Mưu Trí Thời Lưỡng Tống - Chương 18

69. Mượn “sức” người địa phương

Năm 1128 CN, Kim Thái Tông sai Chiêm Hãn, Thát Lãn thống lĩnh đại quân xuống phía Nam, vì rất nhiều tướng lĩnh Tống triều tham sống sợ chết, liên tiếp bỏ thành chạy thoát thân. Kết quả, quân Kim liên tiếp đánh chiêm các vùng từ Sơn Đông, Hoài Hà về phía Bắc, đồng thời một lần nữa công hãm đô thành Bắc Tống là Biện Kinh, tới lúc này, quân binh đã chiếm lĩnh phần lớn lãnh thổ Trung Nguyên.

Quân Kim sau khi chiếm lĩnh khu vực Trung Nguyên, Kim Thái Tông hiểu rõ, do liên tục nhiều năm chinh chiến, dân tộc mình và dân tộc Hán đã nảy sinh mâu thuẫn đối kháng nặng nề. Với nhân lục, vật lực của nước Kim, không thể nào thống trị được mảnh đất Trung Nguyên rộng lớn mênh mông. Hơn nữa, nước Kim vì nguyên nhân khác phải rút quân về Bắc, do đó, ông ta hạ dụ riêng với Chiêm Hãn và đội quân đi xâm lược phương Nam rằng “cần phải chi viện lập phiên phụ, như cầu chuyện Trương Bang Xương. Đất Trung Nguyên do người Trung Nguyên tự cai trị, như vậy thỏa đáng hon”. “

Hiển nhiên, Kim Thái Tông muốn mượn lực lượng người Hán để đối phó với nước Tống.

Chiêm Hãn sau khi tiếp chỉ, từ trong bọn cựu thần của nước Tống chọn ra Lưu Dự làm hoàng đế bù nhìn khu vực Trung Nguyên.

Lưu Dự từng giữ chức Đề điểm hình ngục Hà Bắc, trước sự hà hiếp của quân Kim, đã bỏ quan chạy nạn tới Chân Châu (nay là Nghi Chinh, Giang Tô). Ông ta vốn muốn chạy trốn thật xa khỏi binh mã người Kim, cầu an nhất thời, không ngờ Tống triều lại phái ông ta tới Tế Nam làm tri phủ. Không biết làm sao được, ông ta đành gắng gượng mà đi nhận chức. Nhận chức không bao lâu, quân Kim đánh vào Tế Nam, Lưu Dự vì bảo toàn tính mạng, đã sai người mở cửa thành, dầu hàng quân Kim.

Lưu Dự sau khi đầu hàng quân Kim, đối với người Kim nhất nhất tuân theo, đồng thời không ngừng đưa hối lộ tặng lễ vật cho bọn Thát Lãn. Vả lại Lưu Dự là người Cảnh Châu Trung Nguyên, người như thế, tự nhiên là hợp khẩu vị của Kim Thái Tông. Thế là, vào tiết Trùng dương năm 1130 CN, Kim Thái Tông sắc phong Lưu Dự làm “Đại Tề hoàng đế”, đô thành đặt tại Đại Danh.

Lưu Dự sau khi làm Hoàng đế, liền thu thập một đám quan sử phản Tống đầu Kim, phong làm đại thần quanh ông ta, dùng Trương Hiếu Thuần làm thừa tướng, Lý Hiếu Dương làm tả thừa, Trương Giản làm hữu thừa. Ông còn chiêu mộ tráng đinh, tổ chức thành bộ đội vũ trang, bọn Lý Thành đều chạy tới đây, trở thành cán tướng đắc lực trong tay ông ta.

Lưu Dự sau khi làm hoàng đế, tự nhiên hết sức nịnh bợ nước Kim, giữ mệnh làm theo, trở thành lực lượng trọng yếu trong chiến tranh với Tống. Mùa đông năm thứ 3 Triệu Hưng, Lưu Dự sai Lý Thành dưới sự giúp đỡ của quân Kim đã đánh chiếm Tương Dương lục châu - Tương Dương, Dĩnh Châu, Tùy Châu (nay là huyện Tùy, Hồ Bắc), Đường Châu (nay là huyện Đường Hà, Hà Nam), Đặng Châu (nay là huyện Đặng, Hà Nam) và Tín Dương.

Trong nhiều năm về sau, Lưu Dự nhiều lần cho xâm phạm Nam Tống, trở thành kẻ tiếp tay đắc lực của nước Kim.

Kim Thái Tông mượn sức Lưu Dự để đối phó nước Tống đã thu được thành công.

Trong hoạt động kinh tế hiện đại, mượn nhân lực, vật lực, để phát triển mình, làm lớn mạnh mình đã thấy nhiều không còn mới mẻ. Công ty Coca Cola là cao thủ vận dụng sách lược này.

