Ngợi Ca Sống Chậm - Chương 10

CHƯƠNG MƯỜI - TRẺ EM: NUÔI DẠY MỘT ĐỨA TRẺ KHÔNG VỘI VÃ

Cách giáo dục hiệu quả nhất là một đứa trẻ được chơi giữa các đồ vật đáng yêu.

- PLATO (427-347 TRƯỚC CÔNG NGUYÊN)

Harry Lewis là hiệu trưởng một trường đại học thuộc đại học Harvard. Đầu năm 2001, ông tham dự một cuộc họp tại đó các sinh viên được mời đến để bày tỏ những bất bình của họ về đội ngũ cán bộ ở Hội Đại học Đông Bắc Mỹ. Một sinh viên làm ầm cả lên khiến tôi không quên nổi. Cậu ta muốn học một lúc hai chuyên ngành Sinh vật và tiếng Anh, và nhồi nhét tất tật vào ba năm, thay vì bốn năm như thường lệ. Cậu ta tức giận với vị cố vấn học thuật, người không thể, hoặc không muốn, điều chỉnh thời khóa biểu cho khớp tất cả các khóa học. Trong khi ngồi nghe anh chàng sinh viên than vãn về việc bị ngăn trở, Lewis cảm thấy như có một bóng đèn nhỏ chớp sáng phía trên đầu mình.

“Tôi nhớ lại mình đã suy nghĩ là ‘Chờ một phút, em cần sự giúp đỡ, nhưng không phải theo cách em nghĩ em cần,’” ông hiệu trưởng nói. “Anh cần dành thời gian để nghĩ xem điều gì là quan trọng thực sự, chứ không phải cố tìm cách ra làm sao lèn cho được càng nhiều càng tốt vào một lịch làm việc ngắn nhất có thể”.

Sau cuộc họp, Lewis bắt đầu suy ngẫm việc làm sao mà sinh viên của thế kỷ hai mươi mốt lại trở thành môn đệ của thói vội vàng. Từ đó chỉ còn một bước ngắn tới lên tiếng chống lại tai họa từ những lịch trình nhồi quá mức và các chương trình học cấp tốc. Vào mùa hè năm 2001, ông hiệu trưởng gửi một bức thư ngỏ tới tất cả các sinh viên năm thứ nhất của trường đại học Harvard. Đó là một lời yêu cầu khẩn thiết, xúc động về một cách tiếp cận mới mẻ cuộc sống trên giảng đường đại học và xa hơn nữa. Đó cũng là bản tóm tắt rành mạch những ý tưởng nằm trong cốt lõi triết lý Chậm. Bức thư, ngày nay tới tay những sinh viên Harvard mới nhập trường hàng năm, có nhan đề: Hãy Thong thả.

Trên bảy trang giấy, Lewis đặt vấn đề thu hoạch được nhiều hơn từ trường đại học – và cả đời sống – bằng cách làm bớt việc đi. Ông hối thúc các sinh viên suy nghĩ kỹ càng trước khi chạy đua vì học vị. Cần bỏ thời gian để nắm vững một môn học, ông nói, vừa chỉ ra rằng những trường y, luật và thương mại hàng đầu ngày càng ủng hộ các thí sinh đã trưởng thành có nhiều khả năng hơn là một “học vấn khắc nghiệt và cô đọng”. Lewis cảnh báo vấn nạn chồng chất quá nhiều hoạt động ngoại khóa. Đâu là mấu chốt, ông hỏi, trong việc chơi bóng vợt lacrosse, chủ trì các cuộc tranh luận, tổ chức các hội nghị, diễn kịch và biên tập một mục trên tờ báo của trường, nếu kết cục các em tiêu toàn bộ sự nghiệp Harvard của mình trong quá sức, cố không bị tụt lại sau thời khóa biểu? Tốt hơn hết là làm bớt việc đi để có thời gian tận dụng tối đa từ những công việc ấy.

Còn về cuộc sống trong nhà trường, Lewis ủng hộ quan điểm ít-là-nhiều tương tự. Hãy nghỉ ngơi và thư giãn thật nhiều, ông nói, và đảm bảo trau dồi nghệ thuật không làm gì cả. "Thời gian trống không phải là một chiếc bình rỗng cần phải đổ đầy," ông nói. "Đó chính là khoảng thời gian cho những việc khác trong tâm trí anh được sắp xếp lại linh hoạt, giống những ô trống trong trò đố 4x4 giúp thực hiện việc di chuyển mười lăm quân khác ở chung quanh." Nói cách khác, không làm gì, tức chậm, là một phần chủ yếu trong tư duy mạch lạc.

Hãy thong thả không phải là hiến chương dành cho những kẻ lười biếng và đám người lập dị tái-sinh. Lewis cũng là con người say mê công việc gian khổ và thanh công trong học thuật giống như thế hệ kế tiếp các nhân vật có ảnh hưởng lớn ở Havard. Ý ông đơn giản là một sự chậm lại nho nhỏ, có chọn lọc, có thể giúp cho sinh viên sống và làm việc tốt hơn. "Trong khi khuyên các em nghĩ về việc thong thả lại và giới hạn những hoạt động có tổ chức, tôi không có ý can ngăn các em đạt thành quả cao hơn, mà quả thực chỉ ngăn việc theo đuổi sự xuất sắc phi thường," ông kết luận. "Các em hoàn toàn có thể duy trì nỗ lực mạnh mẽ cần thiết cho hoàn tất công việc ưu tiên hạng-nhất trong một phạm vi nếu như các em tự cho mình một ít thời gian thư nhàn, một ít giải trí và một ít cô đơn nữa."

Lời kêu gọi tự đáy lòng của ông đến không sớm một phút nào. Trong thế giới tăng tốc tối đa của chúng ta, con virut vội vã đã lan truyền từ người lớn sang lớp trẻ. Những ngày nay, trẻ em ở mọi dạng lứa tuổi đang lớn lên nhanh hơn. Trẻ sáu tuổi đã biết tổ chức cuộc sống xã hội của chúng bằng những chiếc điện thoại cầm tay, và các em thiếu nhi thì biết điều hành công việc kinh doanh từ phòng ngủ của chúng. Mối băn khoăn về vóc dáng cơ thể, tình dục, những nhãn hiệu hàng tiêu dùng và cả sự nghiệp của chúng khởi đầu càng ngày càng sớm. Bản thân thời niên thiếu dường như cũng ngắn lại, với nhiều hơn những em gái dậy thì sớm so với tuổi. Những người trẻ tuổi ngày nay chắc chắn là bận rộn hơn, quy củ hơn, và cũng vội vã hơn nhiều so với thế hệ của tôi hồi trước. Mới đây, một giáo viên tôi quen biết đã đến gặp phụ huynh của một cháu trai trong lớp cô phụ trách. Cô cảm thấy cháu dành quá nhiều thời gian ở trường và đăng ký quá nhiều hoạt động ngoại khóa. Hãy để cháu nghỉ ngơi, cô khuyến nghị. Người cha nổi giận. "Thằng bé phải biết làm việc ngày mười tiếng, giống như tôi," ông ta ngắt lời. Đứa trẻ mới chỉ bốn tuổi.

