Nàng Thérèse Desqueyroux - Chương 13

CHƯƠNG MƯỜI BA

Một buổi sáng tháng ba lạnh lẽo, mới vào khoảng 10 giờ, một dòng người đã ùn ùn đổ về quãng đường phía trước hành lang tiệm Café de la Paix, nơi Thérèse và Bernard đang ngồi. Nàng ném mẩu thuốc xuống đất, và như người dân vùng Landes có thói quen hay làm: cẩn thận lấy chân di cho nát.

“Cô sợ mình làm cháy vỉa hè này à?”

Bernard cười hết sức hả hê. Anh ta đang tự trách mình sao lại phí công đi theo Thérèse đến tận Paris. Tất nhiên, anh ta phải ở bên cạnh vợ vào hôm lễ cưới của Anne để trấn áp dư luận - nhưng sau đó, có lẽ là do anh ta đã tuân phục ý muốn của Thérèse nhiều hơn. Bernard đã luôn tin rằng vợ mình có biệt tài bẩm sinh là tạo nên những tình huống thậm vô lý; thế nên, bao lâu cô nàng còn lảng vảng trong cuộc đời mình, anh ta sẽ vẫn còn vướng phải những quyết định chẳng hợp lý chút nào như sự có mặt ở Paris hôm nay. Dù cho là một người luôn biết kiểm soát mình, biết đứng vững trên đôi chân của mình như Bernard, người phụ nữ bất thường này vẫn có thể làm anh ta chao đảo.

Vậy mà, giờ đây, trong giây phút sắp chia tay với người phụ nữ ấy, anh ta lại không thể dứt bỏ được một cảm giác buồn bã mà từ trước tới nay, anh ta chưa bao giờ cảm thấy. Không có gì xa lạ với anh ta hơn cảm thức này, cảm thức bị áp đặt bởi một người khác (và chắc chắn không bao giờ là bởi Thérèse - đó là một điều không thể tưởng tượng nổi). Bernard nôn nóng muốn được giải thoát khỏi tình cảnh khá bất ngờ này. Anh ta chỉ có thể thở ra được nhẹ nhõm một khi ngồi trên xe lửa quay về lại phương Nam. Một chiếc xe đang chờ anh ta ở Langon. Ra khỏi nhà ga, sẽ là con đường quen thuộc Villandraut, và những rặng thông xuất hiện.

Anh ta chăm chú nhìn khuôn mặt Thérèse, dõi theo hướng nhìn của nàng mỗi khi nàng chăm chú một khuôn mặt nào đó trong đám đông đi ngang qua cho đến khi bóng người đó khuất hẳn.

Và bỗng nhiên:

“Thérèse... tôi muốn hỏi cô ... ”

Bernard nhìn ra chỗ khác - anh ta không thể nào chịu đựng được ánh nhìn của một người phụ nữ - nói nhanh: “Tôi muốn được biết ... Có phải cô thù ghét tôi? Bởi vì cô kinh tởm tôi?”

Anh ta nghe những lời mình nói với sự sững sờ và bực bội. Thérèse mỉm cười, rồi buồn bã nhìn anh ta. Cuối cùng, Bernard đã hỏi nàng câu hỏi mà nếu nàng ở địa vị của anh ta, nàng sẽ nôn nóng hỏi nó ngay từ đầu. Tất cả những lời thú tội mà nàng đã nhọc công chuẩn bị trong thời gian ngồi trên xe ngựa, dọc theo con đường Nizan, rồi trên xe lửa suốt đoạn đường đến nhà ga Saint-Clair, kiên nhẫn tự tra vấn mình, cố gắng hết sức tìm nguyên nhân đầu mối cho việc mình đã làm - cuộc hành trình về lại sâu thẳm lòng mình đã làm nàng kiệt sức - có lẽ, giờ đây, nàng nghĩ cũng có thể giúp được nàng trả lời câu hỏi của Bernard. Một cách vô tình, nàng đã khiến Bernard bị thương tổn, khiến anh ta lẫn lộn, bối rối. Để rồi, lúc này đây, anh ta cật vấn nàng, như một người không thể nhìn rõ, một người hay lưỡng lự, thiếu cả quyết. Anh ta trở nên đơn giản hơn - và do đó, ít kiên định hơn. Nàng nhìn anh ta bằng một ánh mắt thương cảm của một người mẹ. Nhưng câu trả lời của nàng gần như mai mỉa:

“Bộ anh không tin rằng đó là vì những khu rừng thông mà anh sở hữu? Đúng thế! Tất cả chỉ vì tôi muốn chạm tay mình vào những cây thông của anh.”

Bernard nhún vai.

“Tôi không còn nghĩ như vậy nữa, nếu như tôi đã từng cho là vậy. Tại sao cô lại hành động như thế? Giờ cô hãy nói cho tôi biết đi.”

Thérèse chiếu ánh mắt vào khoảng không trước mặt. Ngay giờ đây, trên vỉa hè này, bên bờ một dòng sông đầm lầy người người chen chúc nhau, lúc mà nàng sắp sửa tự thả mình vào trong đó và sẽ vùng vẫy để được trồi lên hay bằng lòng chấp nhận bị chết đuối - dường như nàng đã nhận ra được một thứ ánh sáng, thứ ánh sáng của buổi bình minh, và nàng hình dung đến một cuộc trở về lại miền quê hương buồn sầu, kín kẽ: tưởng tượng nàng sẽ dành trọn đời trầm tư mặc tưởng để hoàn thiện chính mình giữa sự tĩnh lặng của Argelouse, và một cuộc hành trình nội tâm đi tìm Thượng Đế ...

Một người Moroccan bán thảm và những sợi dây đeo cổ bằng hột thủy tinh tưởng nàng mỉm cười với anh ta nên có vẻ như muốn bước về phía họ.

Cũng vẫn bằng một giọng mai mỉa, Thérèse nói với Bernard:

“Tôi cũng vừa định nói với anh rằng Tôi không biết tại sao tôi lại làm thế; Nhưng giờ thì tôi nghĩ, có lẽ, tôi biết tại sao - anh thử tưởng tượng xem! Có thể là do tôi muốn được nhìn thấy sự bất an, sự hiếu kỳ trong đôi mắt của anh - nói chung, một cái gì bất ổn, không bình thường. Tôi cũng chỉ vừa mới khám phá ra như vậy, ngay lúc này mà thôi.”

Bernard gầm gừ, cái âm thanh nàng không thể quên trong chuyến đi hưởng tuần trăng mật.

“Cô luôn đùa cợt cho đến cả giây phút cuối cùng. Nghiêm chỉnh đi nào: Tại sao?”

Nàng không cười nữa, hỏi ngược lại:

“Một người như anh, Bernard, lúc nào cũng biết lý do cho những hành động của mình. Đúng không?”

“Đúng vậy! - tất nhiên rồi. Ít nhất là tôi nghĩ vậy!”

“Tôi thành thực ước muốn rằng mình không dấu diếm một điều gì với anh. Nếu anh biết tôi đã bị tra tấn như thế nào khi cố gắng chiếu rọi mọi ngóc ngách để nhìn cho ra lẽ mọi việc... Nhưng tất cả những lý do tôi có thể nói với anh, và ngay cả lý do tôi vừa nói lúc nãy, với tôi tất cả đều chỉ là những lời dối trá ... ”

Bernard trở nên nóng nẩy.

“Nhưng phải có cái ngày, cái giây phút mà cô đi đến quyết định - quyết định làm như cô đã làm?”

“Đúng thế. Đó là cái hôm có đám cháy lớn ở Mano.”