Sau khi đại chiến Thế giới lần thứ hai kết thúc, công ty Coca Cola đã đặc biệt sáng tạo ra “Chủ nghĩa tại chỗ”, tức là lợi dụng nhân lực, tài lực, vật lực tại địa phương để khai thác thị trường quốc tế của mình. Phương pháp này đã khai thông con sông đầu tiên về chuyển nhượng kỹ thuật và bán quyền sản xuất trong giới đồ uống, vừa kiếm được tiền cho công ty, tiết kiệm sức, vừa mở rộng tiêu thụ, vả lại còn thỏa mãn được nhu cầu tiêu dùng đối với Coca Cola tại địa phương, lại không làm mất đi bản sắc dân tộc của họ.

Trong thời kỳ Đại chiến Thế giới lần thứ 2, nước Mỹ đã viện trợ rất nhiều tiền của cho nhiều quốc gia chống phát xít, được gọi là “nhà máy của lính dân chủ Thế giới”, vì thế, sau khi chiến tranh kết thúc, địa vị quốc tế của nước Mỹ rất cao, nhất là các sản phẩm với “Made in America” (sản xuất tại Mỹ), điều này đã mang đến cho “Coca Cola” một thị trường rộng lớn vô cùng.

Chủ tịch hội đồng quản trị Weilafu sau khi suy xét kỹ càng, quyết định lập tức thiết lập công ty ở nước ngoài. Tất cả viên chức đều dùng người địa phương, do nước đó tự bỏ vốn xây dựng nhà xưởng, mua thiết bị, cho tới đồ dùng bình thường nhất, như chai, lon, đồng phục đi làm. Tổng công ty Mỹ thống nhất phụ trách kỹ thuật sản xuất quan trọng nhất và phương châm tiêu thụ, đào tạo nhân công, quảng cáo tuyên truyền. Đương nhiên, công thức pha chế nguyên liệu tuyệt đối bảo mật là không thể tiết lộ nửa phân. Do đó, dung dịch nguyên liệu của Coca Cola vẫn phải do Tổng công ty Mỹ cung cấp.

Có lẽ có người sẽ hỏi: Nếu một khi đồ uống do địa phương sản xuất không phù hợp với Coca Cola chính tông thì hình tượng công ty của công ty Coca Cola Mỹ sẽ có tụt xuống nghìn trượng hay không, như vậy chẳng phải là tự vác đá đập chân mình hay sao?

Đứng trước vấn đề này, Weilafu với nhãn quang sâu xa và đầu óc làm ăn thiên tài đã đưa ra câu trả lơi: Kỹ thuật và khống chế chất lượng hoàn toàn do công ty Coca Cola dạy cho người nơi đó, chỉ cần họ nắm vững thì không thành vấn đề. Ông nói: “Người nước ngoài sẽ không sùng bái nước Mỹ mãi mãi, sẽ không mãi mãi mê tín hàng Mỹ. Lòng yêu nước của họ sẽ từ từ tăng lên, sản phẩm tiêu dùng như nước giải khát, nếu không thể sử dụng lực lượng của người địa phương, đứng vững được lâu dài ở nươc ngoài sẽ vô cùng khó khăn, vì vậy, “chủ nghĩa tại chỗ” là biện pháp khả thi duy nhất”.

Để đảm bảo chất lượng và uy tín kinh doanh của nước giải khát, công ty Coca Cola lại đề ra “tiền bảo đảm”, tức là người nước ngoài muốn thành lập công ty chi nhánh sản xuất Coca Cola, cần phải nộp trước cho tổng công ty Coca Cola một khoản tiền bảo đảm tương ứng.

Như vậy, “Coca Cola” “Hương thơm Coca, thú vị bất ngờ tuyệt diệu, tỉnh táo mát mẻ”, ở các nước khác nhau đều đã có người màu da khác nhau sản xuất điều phối.

Công ty Coca Cola Mỹ áp dụng mưu lược này, không hề tiêu tốn một đồng USD, đã mở rộng thị trường quốc tế, và còn kiếm được một khoản tiền lớn.

70. Lòng dạ chân thành, vàng đá cũng phải mở miệng

Hoàng hậu Hình Thị qua đòi, Cao Tông muốn lập Ngô Thị làm hoàng hậu, bèn bàn việc này với mẫu hậu là Vi Thái hậu, Vi Thái hậu tuy không nói gì, nhưng từ sự thể hiện tình cảm có thể thấy Vi Thái hậu không tán đồng lập Ngô Thị làm hoàng hậu.

Vi Thái hậu tại sao lại không tán đồng lập Ngô Thị làm hoàng hậu? vốn khi Ngô Thị vừa mới nhập cung, cùng với Vi Thái hậu hầu hạ bên cạnh Huy Tông, lúc đó, Vi Thị tự thị địa vị cao hơn Ngô Thị, tuổi tác cũng lớn hơn Ngô Thị, vì thế coi thường Ngô Thị, hết sức ngạo mạn vô lễ. Vi Thái hậu sau khi hồi triều, thường nghĩ tới tình cảnh mình ngày trước đối đãi không tốt với Ngô Thị, đối với Ngô Thị hết sức nhỏ nhen, đâm ra sợ không có lợi cho mình. Vì thế, nghe nói muốn lập Ngô Thị làm hoàng hậu, liền biểu hiện thần sắc không vui.