Năm 1989, David Elkind, chuyên gia tâm lý học người Mỹ, xuất bản một cuốn sách nhan đề Đứa trẻ vội vàng: Lớn lên quá nhanh quá sớm. Như nhan đề của cuốn sách gợi ra, Elkind cảnh báo về thứ mốt đang thịnh hành là vội vã đẩy trẻ em vào giai đoạn trưởng thành. Có bao nhiêu người để tâm chú ý? Rõ ràng rất ít. Một thập kỷ sau, một đứa trẻ bình thường lại còn vội vàng hơn bao giờ hết.

Trẻ em sinh ra vốn không chịu nỗi ám ảnh của tốc độ và năng suất - mà chính chúng ta làm cho các em như thế. Những gia đình chỉ một bố hoặc một mẹ làm gia tăng sức ép lên trẻ nhỏ khiến chúng phải gánh vác những trách nhiệm thuộc về người lớn. Các nhà quảng cáo khuyến khích chúng sớm trẻ thành người tiêu dùng. Trường học dạy chúng sống theo chiếc đồng hồ và dùng thời gian một cách hiệu quả nhất có thể. Các bậc phụ huynh củng cố thêm bài học đó bằng cách nhồi nhét hoạt động ngoại khóa vào lịch sinh hoạt của chúng. Tất cả mọi thứ chuyển tới trẻ em thông điệp rằng bớt không phải là hơn, mà nhanh hơn luôn là tốt hơn. Một trong những câu đầu tiên con trai tôi học nói là: "Nào! Nhanh lên!"

Sự cạnh tranh thúc đẩy nhiều bậc cha mẹ hối thúc con mình. Chúng ta ai cũng muốn con em mình thành công trong cuộc sống. Trong một thế giới bận rộn, điều đó có nghĩa là đặt chúng vào làn cao tốc trong mọi việc - trường học, các môn thể thao, nghệ thuật, âm nhạc. Để bắt kịp con cái nhà Joneses thì không thể nào là đủ; giờ đây những đứa con thân yêu của chúng ta phải vượt trội trong mọi lĩnh vực.

Điều lo sợ rằng con cái ta có thể thua kém bạn bè không có gì là mới mẻ. Ngược về thế kỷ mười tám, Samuel Johnson cảnh báo các bậc cha mẹ chớ dao động: "Trong lúc bạn đang đứng cân nhắc xem con trai mình nên đọc cuốn sách nào trước, thì một cậu bé trai khác đã đọc cả hai cuốn rồi." Tuy nhiên, trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu 24/7, áp lực phải dẫn đầu tất cả còn tàn bạo hơn từ trước đến giờ, dẫn đến tình trạng mà các chuyên gia gọi là "nuôi dưỡng con cái quá mức", nỗ lực theo xu hướng cưỡng ép hòng hoàn thiện đứa trẻ của ta. Để cho con cái mình một sự khởi đầu tốt nhất, những ông bố bà mẹ đầy tham vọng còn chơi nhạc Mozart cho chúng nghe trong bào thai, dạy cho chúng ngôn ngữ khi mới sáu tháng tuổi và sử dụng tấm thẻ ghi chú của nhà xuất bản từ điển Webster để dạy từ vựng cho chúng ngay từ lần sinh nhật đầu tiên. Các trung tâm máy tính và những hội thảo có tính chất cổ động ngày nay nhận cả những trẻ em bốn tuổi. Người ta cũng bắt đầu dạy cho trẻ lên hai các bài học về đánh gôn. Với tất cả những ai khác đang hối thúc con cái mình, áp lực phải tham gia cuộc đua thật là to lớn. Một ngày nọ tôi bắt gặp một quảng cáo khóa học ngoại ngữ dành cho trẻ em của đài BBC. "Nói tiếng Pháp lúc lên ba! Nói tiếng Tây Ban Nha năm lên bảy!", dòng tít như hét lên. "Sẽ quá muộn nếu bạn còn lưỡng lự!" Bản năng đầu tiên của tôi là phải nhanh nhanh gọi điện thoại để đăng ký. Bản năng thứ hai là cảm thấy mình thật tội lỗi nếu không hành động như bản năng đầu tiên mách bảo.

Trong một thế giới cạnh tranh khốc liệt, trường học là chiến địa, tại đó điều duy nhất quan trọng là phải vươn lên đứng đầu cả lớp. Không ở đâu điều đó lại đúng hơn ở vùng Đông Á, nơi đây hệ thống giáo dục được xây dựng trên nguyên tắc "địa ngục thi cử." Chỉ để theo kịp chương trình, hàng triệu trẻ em khắp vùng này dành trọn các buổi tối và những dịp cuối tuần theo học tại các cơ sở gọi là "các trường nhồi sọ." Dành hẳn tám mươi tiếng một tuần cho học tập không có gì là hiếm.

Trong sự hăm hở nông nổi vì điểm số bài thi quốc tế cao hơn, các trường học trong thế giới nói tiếng Anh đặc biệt hứng thú ganh đua với mô hình Đông Á. Trên hai thập kỷ qua, các chính phủ luôn nuôi dưỡng học thuyết "củng cố", nghĩa là chồng chất thêm áp lực bằng nhiều hơn nứa các bài tập về nhà, các kỳ kiểm tra và một chương trình học khắt khe. Thường thường sự mệt mỏi bắt đầu trước cả khi vào lớp một. Tại một trường mẫu giáo ở Luân Đôn, con trai của tôi bắt đầu học - không được xuất sắc lắm - cách cầm bút và viết chữ ở tuổi lên ba. Việc dạy tư cũng bùng nổ ở phương Tây cho những trẻ càng ngày càng nhỏ tuổi. Các ông bố bà mẹ ở Mỹ hy vọng kiếm được một chỗ trong lớp mẫu giáo ưng ý gửi các con của mình mới bốn tuổi đi luyện những kỹ năng phỏng vấn. Các gia sư Luân Đôn nhận dạy trẻ mới ba tuổi.

