên thì nền móng của Kitô giáo chính là chân lý không thể sai lầm trong Kinh Thánh. Thiên Chúa đã phán bảo từng lời trong ấy và Ngài không mắc sai lầm. Mọi thứ trong Kinh Thánh đều đúng, lời của chính Đức Chúa nói vậy. Lời nào của con người trái với lời Chúa trong ấy đều sai cả. Darwin đã nói trái, do vậy Darwin sai rồi!

Các phần tử cơ yếu không cố gắng bác bỏ khoa học, cũng chẳng muốn tranh luận. Họ chỉ tuyên bố chống lại khoa học! Điều này tương đương với việc một bậc phụ huynh áp đặt quan điểm với con cái bằng cách la lên: “Vì tao nói thế đấy”. Tôn giáo theo trường phái cơ yếu cũng làm y hệt. Họ phản bác không qua bằng chứng mà bằng thẩm quyền. Tại sao Darwin lại sai? Vì Kinh Thánh nói thế! Nhưng họ không chỉ hạ lệnh kiểu bề trên, giáo điều. Họ còn cố cấm đoán khoa học. Khi ấy, khoa học mới bắt đầu phản công.

Trước các cuộc biểu tình giận dữ của các Mục sư Kitô, năm 1925, chính quyền bang Tennessee ra luật cấm giảng dạy thuyết tiến hóa trong các trường học của bang. Bạn sẽ vi phạm pháp luật và chịu hình phạt nếu giảng dạy “bất cứ lý thuyết nào phủ nhận câu chuyện Sáng tạo Thiêng liêng tạo nên con người mà Kinh Thánh đã răn bảo, thay vào đó xác nhận rằng con người vốn bắt nguồn từ một loài vật hạ đẳng hơn”. John Thomas Scopes, một giáo viên trẻ dạy khoa học, đã quyết định thách thức điều luật đó. Anh bị bắt giữ vì dạy thuyết tiến hóa cho các học trò. Kế hoạch của anh là tận dụng ca tố tụng này để chứng minh việc bác bỏ thuyết tiến hóa bằng cách viện dẫn Sách Sáng thế là ngớ ngẩn như thế nào. Được Liên đoàn Tự do Dân sự Mỹ bảo trợ và luật sư Clarence Darrow biện hộ, vị luật sư nổi tiếng nhất nước Mỹ lúc đó, vụ xử Scopes này còn được biết đến với tên gọi khác là Phiên tòa Khỉ vì nó gắn liền với tuyên bố của Darwin cho rằng loài người có nguồn gốc từ vượn. Cuối cùng, Scopes bị kết án có tội và phải nộp phạt 100 đô la. Trong quá trình bào chữa, Darrow đã chỉ ra các điểm mâu thuẫn trong lập luận của phe chủ nghĩa cơ yếu và chứng minh rằng người phát ngôn của bên đó còn không biết mình đang nói gì. Scopes thua kiện nhưng Darrow đã thắng cuộc biện luận. Tuy nhiên, cũng phải đến năm 1968 thì Tòa án Tối cao Hoa Kỳ mới ra lệnh phủ quyết luật cấm giảng dạy thuyết tiến hóa trong trường học.

Phiên tòa xử Scopes cho thấy các kiến thức mới có thể kích động cơn thịnh nộ của phe cơ yếu ra sao. Họ nói chung đều không thích lịch sử cũng như các thay đổi mà lịch sử mang lại. Họ thích đập gãy vợt trên sân hơn là phản hồi lại những cái sắp xảy đến với họ trong tương lai. Họ chỉ muốn quá khứ. Họ kêu gào: “Tại sao mọi người cứ đem tương lai ra vậy?” Chủ nghĩa cơ yếu như một cơn ăn vạ. Thét lên từng cơn, từ chối chấp nhận các thực tại mới.

Nhưng nếu sự thay đổi của khoa học và các kiến thức mới mà nó mang lại đã là khó chấp nhận với những đầu óc cơ yếu thì sự thay đổi trong cách điều hành xã hội còn làm họ khó chịu hơn nữa. Trong thời đại chúng ta, thay đổi từ phía xã hội đã kích động chủ nghĩa cơ yếu tôn giáo nhiều hơn là những áp lực từ khoa học. Ở một vài hình thức cơ yếu, họ không chỉ nổi giận mà còn trở nên bạo lực.

Đổi thay có tính cách mạng nhất của thế giới thế kỷ 20 và 21 đến từ phong trào giải phóng phụ nữ. Kinh Thánh và Kinh Qur'an xuất phát từ các xã hội do nam giới điều khiển. Cũng không có gì đáng ngạc nhiên, vì mọi nơi trên thế giới đều đã vận hành như thế cho đến mãi gần đây. Và chúng ta cần lưu ý một điều trước khi bàn về vấn đề sâu hơn. Lịch sử đã cho thấy những người đàn ông nắm quyền chẳng bao giờ tự nguyện từ bỏ những đặc quyền đặc lợi của họ cả. Chẳng người nam nào một sáng thức dậy rồi bảo: “Tôi chợt nhận ra cách mình kiểm soát và chế ngự người khác là sai rồi. Tôi phải thay đổi đường lối đó thôi. Tôi sẽ chia sẻ quyền lực với bọn họ. Tôi sẽ trao cho họ một lá phiếu!” Chuyện chẳng bao giờ diễn ra theo kiểu đó. Lịch sử chỉ ra rằng để có quyền lực thì người ta phải giành giật nó từ tay kẻ đương nắm quyền. Các nhà vận động quyền bầu cử cho phụ nữ đã học được bài học đó. Đàn ông sẽ không tự nguyện trao cho phụ nữ quyền bỏ phiếu. Phụ nữ phải đấu tranh để có được quyền ấy.

