Mưu Trí Thời Lưỡng Tống - Chương 01

I. TRƯỚC NAM SAU BẮC, THỐNG NHẤT THIÊN HẠ

Sau khi Đại Đường vương triều bị diệt vong, xã hội Trung Quốc bước vào giai đoạn hỗn loạn của thời Ngũ đại với sự tồn tại song song của mười nước lớn nhỏ. Công nguyên năm 960, Triệu Khuông Dận nhân lúc vương Chu tuổi nhỏ, lại có thế lực vùng Bắc Hán đang phát binh tấn công nhà Chu, bèn phát động binh biến Trần Kiều, lập nên vương triều đại Tống.

Lúc bấy giờ Triệu Khuông Dận phải đối mặt với vô vàn khó khăn của nạn chư hầu cát cứ. Sau khi định xong sách lược thống nhất Trung Quốc là tiền Nam, hậu Bắc, việc đầu tiên là ông phát động trọng điểm chiến tranh ở các nước chư hầu vùng Giạng Nam. Đây là nơi đất rộng, người đông, sản vật, tài nguyên phong phú. Bằng việc áp dụng phương pháp phân hóa kẻ thù, gây mâu thuẫn tấn công từng mục tiêu một, mượn tay địch giết địch, giao kết hòa hoãn với thế lực ở xa, tấn công kẻ thù ở gần, Triệu Khuông Dận tổng cộng đã tiêu diệt dược hàng loạt chư hầu như hậu Thục, Nam Hán, Nam Đường v.v… Đến năm công nguyên 979 nhà Tống tiêu diệt Bắc Hán, Trung Quốc thống nhất giang sơn.

Trong thời kỳ Triệu Khuông Dận thống nhất Trung Quốc, để củng cô quyền hành của.mình, ông đã thực thi hàng loạt biện pháp quan trọng. Đó là sách lược dùng ân huệ và uy quyền để thống trị, cắt giảm bót quyền hành của tương quân, cải cách quân đội và cơ cấu quan lại nhà nươc, độc chiếm quyền lực, phân cách các quan lại, tập trung đại quyền cả quốc gia và quân đội trong tay mình, xây dựng một vương triều phong kiến trung ương tập quyền hết sức bèn vững. Tất cả phương cách, cơ mưu của Triệu Khuông Dận đều có ý nghĩa gọi mở, soi rọi cho các nhà doanh nghiệp trong việc quản lý, kinh doanh của mình.

1. Binh quý thần tốc.

Lấy nhanh giành thắng lợi

Sau khi vương triều Đại Đường bị tiêu diệt, xã hội Trung Quốc bước vào thời kỳ Ngũ Đại hỗn loạn. Ngũ Đại là chỉ Hậu Lương, Hậu Đường, Hậu Tấn, Hậu Chu, Hậu Hán. Đây là năm triều đại xây dựng lần lượt ở lưu vực Hoàng Hà. Còn mười quốc gia lúc ấy là chỉ Ngô, Nam Đường, Ngô Việt, Sở, Mân, Nam Bình, Tiền Thục, Hậu Thục, Nam Hán, Bắc Hán. Trong số mười nước này có vài nước nằm ở lưu vực Hoàng Hà, lấy phía Nam làm địa vực, chỉ có Bắc Hán là ở vùng Sơn Tây ngày nay.

Vùng đất Trung Nguyên thời kỳ Ngũ Đại, đã nhiều lần trở thành bãi chiến trường.

Công nguyên năm 956, Hậu Chu Vương chủ là Chu Thế Tông thân chinh đem quân tấn công vùng Hoài Nam. Hoài Nam là đất của Nam Đường chủ Lý Cảnh. Người nhận chức tiên phong trong cuộc chiến này là Triệu Khuông Dận.

Triệu Khuông Dận sinh vào năm công nguyên 927, tổ phụ là người Trác Châu, gia tộc nhiều đời làm tướng. Sau khi trưởng hành, ông cáo biệt gia đình, đầu quân dưới trướng của mật sứ Hậu Hán tên là Trịnh Uy. Ông luôn tỏ ra mình là người dũng cảm, đa mưu túc kế, nên rất được Trịnh Uy trọng dụng. Năm 951 Trịnh Uy đoạt quyền của Hậu Hán, đổi quốc hiệu thành Hậu Chu, chức vị tướng quân của ông cũng được thăng tiến. Ông trở thành một vị quan có nhiều quyền hành trong đội cấm quân. Sau khi Chu Thế Tông lên ngôi, ông và Trương Vĩnh Đức cùng nắm giữ chức chỉ huy cấm quân.