Chưa qua bao lâu, Cao Tông lại lần nữa nói với Vi Thái hậu: “Quý phi của con, công cao đức trọng, có ơn với con, nhiều năm phục thị bên con, săn sóc chu đáo, không hề thấy có gì không tốt. Nay các đại thần liên tiếp khuyên con lập cô ấy làm hậu, con cũng cảm thấy không có gì là không thỏa đáng, chỉ không biết ý mẫu thân thế nào, cho nên, đến thỉnh thị riêng mẫu hậu.

Vi Thái hậu trong lồng không vui, nhưng đại thần khuyên nhủ, hoàng nhi có ý, mình có thể nói gì chứ? Thế là, lạnh nhạt nói: “Việc này, cứ tự hoàng nhi định đoạt thôi!”

Cao Tông thấy Thái hậu không thể hiện thái độ, đành phải gác chuyện này lại.

Ngô quý phi đức hạnh hiền thục, nghe nói Vi Thái hậu có thành kiến với mình, cũng không so đo tính toán. Cô ta nghĩ, mình là con dâu, nên làm cho tròn nghĩa vụ của con dâu đối với mẹ chồng trong khả năng có thể, làm những việc mà một quý phi nên làm, chỉ có như thế, mới có thể làm cho quan hệ mẹ chồng con dâu hòa hợp.

Thế là, cô ta thường xuyên tới thăm Vi Thái hậu, vấn an Vi Thái hậu, luôn chọn ra cái tốt nhất trong những lễ vật trong cung ban tặng cho mình để tặng cho Vi Thái hậu. Vi Thái hậu bệnh ốm, cô ta hàng mấy ngày mấy đêm không chợp mắt, phục thị bên cạnh Thái hậu, sắc thuốc bưng thang, chân thành đối đãi Thái hậu.

Vi Thái hậu thấy Ngô Thị thực sự không để ý tới chuyện trước kia, còn đối đãi với mình tốt như thế, trong lòng hết sức cảm động, bà ta vừa rơi nước mắt vừa kéo tay Ngô Thị nói: “Con không nhớ trước đây ta đối với con không tốt, trung thành phục thị ta như vậy, thật là người tốt hiếm thấy”.

Ngô quý phi nghe xong, an ủi Vi Thái hậu: “Người không nên nghĩ nhiều thế, dưỡng khỏi bệnh mới hơn mọi thứ”.

Qua một thời gian, các đại thần liên tiếp khuyên bảo, thỉnh cầu Cao Tông lập Ngô Thị làm hoàng hậu, Vi Thái hậu cũng thay đổi suy nghĩ trước đây, hết sức thúc giục Cao Tông lập Ngô Thị làm hoàng hậu.

Cao Tông thấy thời cơ đã tới, liền tuyên bố với chúng thẩn trước triều đình: “Trẫm phụng mệnh Hoàng thái hậu, lập quý phi Ngô Thị làm hoàng hậu”.

Như vậy, Ngô Thị làm hoàng hậu một cách danh chính ngôn thuận. Cao Tông còn tiến hành truy phong cho ba đời tổ tông của Ngô Hoàng hậu, trong họ hàng thân thuộc của Ngô Hoàng hậu, có rất nhiều người được nhận chức quan.

Người ta thường nói “Lòng dạ chân thành, đá vàng cũng phải mở miệng”, Ngô Thị dùng tình thương, lòng chân thành, lồng kiên nhẫn và chí bèn của mình để phấn đấu không mệt mỏi, dùng hành động thực tế để thuyết phục Vi Thái hậu, cảm hóa Vi Thái hậu, được bà ta thông cảm và tín nhiệm. Bản thân cuối cùng cũng nhận được sự đền đáp cực tốt.

Tục ngữ nói: “Chân thành chiêu tụ khách thiên hạ”, trong sinh hoạt xã hội đầy cạnh tranh ngày nay, hầu hết những người khi bàn chuyện làm ăn, luôn luôn giữ thái độ khép kín về tình hình thực sự của mình, không những không để đối phương có được hiểu biết thực tế, ngược lại còn cố ý bày trận nghi binh, khiến đối phương không biết đâu mà lần. Phong cách đàm phán này tạo cho người ta ấn tượng là không thể lấy chân thành để tương kiến, điều này luôn luôn gây nên phản cảm ở đối phương, thậm chí nảy sinh tâm lý phục thù ở đối phương, ở mức độ nhất định gây cản trở cho đàm phán về giao lưu và hợp tác giữa đôi bên, trực tiếp ảnh hưởng đến việc đàm phán có thể đạt được thỏa thuận hay không. Còn sách lược đàm phán lấy chân thành để tương kiến lại có thể thu được hiệu quả tốt dẹp.