Cần lưu ý thêm một việc nữa về quyền lực, liên quan đến chỗ đứng của tôn giáo. Kẻ có quyền chỉ say mê quyền lực nhưng họ lại che đậy điều đó bằng các học thuyết giúp biện minh cho ham muốn đó. Họ từng dùng lý thuyết cho rằng não bộ của phụ nữ không thể lĩnh hội được sự phức tạp của chính trị để ngăn không cho phụ nữ tham gia bầu cử. Chính trị là dành cho nam giới. Chuyện của nữ giới là sinh con đẻ cái. Lúc nào cũng vậy, tôn giáo luôn là nơi cung cấp các lý lẽ mạnh bạo nhất để giữ cho ai đang ở đâu thì hãy ở yên đấy. Chúng ta đã thấy điều đó trong cuộc tranh luận về chế độ nô lệ. Cả Kinh Thánh và Kinh Qur'an đều xem buôn bán nô lệ là đương nhiên. Cả hai cũng xem sự lệ thuộc của phụ nữ là tất yếu. Đến đây ta bắt gặp một thực tế khó xử: người ta có thể dùng các kinh sách thiêng liêng để cung cấp lý lẽ cho những kẻ muốn nắm quyền kiểm soát con người.

Ngày nay, người ta vẫn có bên dùng kinh sách theo kiểu như vậy. Đối với các Kitô hữu theo trường phái Cơ yếu thì việc giải phóng phụ nữ khỏi sự kiểm soát của nam giới là một vấn đề cực kỳ lớn, vì Kinh Thánh nói rằng phụ nữ nên ở dưới quyền đàn ông và không bao giờ được có quyền gì với nam giới cả. Vào thời nay, phần lớn thế giới Kitô giáo vẫn từ chối không cho phụ nữ tham gia đoàn mục sư chính thức của Giáo hội. Chủ đề này thậm chí còn không được thảo luận trong Giáo hội Công giáo, hiện đang là tổ chức lớn nhất trên hành tinh với hơn một tỷ giáo dân. Ngay cả các phiên bản Kitô giáo theo xu hướng tự do hơn cũng vật lộn với đề tài này từ rất lâu. Mãi đến năm 2015 thì Giáo hội Anh mới cho phép phụ nữ được giữ chức giám mục. Cũng giống như khi họ học cách thích ứng với học thuyết của Darwin, các tôn giáo có tính tự do đang học cách thích nghi với việc giải phóng phụ nữ, dù có đau đớn, chật vật thế nào đi nữa. Nhưng thời gian không đứng yên và giờ đây, họ phải giải quyết phong trào giải phóng người đồng tính còn đau đớn và khổ sở hơn nữa.

Tất cả những điều này đều rất khó khăn với Kitô giáo. Vì một số lý do, chuyện còn khó nhằn hơn nữa đối với Islam giáo, hay Hồi giáo. Chính ở đây mà cuộc vật lộn với sự thay đổi đã đi sang chiều hướng bạo lực. Các tín đồ Hồi giáo cơ yếu không chỉ tức giận; ở hình thái cực đoan nhất, họ đã ra tay tàn sát một cách hung bạo. Nhiều yếu tố góp phần làm nên cuộc khủng hoảng đó trong Islam giáo, một số nằm ngoài phạm vi của cuốn sách này. Tuy nhiên, chúng có một điểm chung với các phần tử cơ yếu tôn giáo ở mọi nơi khác, bao gồm cả dân ở Israel. Có các tín đồ Do Thái giáo cơ yếu ở Israel chống lại mọi nỗ lực chia sẻ vùng Đất Thánh với người Palestine. Họ lập luận rằng Thiên Chúa đã ban mảnh đất Palestine cho họ từ hàng ngàn năm trước và họ chỉ đang lấy lại những gì đã bị cướp đi từ họ. Nếu bạn cố gắng chỉ ra các điểm nguy hiểm trong lập luận đó thì họ sẽ lặp lại y như những gì phe cơ yếu Kitô giáo đã nói với Darwin: Chúng tôi đúng, còn bạn sai vì Kinh Thánh răn bảo chúng tôi như thế.

Kinh Thánh hay Kinh Qur'an được dùng theo lối đó nên có vẻ như chính các kinh sách đó là vấn đề, là nguyên nhân làm bùng phát các cuộc xung đột. Hay nói cách khác: chính quan niệm cho rằng nội dung các kinh sách này là các mặc khải từ Thiên Chúa đã gây khó. Nói cho cùng, tôi với bạn luôn có thể tranh cãi với nhau về vị thế của phụ nữ hay đồng tính, chúng ta có thể đồng ý hoặc không đồng ý với nhau. Tuy nhiên, một khi bạn nói với tôi là góc nhìn của bạn về các chủ đề đó không phải của bạn mà là của Thiên Chúa, thì chúng ta hết đường tranh luận tiếp. Một Phiên tòa Khỉ nữa lại tiếp diễn.

Người theo chủ nghĩa cơ yếu không tranh biện. Họ không thử đưa ra các bằng chứng. Họ chỉ đưa ra một lời tuyên án. Lúc nào lời tuyên ấy cũng là “có tội” vì sách thánh của họ vốn đã phán quyết về vấn đề ấy rồi. Điều này có nghĩa rằng cuộc khủng hoảng của chủ nghĩa Cơ yếu trong thời đại chúng ta, bao gồm cả các phiên bản bạo lực của nó, còn đặt ra một nghi vấn về cốt lõi của các tôn giáo tuyên bố rằng mình dựa trên mặc khải trực tiếp từ Đấng Tối Cao. Chắc chắn là nếu các mặc khải được dùng để biện minh không chỉ cho sự u mê ngu muội mà còn cho cả sự ham thích bạo lực thì về mặt cơ bản mà nói, có gì đó đã sai rồi. Vậy thì làm sao để tôn giáo có thể tự thoát khỏi vấn đề hóc búa cụ thể này? Đó là câu hỏi mà chúng ta sẽ nghiên cứu trong chương tiếp theo khi xem xét kỹ hơn lịch sử bạo lực của tôn giáo.