Củng cố không chỉ giới hạn trong học hành trường lớp. Giữa các giờ học, nhiều trẻ em lao từ hoạt động ngoại khóa này sang hoạt động ngoại khóa khác, không còn thì giờ đây thư giãn mà tự mình chơi đùa hoặc để cho trí tưởng tượng của chúng được tự do bay bổng. Chẳng thì giờ đâu mà thong thả.

Trẻ em ngày càng phải trả giá cho việc sống vội vàng. Các cháu mới năm tuổi ngày nay đã mắc các chứng đau dạ dày, đau đầu, mất ngủ, kiệt sức và rối loạn ăn uống do stress. Giống như mọi người khác trong một xã hội "luôn luôn sẵn sàng", ngày nay nhiều trẻ em ngủ quá ít. Tình trạng này khiến chúng ốm yếu, hay hoảng hốt, bồn chồn và nóng nảy. Những đứa trẻ mất ngủ thường khó kết bạn. Chúng cũng dễ bị sụt cân, bởi giấc ngủ sâu kích thích sự giải phóng các hoóc-môn tăng trưởng ở con người.

Nói về chuyện học hành, đặt đứa trẻ vào làn cao tốc thường lợi bất cập hại. Viện Hàn lâm Nhi khoa Mỹ đã cảnh báo rằng chuyên vào một môn thể thao nào đó ở lứa tuổi quá sớm có thể gây ra những tổn thương về cơ thể và tâm lý. Cũng tương tự như giáo dục. Ngày càng nhiều bằng chứng cho thấy trẻ em học tốt hơn khi chúng học từ từ. Kathy Hirsh-Pasek, giáo sư khoa tâm lý học trẻ em tại trường Đại học Temple ở Philadelphia, bang Pennsylvania, gần đây kiểm tra trên một trăm hai mươi trẻ em Mỹ ở độ tuổi chuẩn bị tới trường. Một nửa tới những trường mẫu giáo không gây căng thẳng cho giao tiếp xã hội với quan điểm chơi mà học; nửa còn lại học các trường mẫu giáo vội vã thúc giục chúng hướng tới những thành tựu học hành, sử dụng phương pháp các chuyên gia gọi là kiểu dạy học "luyện tập và thủ tiêu." Hirsh-Pasek nhận thấy các trẻ em ở trong môi trường thư giãn hơn, thong thả hơn hóa ra ít lo sợ, hăng hái hơn trong học tập và có khả năng tư duy độc lập tốt hơn.

Năm 2003, Hirsh-Pasek là đồng tác giả cuốn Einstein Không Bao Giờ Dùng Thẻ Ghi Chú: Con em chúng ta thực sự học thế nào... Vì sao chúng cần chơi nhiều hơn và nhớ ít đi. Tác phẩm này tập hợp công trình nghiên cứu lật tẩy huyền thoại cho rằng "học sớm" và "học cấp tốc" có thể phát triển những bộ não giỏi hơn. "Khi chạm đến chuyện nuôi và dạy trẻ em, niềm tin hiện đại rằng 'nhanh hơn là tốt hơn' và chúng ta phải 'làm cho mỗi phút trở nên hữu ích' đơn giản là sai," Hirsh-Pasek nói. "Khi bạn nhìn vào bằng chứng khoa học, rõ ràng là trẻ em học tốt hơn và phát triển nhân cách hoàn chỉnh hơn khi chúng học tập theo một phương pháp thoải mái hơn, bớt khuôn phép hơn và bớt phần vội vã."

Ở Đông Á, cung cách phạt lao động từng khiến các trường học trong khu vực thành mục tiêu ghen tị của cả thế giới nay rõ ràng bị phản pháo. Học sinh đang mất đi ưu thế vượt trội về điểm thi quốc tế và không phát triển được các kỹ năng sáng tạo cần thiết trong nền kinh tế thông tin. Càng ngày các sinh viên Đông Á càng chống đối lại đặc thù học-cho-đến-gục. Tỉ lệ tội phạm và tự tử tăng lên, và nạn trốn học, một thời được xem như vấn đề hết sức phương Tây, đã đạt tới quy mô bệnh dịch. Trên một trăm ngàn học sinh tiểu học và trung học trốn học mỗi năm hơn một tháng. Nhiều học sinh khác còn từ chối hẳn chuyện đến trường.

Tuy vậy, ngay trong thế giới công nghiệp, phản ứng dữ dội đang ngày càng tăng trước quan điểm vội vã với thờ thơ ấu. Bức thư Hãy thong thả của Lewis là một đòn nặng cho mọi người từ các nhà báo chuyên về giáo dục đến các sinh viên và công nhân viên. Các bậc cha mẹ có con ở Havard chia bức thư cho những đứa con nhỏ tuổi hơn. Lewis cho hay: "Rõ ràng, nó như cuốn kinh thánh đối với một số gia đình." Nhiều ý tưởng nêu trong Hãy Thong thả đang tiến triển trên truyền thông. Các tạp chí nuôi dạy con mở những chuyên mục đều đặn về những nguy hại trong việc hối thúc con trẻ quá mức. Mỗi năm lại có một vụ thu hoạch mới sách của các nhà tâm lý học, và các nhà giáo dục đưa ra chứng cứ khoa học chống lại quan điểm "ngựa phi nước đại" trong nuôi dạy trẻ em.

Cách đây không lâu, tờ New Yorker xuất bản một truyện tranh tổng kết nỗi lo sợ ngày càng tăng rằng con trẻ thời hiện đại đang bị lấy đi tuổi thơ đích thực. Hai cậu nhóc học sinh tiểu học đang đi trên phố, sách kẹp nách, mũ bóng chày đội đầu. Với vẻ buồn chán già trước tuổi, cậu này thì thào với cậu kia: "nhiều đồ chơi lắm - chẳng trống lúc nào."