Marysa Belisalia là nữ tổng giám đốc công ty thiết bị thông tin vô tuyến Italia. Khi bà ta mới bắt tay vào công ty này mỗi năm phải lỗ mất 200 triệu USD. Để giải quyết mâu thuẫn này, công ty cần phải cắt giảm nhân viên, nhưng theo pháp luật quy định, muốn sa thải nhân viên của công ty quốc hữu (công ty nhà nước), cần phải được sự đồng ý của công đoàn. Quan hệ giữa công đoàn và công ty rất tệ, Belisalia lại chưa bao giơ đi lại với Công đoàn, đàm phán với công đoàn sẽ gặp khó khăn không ít.

Để đàm phán thu được thành công, để công đoàn và công ty đạt được thỏa thuận về cắt giảm nhân công, Belisalia quyết định thay đổi phong cách đàm phán trước đây, áp dụng kỹ xảo và phương pháp đàm phán thẳng thắn vô tư, thành ý với người.

Đầu tiên, Belisalia gửi tới mỗi gia đình của nhân viên thuê làm một bản thông báo tin tức sắp xếp cẩn thận, đầy đủ thông tin, báo với họ công ty cần phải làm gì, vì sao phải làm như thế? Đồng thời, cũng để công đoàn biết rằng bà tôn trọng họ.

Tiếp theo, Belisalia còn tỉ mỉ chế định ra một phương án chi phí chi cho sa thải, về hưu sớm. Đồng thời lại thông báo với các nhân viên thuê làm, nếu không hành động, mức độ cắt giảm nhân viên trong công ty sẽ càng lớn. Như vậy đã làm cho công nhân và công đoàn hiểu được tình hình thực tế của công ty, cân nhắc lợi hại.

Trong quá trình đàm phán, Beỉỉsalia lại dứt khoát, lòng dạ thẳng thắn, nghĩ thế nào thì nói thế ấý, có tình hình thế nào thì thực sự cầu thị nói thế ây, khiến đối phương xóa bỏ đi hoài nghi và phẫn nộ, vui lòng tin phục, đồng ý họp tác.

Do Belisalia đã sử dụng phương pháp và kỹ xảo đàm phán thành ý vô tư một cách xuất sắc, đã khiến cho công đoàn và công ty thuận lợi đi đến thỏa thuận, trong vòng 3 năm cắt giảm từ 29.000 công nhân viên chức xuống còn 22.000 người, mỗi năm cắt giảm hơn 2.000 người. Kết quả cắt giảm nhân viên, không chỉ giảm nhẹ gánh nặng của công ty, nâng cao hiệu quả kinh tế, mà còn giữ được quan hệ người - người tốt đẹp giữa đôi bên người lao động và người quản lý.

71. Nội gián càng đáng sợ

Năm 1130 CN, Thát Lãn từ Sơn Đông mang quân đánh xuống Hoài Nam, tại Sở Châu gặp phải sự chống trả ngoan cuồng của quân Tông. Đồng thời Ngột Thuật cũng bị Nhạc Phi đánh cho đại bại. Thát Lãn vô cùng lo buồn, trong lúc tuyệt vọng lại nghĩ ra một biện pháp, quyết định phái một vị tham mưu quân phủ dưới trướng tới Tống triều, bày kế hãm hại trung lương, khiến Tống triều đầu hàng. Người này chẳng phải ai khác, chính là quốc tặc của triều Tống tên là Tần Cối, kẻ để lại tiếng xấu muôn đời.

Từ khi Huy, Khâm dế bị quân Kim bắt cóc đi, Tần Cối cũng đi theo trong đoàn. Khi Huy Tông được tin Khang Vương Triệu Cấu lên làm vua, bèn viết thư cho Chiêm Hãn, yêu cầu nghị hòa. Thư viết xong, Huy Tông bèn giao cho Tần Cối, xin ông ta nhuận sắc. Tần Cối xem xong, cảm thấy thư của Huy Tông dẫn dùng lịch sử quá nhiều, viết quá rườm rà, bèn viết lại cho Huy Tông, đồng thời mang tới phủ của Chiêm Hãn.

Chiêm Hãn nhận thư, thấy thư này chữ và văn viết đều rất tốt, đoán rằng không phải tự tay Huy Tông viết, bèn hỏi Tần Cối: ‘Thượng hoàng đã là ông lão sáu mươi, lại thêm một mắt đã mù, làm sao có thể viết được chữ tiểu khải như đầu dây thế này?”.

Tần Cối trả lời: “Là Tần mỗ phụng mệnh viết thay, thân trình đại soái đọc xem”.

Chiêm Hãn mỉm cười nói: “Thủ bút của Trạng Nguyên, rốt cuộc phi phàm, có muốn làm quan ở Bắc triều không?”.

Tần Cối đáp: “Nếu được đại soái cất nhắc, nguyện ra sức khuyển mã”.

Chiêm Hãn dẫn Tần Cối tới trước Kim Thái Tông, Kim Thái Tông hỏi thêm một số tình hình của Tống triều, Tần cối đối đáp trôi chảy. Kim Thái Tông lại hỏi: “Có chịu làm quan ở triều ta không!”.