CHƯƠNG 39: CÁC CUỘC THÁNH CHIẾN

Tôn giáo có phải là nguyên nhân chính của bạo lực trong lịch sử nhân loại, như ý kiến nhiều người đã đề xuất? Chắc chắn tôn giáo không lạ gì bạo lực vì nó đã dùng đến bạo lực trong cả quá khứ lẫn hiện tại. Nhưng tôn giáo có phải là nguồn cơn của bạo lực không? Nhiều người sâu sắc nghĩ là có. Thế rồi họ đề xuất cách loại trừ bạo lực trên thế giới là loại trừ tôn giáo. Một số người còn đẩy cuộc tranh luận đi xa hơn khi nói rằng vì Đấng Tối Cao đã ra lệnh dùng đến bạo lực, thứ đã thành một lời nguyền đối với nhân loại, cách tốt nhất để cứu nhân loại khỏi lời nguyền đó là loại bỏ cả Đấng Tối Cao nữa. Đây là một lời buộc tội rất nặng mà ta không thể bỏ qua.

Nếu ta giới hạn cuộc thảo luận vào ba tôn giáo đi theo Abraham là Do Thái giáo, Kitô giáo và Hồi giáo, lời buộc tội đó có vẻ còn đứng vững. Vào thuở ban đầu của Do Thái giáo, rất nhiều bạo lực đã xảy ra. Cuộc giải phóng dân Do Thái khỏi ách nô lệ ở Ai Cập hẳn đã không thể đạt được nếu không có bạo lực; vì thế ta nên dừng lại mà nghi vấn rằng bạo lực có cần thiết không. Chẳng mấy người từng tuyên bố là không gì có thể biện minh cho bạo lực với kẻ khác. Bạo lực luôn là cái ác, nhưng đôi khi nó là cái ít xấu hơn trong hai cái xấu. Chế độ nô lệ cũng là một cái ác, nó đối xử với con người như những con vật để các ông chủ tùy hứng xử sao thì xử. Hầu hết chúng ta ngày nay sẽ ủng hộ quyền của các nô lệ vùng lên thoát khỏi chủ nô và đấu tranh cho tự do của chính mình. Dân Do Thái cổ đã làm đúng như thế. Họ nổi dậy chống lại các ông chủ và trốn thoát vào sa mạc. Những gì xảy đến sau đó mới làm tình hình khó khăn hơn.

Khoảng năm 1300 TCN, dân Do Thái cổ đã đối xử với các bộ lạc sống ở Canaan (giờ là Palestine) theo cách mà thực dân Kitô hữu làm với người bản địa châu Mỹ trong thế kỷ 19. Họ cho rằng các bộ lạc đó là những tội nhân chống lại Đức Chúa... Các nhà sử học có thể còn tranh cãi quá trình an cư lạc nghiệp của dân Do Thái tại vùng đất Palestine đã diễn ra bao lâu và nó từng bạo lực đến thế nào. Riêng Kinh Thánh thì nói rất rõ về chuyện bức hại đã xảy ra và nói rằng Thiên Chúa đã hạ lệnh làm thế. Cuốn sách kể chuyện đó tên là Sách Joshua (hay Giôsuê), trong đó rải rác các câu như “con phải tiêu diệt chúng hoàn toàn”, “họ đã giết sạch bọn chúng” và “họ không để ai sống sót”. Sách Joshua cho ta biết các bộ tộc Israel định cư được ở miền Đất hứa là nhờ một chuỗi các hành động có tính bạo lực theo lời Thiên Chúa.

Còn với Kitô giáo, ghi chép cho thấy họ cũng đã có một khởi đầu bạo lực. Tuy nhiên, họ là đối tượng chịu bạo lực chứ không phải chủ thể gây ra nó. Lúc tiên khỏi đó, họ cũng không trông đợi sẽ ở lại thế giới này đủ lâu để tham gia vào chuyện chính trị thế gian. Điều này cũng không ngăn được việc họ bị bức hại. Họ thờ phượng một Đức Chúa bị đóng đinh trên thập giá, đồng thời ấp ủ những nỗi đau của chính mình. Khổ hạnh đó chấm dứt khi hoàng đế Constantine công nhận và đưa tôn giáo của họ ra phục vụ cho các ý đồ của ngài, về sau, Giáo hội có khuynh hướng ưa bạo lực hơn và đã học được cách dùng nó như một công cụ để trấn áp. Trong hàng thế kỷ, quên hết những gì Giê xu từng nói trong Bài giảng trên Núi, họ dùng bạo lực để chống lại dân Do Thái, mà với họ đó là “những kẻ giết Chúa” đã gây ra vụ hành hình Giê xu. Trong các cuộc Thập tự chinh, Kitô giáo dùng bạo lực với người Hồi giáo. Trong giai đoạn của Tòa án dị giáo, họ dùng bạo lực để xử các Kitô hữu lạc đạo. Rồi trong các cuộc chiến tranh tôn giáo theo sau cuộc Kháng Cách, các nhóm Kitô giáo đối lập đã chiến đấu với nhau cho đến khi xã hội chán ngán chiến đấu với và phải bước vào ngăn chặn.

Hồi giáo cũng có lịch sử chào đời gắn với đấu tranh. Dù ý nghĩa của jihad hay “đấu tranh” có thể được hiểu theo những hướng phi bạo lực, vẫn có người lấy khái niệm đó để biện minh cho hành động khắc nghiệt đối với những người không theo đạo hay không cùng đức tin Islam. Giống Kitô giáo, Hồi giáo cũng tích cực bức hại các tín hữu đồng đạo nhưng đi theo một phiên bản tín ngưỡng khác với mình. Hai nhánh Hồi giáo Shia và Sunni bức hại lẫn nhau cũng nhiệt tình như tín đồ Tin Lành và Công giáo trong Kitô giáo vậy. Mối hận thù giữa hai phái đó là một trong các nguyên do chính gây ra tình trạng xung đột ở vùng Trung Đông ngày nay.