Trước đây chúng ta đã từng ở điểm này. Giống như hầu khắp phong trào Chậm, cuộc chiến nhằm đưa trẻ em về lại thời thơ ấu của chúng có nguồn gốc từ cuộc Cách mạng Công nghiệp." Thực vậy, quan niệm hiện đại về thời thơ ấu như là một thời kỳ ngây thơ và giàu tưởng tượng nảy sinh từ trào lưu Lãng mạn lần đầu tiên tràn qua châu Âu vào cuối thế kỷ mười tám. Cho đến khi đó, trẻ em được coi như những người trưởng thành nhỏ tuổi cần dạy cho biết làm việc càng sớm càng tốt. Trong giáo dục, triết gia người Pháp Jean-Jacques Rousseau đã rung chuông đón chào những thay đổi bằng cách tấn công truyền thống dạy trẻ em như thể chúng là những người trưởng thành. Trong cuốn Emile, một chuyên luận có tính chất bước ngoặt của ông bàn về việc đưa trẻ em đến trường hợp với tự nhiên, ông viết: "Tuổi thơ có cách riêng của chúng khi nhìn nhận, suy nghĩ và cảm xúc, và không có gì điên rồ hơn là ra sức tìm cách thay thế những gì của chúng bằng những gì của chúng ta." Trong thế kỷ mười chín, các nhà cải cách chuyển sự quan tâm sang những tai họa của nạn lao động trẻ em tại các nhà máy và hầm mỏ vốn dĩ đang nuôi dưỡng nền kinh tế công nghiệp mới. Năm 1819, Coleridge đặt ra thuật ngữ "nô lệ trắng" để mô tả trẻ em đang làm việc quần quật tại các xưởng sản xuất bông ở Anh. Mãi cuối những năm 1800, nước Anh mới bắt đầu chuyển trẻ em ra khỏi nơi làm việc và trở về các lớp học, trả lại cho chúng tuổi thơ đúng nghĩa.

Ngày nay, các nhà giáo dục và các bậc cha mẹ trên khắp thế giới một lần nữa đang từng bước áp dụng những biện pháp để cho các em thiếu niên quyền tự do thong thả, để thực sự là trẻ em. Trong cuộc tìm kiếm đối tượng phỏng vấn, tôi đã gửi các thông điệp lên một số trang web về nuôi dạy con cái. Trong những ngày đó, hộp thư của tôi đầy ắp những thư điện tử từ ba lục địa. Một số thư đến từ các em thiếu niên than phiền cuộc sống cập rập-hối hả của chúng. Một em gái người Úc tên là Jess mô tả mình như một "thiếu niên gấp gáp" và kể với tôi "em chẳng có thì giờ làm gì nữa!" Nhưng hầu hết thư điện tử đến từ các bậc cha mẹ nhiệt tình tán dương cung cách con trẻ của họ đang dần giảm tốc.

Chúng ta hãy bắt đầu từ lớp học, nơi áp lực học theo phương pháp Chậm đang dâng cao. Năm 2002, Maurice Holt, giáo sư danh dự về giáo dục tại Đại học Colorado, bang Denver, công bố cương lĩnh kêu gọi một phong trào rộng khắp thế giới mang tên "Giáo dục Chậm." Như các phong trào khác, ông lấy cảm hứng từ phong trào Đồ ăn Chậm. Theo quan điểm của ông, nhồi nhét thông tin vào trẻ em nhanh bao nhiêu tốt bấy nhiên cũng tác dụng y như ngấu nghiến nuốt một món ăn nhanh Big Mac. Tốt hơn cả là học tập ở nhịp độ khoan thai, dành thì giờ để tìm hiểu sâu các môn học, thiết lập những kết nối, học cách làm thế nào để tự duy vẫn hơn là học cách làm thế nào vượt qua các kỳ thi. Nếu ăn chậm kích thích vòm miệng, thì học chậm có thể mở rộng và tiếp thêm sinh lực cho trí não.

Holt viết rằng: "Khái niệm học Chậm triệt để xóa bỏ ý tưởng cho rằng đào tạo chỉ là nhồi nhét, kiểm tra và chuẩn hóa kinh nghiệm. Quan điểm Chậm với đồ ăn tạo điều kiện cho khám phá và phát triển sự am hiểu. Những lễ hội Đồ ăn Chậm đề cao các món ăn mới và những nguyên liệu mới. Cũng cùng một cách như vậy, các trường học Chậm tạo thuận lợi cho phát minh và đáp ứng thay đổi về văn hóa, trong khi các trường học nhanh chỉ cho ra lò những thị dân cằn cỗi."

Holt và những người ủng hộ ông không phải là những phần tử cực đoan. Họ không muốn trẻ em học ít đi, hoặc dành thì giờ ở trường để cư xử ngu xuẩn. Lao động cật lực có chỗ trong lớp học Chậm. Thay vì bị ám ảnh với các bài kiểm tra, các mục tiêu và thời khóa biểu, trẻ em sẽ được tự do yêu thích việc học tập. Thay vì dành cả giờ học lịch sử lắng nghe thầy giáo tuôn ra những ngày tháng và sự kiện về cuộc khủng hoảng tên lửa ở Cuba, lớp học có thể tổ chức một cuộc tranh luận theo kiểu Liên-Hiệp-Quốc của riêng mình. Mỗi học sinh sẽ nghiên cứu vị thế của một nước chủ chốt trong cuộc hòa hoãn năm 1962, sau đó trình bày cho các bạn còn lại trong lớp. Học sinh vẫn phải hoạt động cật lực, nhưng không còn là thứ lao dịch của học thuộc lòng như vẹt. Giống như các hoạt động khác của phong trào Chậm, "Giáo dục Chậm" cũng nhắm vào sự cân bằng.

Những quốc gia thực thi quan điểm Chậm trong giáo dục đang gặt hái thành quả rõ rệt. Tại Phần Lan, trẻ em bước vào chương trình giáo dục vỡ lòng ở tuổi lên sáu, rồi chính thức vào lớp một ở tuổi lên bảy. Các em sau đó phải đối mặt với ít hơn những kỳ thi trình độ áp lực cao, vốn là tai họa cho đời sống học trò từ Nhật Bản đến Anh Quốc. Kết quả thế nào? Phần Lan thường xuyên đứng đầu các danh sách uy tín thế giới về việc thực hành giáo dục và tỉ lệ biết đọc biết viết của OECD - Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế. Các đại biểu từ khắp các nước công nghiệp lần lượt kéo đến để nghiên cứu "Mô hình Phần Lan."