Tần Cối trả lời: “Kẻ nô lệ vong quổc, được thánh ân tri ngộ, sao dám không cố gắng hết sức, xin thánh thượng sai khiến”.

Kim Thái Tồng bèn giao Tần Cối cho Thát Lãn, để ông làm chuyển vận sứ dưới quyền Thát Lãn.

Tần Cối từ đó nhất mực bán thân cho Kim triều. Quân Kim đánh Sở Châu, nhiều lần tiến đánh mà không hạ được. Thát Lãn liền cho Tần Cối viết một bài hịch văn khuyên nhủ quân dân sở Châu đầu hàng, phát tán rộng rãi. Vương Thị vợ Tần Cối làm hầu bếp cho Thát Lãn, hai vợ chồng đều tận lực báo hiếu Kim triều.

Tháng 10 năm đó, dưới sự sai khiến của Thát Lãn, Tần Cối đem vợ và bọn nô dịch tới Việt Châu.

Tần Cối từ Bắc xuống Nam hàng nghìn dặm, làm sao có thể trốn về dễ dàng như thế! Các đại thần trong triều không ngớt nghị luận. Tham tri chính sự Phạm Tông Doãn, Đồng tri khu mật viện sứ Lý Hồi, xưa nay vốn cùng một giuộc với Tần Cối, liền chủ động giải thích, biện giải với quần thần. Hai người này còn bẩm tấu với Cao Tông ngu xuẩn rằng: “Bệ hạ, Tần Cối không quản nguy hiểm binh đao, khổ sở gió sương, xa xôi nghìn dặm, phong trần mệt mỏi, từ Bắc quốc trở về bản triều, tất cả chỉ dựa vào một tấm lòng trung. Nay binh họa liên miên, chính là lúc triều đình nên trọng dụng những trung thần như vậy!”.

Cao Tông nghe Phạm Tông Doãn, Lý Hồi nói vậy, lập tức nói: “Triệu Tần Cối lên điện!”.

Tần Cối vừa vào điện, quỳ ngả ùm xuống đất, nước mắt nước mũi ròng ròng, khóc không thành tiếng nói: “Thần ở Bắc quốc, không có ngày nào là không nhớ tới hoàng thượng, không ngày nào là không nhớ giang sơn Đại Tống…”.

Tiếp đó, Tần Cối không chút che giấu bảo Cao Tông, nếu Nam Tông chịu hàng phục, mình có thể đảm nhận thuyết khách, đồng thời trình lên Cao Tông “quốc thư” cầu hòa với Thát Lãn đã được sắp đặt từ trước.

Vị hoàng đế đã bị thế lực của nước Kim dọa cho vỡ mật này, cảm thấy Tần Cối rất hiểu tâm sự của mình, vui mừng nói với tả hữu: “Cối trung thành, cơ trí, trẫm có được ông ta, vui mừng đến không ngủ được”. Thế là, hạ chiếu cho Tần Cối làm Tham tri chính sự.

Tần Cối sau khi làm Tham tri chính sự được nửa năm thì đã được thăng lên làm Tể tướng. Từ đây bắt đầu bất chấp tất cả không chút kiêng dề, thực thi kế hoạch nham hiểm độc ác mà Thát Lãn giao cho ông ta.

Năm 1135, Nhạc Phi khéo dùng kế phản gián, khiến Thát Lãn phế bỏ mất chính quyền ngụy Bắc Tề. Cùng với Bắc Tề bị phế, dân chúng Trung Nguyên và bọn tướng sĩ ngụy Tề, có người cũng định quay về chính nghĩa quy Tống. Thôi Hổ ở Lâm Nhữ và Lưu Vĩnh Thọ ở Thái Châụ, vào tháng Giêng năm thứ 8 Thiệu Hưng, trước sau đã thống lĩnh quân đội theo quân Nhạc Phi. Lúc này, chính là cơ hội rất tốt để Nam Tống khôi phục Trung Nguyên. Nhưng Tần Cối thấy vậy lại trắng trọn cổ động Cao Tông đầu hàng nước Kim.

Dưới sự cổ động của Tần Cối, Cao Tông phái người đi “nghị hòa” với nước Kim.

Văn võ quan viên Nam Tống nghe nói Cao Tông muốn phái người nghị hòa với Kim, liên tiếp dâng tấu chương phản đổi. Khu mật phó sứ Vương Thứ, đại tướng Hàn Thế Trung đều dâng sớ phản đối đầu hàng, một vị Tể tướng khác là Triệu Đỉnh cũng bày tỏ phản đối, sau thấy khuyên nhủ không có hiệu quả, bèn tự xưng có bệnh, bãi tướng từ chức. Quan Biên tu Khu mật viện Hồ Toàn giận sôi máu, dâng sớ yêu cầu lập tức chém đầu bọn Tần Cối, vậy mà, Tần Cối không những không bị chém đầu, lại còn thay Triệu cấu, viết lời phê cho tấu chương của Hồ Toàn, ngay lập tức biến đi Quảng Châu làm giám quản kho muối.