Như thế câu hỏi không còn là: liệu tôn giáo có phải là căn nguyên của rất nhiều bạo lực trong lịch sử không? câu hỏi nên là: Tại sao chúng ta lại lo ngại về tôn giáo? Khi nhìn sang chế độ nô lệ, ta đã thấy có những tình huống mà bạo lực là một lựa chọn chấp nhận được về mặt đạo đức. Bạo lực là một yếu tố cơ bản dẫn dắt hầu hết các quốc gia trong công tác chính trị đối nội cũng như đối ngoại. Theo con số thống kê thì nước Mỹ là quốc gia có số dân Kitô giáo đông nhất thế giới. Mỹ cũng là một trong những quốc gia bạo lực bậc nhất. Họ cho phép án tử hình. Họ tin vào quyền được sở hữu súng và dùng súng để tự vệ của dân thường, để rồi mỗi năm có hàng ngàn người Mỹ chết do các vụ bạo lực súng đạn. Cũng như các quốc gia khác trên thế giới, nước Mỹ dùng bạo lực không chỉ để phòng vệ trước kẻ thù mà còn để can thiệp vào nội tình các nước khác. Vậy nếu ta có thể biện minh cho bạo lực trong các bối cảnh này, tại sao ta lại lo ngại khi các tôn giáo cũng cần dùng bạo lực để phục vụ cho mục đích của mình? Loài người cũng thích bạo lực. Vậy sao ta lại khắt khe với bạo lực tôn giáo đến thế?

Có hai lý do. Một là, khi tôn giáo bước vào một cuộc tranh cãi, họ thêm vào đó một thành phần tai hại không phải lúc nào cũng có trong các mâu thuẫn khác. Con người có thiên hướng bạo lực đã đành, nhưng nếu họ có thể tự thuyết phục rằng mình đang bạo lực theo sự phán bảo của Đấng Tối Cao thì không còn cơ hội nào cho sự khoan dung và tiết chế trong xung đột đó nữa. Trong thời kỳ chiến tranh tôn giáo ở Scotland vào thế kỷ 17, còn gọi là “Thời Giết chóc”, tiếng hô tham chiến của một phe khi đó là “Thiên Chúa không lùi một ly”, ý rằng quân họ không nên dung thứ hay giữ ai làm tù binh cả. Khi xem bản tin thời sự có cảnh các phe phái Hồi giáo đánh nhau ở Trung Đông, ta dễ nghe thấy họ hô lên tiếng vinh danh Đấng Allah mỗi lần chuẩn bị phóng tên lửa sang bên kia.

Một khi bạn đã hành động tuân theo sự phán xử của đấng tạo lập vũ trụ thì bạn không thể sai được. “Thiên Chúa không lùi một ly!” Vì lẽ đó mà các mối xung đột giữa những nhóm tôn giáo cuồng tín có thể kéo qua bao thế kỷ mà không bên nào nỗ lực tìm kiếm sự hòa giải. Khi một mối thù truyền kiếp nào dậy sóng trở lại, đôi khi người ta gọi đó là kiểu “chính trị dựa trên bản sắc”. Một nhóm vô danh nào đấy có thể có được cảm giác mình đang sống có mục đích và bản sắc riêng bằng cách dùng một tín ngưỡng giúp định rõ vị thế khác biệt của họ so với nhóm khác. Cách đó giúp xoa dịu cảm giác bơ vơ của những kẻ bên lề xã hội. Nó đồng thời khiến người đó dễ bị kích động hơn, cho anh ta lý do để nổ bom tự sát trong một chuyến tàu điện ngầm đông đúc ở London năm 2005 chẳng hạn.

Nếu lý do thứ nhất khiến chúng ta e ngại tôn giáo là nó có thể khiến các xung đột giữa người và người gia tăng cường độ đến độ phi lý thì lý do thứ hai là về một mâu thuẫn rất lớn ngay trong cốt lõi của tôn giáo. Dân ngoại đạo thường nhìn rõ hơn dân theo đạo. Tên của mâu thuẫn đó là Đấng Tối Cao. Hầu hết các tôn giáo đều dựa trên lời tuyên xưng rằng Đấng Tối Cao là thực tại tối hậu, rằng ngài là tác giả của các quy tắc đạo đức mà họ áp dụng. Họ có thể tuyên xưng điều đó theo những cách khác nhau, nhưng hết thảy đều xem Đấng Tối Cao như là đấng sinh thành toàn bộ vũ trụ. Con người là con cháu của Đấng Tối Cao, như Tân Ước đã bảo: Trong Thiên Chúa, “chúng ta sống, di chuyển và có sự sinh tồn này”.

Tuy vậy, nếu chúng ta đều là con của Ngài, vì sao Đấng Tối Cao lại dành nhiều thời gian đêh vậy trong lịch sử để ra lệnh cho một nhánh này của “gia đình toàn cầu” đi đánh dẹp một nhánh khác? Vì sao tình yêu Ngài dành cho con dân Do Thái phải được biểu hiện qua việc triệt tiêu con dân Palestine? Vì sao sau đó Ngài lại bỏ roi con dân Do Thái để ưu ái dân Kitô giáo và khuyến khích sắc dân mới được ưa thích này gây đau khổ cho những người anh, người chị của họ? Vì sao Ngài lại yêu cầu con dân Hồi giáo, những người vốn thờ ngài như Một Đấng duy nhất, ngược đãi con dân ngoại giáo vốn thờ ngài như Nhiều Đấng? Vì sao lại có nhiều bạo lực trong lịch sử tôn giáo đến thế, tất cả đều do các nhóm “tự xung Chúa ở về phe họ” gây ra?

Trừ phi bạn không ngại tin rằng Thượng đế thực ra đang chơi trò “sủng ái” như tên bạo chúa loạn trí nào đó, bằng không ta chỉ có hai cách để ra khỏi thế lưỡng nan này. Cách dễ thấy nhất là xác quyết rằng chẳng có Đấng Tối Cao nào cả. Cái gọi là Đấng Tối Cao là một sáng chế của con người, cùng với các thứ khác trên đời, được dùng để biện minh cho sự thích bạo lực và thói căm ghét những người lạ của con người. Việc loại trừ Đấng Tối Cao như vậy sẽ không giải quyết được vấn đề bạo lực của loài người nhưng giúp bỏ được một trong những cái cớ gây bạo lực.