Triệu Khuông Dận dẫn đầu đội quân tinh nhuệ, thẳng tiến về vùng Hoài Nam của Lý cảnh. Lúc đầu quân đội của ông đánh bại quân Nam Đường ở Oa Khẩu. Nam Đường kinh sợ vội lệnh cho tiết độ sứ Hoàng Phủ Huy, Diêu Phong dẫn 100.000 quân chặn ở Thanh Lưu, cản đường tiến công của quân Triệu Khuông Dận.

Cửa ải Thanh Lưu nằm ở phía tây nam của Trừ Châu, địa hình hiểm trở, trập trùng. Hơn 10 vạn quân của Hoàng Phủ Huy và Diêu Phong cố thủ bên trong, khiến cho trận thế càng thêm khó khăn. Dù có binh hùng, tướng mạnh thì cũng khó mà đánh chiếm được. Khi tin này được báo về, Chu Thế Tông tỏ vẻ lo ngại, bối rối. Lúc đó Triệu Khuông Dận đứng lên tâu rằng: “Xin cho thần đi đánh trận này, đoạt thành Thanh Lưu”. Chu Thế Tông liền đáp: “Khanh tuy dũng cảm, phi phàm, túc kế đa mưu, nhưng cửa ải Thanh Lưu vô cùng kiên cố, khanh định dùng cách gì?” Triệu Khuông Dận đáp: “Binh quý ở chỗ thần tốc, bất ngờ xuất binh, tấn công nhanh, đánh cho địch không kịp trở tay thì sẽ lấy được cửa ải này”. Nghe vậy Chu Thế Tông rất hài lòng nói: “Đây cũng là kế mà ta đang nghĩ, không ngờ suy nghĩ của khanh lại giống ta đến vậy. Ta nghĩ chỉ cần khanh xuất binh tất sẽ cầm chắc phần thắng. Vậy khanh hãy mau lên đường, ta đợi tin thắng trận của khanh”… Triệu Khuông Dận vâng lệnh, chọn ra hai vạn binh mã, ngay đêm ấy phi về phía cửa ải Thanh Lưu, đến gần sáng thì tới nơi. Rồi ông hạ lệnh cho binh sĩ lập vòng vây khép kín bên ngoài cửa ải. Quân lính trấn giữ bên trong cửa ải vẫn ngủ say, mãi đến khi gà gáy canh ba, mặt trời nhô cao mới tỉnh giấc. Quân trinh thám vừa mở của thành ra ngoài dò la thì bất thần một vị tướng xông vào vung gươm chém liên tiếp, cùng lúc đó quân Chu ở ngoài ào vào như bầy ong vỡ tổ, đâm ngang, chém dọc. Bọn lính trấn thủ thất kinh, hồn bay phách lạc, không dám chống cự, mạnh ai lấy chạy. Lúc đó Hoàng Phủ Huy và Diêu Phong mới tỉnh giấc, sợ hãi phi lên mình ngụa, tìm đường thoát ra Trừ Trâu. Tiếc là đại binh hơn 100.000 đã bị gươm sắt, rìu to của Triệu Khuông Dận tiêu diệt quá nửa, số còn lại vội vàng theo chủ bỏ trốn vào thành, cửa ải Thanh Lưu đã bị kế đánh nhanh, thắng nhanh của Triệu Khuông Dận chiếm gọn.

“Binh quý thần tốc” chính là câu nói nổi tiếng trong tư tưởng mưu lược Trung Quốc cổ đại. Trong lĩnh vực thương mại, kinh tế ngày nay tư tưởng này cũng dược vận dụng rộng rãi. Thời gian là tiền bạc, là vận mệnh. Coi trọng tốc độ, coi trọng hiệu quả, lấy nhanh làm vũ khí chiến thắng chính là kinh nghiệm thành công mà bất kỳ doanh nghiệp lớn nào trên thế giới cũng phải học tập, tích lũy.