Dưới sự thúc ép của Tần Cối, Nam Tống cuối cùng đã đạt được hiệp định danh là nghị hòa, thực ra là đầu hàng với nước Kim. Năm 1139 CN, Tần Cối đại diện cho Triệu Cấu quỳ lạy nhận “chiếu thư” mất quyền nhục quốc. Theo hiệp định: Kim triều đem các đất Thiểm Tây, Hà Nam “ban” cho Nam Tống, Nam Tống xưng thần với Kim, mỗi năm cống 25 vạn lạng bạc, 25 vạn xấp lụa. Kim triều trả lại quan tài của Huy Tông và hoàng hậu. Như thế, Cao Tông trong tình thế chống Kim đắc thắng có lợi, ngược lại đã trở thành thần thuộc của triều Kim.

Tần Cối không những thúc ép Triệu cấu đầu hàng nước Kim, mà còn hãm hại trung lương. Nhạc Phi liên tiếp đánh bại Kim Ngột Thuật, đang lúc thu phục sơn hà tốt nhất, Tần Cối đã liên tiếp hạ 12 đạo kim bài, khiến Nhạc Phi rút về, khiến cho các đất Trịnh Châu, Thái Châu, Dĩnh Xương đã được Nhạc Phi thu hồi được, lại bị quân Kim lần nữa đoạt đi. Tiếp đó, Tần Cối đã giải trừ binh quyền của Nhạc Phi, Hàn Thế Trung, khiến quân Tống không còn sức chống Kim, hơn thế cần lấy tội danh “mạc tu hữu” sát hại mất Nhạc Phi.

Tần Cối làm Tể tướng 19 năm, quỳ gối đầu hàng triều Kim, tàn hại trung lương, rất nhiều tấu chương hạch tội trung thần lương tướng, đều từ thủ bút của ông ta mà ra. Trong hơn 10 năm, Tham tri chính sự đã thay 28 người, hối lộ trở thành công khai, tham ô thối nát. Việc thực hiện những âm mưu ngụy kế này đã mang lại lợi ích cực lớn đối với triều Kim, rất nhiều thứ không thể đạt được trên chiến trường, đều đã được tên gian tế Tần Cối làm xong.

Từ đó có thể thấy, nội gian thật vô cùng đáng sọ. Thát Lãn sai khiến Tần Cối trở về Nam Tông, làm nên trò bán rẻ lợi ích dân tộc, để người đời thóa mạ, nhưng chúng ta không thể không thừa nhận, đây là một loại mưu lược, một kẻ nội gián.

Nói đến nội gián, người ta mặc nhiên cho là việc làm hạ lưu, không đáng nhắc đến. Kỳ thực không phải vậy, đây là một mưu kế trung tính, như trong “Đại chiến II” gián điệp nổi tiếng Yoerga, chính là vì để tiêu diệt chủ nghĩa phát xít mà anh dũng phấn đấu.

Trong thương trường hiện đại, một số công ty, một số quốc gia Âu Mỹ để đạt được mục đích chiến thắng đối thủ, cũng liên tiếp sử dụng kế này, hoặc dùng thủ đoạn uy hiếp, dụ dỗ để thu hút nhân viên ở trong dinh lũy của đối thủ sử dụng cho mình, hoặc phái người lặng lẽ xâm nhập.

Một công ty ô tô của Mỹ cảm thấy hết sức bất mãn, thậm chí phẫn nộ đối với khối lượng lớn ô tô Nhật Bản cơ động linh hoạt, lương tiêu hao nhiên liệu ít đã chiếm lĩnh thị trường vận tải hàng hóa bằng ô tô rộng lớn ở California vốn thuộc về họ trước kia. Những người khôn ngoan của công ty này kiến nghị mua chuộc nhân viên của nhà máy sản xuất ô tô này ở Nhật Bản làm gián điệp, để họ phục vụ cho mình, từ trong nội bộ hủy hoại danh tiếng sản phẩm của họ.

Tổng tài của công ty nghe kế này, vô cùng vui mừng, ngay tức khắc vỗ bàn, phái một tổ chức hành động tinh cán đi Nhật Bản chấp hành nhiệm vụ này.

Tổ hành động sau khi tới Nhật Bản, phát hiện rằng hoàn thành nhiệm vụ này hết sức khó khăn. Ông chủ nhà máy ô tô này của Nhật Bản rất biết cách quản lý nhân viên thuộc hạ. Không chỉ coi trọng giáo dục tư tưởng công nhân, ông còn khích lệ công nhân về vật chất, để công nhân yên tâm làm việc, do đó, “sức gắn kết xí nghiệp” của nhà máy này khá mạnh, mua chuộc nhân vật ở vị trí công việc then chốt rất khó thành công, làm không khéo sẽ mang tiếng chữa lợn lành thành lợn què, để người ta đem ra đàm tiếu.