Nếu bạn không muốn bỏ Đấng Tối Cao thì bạn phải động não gay go hơn một chút. Bạn cần tự hỏi mình xem khả năng nào là cao hơn cả liệu Đấng Tối Cao là một dạng loạn trí hiếu sát mà một số tôn giáo vẫn thường trưng ra? Hay các tôn giáo đã hiểu nhầm về Đấng ấy và lẫn lộn giữa ý muốn của Ngài với sự độc ác của chính họ? Nếu bạn quyết định rằng khả năng tôn giáo hiểu lầm Chúa là cao hơn so với khả năng Chúa là kẻ quái ác như đôi khi các thầy thuyết giáo vẫn cho thấy thì bạn vướng phải một vấn đề khác.

Hóa ra tôn giáo có thể là một kẻ phản nghịch lớn hơn của Chúa so với chủ nghĩa vô thần. Bên vô thần nói rằng Thiên Chúa không tồn tại. Nếu Chúa có tồn tại đi nữa thì khả năng cao là Ngài sẽ thấy thích thú hơn là nổi giận lôi đình trước thái độ “trơ tráo hỗn xược” của người vô thần. Sớm muộn gì người vô thần sẽ học được bài học cần thiết thôi! Nhưng nếu Chúa không phải là kẻ quái ác thì khó có khả năng là Ngài sẽ vui vẻ khi các giáo sĩ cứ thuyết giảng về ngài theo kiểu đó. Vậy là chúng ta đi đến kết luận: Các tôn giáo tuyên bố họ sẽ tiết lộ bản chất thật của Chúa cho thế giới biết, nhưng phần lớn thời gian họ chỉ đang che giấu Ngài đằng sau lớp sương mù dày đặc của sự ác độc của chính mình.

Đâu đó trong kinh sách, đôi khi chúng ta bắt gặp quan niệm cho tôn giáo là đối thủ chỉ rằn nhất của Thiên Chúa. Ta gặp trong lời của Đức Giê xu, khi ngài nhận ra là người ta rất dễ lấy tôn giáo không chỉ làm lý do để thực hiện việc xấu mà còn để bào chữa cho việc không chịu làm điều tốt. Đó là thứ tôn giáo tồi đã xúi giục vị tu sĩ và người phụ tá tránh sang bên kia đường vì người đàn ông bị cướp và ngã xuống kia không thuộc nhóm dân họ.

Vậy nên đúng là, tôn giáo đã và đang tiếp tục gây ra những thứ bạo lực trong lịch sử. Và đúng là họ đã dùng Chúa để biện minh cho việc đã làm. Do đó, nếu ta có ý xem Thiên Chúa là Đấng Sáng Thế đầy từ ái thì hoặc là Ngài không tồn tại, hoặc tôn giáo đã hiểu sai về Ngài. Dù là khả năng nào đi nữa, ta cũng nên thận trọng hơn khi xét đến tôn giáo. Điều đó không nhất thiết là ta phải từ bỏ hết tôn giáo. Ta có thể quyết định gắn bó với nó nhưng đồng thời giữ một thái độ khiêm nhường, thừa nhận các tội lỗi nó từng phạm bên cạnh các việc tốt lành khác. Tùy thuộc vào ta cả thôi.

Tuy nhiên, có một số người thấy lý lịch của một số tôn giáo thật kinh sợ đến nỗi họ đã quyết tâm phải thuần hóa tôn giáo và đặt nó về lại đúng vị trí. Trong chương cuối cùng, ta sẽ xem họ đã làm điều đó như thế nào.

CHƯƠNG 40: HỒI KẾT CỦA TÔN GIÁO?

Chú chó cưng của tôi rất ghét khi gần đến tuần đầu tiên của tháng Mười một. Trong các khu vườn và công viên gần chỗ tôi ở, mọi người bắn pháo bông hằng đêm. Tiếng pháo làm Daisy run lẩy bẩy sợ hãi. Để trốn tránh kẻ thù đang truy đuổi, nó sẽ cố đào một cái lỗ trên tấm thảm phòng làm việc của tôi. Tôi không tài nào khiến nó hiểu được là chẳng có gì nguy hiểm cho nó cả. Nó mang trong người cái gọi là cơ chế phát hiện tác nhân tăng động, viết tắt tiếng Anh là HADD, khiến nó phát hiện thấy một mối nguy không hề tồn tại. Chuyện này có thể xảy ra với bất cứ ai trong chúng ta. Nghe tiếng cọt kẹt của sàn nhà trên phòng gác mái, thế là ta tưởng tượng có một kẻ đột nhập. Rồi phần lý trí trong ta bật lên và ta nhận ra một con gió giật đã làm cái sàn cũ kỹ kêu vậy thôi. Daisy thì không suy luận như thế được, cho nên mùa đốt pháo bông và đầu tháng Mười một là một cơn ác mộng đối với nó. Bộ não của nó được lập trình là cứ nghe âm thanh to thì phải chạy đi, mà tôi không cách nào giải thích cho nó hiểu được là chẳng có ai đang săn đuổi nó hết.