Phương ngôn hành động của bậc đại phú gia nước Mỹ tên Hamo là “Sớm nắm lấy cơ hội, thừa thế xông lên, tất sẽ thành công”. Trên thị trương cạnh tranh Hamo luôn đứng ở vị trí số một. Ông luôn luôn nắm bắt các cơ hội, chuyển đổi ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh theo các cơ hội đó. Có thể kể ra hàng loạt lĩnh vực kinh doanh của ông: Thuốc, sợi, đá thạch niên, ngân hàng, của hàng bách hóa, rượu…

Một lần ngẫu nhiên dạo phố ở nước Liên Xô cũ, ông vào cửa hàng mua một một chiếc bút chì Đức. Ông kinh ngạc khi thấy giá của nó cao gấp mười lần ở Mỹ. Trên mảnh đất Liên Xô màu mỡ này mà phải nhập chiếc bút chì của Đức với giá cắt cổ, điều đó chứng tỏ ngành công nghiệp chế tạo bút có lẽ rất lạc hậu. Sau khi tìm hiểu, quả đúng như dự đoán, ở Liên Xô lúc bấy giờ chỉ có duy nhất một nhà máy sản xuất bút chì, chất lượng kém, sản lượng thấp không thể nào đáp ứng nhu cầu của thị trường. Liên Xô lúc đó có hơn 0,1 tỷ dân, chính phủ hiệu triệu công nông và quần chúng bổ túc văn hóa, do vậy nhu cầu về bút chì rất lớn.

Sau khi thấu suốt vấn đề, Hamo quyết định mở một nhà máy sản xuất bút chì tại Liên Xô. Ông chính thức đề nghị chính phủ Liên Xô cấp giấy phép và lập tức được phê chuẩn. Hamo thật không hổ danh là “kẻ đi trước thời đại”, sau khi có giấy phép ông lập tức thực hiện kê hoạch sản xuất chớp nhoáng với ba bước. Thứ nhất, nhanh chóng mời một chuyên gia kỹ thuật từ Đức sang, ủy thác cho ông ta mọi quyền về chỉ đạo sản xuất, kiểm tra kỹ thuật. Thứ hai, bằng mọi cách nhanh nhất có thể vận chuyển máy, thiết bị sản xuất từ Anh sang. Thứ ba, gấp rút định vị địa điểm sản xuất. Trải qua một loạt nỗ lực, nhà máy của ông đã nhanh chóng đi vào hoạt động, sản phẩm của công ty ông chất lượng tốt, giá cả phải chăng, rất được người tiêu dùng Liên Xô hoan nghênh, đánh bật cả loại bút của Đức.

Tục ngữ có câu: “Đầu xuôi đuôi lọt”. Việc Hamo thành công trong việc nhanh chóng tận dụng thời cơ cho chúng ta thấy rằng: Ai bắt được mạch đập của thị trường, tiên phong đi đầu thì người đó sẽ nắm quyền chủ động, nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường, giành được nguồn lợi nhuận khổng lồ.

2. Kiên nhẫn và dũng khí.

“Thử lần nữa xem sao”

Quan khai quốc triều Bắc Tống là Triệu Phổ có lòng trung thành, tận tâm với quốc gia, đại sự. Ông làm việc gì cũng nhẫn lại, mềm dẻo, kiên định trăm phần. Kết quả công việc nhờ vậy mà thành công.

Có lần ông khuyên Tống Thái Tổ phong quan cho một nhân tài mà ông tiến cử, nhưng Tống Thái tổ không nghe. Ngày thứ hai ông lại đề xuất ý kiến của mình, Tống Thái tổ vẫn không đồng ý. Ngày thứ ba ông lại dâng tấu tiến cử lên, Tống Thái tổ túc giận giật lấy biểu tấu của ông xé nát rồi ném đi. Triệu Phổ sắc mặt không đổi, quỳ dưới điện nhặt từng mẩu giấy. Vài ngày sau, ông ghép các mẩu giây này thành biểu tấu cũ và lại dâng lên vua, quả nhiên sự bền bỉ của ông đã thuyết phục được Tống Thái tổ.