Hai người ngồi sát lại nhau, lặng lẽ đối thoại. Ngay giữa ngã tư đông đúc của Paris, dưới ánh nắng sáng mong manh, một ngọn gió lạnh thổi qua mang theo mùi khó thuốc làm lung lay tấm bạt che hai màu vàng đỏ; Thérèse cảm thấy lạ lùng khi ngồi hồi tưởng lại buổi trưa ngột ngạt hôm đó - khói mù mịt khắp nơi, bầu trời trong xanh bị ô nhiễm vì những cột khói đen, mùi nồng nặc của những cây non bị đốt cháy như một rừng đuốc - và trong trái tim đang ngủ yên của nàng, một tội ác đang từ từ thành hình.

“Câu chuyện như thế này: Mình đang ngồi trong phòng ăn; như mọi khi, buổi trưa nhưng trời tối như bưng. Anh đang mải nói chuyện, mắt hướng về Balion, và anh quên không đếm những giọt thuốc anh đang nhỏ vào ly nước.”

Thérèse, cố gắng để không sót một chi tiết quan trọng nào, không nhìn thẳng vào mặt Bernard nhưng nàng nghe tiếng anh ta cười lớn, nên quay lại: Đúng, anh ta đang cười cái cười ngốc nghếch. Bernard nói: “không thể! Cô tưởng tôi là người thế nào hử?” Anh ta không tin câu chuyện này có thật. Vậy thì, toàn bộ câu chuyện nàng kể có đáng tin hay không? Bernard chặc lưỡi. Thérèse nhận ra ngay anh chàng Bernard cố hữu, anh chàng quá tự tin ở mình, không chịu để cho ai lấy vải thưa mà che mắt thánh. Anh ta đã, một lần nữa, kiểm soát được tình hình. Nàng cảm thấy mình bất lực. Anh ta nói, như thể câu chuyện vừa nghe chỉ là một trò đùa:

“Vậy là, cái ý tưởng ấy đến với cô như thế, tất cả cùng một lúc, như ý của chúa Thánh Thần?”

Anh ta tự ghét mình vì đã hỏi Thérèse những câu hỏi. Anh ta đã tự mình đánh mất đi lợi thế được quyền tỏ sự khinh bỉ đối với người phụ nữ điên khùng này. Anh ta đã để cho cô ta đạt được thắng lợi. Lạy Chúa tôi! Tại sao anh ta lại bằng lòng để cho cái ý muốn tìm hiểu này chi phối mình? Làm gì có thể có những điều cần tìm hiểu ở những kẻ điên như thế này cơ chứ? Anh ta muốn tự nổ tung để che đi sự bực bội. Anh ta đã quá vội vã, không chịu từ từ suy xét ...

“Nghe đây, Bernard, tôi không kể cho anh nghe câu chuyện này để chứng minh rằng tôi vô tội - không hề như vậy chút nào.”

Nàng cảm thấy một sự thúc đẩy kỳ lạ tự buộc tội chính mình. Nàng nói, không thể chối cãi được rằng nàng đã nuôi dưỡng ý tưởng phạm tội trong lòng mình từ nhiều tháng trước, dẫn đến hành động của nàng ngày hôm đó, như một người bị bệnh mộng du. Vậy là, màn một đã hoàn thành, những bước tiếp theo đã quá rõ ràng. Chỉ việc kiên quyết thi hành thôi!

“Tôi chỉ cảm thấy mình độc ác khi chính tôi do dự trong lúc hành động. Tôi không muốn nhìn thấy bất cứ thứ gì cản trở sự đau đớn của anh. Tôi phải làm cho xong mọi việc cần làm, một cách nhanh chóng!

Tôi cho đó là một thứ bổn phận đáng ghê tởm - Phải, nó chính là vậy, một thứ bổn phận.”

Bernard ngắt lời:

“Luôn luôn là những điều nghịch lý, tự mâu thuẫn! Hãy chỉ một lần này thôi, cô nói cho tôi biết cô muốn gì! Tôi thách cô dám nói ra đấy!”

“Tôi muốn gì à? Có lẽ sẽ dễ dàng hơn để tôi nói ra điều tôi không muốn. Tôi không muốn tiếp tục thủ một vai trò, tiếp tục nói những điều trong khuôn phép, từ chối chính tôi những phút giây tôi thực sự là tôi, là Thérèse, người mà... Mà này Bernard: Tôi chỉ cố gắng nói thật hết - vậy tại sao tất cả những điều tôi nói với anh lại có vẻ giả dối thế?”

“Nói nhỏ thôi; người ngồi đằng sau mình đang ra vẻ chăm chú nghe.”

Điều duy nhất mà Bernard muốn bây giờ là kết thúc cho xong mọi việc. Nhưng anh ta biết quá rõ kẻ điên khùng này: cô ta không có niềm vui nào lớn hơn là ngồi đó hàng giờ bứt tóc bứt tai. Và Thérèse cũng đã biết quá rõ gã đàn ông này. Mới chỉ vài phút trước đây gã đến với nàng với sự thành thực, nhưng bây giờ gã đã lui về lại ẩn mình trong cái khoảng cách thật mênh mông. Nhưng nàng không nản chí, cố viện dẫn đến nụ cười xinh đẹp nhất và bằng cái giọng khàn khàn mà Bernard thích nghe nhất:

“Nhưng giờ thì, Bernard à, tôi biết đến một Thérèse đã từng dẵm nát đầu thuốc lá với sự kỹ lưỡng là vì chỉ cần một mồi lửa nhỏ nhất cũng đủ làm cháy rụi cả khu rừng - một Thérèse đã từng say mê ngồi tính toán từng chi tiết trong tài khoản mua bán rễ thông để làm sao đem về lợi tức cao nhất - một Thérèse đã từng hãnh diện vì lấy được một Desqueyroux, được bước vào trong một trong những gia đình danh giá nhất vùng, sung sướng được cột dây đời mình, như cái cách người ta hay nói - Tôi biết đến một Thérèse có thật và bình thường như bao người khác, sống một cuộc sống như bao người khác. Không, không - Hy sinh Thérèse ấy cho một Thérèse khác là điều không đúng chút nào hết!”

“Một Thérèse khác?”

Nàng không biết nói sao để trả lời; Còn Bernard nhìn đồng hồ. Thérèse nói:

“Tất nhiên, tôi sẽ thỉnh thoảng trở về nhà, để xem lại các việc làm ăn của tôi - và để thăm Marie.”

“Việc làm ăn nào? Tôi là người quản lý chung tài sản của chúng ta. Chúng ta sẽ không thay đổi gì hết về kế hoạch chúng ta đã đồng ý. Đúng không? Cô sẽ có chỗ của mình trong các dịp hội hè lễ lậy của gia đình, những dịp cần thiết phải được mọi người thấy chúng ta ở bên nhau, vì danh dự gia đình và vì quyền lợi của Marie. Với một gia đình lớn như của chúng ta, sẽ không thiếu những dịp cưới hỏi, và, tạ ơn Chúa, những dịp ma chay. Gần nhất, để khởi đầu, tôi sẽ ngạc nhiên nếu Chú Martin sống qua được mùa thu này; đó sẽ là dịp cho cô trở về; và tất nhiên, rất nhiều những dịp khác nữa ... ”

Một viên cảnh sát cỡi ngựa đi tới; chiếc còi ngậm giữa hai môi; một cách thần bí, ông ta mở những chiếc khóa vô hình: một đoàn bộ hành vội vã băng ngang mặt đường đen đúa, rồi sau đó nó lại bị phủ kín một lần nữa bởi những chiếc xe taxi.