Daisy không phải là loài sinh vật duy nhất trong lịch sử đã phát triển HADD. HADD đã ảnh hưởng đến hầu hết nhân loại qua hàng thế kỷ nay. Tôn giáo bảo con người rằng thế giới là do các thế lực siêu nhiên chứ không phải các quy luật tự nhiên điều khiển; từ đó mà ta có từ mê tín để chỉ niềm tin rằng mọi thứ có thể xảy ra do phép thần thông chứ không có nguyên nhân tự nhiên nào cả. Lối nghĩ đó bắt đầu thay đổi vào thế kỷ 17 trong thời kỳ Khai sáng, khi khoa học bắt đầu thay thế mê tín dị đoan và trở thành cách giải thích tốt nhất cho mọi sự đang diễn ra trong thế giới. Mọi thứ đều có căn nguyên tự nhiên của nó. Mọi thứ đã xảy ra đều có một lý do nào đó. Khẩu hiệu của thời kỳ Khai sáng là “Dám biết”. Đừng quy phục thói mê tín. Dám tìm biết nguyên nhân thực sự của mọi thứ. Một trong những hệ quả của thời kỳ Khai sáng này là việc nới lỏng sự kìm hãm mà các cách giảng giải theo lối siêu nhiên đã áp đặt với đầu óc con người. Ánh sáng được khỏi lên trong tâm trí loài người và họ bắt đầu biết tư duy độc lập.

Nếu tinh thần dám tìm tòi cách vận hành của giới tự nhiên là một trong những động lực thúc đẩy thời kỳ Khai sáng thì một động lực khác là cảm giác ghê sợ thứ bạo lực tôn giáo đã diễn ra qua bao thế kỷ. Mê tín đã là dở. Chiến tranh còn tệ hơn. Các nhà tư tưởng của thời kỳ Khai sáng nhận thấy các tôn giáo luôn bất đồng với nhau ra sao. Bên nào cũng tin mình nắm giữ chân lý do Thiên Chúa mặc khải, còn các tôn giáo khác là sai. Và khi tôn giáo nào nắm quyền cai trị một quốc gia thì nó sẽ cố bắt người dân phải nhịp bước đều theo tiếng trống họ đánh. Chuyện đó không hay ho gì. Kinh khủng hơn là khi chỉ có hai tôn giáo trong cùng một lãnh thổ cạnh tranh với nhau. Họ lúc nào cũng tranh cãi dữ dội, như trường hợp châu Âu thời Kháng Cách vậy. Tuy nhiên, nếu có ba mươi tôn giáo cùng lúc thì tất cả họ lại có vẻ chung sống hòa bình!

Từ đó, các nhà khai sáng rút ra được hai kết luận. Một là càng có nhiều tôn giáo trong một xã hội thì xã hội đó càng an toàn hơn cho mọi người. Vì vậy, cách bảo đảm hòa bình tốt nhất là hãy nghiêm cấm tình trạng phân biệt đối xử, đồng thời thực thi tinh thần khoan dung. Hai là một khi tôn giáo đã được chấp nhận trong xã hội thì người ta cũng không nên trao cho nó quyền điều khiển xã hội. Thẩm quyền của giới lãnh đạo tôn giáo nên được giới hạn trong phạm vi cộng đồng giáo dân của họ thôi.

Chỉ ở Mỹ, nguyên tắc trên mới được thi hành triệt để nhất. Các tác giả của bản Hiến pháp Hoa Kỳ chịu ảnh hưởng của tư tưởng về tôn giáo của thời kỳ Khai sáng. Họ cũng nhớ các di dân đầu tiên đến nước Mỹ đã trốn chạy khỏi sự bức hại tồn giáo ở châu Âu ra sao. Và họ quyết tâm tránh lặp lại sai lầm tại miền Đất hứa mới mẻ này. Vì thế mà Thomas Jefferson, một trong những người soạn bản Tuyên ngôn Độc lập và là tổng thống thứ ba của nền cộng hòa non trẻ, đã khuyên người dân Mỹ “không được ban hành luật liên quan đến việc thiết lập tôn giáo hoặc ngăn cấm thực hành tự do tín ngưỡng”. Họ nên lập nên một bức tường ngăn cách giữa Giáo hội và Nhà nước, và đó đã trở thành một trong những nguyên tắc nền tảng của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ.

Ở châu Âu thì mọi chuyện phức tạp hơn vì Nhà nước và Giáo hội đã dính líu với nhau suốt nhiều thế kỷ. Tuy nhiên, quan niệm do thời kỳ Khai sáng khỏi xướng cũng bắt đầu làm hao mòn thẩm quyền của tôn giáo đối với các công việc của nhà nước. Dần dần châu Âu đã đạt được một cuộc chia tách Giáo hội và rthà nước còn triệt để hơn cả nước Mỹ, nơi tôn giáo không có vị thế chính thức nhưng vẫn còn sức ảnh hưởng đáng kể đến chính trị và xã hội.

Cụ thể là châu Âu đã có sự xuất hiện của cái hiện nay gọi là nhà nước thế tục. Từ “thế tục” trong tiếng Anh có gốc tiếng Latinh là saeculum, nghĩa là “một khoảng thời gian”. Từ đó có hàm ý thứ thời gian hữu hạn trái ngược với vĩnh cửu, thế giới đối lập với Giáo hội, tư duy con người đối nghịch với mặc khải tôn giáo.

Một nhà nước thế tục sẽ không chọn can thiệp vào các bên muốn quản lý cuộc sống của họ theo những nguyên tắc bắt nguồn từ tôn giáo. Nhưng nó quyết định rằng mọi quyết định của mình chỉ dựa trên các nguyên tắc phát xuất từ thế giới mà thôi. Sau đây là một vài ví dụ về cách hoạt động của mô hình đó ngày nay.

Như ta đã biết, nhiều tôn giáo phân biệt đối xử với phụ nữ. Kinh sách của họ bảo rằng Thượng Đế mặc định phụ nữ là người giúp việc cho đàn ông và không bao giờ có thẩm quyền gì với đàn ông cả. Trong các xã hội thế tục thì việc phân biệt đối xử với phụ nữ bị xem là sai trái về đạo đức; trong một số trường hợp, việc đó còn là một tội ác và có thể dẫn đến việc hầu tòa. Tuy nhiên, với nguyên tắc thế tục đã đề ra để tôn giáo được làm việc riêng của họ trong phạm vi cộng đồng họ, bên nhà nước thường ngoảnh mặt làm ngơ trước các thực hành tín ngưỡng nội bộ vốn bị xem là tội ác ngoài xã hội.