Lại một lần khác, trong số các đại thần có người xứng đáng được đề bạt, nhưng vì Tống Thái tổ xưa nay vẫn là người không ưa bậc kỳ tài, nên vị quan này mãi mà vẫn chua được phong chúc. Triệu Phổ qúyết tâm giúp đỡ vị quan này. Tống Thái tổ tức giận nói: “Ta quyết không đề bạt, ngươi làm gì được nào?”. Triệu Phể đáp: “Hình phạt là để trừng trị tội ác, ban thưởng là để trả công, đó là đạo lý bất di bất dịch từ cổ chí kim. Bệ hạ làm sao có thể tùy theo sự vui buồn, ý thích cá nhân để mà định đoạt được”. Nghe vậy Tống Thái tổ càng thêm tức giận như đổ thêm dầu vào lửa, đứng bật dậy bỏ đi, Triệu Phổ bèn cất bước theo sau. Tống Thái tổ vào nội cung, ông bèn đứng đợi ở ngoài cửa, không chịu về. Cuối cùng Tống Thái tổ đành phải chấp nhận ý kiến của ông. Rất nhiều lần Triệu Phổ đạt được kết quả trong việc làm của mình. Nguyên nhân chính là ở chỗ ông có tinh thần làm việc kiên định, nhẫn nại.

Trên con đường tạo dụng sự nghiệp, ai cũng phải gặp vô vàn những thất bại. Do đó những doanh nghệp trác việt nên có tinh thần kiên định, không sợ thất bại, gặp khó khăn phải quyết tâm vượt qua, không chịu lùi bước thì mới giành được thắng lợi. Ngược lại, nếu gặp thất bại nhỏ đã ngã lòng, thì mãi mãi không bao giơ tiến lên được.

Trong giới doanh nghiệp của Nhật Bản, tên tuổi của chủ tịch hội đồng công ty quang học Thị Thôn Thanh nổi như còn. Sau khi tốt nghiệp đại học ông bước vào đời với hai bàn tay trắng và trái tim đầy khát vọng. Nhưng lăn lộn hai năm với đủ mọi nghề ông vẫn tay trắng hoàn tay trắng. Lúc đó thị trường việc làm rất khó khăn, người thất nghiệp nhiều vô kể, ông, đi mọi nơi tìm việc làm mà chẳng có kết quả gì. Ông nghĩ, một trang nam nhi mà không tự lực cánh sinh được, phải đi cầu cứu sự giúp đỡ của người khác thì thật là vô dụng. Vạn bất đắc dĩ ông tham gia đội ngũ tiếp thị bảo hiểm - công việc mà ai cũng có thể làm được với mức lương thấp, bấp bênh.

“Anh làm việc này cật lực ba tháng nay mà chẳng kiếm được một hợp đồng nào. Anh nghĩ hay là bỏ công việc này lên Tokyo tìm việc khác”. Với vẻ mặt thất vọng ông bàn với vợ như vậy. Nhìn dáng vẻ đó, vợ ông lắc đầu nói: “Trông anh như một chiến binh bại trận. Như thế này mà đến Tokyo em cảm thấy không an lòng. Em mong anh hãy ở lại và cố gắng một lần nữa xem sao. Nếu lại không có kết quả gì thì đến Tokyo cũng chưa muộn”. Người đàn ông thành đạt bao giờ cũng có người vợ hiền thục đồng hành. Và Thị Thôn Thanh cũng vậy. Lời của vợ làm ông suy nghĩ: ngay đến một nữ nhi cũng không cam chịu thất bại, lùi bước. Là một trang nam nhi mà lại mềm yếu, kém cỏi, đến một hợp đồng cũng không kiếm được, thật đáng hổ thẹn. Ngày hôm sau, cùng với quyết tâm thử sức một lần nữa, ông tìm đến nhà hiệu trưởng trường tiểu học. Sau vài phút ngập ngùng, ông cũng mạnh dạn bấm chương. Và lần này thì trời không phụ người có công. Vị hiệu trưởng đồng ý mua bảo hiểm cho ông.

Sau này ông viết lại trong hồi ký rằng: Lúc đó tôi không dám bấm chương là bởi tôi đã tới nhà vị hiệu trưởng này bảy lần rồi. Tôi sợ lại bị từ chối; do đó suýt nữa mất hết dũng khí. Nhưng tôi không hiểu sao lần đó vị hiệu trưởng kia lại đồng ý mua bảo hiểm nhân thọ cho tôi. Và nếu không có lần đó, chắc là tôi đã trở thành con người vô dụng, đánh mất hoàn toàn niềm tin. Từ đó có thể thấy, tinh thần và ý chí quyết thử sức một một lần nữa quả là có tác dụng lớn. Lần thành công này đã khích lệ Thị Thôn Thanh rất nhiều. Ba tháng sau đó ông được xếp vào hàng các nhân viên có nhiều thành tích nhất khu cửu Châu. Sau đó ông được đề bạt làm lãnh đạo. Thời kỳ đó ông quen chủ tịch của công ty quang học lúc bấy giơ tên là Đại Hà. Đại Hà rất mến năng lực cũng như quan điểm sống của ông, bèn mời ông về làm trợ lý cho mình. Trong hồi ký của mình, Thị Thôn Thanh viết: “không tiền bạc, không địa vị, tôi chỉ có tấm thân và tài sản duy nhất là ý chí phấn đấu”. Ái Mạc Sinh nói: “Trong mỗi một sự bất lợi đột biến nào cũng ẩn chứa một hạt giống của sự thành công và may mắn”. Do đó các doanh nghiệp nên có tố chất tinh thần không sợ thất bại cũng như tinh thần kiên định không lùi bước trước khó khăn, có can đảm lội ngược dòng, như vậy mới có thể chuyên bại thành thắng, đi tới đích thành công.