“Lẽ ra, ta nên ra đi vào ban đêm, lẻn mình vào thảo nguyên hoang vắng, như tên tội phạm Daguerre. Lẽ ra, ta cứ nên tiếp tục bước, qua những hàng thông khẳng khiu của mảnh đất độc ác ấy - bước cho đến khi ngã quỵ. Ta hẳn sẽ không đủ sức mạnh để tự dìm đầu mình dưới làn nước ở cửa sông đủ lâu (như một gã chăn cừu ở Argelouse đã làm vì đứa con dâu không cho gã ăn nữa). Nhưng ta vẫn có thể nằm trơ trên mặt cát, nhắm mắt lại... để mặc cho lũ quạ, lũ kiến chúng sẽ không đủ kiên nhẫn chờ cho đến khi ta ... ”

Thérèse chăm chú nhìn biển người, cái đám đông sinh động sắp sửa mở ra để nuốt chửng lấy nàng, kéo lê thân xác nàng cùng chuyển động với nó. Không còn gì cần phải nói hay làm nữa.

Bernard lấy đồng hồ ra xem lần nữa.

“Mười giờ bốn lăm: đến giờ phải quay lại khách sạn.”

“Chuyến đi này không quá nóng đối với anh.”

“Không - tối nay, ngồi trong xe, tôi sẽ phải mang theo cái mền.”

Nàng nhìn thấy trong trí mình con đường anh ta sẽ đi để về nhà, tưởng tượng ra cơn gió lạnh sẽ làm buốt mặt anh ta, những ngọn gió mang theo mùi bùn, mùi nhựa thông, mùi cỏ cháy, mùi bạc hà, và cả mùi của sương mù. Nàng nhìn Bernard với nụ cười mà, trước đây, phụ nữ quanh vùng kháo nhau: “không thể bảo là cô ta đẹp, nhưng nhìn cô ta thật duyên dáng, quyến rũ!” Gỉa sử như Bernard bảo nàng: “Anh tha thứ hết cho em, đứng dậy đi, mình về nhà thôi!; Hẳn nàng sẽ vâng lời và đi theo ngay. Nhưng Bernard, một phút trước đây có vẻ như xiêu lòng, giờ thì anh ta không cảm thấy gì ngoài nỗi hoảng sợ cho những cử chỉ khác với bình thường, những lời nói không nằm trong mớ từ vựng trao đổi mỗi ngày. Bernard đã trở lại “đúng đường”, như những chiếc xe của anh ta đã được sản xuất. Anh ta cần phải tìm cho ra những vết rãnh có sẵn trên mặt đường. Và tối nay, khi được nhìn lại những vết rãnh quen thuộc ấy, trở về phòng ăn ở Saint-Clair, cuối cùng anh ta sẽ cảm thấy một cảm thức bình an, yên lành bao trùm.

“Bernard, tôi muốn được nói lời xin lỗi với anh một lần cuối cùng!”

Nàng nói câu này bằng một vẻ quá long trọng và không một chút hy vọng gì với cố gắng mở lại cuộc đối thoại. Nhưng Bernard phản đối: “Thôi đừng nhắc lại chuyện đó nữa.”

“Anh sẽ cảm thấy rất trống trải ở đó. Dù cho tôi đã rời khỏi rồi, nhưng vẫn còn chỗ của tôi. Có lẽ tốt nhất cho anh là tôi nên chết đi.”

Bernard khẽ nhún vai và vui vẻ bảo nàng xin “hãy vì tôi”, chớ có làm thế.

“Mỗi một thế hệ Desqueyroux đều có một ‘gã trai già’; tôi nghĩ mình là một trong số đó. Tôi có đầy đủ phẩm chất cần thiết mà (cô là người duy nhất sẽ không đồng ý với tôi). Tôi chỉ tiếc mình chỉ có một đứa con gái, bởi vì tên tôi rồi sẽ biến mất. Nhưng dù cho tôi và cô có sống chung với nhau, mình cũng không muốn có thêm đứa con nào. Thế nhé! Cuối cùng, mọi thứ đều tốt đẹp... Đừng đứng dậy, ngồi yên đấy!”

Bernard vẫy tay gọi một chiếc taxi, nhưng trước khi bước vào xe, anh ta đã vội vã quay lại nhắc Thérèse rằng anh ta đã thanh toán tiền nước xong rồi.

Thérèse chăm chú nhìn rất lâu vào giọt rượu còn sót lại trong chiếc ly của Bernard, rồi bắt đầu ngó mông quan sát các khuôn mặt khách bộ hành đi ngang qua. Có người như đang chờ một ai đó, bước một vòng rồi lại quay trở lại. Một phụ nữ đi qua hai bận và mỉm cười với Thérèse (cô ta là nhân viên một cửa hàng đâu đây hay chỉ trang phục giống như thế?). Lúc ấy là giờ các tiệm bán quần áo đóng cửa để cho nhân viên đi ăn trưa. Thérèse không nghĩ đến việc rời quán Café. Nàng không cảm thấy chút gì buồn chán. Nàng quyết định không gặp Jean Azevedo ngay trưa nay - và thở ra nhẹ nhõm với quyết định này, vì thực sự, nàng không cảm thấy muốn gặp cậu ta chút nào. Thêm nữa, lại phải nói chuyện, phải tìm cách cư xử ăn nói cho đúng với không khí chung quanh. Nàng biết Jean Azevedo, nhưng những người mà nàng muốn gặp lại là những người nàng chưa quen biết. Nàng chỉ biết họ là những người không đòi hỏi nàng phải nhiều lời. Thérèse không còn cảm thấy hãi sợ sự cô đơn nữa. Chỉ ở đây, nằm im bất động, đã là quá đủ. Như nàng đã từng tưởng tượng duỗi mình nằm dài trên bãi biển Midi, mặc cho kiến và chó vờn quanh; ở đây, nàng cảm thấy có một sự xao xuyến mơ hồ, một cảm giác nhộn nhạo nhẹ nhàng bò quanh cơ thể. Nàng bỗng cảm thấy đói bụng; nàng đứng dậy và nhìn thấy qua sự phản chiếu của cửa sổ kính tiệm Old England, bóng người phụ nữ trẻ. Cô ta vẫn còn đứng đó. Bộ quần áo được lựa chọn kỹ lưỡng để đi đường xa của Thérèse rất phù hợp với cơ thể nàng. Nhưng tuy vậy, vài thứ thừa thãi, dấu vết của những ngày buồn thảm ở Argelouse vẫn còn - hai gò má quá cao, cái mũi hếch. Nàng nghĩ: “Mình cũng chưa đến nỗi già lắm.” Nàng ăn trưa ở nhà hàng Rue Royal (nơi nàng thường đến trong những giấc mơ). Tại sao lại phải trở về khách sạn khi nàng không cảm thấy muốn về đó? Nhờ nửa chai rượu Pouilly, nàng thấy dâng lên trong người một cảm giác ấm áp dễ chịu. Nàng gọi thuốc lá. Một thanh niên ngồi ở bàn kế bên bật lửa châm thuốc cho nàng; nàng mỉm cười cám ơn. Con đường Villandraut đầy gió trải dài những ngọn thông hiểm ác - nghĩ đến chỉ mới một tiếng đồng hồ trước đây thôi, nàng đã có ý tưởng quay về lại đó ẩn mình, cùng với Bernard! Có gì khác nhau đâu, khi mình yêu phần đất này hay phần đất kia của đất nước, yêu cây thông hay yêu cây gỗ thích, yêu biển cả hay yêu đồng bằng? Với nàng bây giờ, chẳng có gì làm nàng quan tâm hơn chính sự sống, những con người bằng xương bằng thịt trước mặt. “Chẳng phải vì thành phố này được dựng lên từ những viên đá làm nàng yêu mến, cũng chẳng phải vì những bài giảng và các viện bảo tàng, mà là sự sống, sự dũng mãnh của niềm đam mê mạnh hơn bất cứ trận bão táp khủng khiếp nào. Tiếng thở than của những cây thông ở Argelouse sở dĩ làm ta xúc động là vì âm thanh của chúng nghe như tiếng thở của người.”