Một ví dụ khác liên quan đến đồng tánh luyến ái. Các kinh sách tôn giáo cũng không tán thành chuyện đó. Với họ, tình dục đồng tính luôn là một tội và bạn có thể bị xử tử vì tội đó. Tuy vậy, với hầu hết các xã hội thế tục hiện đại, việc xử tử người đồng tính lại chính là một tội ác. Người đồng tính hiện nay đã có các quyền tương tự như người dị tính, bao gồm cả quyền kết hôn tại nhiều quốc gia. Vậy nhưng nhà nước thế tục vẫn làm ngơ trước nạn phân biệt đối xử với người đồng tính vốn còn hiện hữu trong nhiều cộng đồng tín ngưỡng.

Trong lúc nhà nước thế tục phớt lờ nạn phân biệt giới tính và kỳ thị người đồng tính của các cộng đồng tín ngưỡng, nhiều công dân lại rất chú ý đến hiện trạng đó và không bằng lòng với nó. Bởi vì bên cạnh sự trỗi dậy của nhà nước thế tục, thời Khai sáng còn cho ra đời tâm thức thế tục, tức là một lối tư duy về cuộc sống không tham chiếu đến Thượng Đế và các quan điểm của Ngài về cách vận hành thế giới. Tâm thức thế tục không chỉ phản đối việc áp dụng các nguyên tắc của tôn giáo vào cuộc sống của mình. Họ còn kinh hoảng trước tác động của tôn giáo đến đời sống của người khác. Họ chống đối những ai phân biệt đối xử với phụ nữ và người đồng tính dựa theo các sách thánh từ cuối thời kỳ Đồ Đồng. Sự nổi lên của tâm thức thế tục đã dẫn đến quá trình xói mòn từng chút một của thẩm quyền tôn giáo ở phương Tây. Kết quả là Kitô giáo, một tín nguõng đã thống trị châu Âu qua hàng thế kỷ, đã roi vào một đợt thoái trào mà đến giờ vẫn chưa có dấu hiệu sẽ dừng lại.

Sự suy thoái đó khiến nhiều người buồn bã, kể cả những người đã ngưng không thực hành tôn giáo nữa. Họ biết rằng Giáo hội đã phát sinh nhiều thói hư tật xấu trong hành trình dài qua dòng lịch sử; nhưng họ cũng ghi nhận những phẩm hạnh tốt đẹp của Giáo hội. Giáo hội ấy đã là người bạn cũng như một kẻ thù địch của nhân loại, một người chữa lành cũng như là một kẻ gây thống khổ. Nhưng bản chất con người là ghét sự rỗng không. Thế nên khoảng trống để lại sau khi Kitô giáo phai nhạt dần ở phương Tây đã thúc đẩy sự hình thành một phong trào gọi là chủ nghĩa nhân đạo thế tục. Phong trào đó không thỏa mãn định nghĩa về một tôn giáo, nhưng vì nó vay mượn một số quan điểm tốt lành nhất của tôn giáo nên ta hây tìm hiểu một chút về nó để kết thúc dòng lịch sử này.

Đúng như tên gọi của họ, các nhà nhân đạo thế tục cố gắng giúp mọi người có được cuộc sống tốt, không phải bằng các phép tắc do tôn giáo áp đặt mà bằng các nguyên lý do tự con người tìm hiểu ra. Các nhà nhân đạo tin rằng loài người đã trưởng thành và nên biết chịu trách nhiệm cho chính mình. Khi còn nhỏ thì loài người được tôn giáo, hay Đấng Tối Cao, răn bảo nên làm gì và không nên làm gì. Và nhiều hướng dẫn khiến ta sửng sốt. Buôn bán nô lệ, đàn áp phụ nữ, ném đá người đồng tính, ép buộc cải đạo và trừng phạt người khác vì họ có niềm tin sai lầm? Loài người có thể làm tốt hơn thế! Cũng là con người, chúng ta ở vị thế thuận lợi nhất để biết cái gì là tốt cho nhân loại. Sự khoan dung là tốt. Sự bức hại lẫn nhau là xấu. Tử tế là tốt. Tàn bạo là xấu. Bạn đâu phải tin vào Đấng Tối Cao thì mới thấy được điều đó. Bạn đâu cần tôn giáo bảo bạn rằng phải yêu thương những người lân cận và đối xử với họ như cách bạn muốn người khác đối xử với mình mới là đúng đắn.

Các nhà nhân đạo thế tục vui lòng bắt tay với bất cứ nhóm nào muốn làm cho thế giới này trở thành một nơi tốt đẹp hơn, kể cả các nhóm tín ngưỡng tôn giáo. Thậm chí họ còn sẵn sàng vay mượn một số ý tưởng của tôn giáo. Họ ý thức được rằng sự xuống dốc của tôn giáo cũng làm mất đi những điều tốt đẹp gắn liền với nó, thế nên họ làm hết sức để phục hồi lại một số điều tốt ấy và áp dụng chúng theo một cách nhân văn. Tôn giáo làm tốt việc đánh dấu các bước chuyển biến lớn lao trong cuộc đời con người, như là sinh ra, kết hôn, chết đi. Tôn giáo có các nghi thức cho những dịp như vậy. Rắc rối ở chỗ các nghi thức đó thường gắn với thế giới thần thánh, cái mà các nhà nhân đạo không tin. Các em bé phải được rửa tội. Các cặp đôi được dặn phải kết hôn và sống trọn đời, dù họ có thích hay không. Còn ai qua đời cũng sẽ đi tiếp sang một cuộc đời khác. Các nhà nhân đạo không tin vào các thứ đó.