Ở những nơi khác, các bậc phụ huynh muốn cho con em mình học tập trong một môi trường Chậm đang chuyển sang khu vực tư thục. Tại nước Đức thời kỳ giữa hai cuộc chiến tranh, Rudolf Steiner đi tiên phong trong loại hình giáo dục đối cực với học hành cấp tốc. Steiner tin rằng trẻ em chẳng bao giờ nên bị hối thúc vào chuyện học hành trước khi chúng sẵn sàng, và sẽ phản đối việc dạy chúng đọc trước sinh nhật lần thứ bảy. Thay vào đó, ông tin vậy, chúng nên dành những năm đầu đời chơi đùa, học vẽ, kể chuyện và tìm hiểu thiên nhiên. Steiner cũng tránh cả những thời khóa biểu cứng nhắc ép buộc học sinh phải nhảy từ môn này sang môn kia theo vòng quay của cái đồng hồ, mà ưng để cho chúng xem xét một chủ đề cho tới khi chúng cảm thấy sẵn sàng chuyển sang chủ đề khác. Ngày nay, số lượng những trường học theo-ý-tưởng-của-Steiner trên khắp thế giới đã lên đến con số trên tám trăm, và còn tiếp tục gia tăng.

Học Viện về Trường Thực nghiệm Nghiên cứu Trẻ em ở Toronto cũng áp dụng quan điểm Chậm. Hai trăm học sinh của trường này, tuổi từ bốn đến mười hai, được dạy cách học, cách hiểu và cách thu nạp kiến thức cho bản thân mình, thoát khỏi nỗi ám ảnh chủ đạo của những bài tập, điểm số và lịch trình. Tuy nhiên, khi tham gia các kỳ thi trình độ, điểm số của các em thường rất cao. Nhiều em đã giành được học bổng vào những trường đại học hàng đầu thế giới, khẳng định lòng tin vào quan điểm của Holt rằng "sự mỉa mai cao độ của trường học chậm ở chỗ chính nó đem lại sự nuôi dưỡng tri thức học sinh cần... những kết quả kiểm tra xuất sắc về sau. Thành công, giống như hạnh phúc, tốt nhất nên theo đuổi một cách gián tiếp." Tuy Trường Thực nghiệm đã hoạt động từ năm 1926, nhưng đặc thù của nó ngày càng trở nên phổ biến hơn bao giờ hết. Bất kể học phí hàng năm lên tới bảy ngàn đô la Canada, vẫn có tới trên một ngàn trẻ con trong danh sách chờ đến lượt trúng tuyển.

Ở Nhật Bản, các học viện thí điểm liên tục xuất hiện nhằm đáp ứng nhu cầu học hành theo quan điểm thoải mái hơn. Một ví dụ là Cây Táo, vốn được một nhóm các bậc cha mẹ tuyệt vọng lập ra năm 1988 tại quận Saitama thuộc Tokyo. Triết lý của nhà trường là tránh xa ngàn dặm kiểu kỷ luật quân sự, ganh đua nghẹt thở và bầu không khí như nhà kính của một lớp học thông thường ở Nhật Bản. Học sinh đến trường và ra về khi nào chúng thích, học những gì chúng muốn vào lúc nào chúng muốn, và không phải thi cử gì cả. Tuy nghe có vẻ như một toa thuốc dành cho tình trạng hỗn loạn, song chế độ thoải mái này thực ra hoạt động rất tốt.

Vào một buổi chiều, hai chục học sinh tuổi từ sáu đến mười chín leo lên những bậc thang gỗ ọp ẹp lên khu học viện nhỏ bé ở tầng. Trông các em không đặc biệt khó bảo - một vài em nhuộm tóc, nhưng không hề có hình xăm hay lỗ xỏ khuyên nào trên mặt. Theo phong cách Nhật Bản, các em cởi giày xếp ngay ngắn ở lối ra vào trước khi quỳ xuống ngồi học bên các bàn thấp xếp rải rác quanh lớp học hình chữ L. Thỉnh thoảng, một học sinh đứng lên pha trà xanh trong bếp hoặc gọi một cuộc điện thoại di động. Còn lại, ai nấy cũng đều làm việc chăm chỉ, ghi chép vào sổ tay hoặc trao đổi ý kiến với thầy giáo hay các bạn trong lớp.

Hiromi Koibe, một thiếu nữ mười bảy tuổi có vẻ dịu dàng trong bộ đồ jean và mũ vải bông chéo, thao thao kể cho tôi nghe vì sao những trường học như Cây Táo lại là của trời cho. Không thể theo kịp sức ép liên miên và nhịp độ nhanh của giáo dục công truyền thống, em bị tụt hậu trong lớp và trở thành mục tiêu cho những trẻ em hay bắt nạt bạn trên sân trường. Khi em từ chối thẳng thừng việc đến lớp học, bố mẹ đăng ký cho em vào trường Cây Táo, tại đây em hiện đang học tập để lấy được bằng phổ thông trung học, mất bốn năm thay vì ba năm như thường lệ. Em nữ sinh này kể tiếp: Ở trường thông thường, chúng tôi luôn bị áp lực quá lớn là phải thật nhanh, phải làm mọi thứ trong giới hạn thời gian đã định. Tôi rất thích theo học ở trường Cây Táo, vì tôi chủ động được thời khóa biểu của mình và học theo tốc độ của cháu. Ở đây, chậm không phải là một tội."

Những người chỉ trích cảnh báo rằng Giáo dục Chậm chỉ thích hợp cho những trẻ có năng lực thuần về học thuật, hoặc xuất thân từ những gia đình coi giáo dục có tầm quan trọng đặc biệt. Nói như vậy cũng có phần đúng sự thật. Nhưng những yếu tố của học thuyết chậm cũng có thể phát huy hiệu quả trong một lớp học trung bình, và đó là lý do vì sao một số nước nhanh nhất đang bắt đầu thay đổi phương pháp giảng dạy. Trên khắp vùng Đông Á, các chính phủ đang xúc tiến giảm bớt gánh nặng cho học sinh. Như thế có nghĩa tự do hơn trong các lớp học, thêm thời gian cho tư duy sáng tạo và giờ học ngắn hơn. Năm 2002, cuối cùng chính phủ đã hủy bỏ việc học vào ngày thứ Bảy - vâng, chính là ngày thứ Bảy. Chính phủ cũng bắt đầu giảm bớt sự kiểm soát đối với số lượng ngày càng tăng các trường tư thục chọn phương pháp chậm cho việc học hành. Trường Cây Táo cuối cùng được chính phủ ủng hộ hoàn toàn năm 2001.