Thérèse đã khá say và hút thuốc hơi nhiều. Nàng mỉm cười với chính mình, giống hệt như một người đàn bà hạnh phúc vẫn làm. Nàng chăm chú tô lại đôi môi, dặm lại đôi má phấn; Nàng xuống đường, bước những bước đi vô định giữa hè phố Paris.

HẾT

François Mauriac (1885-1970) sinh trưởng ở Bordeaux (Pháp quốc) là một trong những tiểu thuyết gia vĩ đại nhất của thế hệ các nhà văn Pháp cùng thời. Một loạt những tác phẩm thành công nhất ra đời vào những năm 1920S đã góp phần quyết định việc Mauriac được bầu vào Hàn Lâm Viện Pháp Quốc năm 1933.

Tiểu thuyết của F. Mauriac, ở cả hai thời kỳ những năm 1920S và sau đó, là những nỗ lực đào xới các biến chuyển nội tâm của con người trong các tình huống bị khủng hoảng. Hơn thế nữa, các nhân vật của Mauriac thường được ông đặt để trong nội dung khuôn khổ Thiên Chúa giáo, do đó, các chủ đề về tội lỗi, ân sủng Thiên Chúa, sự cứu chuộc luôn đóng vai trò trung tâm. Ngoài sáng tác tiểu thuyết, Mauriac còn làm thơ, viết kịch, viết phê bình, tiểu luận và tiểu sử nhân vật. Trong thời kỳ đệ nhị thế chiến, dưới bút danh Forez, ông viết cho phong trào “Kháng Chiến Pháp” (French Resistance). Sau khi chiến tranh chấm dứt, Mauriac tiếp tục cho ra đời nhiều tác phẩm ở cả hai lãnh vực sáng tác tiểu thuyết và báo chí. Năm 1952, F. Mauriac được Hàn lâm viện Thụy Điển trao tặng giải thưởng Nobel về Văn Chương. Thời gian cuối đời, F. Mauriac chia đều cuộc sống hàng ngày của mình với gia đình (ở một vùng thôn quê gần Bordeaux, nơi được ông chọn làm bối cảnh cho hầu hết các tiểu thuyết của mình) và công việc ở Paris.

François Mauriac qua đời ở Paris năm 1970, hưởng thọ 85 tuổi.BẠT

Lê Hữu

Thérèse, mãi mãi tuổi thanh xuân

“Hãy cho tôi biết bạn đã đọc những cuốn sách nào, tôi sẽ cho bạn biết bạn là ai. Đúng thế, và tôi còn biết rõ về bạn hơn nữa nếu bạn cho tôi biết những cuốn sách nào bạn đã đọc lại.” Người nói câu ấy là François Mauriac, nhà văn người Pháp từng được trao giải Nobel văn học năm 1952.

Giá như ông còn sống thì nhà văn T.Vấn hẳn sẽ được ông nói cho biết ít nhiều điều lý thú về tính cách con người mình để... hiểu thêm về mình. Lý do, gần đây T.Vấn đã tìm đọc lại cuốn sách mình từng đọc hơn 50 năm về trước, Thérèse Desqueyroux, một trong những tiểu thuyết nổi tiếng nhất của François Mauriac.

Việc chọn lựa một cuốn sách để đọc cũng đủ nói lên khuynh hướng, sở thích hoặc nhu cầu của người đọc. Tuy nhiên đấy chỉ là vòng một, qua đến vòng hai, là qua những gạn lọc, những cuốn sách nào còn đọng lại trong tâm trí, còn muốn tìm đọc lại mới đích thực là những sách đáng đọc, cũng tựa những người bạn đích thực. Chính việc đọc lại, chính cái vế sau trong câu nói ấy của Mauriac cho thấy ông quả là nhà văn sâu sắc, thâm trầm. Thérèse Desqueyroux được tờ báo lớn và lâu đời nhất của Pháp, Le Figaro, bình chọn là một trong mười hai tiểu thuyết hay nhất của nửa đầu thế kỷ 20 cũng là từ cái sâu sắc thâm trầm ấy của nhà văn sở trường về phân tích, đào xới tâm lý nhân vật đến tận cùng mọi ngóc ngách.

Về phía T.Vấn, không chỉ đọc lại Thérèse Desqueyroux, ông còn đi xa hơn nữa, qua việc chuyển ngữ tác phẩm này sang tiếng Việt. Công việc dịch thuật, chuyển ngữ một tác phẩm, trong một nghĩa nào đó là đọc lại thật kỹ, đọc tới nơi tới chốn tác phẩm ấy.

Vì sao T.Vấn lại dụng công chuyển ngữ sang tiếng Việt một tác phẩm từng được chuyển ngữ, trước và sau năm 1975? Câu hỏi được chính dịch giả trả lời trong lời Tựa “Tại sao tôi dịch Thérèse Desqueyroux?”

Tôi sẽ kể lại câu chuyện “của chúng tôi ”, bằng thứ ngôn ngữ của riêng tôi và qua mùi vị những hồi ức cháy bỏng của riêng tôi.

Ra là vậy! T.Vấn muốn kể lại câu “chuyện hai người” ấy bằng giọng kể của riêng ông. Sao không? Được quá đi chứ. Người ta vẫn kể lại cho người khác nghe, những người chưa nghe hoặc đã từng nghe, những câu chuyện lý thú từng được kể ở nơi này nơi kia. Với cách kể, giọng kể riêng, câu chuyện vẫn hấp dẫn như mới được nghe lần đầu.

“Mauriac có những lý do rất cá nhân của mình khi viết Thérèse Desqueyroux," dịch giả T.Vấn cho biết và nói thêm, “Quyết định bắt tay vào việc dịch tác phẩm này của tôi, cũng mang ‘tính cá nhân’ tương tự.” Lý do có “tính cá nhân” ấy, được ông bộc lộ, ít nhiều liên hệ đến một người phụ nữ mà ông gọi là “Thérèse của tôi ở ngoài đời”. “Một Thérèse có thực,” ông nói, “bằng xương bằng thịt và những mặn nồng có thực; hay nói cách khác, một hạnh phúc có thực.” Chính Thérèse ấy, chính khuôn mặt người phụ nữ trên bìa sách ấy với ánh mắt đang nhìn ông đăm đăm, đã giục giã, thôi thúc ông. Nàng muốn được sống lại ngày xưa một lần nữa.

Một Thérèse duyên dáng, thanh lịch bước ra từ những trang tiểu thuyết của François Mauriac, hay một người nữ hóa thân thành nhân vật Thérèse trong tiểu thuyết ấy. Hiểu cách nào thì T.Vấn vẫn gọi được là “Thérèse của tôi”.

Tất nhiên, ông cũng chọn cho mình một vai diễn bên cạnh Thérèse. Còn vai nào nữa ngoài Jean Azevedo, chàng trai trẻ điển trai gốc Do Thái, chỉ là vai phụ, chỉ xuất hiện trong vài chương của cuốn tiểu thuyết ấy nhưng tác động lớn đến suy nghĩ, quyết định và hành động của Thérèse, tạo bước ngoặt lớn làm thay đổi hẳn cuộc đời nàng.

Người Vợ Cô Đơn là tên bản dịch tiểu thuyết ấy của Mặc Đỗ, được NXB Cảo Thơm ở Sài Gòn ấn hành năm 1966. Thời điểm ấy cũng là “thuở ban đầu” của T.Vấn khi mới làm quen với Thérèse, nên ông giữ nguyên tựa sách đó cho lần chuyển ngữ này, tôi đoán là như vậy.