Tổ hành động phí tận tâm cơ, mất bao công sức, mới kết nối được đường dây với một công nhân của nhà máy này. Từ đó về sau, người Mỹ thường cho anh ta tiền, đồng thời chỉ thị anh ta phải leo lên như thế nào.

Không lâu, người công nhân này quả nhiên lên làm nhân viên kiểm nghiệm. Người Mỹ ngay tức khắc bí mật phái người giao cho anh ta một số thiết bị gây nhiễu hẹn giơ siêu vi, muốn anh ta trong lúc kiểm nghiệm ngấm ngầm đem cái món đồ chơi tương tự như cái long-đen đó vặn vào trong đinh vít bên cạnh thiết bị khống chế vi tính trong xe ô tô, anh ta y kế làm theo.

Về sau, lô ô tô này sau khi vận chuyển tới Cali, liên tục xuất hiện sự cố, nhưng nguyên nhân thì tìm đi kiếm lại vẫn không phát hiện ra. Sau này, chuyên gia Nhật Bản bay tới Cali phí bao tâm huyết mới tìm ra nguyên nhân, nhưng uy tín sản phẩm đã bị tụt xuống rất nhiều, công ty Mỹ này tự nhiên thừa cơ nhảy vào đoạt lại thị trường.

72. Luân phiên ra trận, áp đảo sĩ khí quân địch

Đời Tống Cao Tông năm Thiệu Hưng thứ 9 (năm 1139 CN), Nam Tống và nước Kim ký kết “hòa ước”. Triều Kim đem các đất Thiểm Tây, Hà Nam “ban” cho Nam Tống, Nam Tống xưng thần với Kim, mỗi năm cống 25 vạn lạng bạc, 25 vạn xấp lụa.

Nhận mệnh của Tống Cao Tông, Lưu Kỳ dẫn binh mã bản bộ tới Khai Phong đảm nhận chức Lưu thủ Đông Kinh.

Khi Lưu Kỳ dẫn quân tới Oa Khẩu, phía trước truyền tin tức tới, người Kim đã xé bỏ hòa nghị, chia binh 4 lộ xuống Nam, ý muốn đoạt lại địa bàn đã “ban” cho Nam Tông, Ngột Thuật đã đem quân đánh lây Hà Nam, đã chiếm lĩnh Đông Kinh.

Lưu Kỳ lập tức lệnh cho quân lính đi suốt ngày đêm, đến dưới thành Thuận Xương, tri phủ Thuận Xương Trần Quy ra thành nghênh tiếp, đồng thời cho Lưu Kỳ biết, quân Kim sắp đánh tới.

Lưu Kỳ lập tức hỏi: “Trong thành có bao nhiêu lương thực?”.

Trần Quy đáp: “Gạo có vạn hộc”.

Lưu Kỳ vừa nghe, vui mừng nói: “Có lương thực để ăn, chúng ta hoàn toàn có thể giữ vững”. Thế là, quân Lưu Kỳ lập tức vào thành, tăng cường phòng ngự.

Lưu Kỳ vào thành chẳng được bao lâu, nhân mã của Hàn Thường và Trạch Tương Quân của quân Kim đã đến ngoài thành. Long Hổ Đại vương của bên Kim cũng kịp tới chi viện, vây chặt thành Thuận Xương. Quân Kim tiếp nối nhau không ngừng tấn công thành, đều bị các tay cung tiễn của Lưu Kỳ bắn lui.

Mùng 7 tháng 6, Ngột Thuật đích thân dẫn đại quân tới, cùng với Long Hổ Đại vương, Tam lộ Đô thống, Trạch Tương Quân, Hàn Thường liên kết hạ trại, binh mã rạp trời.

Ngột Thuật ngạo mạn nói với bộ hạ: “Tường thành Thuận Xương tàn phá như vậy, dùng mũi ủng là có thể đá đổ. Ngày tới một khi đánh vào trong thành, ta muôn bày yến ở nhà môn tri phủ, ai có thể bắt cướp được phụ nữ ngọc lụa thì thuộc về người ấy sở hữu”.

Nói xong, cầm một mũi tên bẻ gãy, tỏ ý quyết không nuốt lời.

Đối mặt với cường địch, Lưu Kỳ không chút hoảng sợ, ông hạ lệnh đem toàn bộ thuyền bè mà quân lính sử dụng dìm hết xuống sông, lấy đó biểu thị quyết tâm tử chiến.

Lúc này đúng vào giữa mùa he, thời tiết hết sức oi bức, Lưu Kỳ phân tích tình thế, cho rằng địch mạnh mình yếu, biện pháp tốt nhất là lấy an nhàn để chống mệt mỏi, tiêu hao sinh lực địch. Thế là, ông ta đem tướng sĩ thủ hạ ngoài một bộ phận giữ lại để giữ thành, dư ra 5.000 người phân thành 5 đội, mỗi đội 1.000 người, việc đầu tiên là chuẩn bị tốt thuốc chống nóng và các thực phẩm rượu thịt, đồng thời, sai người mang tới một bộ khôi giáp, để dưới nắng hong phơi.