3. Thứ nhất là nhân tài

Sau khi kế vị ngại vàng, Tống Thái Tông tiếp tục mở rộng chiến tranh nhằm thống nhất Trung Quốc. Diệt xong hai nước Ngô, Việt, vua Tống thân chinh cầm quân tiến đánh và bao vây đô thành Thái Nguyên của Bắc Hán. Quốc vương của Bắc Hán là Lưu Kế Nguyên thấy quân đội nhà Tống vây bủa trùng trùng, điệp điệp bèn cho người đi cầu cứu Liêu Chúa. Nhận được thư xin viện binh, Liêu Chúa lập tức hạ lệnh cho Da Luật Sa làm Đô thống, Địch Liệt làm Giám quân dẫn quân lính tinh nhuệ lên đường chi viện. Nhưng suốt cả một dải Bạch Mã Phong đã bị quân Tống chiếm giữ, do đó quân chi viện bị chia cắt, đường lương thực bị cắt đứt. Quân Bắc Hán ở vào thế sức cùng lực kiệt, lương thực cạn kiệt. Lưu Kế Nguyên hoàn toàn tuyệt vọng.

Quân Tống tiếp tục tấn công thành, đúng lúc cửa thành sắp bị phá, quân Tống đột nhiên hỗn loạn, chỉ trông thấy hai vị tướng quân dẫn đầu một đoàn binh mã mạnh mẽ như hùm sói tả xung hữu đột khiến cho quân Tống táo tác bỏ chạy. Thì ra đó là đội quân kiêu hùng của cha con Tiết độ sứ Bắc Hán tên là Lưu Kế Nghiệp. Lưu Kế Nghiệp nhận được thư triệu của Lưu Kế Nguyên, biết thành Thái Nguyên đang nguy cấp bèn cùng con là Lưu Diên Lang đem quân về cứu viện. Thấy vậy Lưu Kế Nguyên vô cùng mừng rỡ nói với tả hữu: “Cha con Lưu Kế Nghiệp về cứu viện thì ta còn hy vọng sống rồi” và hạ lệnh mở cửa thành đón tiếp. Sau khi tham kiến Lưu Kế Nguyên, cha con Lưu Kế Nghiệp lĩnh binh tham ra trấn giữ cổng thành. Quân Bắc Hán thấy vậy tăng niềm tin tưởng, khí thế lên cao gấp bội.

Quân Tông thấy quân Bắc Hán có viện binh của Lưu Kế Nghiệp đến bèn báo lên Tống Thái Tông. Nghe xong Tống Thái Tông nảy ra kế chiêu hàng hai cha con họ Lưu, bởi lẽ từ lâu tiếng tăm của hai cha con này đã lưu truyền khắp nơi. Ông nói với bộ hạ của mình: “Đây là hai vị tướng trung dũng, ta rất muốn thu phục họ. Vậy khi công thành ngươi phải thuyết phục và không được làm thương họ”. Bộ hạ của Tống Thái Tông đáp: “Nhất định bệ hạ sẽ có được hai dũng tướng hiền lương, tài giỏi này”.

Thế là Tống Thái Tông truyền lệnh dốc toàn lực công thành. Bản thân ông cũng trực tiếp chỉ huy kỵ binh xung trận. Khí thế của quân Tống mạnh như vũ bão, nhiều đoạn tường thành bị phá đổ. Nhưng đúng lúc quân Tống chuẩn bị xông vào thì Lưu Kế Nghiệp đã cho binh sĩ chuẩn bị sẵn tên nỏ. Hàng vạn mũi tên bắn ra như mưa khiến quân Tống không làm cách nào mà tiến vào được. Đại tướng triều Tống là Phụ Triệu tức giận bèn tự mình cầm đao, trèo thang liều chết vào thành. Lưu Kế Nghiệp thấy vậy bèn lệnh cho lính dùng gươm dài đâm, Phụ Triệu bị thương đành rút lui.