Người Vợ Cô Đơn không phải là câu chuyện tình lâm ly, nhiều tình tiết gay cấn và hấp dẫn theo cách hiểu thông thường. Những trang tiểu thuyết có bối cảnh và khí hậu của những cánh rừng thông trầm mặc, phản ánh thế giới nội tâm của Thérèse và cuộc hôn nhân “môn đăng hộ đối”, thực chất là cuộc hôn phối của tài sản, gượng ép và buồn tẻ đến ngột ngạt. Cuộc sống vô vị, không tình yêu, không lạc thú ái ân bên cạnh người chồng tầm thường nhạt nhẽo, khác biệt tâm tánh và chẳng bao giờ hiểu được vợ mình. Trên cả nỗi “cô đơn”, ở Thérèse là nỗi trầm uất không tìm ra lối thoát, không cách nào giải tỏa. Khi cánh cửa hôn nhân đóng lại sau lưng, như kẻ mộng du, nàng tự bước vào chiếc lồng đã mở sẵn. Thérèse tự nguyện là tù nhân của chính mình, không đợi cho đến lúc người chồng tạo sự cách ly và giam hãm nàng vào “nhà tù” của ông như một cách trừng phạt tội lỗi nàng.

Với Bernard, ông chồng, cô vợ mình nếu không khật khùng thì cũng thuộc dạng bất thường. Ông luôn muốn được biết vì sao người vợ đầu ấp tay gối của mình lại muốn đầu độc mình, muốn mình chết đi cho khuất mắt. Thế nhưng, cho đến lúc trả tự do cho nàng, cho đến lúc nhìn người vợ bước ra khỏi đời mình, ông vẫn không nhận được câu trả lời nào rõ ràng.

Về phần Thérèse, nàng cũng cố gắng để hiểu được điều gì đã khiến nàng đầu độc chồng mình. Nàng đã hành động như trong cơn mộng du hay một lực đẩy nào xô nàng lao xuống “con dốc vô hình”, không cách chi cưỡng lại được? Mặc dù đã có sự chuẩn bị câu trả lời khi bị Bernard cật vấn, nàng vẫn không thể đưa ra lời giải thích nào làm thỏa mãn được người chồng.

Một cuộc hôn nhân không hạnh phúc, một người mẹ không được gần gũi con mình, một trái tim không hơi ấm của tình yêu và những áp lực nặng nề của xã hội ngày càng nhấn chìm Thérèse, khiến nàng sống vật vờ như cái xác không hồn. Đến lúc nàng không trụ nổi nữa và sắp sửa ngã quỵ, người chồng quyết định trả tự do cho vợ mình. Ông đưa nàng từ Argelouse lên Paris để nàng tự lo liệu đời mình.

Cả hai hiểu rằng, giải pháp tốt nhất là ra khỏi đời nhau.

Nghe thử mẩu đối đáp sau cùng trước giờ chia tay của hai vợ chồng.

Thời gian là buổi trưa, vào giờ ăn trưa. Không gian là đường phố Paris, trong tiệm “Café de la Paix”.

“Tại sao cô lại hành động như thế? Giờ cô hãy nói cho tôi biết đi.”

Thérèse chiếu ánh mắt vào khoảng không trước mặt...

“Bernard à..., tôi biết đến một Thérèse đã từng hãnh diện vì lấy được một Desqueyroux, được bước vào trong một trong những gia đình danh giá nhất vùng, sung sướng được cột dây đời mình, như cái cách người ta hay nói. Tôi biết đến một Thérèse có thật và bình thường như bao người khác, sống một cuộc sống như bao người khác. Không, không. Hy sinh Thérèse ấy cho một Thérèse khác là điều không đúng chút nào hết! ”

“Một Thérèse khác?”

Nàng không biết nói sao để trả lời.

Sau cùng, Bernard vẫn không sao hiểu được nàng.

“Anh sẽ cảm thấy rất trống trải ở đó. Dù cho tôi đã rời khỏi rồi, nhưng vẫn còn chỗ của tôi. Có lẽ tốt nhất cho anh là tôi nên chết đi. ”

Và, khi Bernard rời đi, bỏ lại nàng một mình trong tiệm cà-phê trên hè phố ấy.

Thérèse chăm chú nhìn rất lâu vào giọt rượu còn sót lại trong chiếc ly của Bernard, rồi bắt đầu ngó mông quan sát các khuôn mặt khách bộ hành đi ngang qua.

Trang cuối cuốn tiểu thuyết có ánh mắt sáng lên, có nụ cười nhen nhúm từ lâu vắng bóng trên khuôn mặt Thérèse, như chút nắng hửng lên trong cánh rừng thông tịch lặng.

Nàng mỉm cười với chính mình, giống hệt như một người đàn bà hạnh phúc vẫn làm.

Chỉ là “mỉm cười với chính mình”, chỉ là chút khóe môi nhếch lên, chưa gọi là tỏa sáng trên khuôn mặt Thérèse khi nàng hòa nhập vào dòng người đông đúc đang chen chân vội vã trên hè phố Paris. Thế cũng đủ.

François Mauriac, bằng nghệ thuật phân tích sâu sắc những chuyển biến tâm lý của con người trong những trạng huống phức tạp nhất đã dẫn dắt và lôi cuốn độc giả qua những đoạn hồi tưởng, độc thoại nội tâm của nhân vật.

Nhân vật Jean trong Người Vợ Cô Đơn, chàng trai có đầu óc phóng khoáng, ham chuộng sách vở, nhiều nỗi đam mê và có vẻ ngoài thu hút đã mang đến cho Anne, em gái Bernard, chút hạnh phúc của một tình yêu lãng mạn. Đấy chính là cái mà Thérèse khao khát và không tìm thấy được ở chồng mình. “Hay ta đã bị mê hoặc bởi cái vẻ ngoài quyến rũ của cậu trai?” nàng tự hỏi lòng mình. “Ồ không, không thể như thế được! Nhưng cậu ta là người đàn ông đầu tiên ta gặp, cho ta biết đánh giá cái phần bên trong của một con người và coi trọng cái phần ấy hơn bất cứ thứ gì khác. ”

Chính điều ấy, chính nỗi khát khao tự do, khát khao tình yêu sau lần gặp Jean ấy đã đẩy nàng Thérèse tới quyết định giải phóng đời mình ra khỏi nỗi cô đơn cùng cực.

Nhiều độc giả từng đọc tác phẩm này từ một bản dịch khác, sẽ tự mình khám phá những điểm lý thú qua bản dịch này, kể cả so sánh, cũng tựa như so sánh những cuốn phim được chuyển thể từ cùng một tác phẩm này. Về phần tôi, cũng phải cám ơn dịch giả T.Vấn đã cho tôi cơ hội được “đọc lại”, được nhìn ngắm rõ hơn diện mạo của Thérèse và học hỏi được đôi điều ý nghĩa, chẳng hạn, để nhìn thế giới cho công bằng và trung thực, hãy ra khỏi chính mình và nhìn sự việc bằng con mắt của một người có cách nhìn khác mình.

Bên cạnh những lý do được dịch giả bộc lộ cho việc chuyển ngữ tác phẩm này, tôi ngờ rằng vẫn có những nỗi niềm ông chưa giãi bày hết, chẳng hạn mối đồng cảm giữa hai tâm hồn cô đơn.

Trong nỗi mất mát, hụt hẫng sau ngày người bạn đời thân quý không còn ở bên cạnh, và “trong cái cô quạnh của căn phòng giờ chỉ còn mình tôi”, hơn bao giờ hết, ông thấu hiểu được tâm trạng của nhân vật chính Thérèse trong những đêm không ngủ, khi nàng đứng trơ trọi ở cửa sổ nhìn những rặng thông lấp loáng giữa bóng tối đặc quánh đến độ có thể lấy tay sờ được.