Tất cả chuẩn bị xong xuôi, Lưu Kỳ bèn trước tiên phái một đội nhân mã đánh ra từ của tây thành Thuận Xương.

Ngột Thuật thấy binh lực của Lưu Kỳ rất ít, không chút để tâm, bèn lệnh cho tiền quân ứng chiến.

Dưới ánh nắng gắt oi bức, hai bên chiến đấu với nhau kịch liệt.

Không lâu, hong phơi dưới nắng gắt, khôi giáp bắt đầu phát nóng, Lưu Kỳ lập tức ra lệnh cho đội nhân mã đã ra cửa tây kia rút về nghỉ ngơi, cho họ ăn cơm uống rượu, uống thuốc chống nhiệt, đồng thời thay một đội nhân mã khác từ của nam đánh ra.

Quân của Ngột Thuật vừa mới ngừng trận, đang muốn thở một chút, thấy quân Tống đánh tới, đành phải vội vàng đứng lên ứng chiến.

Xa luân chiến vẫn cứ tiếp tục.

Dần dần, thể lực của lính Kim chống đỡ không nổi, mà quân Tống lấy an nhàn chống với mệt mỏi, luân phiên ra trận, càng đánh càng hăng.

Ngột Thuật thấy thế, bèn hạ lệnh lui binh.

Lưu Kỳ thấy Ngột Thuật bắt đầu rút lui, lập tức đích thân dẫn toàn quân thừa thế đuổi giết, đánh cho quân Kim đại bại, chạy trốn về Biện Kinh.

Lưu Kỳ trong tình huống địch đông mình ít, khéo léo sử dụng binh lực dùng chiến thuật xa luân, đánh đổ quân Kim. Mưu lược này hoàn toàn có thể dùng vào đàm phán của chúng ta với đối phương trong xã hội đương đại.

Quá trình đàm phán là quá trình đâu trí, đấu dũng, nó khiến người ta không thể không phải chịu đựng sự tra tấn về thời gian và các vấn đề phức tạp đan xen, khiến con người từng giờ từng phút đều phải trải qua bầu không khí hoang mang, khẩn trương. Thông thường mà nói, áp lực tâm lý của người đàm phán là rất lớn.

Vì vậy, trong khi đàm phán, anh phải ấp dụng biện pháp oanh tạc mệt nhọc, để cho các trợ thủ của anh dùng biện pháp truy vấn cặn kẽ ngọn nguồn sự việc đối với đối thủ, luân phiên đặt câu hỏi với đối phương, hao phí tinh lực đối phương, đạt tới mục đích làm tan rã ý chí đối phương, khiến đối phương suy nghĩ thiếu chu đáo, xuất hiện chỗ sơ hở.

Đại gia dầu lửa Saudi Arabia Amani là một cao thủ ứng dụng chiến thuật mệt mỏi này. Một thương nhân dầu lửa Mỹ từng nói: “Amani trong lúc đàm phán luôn luôn nói năng nhỏ nhẹ, tuyệt không to tiếng đe dọa, một chiêu lợi hại nhất của ông ta là nhẹ nhàng điềm đạm lặp lại hết vấn đề này tới vấn đề khác, cuối cùng làm cho anh đến sức cùng lực kiệt, không thể không chắp tay vái mà nhường đi. Ông ta là đối thủ đàm phán khó đối phó nhất mà tôi từng gặp”.

Có lần, Amani tiến hành đàm phán vì một lô thiết bị với một công ty Mỹ. Trợ thủ của Ạmani không ngừng tiến hành chất vấn chính diện, trắc diện đối phương, đồng thời đưa ra phê bình một cách có thiện ý đối với sản phẩm của họ. Đối phương vì để kiên trì giá cả của mình, liền không ngớt giải thích.

Đàm phán bắt đầu từ buổi tối cho tới tận 4 giờ sáng hôm sau mới đạt được thỏa thuận sơ bộ.

Đại biểu của Công ty Mỹ vì quá mệt mỏi, không kịp chỉnh lý, xem lại một lượt kỹ càng tư liệu, đã gục xuống ngủ say ngay trên sô pha, anh ta đã không còn tinh lực để kiểm tra lại tỉ mỉ tất cả các con số.

Ngày thứ hai, anh ta cầm tới biên bản thỏa thuận sơ bộ đạt được, mới phát hiện có ba chiếc thiết bị cỡ lớn bị tính sót giá. Vì thế, song phương lập tức tiến hành đàm phán. Đại diện của Amani chỉ rõ, đây không phải là tính sót, mà là giảm giá, bởi vì vừa đã đạt tới thỏa thuận, vừa đều đã làm thông báo cho hai bên, không thể tính sót được, nếu không thế thì không có cách gì giải thích được”.

Giấy trắng mực đen. Công ty Mỹ bị dồn vào thế không biết làm thế nào được, đành phải giảm giá.

Amani vận dụng chiến thuật mệt mỏi lại một lần nữa giành thắng lợi.

\

Báo cáo nội dung xấu