Tống Thái Tông thấy Lưu Kế Nghiệp vô cùng tận trung, anh dũng thiện chiến, trong lòng càng mến mộ. Đồng thời ông cũng biết rằng với một vị tướng như vậy, nếu tiếp tục khiêu chiến quân Tống sẽ bị tổn hại lớn. Thế là ông đổi chiến lược, lệnh cho quân Tống tạm ngừng công thành, đích thân viết thư cho Lưu Kế Nguyên khuyên ông ta quy thuận và sẽ bảo đảm giữ nguyên sự phú quý, tính mạng cho ông ta. Thư viết xong sai người dùng cung bắn vào trong thành.

Nhận được thư, Lưu Kế Nguyên cũng lung lạc tinh thần. Sau đó thấy các tướng lĩnh dưới trướng chỉ huy quân đội là Quách Vạn Triệu và một số đại thần đầu hàng, tinh thần binh lính hoang mang nên ông cũng quyết định đầu hàng. Tuy rằng Lưu Kế Nghiệp vẫn một lòng kiên trung giữ thành nhưng cục thế đã thay đổi.

Sau khi Lưu Kế Nguyên đầu hàng, vua Tống ra lệnh công thành, nhưng khi quân Tống vừa đến của thành, Lưu Kế Nghiệp đã quát to: “Không được vào, chủ nhân của ta đầu hàng, nhưng ta thà chết cũng liều giữ thành, quyết cùng các ngươi sống mái một phen. Ngươi sống ta chết, ta sống ngươi chết”. Thấy vậy, tướng quân của nhà Tống bèn bẩm lên Tống Thái Tông. Thái Tông xa giá tới cổng thành hạ lệnh cho Lưu Kế Nguyên một mình vào thành và bằng mọi cách phải khuyên được Lưu Kế Nghiệp đầu hàng, đồng thời hạ lệnh cho binh lính chưa được lệnh chưa được tấn công. Dưới sự thuyết phục của Lưu Kế Nguyên, Lưu Kế Nghiệp tới trước xa giá của vua Tống xin được quy phục. Vua Tống mừng rỡ xuống xe đỡ ông dậy, lại phong làm Hữu lĩnh quân Vệ đại tướng quân, đồng thời đem đai ngọc ban tặng.

Lưu Kế Nghiệp vốn là dân của Thái Nguyên, họ Dương, tên là Lưu. Dưới thời Lưu Sùng, vì ông trung dũng, lập được nhiều công nên được ban họ Lưu, thay tên là Lưu Nghiệp. Vua Tống lệnh cho ông được phục hồi tên họ cũ là Dương Nghiệp.

Sau khi quy thuận, Dương Nghiệp được vua Tống vô cùng sủng ái. Cảm kích trước điều đó, Dương Nghiệp hết lòng tận trung với triều Tống. Trong trận chiến trên sông Cao Lương, quân Tống bị quân Liêu đánh cho đại bại. Vua Tống cướp đường mà chạy, cả người lẫn ngựa sa vào giữa đầm lầy. Trong lúc vạn phần nguy khốn không còn đường chạy, đúng lúc đó Dương Nghiệp dẫn cứu binh tới, tả xung hữu đột, giải vây, cứu vua Tống đánh bại tướng quân nước Liêu là Gia Luật Hưu Ca - vốn là ngươi anh em chiến hữu trước đây. Về sau trong số các trận chiến Dương Nghiệp đều là vị cứu tinh cho quân Tống. Quân Liêu mỗi lần trông thấy ông đều kinh hồn bạt vía và phong cho ông biệt hiệu “Dương vô địch”. Vua Tống thì rất mãn nguyện nói trước quần thần trong triều: “Trẫm có được tướng Dương Nghiệp thì chẳng còn phải lo gì nữa”.