Hệ thống trường học ở Anh quốc cũng đang tìm cách giảm sức ép đè nặng lên các em học sinh chịu nhiều stress. Năm 2001, xứ Wales xóa bỏ kỳ kiểm tra đánh giá trình độ đối với các học sinh bảy tuổi. Năm 2003, Scotland cũng bắt đầu tham khảo những cách nhằm bỏ bớt trọng tâm trong kiểm tra chính khóa. Theo một kế hoạch mới, các trường tiểu học ở Anh sẽ hướng tới làm cho học tập trở nên thú vị hơn.

Các bậc cha mẹ cũng bắt đầu nghi ngờ kiểu học tập như trong nhà kinh đang thịnh hành tại nhiều trường tư thục ở Anh. Một số người đang vận động các thầy hiệu trưởng cho ít bài tập về nhà và thêm nhiều thời giờ hơn cho nghệ thuật, âm nhạc hoặc chỉ để suy nghĩ. Những người khác đơn giản kéo lũ trẻ nhà mình ra khỏi trường rồi chuyển chúng vào học tại những trường có quan điểm bớt cấp tập.

Đó là những gì Julian Griffin, một người môi giới việc làm tại Luân Đôn đã thực hiện. Giống như mọi phụ huynh thành đạt khác, anh muốn cho con trai mình nền giáo dục mà anh nghĩ là tốt nhất có thể. Thậm chí gia đình anh còn chuyển nơi ở, để chỉ cách trường tiểu học hàng đầu phía Nam Luân Đôn có một đoạn đi bộ. Tuy vậy, chẳng bao lâu, James, một đứa trẻ ưa nghệ thuật và hay mơ mộng, bắt đầu lúng túng. Mặc dù giỏi vẽ và khéo tay trong mọi việc, cậu học trò nhỏ này vẫn phải đánh vật để theo kịp nhịp độ học tập - những giờ kéo dài trên lớp, hàng lô bài tập về nhà, cùng những kỳ thi sát hạch. Hầu hết các bậc phụ huynh thấy thật khó khăn cho con em của họ phải cày qua hàng núi bài tập về nhà, nhưng cuộc chiến đặc biệt khốc liệt trong gia đình Griffin. James bắt đầu bị những cơn hoảng loạn, và òa khóc khi bố mẹ thả cậu ở trường. Sau hai năm khốn khổ, và một khoản kha khá chi cho các nhà tâm lý học, gia đình Griffins quyết định tìm một trường học khác. Tất cả các trường tư thục đều từ chối. Một bà hiệu trưởng còn hồ nghi rằng James có thể bị tổn thương não. Cuối cùng chính bác sĩ của gia đình đã tìm ra giải pháp. "James chẳng làm sao cả," cô nói. "Tất cả những gì cháu cần là được yên tĩnh. Hãy gửi cháu đến một trường công."

Trường công lập ở Anh không theo lối nhà kinh. Vì vậy vào tháng Chín năm 2002, gia đình Griffins đăng ký cho James vào một trường tiểu học công lập được nhiều bậc cha mẹ thuộc tầng lớp trung lưu giàu tham vọng phía Nam Luân Đôn ưa chuộng. Ngôi trường chính là nguyên nhân sự tiến bộ của James. Tuy em vẫn đôi lúc mơ màng, nhưng đã tỏ ra ham học và hiện giờ được xếp vào hạng trung bình của lớp. Em thường ngong ngóng được đến trường và làm bài tập về nhà - khoảng một tiếng một tuần - mà không thấy thái quá. Ngoài ra hàng tuần James cũng tham gia một lớp đồ gốm. Trên hết, James cảm thấy sung sướng và tự tin trở lại. "Tôi cảm thấy như có lại được đứa con trai của mình," Julian nói. Thất vọng với văn hóa nhà kính trong những trường tư thục, gia đình Griffins dự kiến gửi đứa con trai thứ, là Robert, đến học cùng trường với anh cậu bé. Julian cho biết: "Robert khác hẳn tính James và tôi tin chắc cháu có thể theo kịp nhịp độ ở các trường tư thục, nhưng tại sao cháu lại phải cố như vậy? Làm cho bọn trẻ học tập căng thẳng đến độ chúng bị kiệt sức để làm gì?"

Ngay cả khi bọn trẻ thích ứng tốt, các bậc cha mẹ khác cũng kéo các cháu ra khỏi trường tư để cho chúng có thêm không gian co duỗi các cơ bắp linh hoạt. Khi mới lên bốn, Sam Lamiri đã phải qua kỳ thi sát hạch để được vào một trường tư hàng đầu Luân Đôn. Jo, mẹ của em, lấy làm tự hào và vui sướng. Nhưng dù Sam hoàn thành khá tốt việc học hành, chị vẫn cảm thấy nhà trường đã thúc bách học sinh quá mức. Điều đặc biệt đáng thất vọng là trường không chú trọng môn nghệ thuật. Học sinh được học một giờ vào chiều thứ Sáu trong tuần - và chỉ khi nào giáo viên thấy thích. Lamiri nghĩ Sam đang bỏ lỡ cơ hội. "Đầu óc của cháu dày đặc những sự kiện và kiến thức đã học, và cháu chịu quá nhiều áp lực phải tiến bộ trong học tập, đến nỗi chẳng còn chỗ nào trong đầu cho trí tưởng tượng," cô nói. "Đó hoàn toàn chẳng phải những gì tôi mong các con tôi thu nhận được - tôi muốn chúng phải có đầu óc bao quát, ham học hỏi và giàu tưởng tượng."

Khi một số biến cố về tài chính khiến gia đình không đủ tiền đóng học phí, Lamiri bỗng nhiên có cớ để thay đổi mọi sự. Giữa năm học 2002, chị chuyển Sam sang một trường công được nhiều người biết tiếng, và hài lòng với nhịp độ thư thả hơn ở đây cũng như sự nhấn mạnh khám phá thế giới thông qua nghệ thuật. Bây giờ Sam vui sướng hơn và hoạt bát hơn. Em ngày càng bộc lộ mối quan tâm sâu sắc đối với thiên nhiên, nhất là với loài rắn và báo gêpa. Lamiri cũng cảm thấy khả năng sáng tạo của con trở nên sắc bén hơn. Một hôm, Sam muốn biết sẽ ra sao nếu chúng ta có thể xây dựng một cầu thang thực sự khổng lồ bắc lên vũ trụ. Mẹ em nhận xét: "Trước đây Sam sẽ chẳng bao giờ hỏi những câu tương tự. Bây giờ cháu nói chuyện theo lối giàu tưởng tượng hơn nhiều."