Thực sự, không có nỗi cô đơn nào giống nỗi cô đơn nào. Những nỗi cô đơn đến cùng tận, nếu không hủy hoại cuộc sống thì cũng dễ đẩy con người rơi vào hố sâu trầm cảm. Muốn có một cuộc sống mới người ta phải sống trong một khung cảnh mới. Nàng Thérèse trong truyện và chàng Jean ở ngoài đời, cả hai cùng rời bỏ một nơi chốn quen thuộc để đến một nơi chốn khác, bắt đầu lại cuộc sống khác, mong tìm thấy tia nắng ấm sau những ngày dài ảm đạm.

Qua việc chuyển ngữ tác phẩm này, T.Vấn cho biết, ông muốn giới thiệu lại với độc giả trẻ Việt Nam một tác phẩm kinh điển vẫn còn sống sót dù trải qua năm thế hệ nhân loại. Với những độc giả lần đầu làm quen và yêu thích tác phẩm này, Người Vợ Cô Đơn có đến hai đời sống và nhân vật Thérèse vẫn ở tuổi thanh xuân chứ không già đi chút nào. Cũng cần nói thêm, những lời bày tỏ của dịch giả qua lời Tựa cũng gieo vào lòng độc giả ít nhiều cảm xúc khi biết rằng, gửi đến người đọc dịch phẩm này, ông còn gửi theo chút tâm tình, “Tôi muốn được gặp lại người xưa. Hay, chính tôi muốn sống lại ngày xưa một lần nữa...”

“Ngày xưa, một lần nữa”, nghe tha thiết quá, làm nhớ câu hát trong bài tình ca nào, “Tôi sẽ về lại để yêu em thêm một lần nữa.” Không chỉ muốn “hội ngộ cố nhân” là nàng Thérèse, ông còn muốn gặp lại mình, muốn được sống lại quãng đời ngỡ đã trôi qua mất. Cũng giống như nhân vật Thérèse trong chương cuối của Người Vợ Cô Đơn, nhân vật Jean của ngày xưa ấy, cũng tìm được chút hạnh phúc ở cuối đường. Trong suốt thời gian thực hiện bản chuyển ngữ, tôi đã sống lại được nỗi đam mê của thời trai trẻ, đã đắm chìm trong những trang sách với cảm giác hạnh phúc rất hiếm hoi ở một người (già) như tôi.

Như vậy, hiểu theo một cách nào đó, người ta vẫn tìm lại được “thời gian đã mất”, vẫn tắm lại được hai lần một dòng sông.

Thérèse, nàng có còn đó không? Nàng có đợi chàng về? Không làm sao biết được. Nhiều lắm chỉ biết rằng, nói như dịch giả T.Vấn, “Vì là một nhân vật của tiểu thuyết, nàng vẫn mãi mãi tuổi thanh xuân.”

* Những chữ in nghiêng là tên tác phẩm, dịch phẩm và câu trích dẫn trong sách này.

Đọc và nghĩ

Nguyễn Thiên Nga

Tôi được học gần hết bậc tiểu học dưới nền giáo dục VNCH. Tôi mê đọc sách và ở lứa tuổi đó, tôi chỉ được đọc những truyện tranh, trang báo dành cho thiếu nhi và đọc lén rất nhiều truyện thuộc tủ sách Tuổi Hoa mà anh chị mua hoặc thuê ở tiệm gần nhà.

Sau sự kiện lịch sử 4/1975, theo gia đình rời Dalat đi Kinh Tế Mới, ngoài những cuốn sách cũ mẹ mang theo thì gần như tôi không còn có gì để thỏa mãn niềm đam mê đọc của mình. Khi được đi học trở lại, thư viện trường nơi vùng quê mới cũng nghèo như chính cuộc sống ở đó. Tuy nhiên, tôi cũng được đọc khá nhiều tác phẩm mới liên quan đến chương trình học của mình. Đọc, để hiểu và để làm bài tập làm văn. Đọc, để thỏa mãn nhu cầu chính mình và đọng lại không nhiều cảm xúc.

Những năm cuối thập niên 80, khi đã trở thành cô giáo, nơi tôi lui tới nhiều nhất vào mỗi cuối tuần là Nhà sách Phương Nam ngay khu Hòa Bình Dalat. Lúc đó, ở đây vẫn còn cho thuê sách và tôi thường chọn đọc nhiều nhất là truyện dịch. Tôi nhớ những cuốn: “Lâu Đài Người Bán Nón”- A.J. Cronin; “Ông Già Và Biển Cả” của Ernest Hemingway; “Những Cuộc Phiêu Lưu Của Tom Sawyer” - Mark

Twain;“Đơi Gió Hú", “Jane Eyre”-Bronte, ...

Với tôi, truyện dịch thường khô khan và tôi thật sự không thích bằng được đọc những tác phẩm “thuần Việt”. Tuy nhiên, trong giai đoạn đó, nguồn sách Việt Nam không dồi dào như bây giờ (có quá nhiều lý do và không thể biện minh) và tôi không có nhiều lựa chọn. Tuy nhiên, vẫn may mắn cho tôi, những cuốn sách, truyện mà tôi từng đọc được dịch bởi các dịch giả cự phách.

Bây giờ thì lại khác, nguồn sách, truyện của tác giả Việt quá phong phú; sách dịch, văn học dịch nở rộ và trong số đó, có cuốn đọc xong, tôi có cảm giác hình như mình không hiểu gì. Không hiểu thì cũng chẳng có cảm xúc gì về tác phẩm.

Một ngày đẹp trời, tôi được đọc trên trang T.Vấn & Bạn Hữu trọn vẹn tác phẩm “Thérèse Desqueyroux”, một trong những tiểu thuyết nổi tiếng nhất của François Mauriac được nhà văn Trương Vấn chuyển ngữ sang tiếng Việt.

Dịch giả Trương Vấn (tôi xin phép được gọi ông như vậy) đã tích lũy được vốn từ vựng thật dồi dào; đặc biệt là kiến thức về từ đa nghĩa, về cấu trúc ngôn ngữ. Chính vì vậy, bản dịch uyển chuyển, dễ đọc, dễ cảm và dễ thấm.

Tôi đọc không chỉ một lần, đúng vậy. Tác phẩm đủ sức cuốn hút để tôi ngồi đọc một hơi mà không hề cảm thấy nhàm chán. Ngôn ngữ dùng trong giao tiếp hay khi độc thoại của nhân vật, nhiều khi ông sử dụng những từ thuần Việt, ngồ ngộ, dễ thương khiến tôi vô cùng thích thú, đôi khi thoáng ngỡ ngàng.

Tác phẩm đã đưa tôi đi qua mọi cung bậc cảm xúc rồi bâng khuâng, bâng khuâng hoài với cái kết. Có lẽ dịch giả đã mang đầy đủ phẩm chất của một nhà văn, cho nên nguyên tác được ông chuyển ngữ sang tiếng Việt vừa giữ lại được đầy đủ hồn cốt, phong cách của tác giả, vừa gần gũi, quen thuộc với độc giả Việt Nam. Tôi là một trong nhiều độc giả Việt Nam đó. Tôi như đang nhìn thấy một nàng Thérèse đang thẩn thơ đâu đó trong rừng thông Đà Lạt mù sương, vắng lạnh, cô đơn. Có lẽ nàng đang có một hạnh phúc mới và dĩ nhiên, nàng mãi mãi thanh xuân...