Trong lịch sử, những vị hoàng đế kiệt xuất thường là những người biết tập trung, lợi dụng nhân tài trong thiên hạ để phục vụ cho triều chính của mình. Tống Thái Tông cũng vậy. Điều này rất đáng để cho những người làm thương mại chúng ta học tập. Kẻ biết đùng người tài mới là bậc thầy của kẻ tài. Nhưng có không ít doanh nghiệp không hiểu được điều này, họ cản trở, thậm trí không sử dụng nhân tài. Nếu muốn phát triển sự nghiệp, bạn nhất định phải chú trọng nhân tài, tập trung xung quanh mình những người có năng lực kiệt xuất, ý chí kiên cường. Ông chủ công ty xe hơi Ford Hoa Kỳ đã để lại một giai thoại trong việc dùng người.

Năm 1923, một động cơ phát điện của chiếc xe cỡ lớn mà công ty vừa lắp ráp xong không vận hành được. Mấy nhân viên kỹ thuật được mời đến đều bó tay. Toàn bộ kế hoạch sản xuất bị ảnh hưởng, cả công ty đều cuống lên. Lúc đó trợ lý của ông cho biết hiện có một chuyên gia về động cơ điện người Đức tên là Stermans. Ông vội cho mời anh ta tới. Anh bỏ hết mọi phụ tải của máy và ghé sát máy nghe ngóng hồi lâu, sau đó cầm một viên phấn đánh dấu vào trụ dài ở bên phải của máy và quay sang Ford nói: “Vấn đề là ở chỗ này, bỏ đi mười sáu vòng cuốn thừa ở đây thì máy sẽ chạy”. Quả nhiên, sau khi sửa, động cơ điện vận hành bình thường. Lúc này Stermans đòi một khoản thù lao là một vạn đô. Mọi người kinh ngạc và cho đó là sự đòi hỏi phi lý, không đồng ý. Stermans cười nói: “Viên phấn dùng để vẽ một vồng trị giá 1USD, nhưng vẽ ở chỗ nào thì trị giá 99.999 USD”. Ford đồng ý, ngoài ra ông còn mới anh ta đến làm ở công ty với mức lương cao. Không ngờ anh ta từ chối và nói: “Hiện tôi đang làm việc cho một công ty nhỏ. Công ty này đã cưu mang tôi trong lúc tôi khó khăn nhất. Vì vậy tôi không thể bỏ đi được”. Ford càng nghe càng thấy mến mộ người kỹ thuật vừa có tài vừa có đức này và quyết tâm thu dùng anh ta.

Ford là một bậc đại tài trong việc thu phục nhân tài. Ông quyết định mua lại công ty mà Stermans đang làm việc và vì vậy mà có được anh ta. Sự trọng dụng nhân tài của ông được lưu truyền khắp nơi và nhân tài cũng từ khắp nơi đổ tới công ty ông, nhờ đó mà công ty thịnh vượng phát tài.

Lâm Triệu Lương, nhà quản lý của công ty thực nghiệp Indonesia cũng là người rất trọng và yêu nhân tài. Ông không tiếc tiền và sự ưu đãi để thu phục người có tài vào làm trong công ty mình. Sự hợp tác giữa ông và quản lý ngân hàng Indo là Lý Văn Chính thể hiện rõ điều này.

Năm 1972, trên chuyến bay sang Hong Kong ông gặp Lý Văn Chính. Lúc này Lý Văn Chính đã nổi danh trong thương trường. Sau khi tìm hiểu, ông quyết định mời Lý Văn Chính về tham gia với công ty “Ngân hàng trung ương Á Tế Á” và cho ông 17,5% cổ phần.

Lúc đó ngân hàng trung ương Á Tế Á so với ngân hàng Phiếm Ân chỉ là một ngân hàng rất nhỏ. Tài sản của nó lớn hơn 33 lần, các khoản gửi tín dụng của nó nhiều hơn 100 lần của ngân hàng Á Tế Á. Thế mà với sự góp sức của nhân tài Lý Văn Chính, chỉ sau vài năm, ngân hàng này không chỉ phát triển cực mạnh mà còn trở thành ngân hàng tư nhân lớn nhất Indonesia mà còn mở rộng kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ: thành lập công ty Lực Bảo - bao gồm các ngân hàng thương nghiệp Indonesia, chủ trì công ty trách nhiệm hũu hạn Murdiker, đối tác bao gồm ngân hàng cưa Nhật, Hương cảng, Anh, Mỹ… Sự phát triển và kết quả tốt đẹp này một lần nữa khẳng định sách lược trọng dụng nhân tài vẫn là sách lược hàng đầu.

Báo cáo nội dung xấu