Tuy vậy, chống lại xu thế nhà kính có thể tổn hại thần kinh. Các bậc phụ huynh cho phép con em mình lúc nào cũng chậm triền miên lo sợ rằng biết đâu mình đang đánh lừa con trẻ. Ngay cả như vậy, ngày càng có nhiều người quyết tâm làm theo. "Khi quá nhiều người khác quanh anh theo kiểu nhà kính, đôi khi anh cũng tự hỏi mình làm việc đó có đúng không," Lamiri nói. "Rốt cuộc, anh chỉ phải tuân theo bản năng của mình."

Các phụ huynh khác thấy rằng bản năng mách bảo họ phải kéo con em ra khỏi trường. Giáo dục tại nhà đang tăng lên và Mỹ là nước dẫn đầu phong trào. Con số thống kê ở các nơi còn chưa đầy đủ, nhưng Viện Nghiên cứu Giáo dục Tại Nhà Toàn quốc ước tính rằng có hơn nửa triệu trẻ em đang học tại gia đình. Các ước tính khác gồm có hàng trăm ngàn trẻ ở Canada, chín chục ngàn ở Anh quốc, ba chục ngàn ở Australia và tám ngàn ở New Zealand.

Các phụ huynh lựa chọn giáo dục con cái tại gia đình vì hàng loạt lý do - để che chở chúng khỏi những chuyện bắt nạt, ma túy và các cư xử khó chịu khác; để nuôi dạy chúng theo một truyền thống luân lý hoặc tôn giáo riêng biệt nào đấy; hoặc để tạo cho chúng một nền giáo dục tốt hơn. Nhưng nhiều người coi giáo dục tại nhà như một cách để giải phóng con em khỏi sự chuyên chế của thời khóa biểu, để chúng được học và sống theo nhịp độ riêng. Để chúng được thong thả. Ngay cả những gia đình khởi đầu công cuộc đào tạo tại nhà bằng một chương trình cả ngày chặt chẽ cũng thường kết thúc bằng một chiến thuật cơ động và nới lỏng hơn. Tùy ở sự thôi thúc của tình thế, nếu trời có nắng, các em có thể ra ngoài đi dạo hoặc đến thăm viện bảo tàng. Ở phần trước, chúng ta đã thấy bằng cách nào mà chủ động kiểm soát thời giờ của riêng mình giúp con người thấy bớt hối hả tại nơi làm việc. Điều tương tự cũng áp dụng trong giáo dục. Cả phụ huynh lẫn học sinh đều cho biết rằng được quyền ấn định lịch trình riêng của mình hoặc lựa chọn nhịp riêng, giúp kìm nén phản xạ vội vã. "Một khi ta tự chủ được trong giờ giấc của mình, thì áp lực vội vã giảm đi rất nhiều," một nhà giáo dục tại gia đình ở Vancouver nói. "Ta sẽ tự động chậm lại ngay."

Giáo dục tại nhà thường buộc toàn thể gia đình tuân theo quan điểm chậm trong cuộc sống. Nhiều phụ huynh thấy thứ tự ưu tiên của họ thay đổi, khi họ dành ít thời gian cho công việc nhưng lại nhiều hơn thời gian cho quán xuyến việc học hành của con cái. Roland Meighan, chuyên gia người Anh về giáo dục tại nhà cho biết: "Một khi người ta bắt đầu đặt câu hỏi về giáo dục, anh sẽ thấy họ bắt đầu đặt câu hỏi về mọi thứ - chính trị, môi trường, công việc. Thật giống như ông thần đèn ra khỏi cái vỏ chai."

Trung thành với triết lý chậm, việc giáo dục tại nhà không có nghĩa là sút kém đi hay tụt hậu. Ngược lại học ở nhà thực tế lại hiệu quả hơn. Như ai cũng biết, các trường học phí phạm rất nhiều thời gian: học sinh phải đi đi về về chỗ này chỗ kia, nghỉ giải lao khi ai đó bảo chúng nghỉ, ngồi thông bài giảng những phần chúng đã làu thông; vất vả với các bài tập về nhà không thích đáng. Khi các em học ở nhà một mình, thời gian có thể được sử dụng hữu ích hơn. Các công trình nghiên cứu cho thấy những đứa trẻ được giáo dục tại nhà học nhanh hơn và giỏi hơn đối thủ tại các lớp thông thường. Các trường đại học thích chúng vì chúng kết hợp được lòng ham học hỏi, khả năng sáng tạo và trí tưởng tượng với sự chín chắn cùng óc thực tế trong tự lực tiếp cận một chủ đề.

Mối lo sợ trẻ em sẽ thiệt thòi về mặt giao tiếp xã hội khi chúng không tham gia lớp cũng được giải tỏa. Các phụ huynh dạy dỗ con cái tại gia đình thường thiết lập những hội trong vùng để cùng nhau chia sẻ việc dạy dỗ và tổ chức các chuyến đi thực tế, cũng như bố trí các buổi họp mặt giao lưu. Và chính vì trẻ học tại nhà hoàn thành khóa học nhanh hơn, nên chúng có nhiều thời gian rảnh để vui chơi, như tham gia các câu lạc bộ, các đội thể thao toàn các bạn cùng lứa ở trường học chính quy.

Beth Wood, em học sinh chuyển sang học tại nhà vào đầu năm 2003, lúc đó em mười ba tuổi, chẳng bao giờ mong quay trở lại lớp học ở trường. Những năm đầu, em theo học trường Steiner ở gần nhà tại Whitstable, một cảng cá nhỏ cách Luân Đôn năm mươi dặm về phía Đông. Là một đứa trẻ thông minh, sớm phát triển, Beth nhanh chóng nổi bật trong một môi trường ít khắc nghiệt. Nhưng khi quy mô lớp học phình ra, và nhiều em học sinh quậy phá nhập học, em trở nên chán nản đến mức mẹ em, bà Claire, quyết định chuyển em khỏi lớp. Vì các trường tiểu học công lập trong vùng đều ở trình độ thấp, gia đình em bắt đầu thăm dò một loạt các trường tư trong khu vực. Vài trường còn mời Beth suất học bổng, hứa hẹn đưa em lên thẳng trình độ "học cấp tốc." Không muốn đặt con gái mình vào làn cao tốc, mẹ em bất ngờ quyết định chuyển em về học tại gia đình. Dẫn dắt Beth trên con đường chậm hơn phản ảnh một bước chuyển trong cuộc sống của chính Claire: trong năm 2000, bà từ bỏ công việc nhiều giờ dài căng thẳng với tư cách một chuyên gia phân bổ tổn thất chung trong bảo hiểm hàng hải, để thành lập một xưởng sản xuất xà phòng ở nhà.