Được biết, Tủ Sách điện tử của trang T.Vấn & Bạn Hữu cũng đang chuẩn bị để ấn hành tác phẩm chuyển ngữ này (và dĩ nhiên, ở dạng e-book). Vậy là, rồi đây giữa Đà Lạt mù sương, tôi lại có dịp được nhìn ngắm nàng Thérèse chập chờn trong vắng lạnh, cô đơn giữa màn hình máy đọc mỗi khi chợt nghĩ về một mảnh đời tưởng chỉ có trong tiểu thuyết.Notes

[←1]

Một phong trào thần học Thiên Chúa giáo ở đầu thế kỷ 17 (cho đến 18) hoạt động chủ yếu ở nước Pháp, nhấn mạnh đến tội lỗi của con người và sự cần thiết của Cứu Chuộc (Giáo Hội La Mã sau này coi đó là dị giáo).[←2]

Bản thảo đầu tiên Mauriac soạn thảo cho tác phẩm Thérèse Desqueyroux.[←3]

Vụ việc Dreyfus: Alfred Dreyfus, một viên đại úy người Do thái trong quân đội Pháp. Năm 1894, ông bị kết tội là đã tiết lộ những bí mật quân sự cho người Đức. Đa số công chúng tin rằng Dreyfus vô tội. Và sau đó, người ta phát giác ra kẻ phạm tội là thiếu tá Esterhazy. Ông này được tòa án quân sự tha bổng. Vụ việc gây nên một tranh cãi xoáy quanh lòng yêu nước (rằng liệu người ta có phải ủng hộ quân đội và quan điểm của giới này) cho dù có ngược lại với sự thực.[←4]

Hippolytus là một anh thợ săn trẻ trong tác phẩm Phaedra của Jean Racine (1677), một câu truyện thần thoại cổ Hy Lạp được cách tân và Phaedra được coi như một tác phẩm bậc thầy vĩ đại nhất của văn học Pháp. Hippolytus là con trai của Theseus và là con chồng của Phaedra. Trong lúc Theseus vắng nhà, Phaedra đã đem lòng say mê cuồng nhiệt đứa con của chồng. Sau đó, cả hai đều bị giết.[←5]

Trích: Jean Lacouture, François Mauriac: La Sondeur d’âbimes, 1885-1933 (Paris: Éditions du Seuil, 1980), p. 220.[←6]

Nicholas Hewitt, “Mauriac dans le contexte culturel des années vingt: La Tentation de la littérature mondaine,” Nouveaux Cahiers François Mauriac, 1, 1993, p. 63.[←7]

Charles Du Bos, François Mauriac et le problèm du romancier catholique (Paris: Éditions Corrêa, 1933), p. 57.[←8]

Xem lại cuộc thảo luận về thời kỳ khủng hoảng này trong phần giới thiệu của “God and Mammon” và “What Was Lost”(Sheed & Ward, 2003).[←9]

Jean Lacouture đã kể chi tiết câu chuyện Canaby trong quyển sách về tiểu sử của Mauriac. Pp. 294-297.[←10]

Mauriac, “Le Romancier et ses personnages” [Nhà văn và Nhân vật], trong Jacques Petit, đã dẫn, François Mauriac: Oeuvres romanesques et théâtrales completes (Paris: Gallimard, 1992), vol. II, p. 844.[←11]

Bài báo không có nhan đề của Mauriac được in trong tờ báo tiếng Bồ Đào Nha Bandarra vào ngày 8 tháng 6, 1935, và được Petit dẫn lại, p. 927.[←12]

Eva Kushner, Mauriac (Paris: Desclée de Brouwer, 1972), p. 95.[←13]

Cecil Jenkins, Mauriac (New York: Barnes and Noble, 1965), p. 75.[←14]

Trích trong Lacouture, p. 321.[←15]

Mauriac, “Spiritualité des Landes” [1936], trích trong Théodore Quoniam, François Mauriac: Du Péché à la rédemption (Paris: Tequi, 1984), pp. 46-47.[←16]

Nhiều nhà phê bình đã tặng cái từ “tính thơ (poetic)” cho tác phẩm tiểu thuyết của Mauriac’ theo ý nghĩa chung, nhằm chỉ những đoạn văn mang nặng tính cảm xúc hoặc ít nhất, có khuynh hướng ấy.[←17]

Pierre-Henri Simon, Mauriacpar lui-même (Paris: Edition du Seuil, 1963), p. 38.[←18]

Charles Beaudelaire, “Nhà tu khổ hạnh” [The Wretched Monk; Le Mauvais moine], trong The Flowers of Evil [1857], dịch bởi James McGowan (London: Oxford University Press, 1993), p. 29.[←19]

Lacouture, p. 307.[←20]

Theodore P. Fraser, Tiểu thuyết Catholic hiện đại ở châu Âu [The Modern Catholic Novel in Europe], (New York: Twayne, 1994), p. xv.[←21]

André Joubert, “La Tragédie spirituelle de Thérèse Desqueyroux” , trong: André Seailles, ấn bản, Mauriac devant leproblème du mal (Paris: Klincksieck, 1994), p. 183.[←22]

Richard Griffiths, Le Singe de Dieu: François Mauriac entre le ‘roman catholique’ et la littérature contemporaine, 1913-1930 (Paris: L’Esprit du Temps, 1996), pp. 118-121.[←23]

William Kidd, “Oedipal and pre-Oedipal in Thérèse Desqueyroux”, trong: John E. Flowers và Bernard C. Swift, François Mauriac: Visions and Reappraisals (Oxford: Berg, 1989), pp. 25-45.[←24]

Về thời kỳ khủng hoảng của Mauriac và những giải pháp, xem phần giới thiệu trong: “God and Mammon” và “What Was Lost”.[←25]

Jean Paul Sartre, “François Mauriac và Tự do”, trong: Litterary Essays; bản dịch (Anh ngữ): Annette Michelson (New York: Philosophical Library, 1957), pp. 7-23.[←26]

Lacouture, p. 307.[←27]

“Le Romanciere et ses personnages,” p. 850.[←28]

Lời Đề Từ trích từ bài thơ “Mademoiselle Bistouri” của Baudelaire trong tập “Paris Spleen” (Cơn phiền muộn Paris) (1869). Cô gái trẻ có tên được dùng làm nhan đề bài thơ, tìm cách mồi chài nhà thơ giữa đêm khuya Paris. Ngay lúc đó, nhà thơ biết cô gái bị mắc chứng điên khùng; cô ta có một mối ảm ảnh kỳ lạ với các bác sĩ; [tên cô gái: BISTOURI có nghĩa là dụng cụ y khoa - ghi chú của bản tiếng Việt]. Kết luận bài thơ, Baudelaire đã cầu nguyện cho cô được Thiên chúa chấp nhận, vì xét cho cùng, cô cũng là một tạo vật do Thiên chúa dựng nên.[←29]

Locusta của thành Gaul, là một người sử dụng độc chất nổi tiếng dưới thời cai trị của hoàng đế Nero ở La Mã. Chính nàng đã đứng ra giám sát vụ đầu độc Claudius khiến ông này tử vong và dọn đường cho Nero lên ngôi. Mauriac so sánh Thérèse với Locusta, nhưng ông ao ước mình có thể biến nhân vật Thérèse thành bà thánh Locusta.[←30]

Peyrecave là tên của viên luật sư ở Bordeaux trong vụ án xét xử Madame Canaby.[←31]

Hippolytus là một anh thợ săn trẻ trong tác phẩm Phaedra của Jean Racine (1677), một câu truyện thần thoại cổ Hy Lạp được cách tân và Phaedra được coi như một tác phẩm bậc thầy vĩ đại nhất của văn học Pháp. Hippolytus là con trai của Theseus và là con chồng của Phaedra. Trong lúc Theseus vắng nhà, Phaedra đã đem lòng say mê cuồng nhiệt đứa con của chồng. Sau đó, cả hai đều bị giết. Racine đã tạo vài biến thể quan trọng so với nguyên gốc câu truyện: Chàng trai trẻ của Racine phải lòng công chúa Aricia. Biết được việc này, Phaedra nổi cơn ghen tuông dữ dội. Trong thần thoại Hy Lạp, viết bởi Euripides, không có nhân vật Aricia. Hippolytus là người hâm mộ Artemis, vị nữ thần của sự trinh bạch và chàng ta chỉ có thú say mê săn bắn.[←32]

Paul De Kock (1794-1871) là một tiểu thuyết gia tác giả của rất nhiều tác phẩm. Tiểu thuyết của ông phần nhiều thiên về hài hước, thông tục, ít nhận được sự kính trọng của các nhà phê bình.