Vậy là họ tự làm ra các nghi lễ riêng. Và nhà nước thế tục cấp phép để họ được cử hành các nghi lễ đó. Các vị chủ lễ theo chủ nghĩa nhân đạo ở Scotland giờ đây cử hành số lượng lễ cưới nhiều tương đương với các mục sư Kitô. Họ cũng chủ trì các lễ tang. Họ tiến hành lễ đặt tên cho các em bé sơ sinh. Họ dần thành thục việc sắp đặt các nghi lễ này tùy theo nhu cầu cụ thể của những người yêu cầu dịch vụ. Một vị chủ lễ theo chủ nghĩa nhân đạo có thể giúp bạn đưa các giá trị và sở thích của riêng bạn vào buổi lễ, qua đó giúp tăng ý nghĩa cá nhân của sự kiện. Họ có thể đem một kiểu tâm linh khác cho những khoảnh khắc của cuộc đời vốn từng nằm trong vòng độc quyền của các tôn giáo truyền thống. Tâm linh thế tục tìm ý nghĩa và vẻ đẹp trong chính cuộc đời này. Đây là cuộc đời duy nhất mà ta từng có, do đó ta nên biết ơn cuộc đời và sống một cách tốt đẹp.

Đó không phải là điều duy nhất mà các nhà nhân đạo thế tục vay mượn từ bên tôn giáo. Họ cũng ngưỡng mộ cách các giáo dân tập hợp lại để thờ phượng và có trải nghiệm ở bên nhau. Họ kết nối và sẵn lòng hỗ trợ những người mà nếu không có một dịp như thế họ cũng chẳng bao giờ gặp. Các dịp đi lễ hằng tuần là một cơ hội để nghiêm túc nhìn nhận lại cuộc đời bạn đang sống. Và có thể qua đó bạn quyết định thay đổi. Các nhà nhân đạo thế tục thấy được giá trị của điều đó. Vậy là họ tạo ra các buổi hội hợp vào mỗi Chủ nhật của riêng họ. Đôi khi người ta gọi đó là “lễ nhà thờ của dân vô thần”. Họ gặp gỡ để chiêm nghiệm và ca tụng. Họ lắng nghe các bài giảng và bài nói chuyện thế tục. Họ ca hát. Họ dành ra nhiều khoảnh khắc để lặng yên và suy niệm. Đó là một thứ tôn giáo phi siêu nhiên: tôn giáo con người.

Còn quá sớm để dự đoán liệu phong trào nhân đạo kiểu đó sẽ tồn tại và phát triển hay sẽ phai nhạt và biến mất. Các nỗ lực xây dựng tôn giáo thế tục từng được thử nghiệm trước đây nhưng cũng biến mất sau một thời gian ngắn. Các nhà phê bình luôn xem họ như những kẻ đang uống bia không có cồn hay cà phê không caffeine. Làm vậy để được gì?

Đối với những người có đầu óc thế tục thì tất cả những điều trên đã chứng minh được sức hấp dẫn cũng như khó khăn của tôn giáo. Họ có thể khâm phục nhiều thứ tôn giáo đã làm được, nhưng họ không thể chấp nhận các tín điều siêu nhiên mà tôn giáo dựa vào lâu hơn nữa. Họ nghi ngờ các loại thẩm quyền được tuyên xưng là ở cao hơn nỗ lực cải thiện bản thân của con người. Họ nhận ra tôn giáo chậm thích nghi với các biến đổi tốt đẹp trong hành vi của con người, cũng như chậm chấp nhận các kết quả của tri thức mới như thế nào. Tôn giáo còn cách rất xa tinh thần dám biết cái mới mà thường thích đeo bám vào cái cũ.

Như ta đã quan sát, tôn giáo như một cái đe từng làm hao mòn biết bao cây búa. Có thể lần này tôn giáo sẽ vượt qua được phong trào nhân đạo thế tục. Dù ngày nay tôn giáo ở nhiều nơi đang đà suy giảm, nó vẫn là một “cuộc trình diễn” lớn nhất trên Trái đất và nó đang diễn ra ngay tại một đền đài hay nơi thờphụng gần bạn. Có mua vé vào hay không hoàn toàn là tùy thuộc ở bạn.

Notes

[←1]

Kitô giáo, hay Cơ Đốc giáo theo phiên âm Hán Việt, tương ứng với từ tiếng Anh là Christianity, bao gồm các nhánh chính là Công giáo La Mã, Tin Lành, Chính thống giáo Đông phương, Anh giáo, ở Việt Nam, Thiên Chúa giáo thường được dùng để chỉ Kitô giáo hay riêng Công giáo, tuy nhiên trong sách này sẽ không dùng cách gọi như thế, vì Thiên Chúa giáo có thể chỉ chung cả Kitô giáo, Do Thái giáo và Hồi giáo, tức là các tôn giáo khởi nguồn từ Abraham và cùng thờ Thiên Chúa. (Các chú thích trong sách đều của người dịch.)

[←2]

Giê xu là homoiousios, gốc từ Hy Lạp nghĩa là “tương tự về bản chất”, hay ông là homoousios, “cùng một bản chất” so với Thiên Chúa? Hai từ đó chỉ khác nhau chữ i hay itota, thế nên câu hỏi ngắn gọn là: có chữ iota hay là không?

[←3]

Hồi giáo là tên gọi phổ biến trong tiếng Việt. Vì chữ “Hồi” có xuất xứ chỉ một chủng tộc chứ không phải là dịch nghĩa từ chữ trong tiếng Ả Rập nên có quan điểm cho rằng gọi theo tên tiếng Anh là đạo Islam sẽ chính xác hơn. Cả hai cách Hồi giáo hay Islam giáo cùng nghĩa với nhau và được dùng thay phiên trong sách này.

[←4]

Có hai nghĩa: một là thuộc về Hồi giáo, hai là người thực hành Hồi giáo, tín đồ Hồi giáo.

[←5]

Trước đây còn được gọi là đạo Thệ Phản, xuất phát từ tiếng Trung là Thệ phản giáo (誓反教), nghĩa là quyết chống lại hay làm trái lại. Như vậy, từ Thệ Phản sát với từ nguyên (Protestanim) và bối cảnh hơn, nhưng nay lại ít dùng và thay vào đó bằng tên gọi Tin Lành.

[←6]

Theo bản dịch Kinh Thánh của Nhóm phiên dịch Các giờ kinh phụng vụ, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 1993.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.