Causeries de lundi là những bài báo đăng nhiều kỳ rất được ưa chuộng, chủ yếu có tính cách phẩm bình và tiểu sử cá nhân, tác giả là Charles-Augustin Sainte-Beuve (1804-1869).

The history of the Consulat (một thời kỳ dưới triều đại trị vì của Napoleon), tác giả là Adolphe Thiers (1797-1877);

Các tác phẩm nhắc đến ở đây đều có một lượng độc giả rất lớn. Mục đích của việc liệt kê ra ở đoạn này tên các quyển sách mà Thérèse đọc nhằm cho thấy tính cách pha tạp của kiến thức mà nàng có được từ sách vở - và có lẽ, cũng là một hình thức thủ tục: liệt ra cho có.[←33]

Đám cưới của Gamache, hoặc Camacho, là một đoạn trong phần hai của tác phẩm Don Quixote của Cervantes mà sau này nhiều vở kịch múa Ballet đã dựa vào đó để thực hiện. Gamache là một điền chủ giàu có; đám cưới của anh ta thể hiện sự giàu có đó, với nhiều cảnh múa hát và hóa trang. Do đó, trong đoạn văn này, sự bóng gió của Thérèse hàm ý mỉa mai. Mỉa mai hơn nữa là ở đám cưới của Gamache, cô dâu - cũng xanh xao tội nghiệp như Thérèse - đã bỏ chú rể đi theo một chàng trai khác, người yêu thực sự của mình, nhưng rất nghèo; ở đây, sự tương phản với tình cảnh của Thérèse đã được nhấn mạnh.[←34]

Quyển sách hướng dẫn du lịch của nhà buôn sách người Đức Karl Baedeker (1801-1859), cho đến đầu thế kỷ 20 vẫn còn được nhiều người sử dụng. Vì thế, tên của Baedeker đã được hiểu như những gì liên quan đến sự hướng dẫn đi du lịch.[←35]

The Book of Good Stories là một loại sách giáo khoa Mauriac đọc khi còn là một cậu bé, mặc dù sách dành cho con gái đọc. Một trong những tác giả chính của quyển sách là Zénaide Fleuriot (1829- 1890); những câu chuyện dành cho đàn ông của Fleuriot đã làm cho Mauriac bối rối mỗi khi nhắc đến.[←36]

Pierre-Jean de Béranger (1780-1857) là một nhà thơ có tư tưởng chống đối giáo hội, chống đối chế độ quân chủ; tác phẩm của ông rất được ưa chuộng trong thế kỷ 19. Sự thô tục trong những bài nhạc ông viết đã đem đến cho ông số người nghe rất lớn.[←37]

Charles de Foucauld (1858-1916) là một tu sĩ thuộc dòng tu khắc khổ Luyện Tâm (Trappist); ông sống ở Algeria như một ẩn sĩ, và sau đó tuẫn đạo.Một quyển sách tiểu sử về Foucauld được René Bazin xuất bản năm 1921.[←38]

Cách điều trị này được đặt theo tên của người phát minh ra nó, viên bác sĩ người Anh Thomas Fowler (1736-1801). Ông là người đầu tiên chủ xướng việc pha trộn một số lượng nhỏ thạch tín dùng trong việc chữa bệnh tim.[←39]

Tên của cặp vợ chồng người quản gia giúp việc trong nhà, lẽ ra có thể gọi là Madame Balion để ám chỉ người vợ. Nhưng để phân biệt với người chồng, người ta thêm tiếp vĩ ngữ giống cái: Balionte.[←40]

Vụ Dreyfus: Alfred Dreyfus, một viên đại úy người Do thái trong quân đội Pháp. Năm 1894, ông bị kết tội là đã tiết lộ những bí mật quân sự cho người Đức. Đa số công chúng tin rằng Dreyfus vô tội. Và sau đó, người ta phát giác ra kẻ phạm tội là thiếu tá Esterhazy. Ông này được tòa án quân sự tha bổng. Vụ việc gây nên một tranh cãi xoáy quanh lòng yêu nước (rằng liệu người ta có phải ủng hộ quân đội và quan điểm của giới này) cho dù có ngược lại với sự thực. Khi ấy, gốc gác Do Thái của Dreyfus đã bị đem ra mổ xẻ. Cuộc tranh cãi đã khiến nước Pháp bị chia rẽ trầm trọng và kéo dài. Trong tiểu thuyết của Mauriac, bà cô Clara có tinh thần cấp tiến hiển nhiên đứng về phe cương quyết cho là Drefus vô tội, trong khi đó phe bảo thủ - và bài Do Thái - tức gia đình Desqueyroux, luôn nói ngược lại.[←41]

Câu nói này được dựa theo một đoạn văn nổi tiếng trong tiểu luận của Michel de Montaigne: “Về tình bằng hữu” ra đời trong khoảng thời gian giữa 1572 và 1580. Montaigne cố gắng dài dòng phân tích tại làm sao ông cảm thấy có tình bạn bè với Etienne de la Boétic và cuối cùng kết luận rằng, cơ hội cho một tình bạn như thế chiếm một vai trò quyết định: Họ quý mến nhau, đơn giản là „bởi vì đó là anh ấy, bởi vì đó là tôi’. Bài tiểu luận đã được Thérèse học trong trường.[←42]

Đây là một trong những chỗ cho thấy, hồi ức của Thérèse thực ra là hồi ức của Mauriac. Ở đoạn này, Mauriac nhớ lại một chương nói về kẻ sát nhân bị săn đuổi Daguerre trong tác phẩm Nouveaux mémoire intérieuxs (Paris: Flammarion, 1965, p. 59). Ông cũng nhớ lại chi tiết một trong những con chó của gia đình Mauriac đã phát hiện ra Daguerre.[←43]

Kiểu tóc cắt theo “ông hoàng Edward đệ Ngũ” (Prince Edward V) là một kiểu tóc thời trang cho con trai ở cuối thế kỷ 19, dựa theo sự mô tả nổi tiếng về ông hoàng Edward V của Paul Delaroche (1836) trước khi ông này bị hành hình.[←44]

The Prisoner of Poitiers, ám chỉ một chuyện có thật đã làm cả nước Pháp kinh hoàng vào năm 1901: Cảnh sát phát hiện ra một phụ nữ 52 tuổi tên là Mélanie Bastian đã bị gia đình giam giữ trong phòng ngủ của mình suốt 25 năm. Hình chụp và bản vẽ cho thấy hình ảnh một người đàn bà gầy gò, hốc hác, tiều tụy đến đáng sợ (và tất nhiên, đến lúc này bà không còn tỉnh táo nữa) phủ đầy các trang báo ngày. André Gide có viết một bản nghiên cứu về trường hợp này, nhan đề: La séquestrée de Poitiers; Bản nghiên cứu này đã được in lại (Paris: Gallimard, 1998) kể cả những hình ảnh liên quan nên hẳn Bernard đã được xem. Quyển sách của Gide mới đây cũng đã được dịch (sang tiếng Anh) bởi Benjamin Ivry và được gộp chung một tuyển tập, nhan đề: Judge Not (Champaign: university of Illinois Press, 2003).

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.