Giáo dục tại nhà đã mang lại cho Beth những điều kỳ diệu. Em thoải mái và tự tin hơn, cũng ưa thích tự do học tập theo nhịp độ riêng của mình. Nếu em không thấy muốn học bài địa lý vào thứ Hai thì có thể lui lại tới cuối tuần. Và khi một chủ đề khiến em vui thích, em đọc to lên một cách háo hức. Lịch học cơ động, và thực tế là em đã hoàn thành chương trình nhanh gấp đôi so với hồi học ở trường, cũng tạo cho em vô số thời gian dành cho các hoạt động ngoại khóa: em có thêm nhiều bạn, rồi chơi đàn viôlông trong dàn nhạc trẻ, tham dự một lớp nghệ thuật hàng tuần và là cô gái duy nhất tham gia đội bóng nước tại bể bơi khu vực. Có lẽ điều quan trọng nhất đối với Beth, cô gái giờ đã cao hẳn lên và trông chững chạc hơn tuổi, ấy là em không còn thấy bị vội vã hoặc lệ thuộc vào chiếc đồng hồ nữa. Chủ động thời gian của mình giúp cô gái miễn dịch với căn bệnh-thời gian. "Các bạn em ở trường luôn vội vã, căng thẳng hay chán nản, còn em chẳng bao giờ cảm thấy như vậy cả," cô nói. "Em thực sự thấy thích học."

Chịu sự giám sát nhẹ nhàng của mẹ. Beth đang theo chương trình học quốc gia, thậm chí còn vượt trước ở một số môn. Lịch sử là đam mê của em và em còn đặt ra mục tiêu nghiên cứu ngành khảo cổ học tại Oxford hay Cambridge. Chẳng bao lâu nữa em sẽ sẵn sàng cho kỳ tốt nghiệp giáo dục phổ thông, kỳ thi mà tất cả học sinh Anh quốc phải trải qua ở tuổi mười sáu. Chị Claire nghĩ con gái mình có thể vượt qua tất cả các kỳ thi này trong một năm, thay vì hai năm như thường lệ, song dự tính phải kiềm chế con mình. "Con bé có thể học trối chết, nhưng tôi không thấy có lý do gì mà phải vội vàng. Nếu cháu cứ thong thả thoi, và duy trì một sự cân bằng lành mạnh giữa học và chơi, cháu sẽ còn học được nhiều hơn nữa."

Bất cứ khi nào người ta nói về sự cần thiết phải để cho trẻ em được thong thả lại, thì vui chơi luôn quan trọng trong chương trình nghị sự. Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy thời gian vui chơi không bị câu thúc giúp trẻ phát triển các kỹ năng ngôn ngữ và giao tiếp xã hội. Vui chơi không bị câu thúc là mặt đối lập của "thời gian chất lượng", cụm từ ý chỉ sự siêng năng, lập kế hoạch, lên chương trình và mục đích. Không phải là một bài học balê hay một buổi tập bóng đá. Vui chơi không bị câu thúc là đào giun ở trong vườn, bày bừa đồ chơi trong phòng ngủ, xây lâu đài bằng các mẩu lego, cưỡi ngựa dạo quanh với các trẻ em khác trong sân, hoặc chỉ nhìn hút ra ngoài cửa sổ. Đó chính là khám phá thế giới, và phản ứng của bản thân các em trước sự khám phá ấy, theo nhịp độ riêng của chúng. Với một người trưởng thành quen tính toán từng giây đồng hồ, vui chơi không bị câu thúc có vẻ như phung phí thời gian. Và phản xạ của chúng ta là lấp đầy những chỗ "trống" đó trong lịch ghi nhớ bằng những hoạt động phong phú và thú vị hơn.

Angelika Drabert, bác sĩ trị liệu bằng lao động, đến thăm các vườn trẻ ở Munich để nói chuyện với phụ huynh về tầm quan trọng của việc dành thời gian cho vui chơi không câu thúc. Bà thuyết phục họ không nên vội vã hay nhồi nhét lịch trình của con em mình. Drabert nhận được rất nhiều thư cảm ơn từ các bà mẹ. "Một khi anh chỉ cho các bậc cha mẹ thấy rằng họ không cần phải chuẩn bị trò vui và các hoạt động cho mọi thời điểm trong ngày, mọi người đều có thể thư giãn, điều này vốn là có lợi," bà nói. "Đôi khi cuộc sống phải lắng lại không thì sẽ tẻ nhạt cho bọn trẻ."

Nhiều phụ huynh đi đến kết luận đó mà không cần sự trợ giúp của bác sĩ trị liệu. Ở Mỹ, có hàng ngàn người tham gia các hội, chẳng hạn như Gia đình Trước nhất, một cuộc vận động chống lại nạn dịch lên lịch quá mức. Năm 2002, Ridewood, thị trấn có hai mươi lăm ngàn dân thuộc bang New Jersey, bắt đầu tổ chức một sự kiện thường niên Sẵn sàng, Bắt đầu, Thư giãn! Vào một ngày lựa chọn trong tháng Ba, các giáo viên địa phương nhất trí không giao bất cứ một bài tập về nhà nào, còn mọi buổi tập thể thao, mọi buổi dạy kèm và gặp gỡ tại câu lạc bộ đều bị hủy. Các phụ huynh thu xếp công việc để trở về nhà sớm kịp ăn tối với bọn trẻ và dành thì giờ với chúng cả buổi tối. Sự kiện này giờ đã trở thành bất di bất dịch trong lịch hoạt động của Ridgewood, và một số gia đình bắt đầu áp dụng tín hiệu Chậm cho thời gian còn lại trong năm.

Cảm hứng chậm lại thông thường xuất phát từ bản thân trẻ em. Hãy lấy gia đình Barners sống ở phía Tây Luân Đôn làm ví dụ. Người mẹ tên là Nicola làm việc bán thời gian cho một công ty nghiên cứu thị trường. Chồng chị, Alex, là giám đốc tài chính của một nhà xuất bản. Họ là những người bận rộn với lịch hàng ngày đầy ắp công việc. Cho đến gần đây, Jack, cậu con trai lên tám tuổi của họ, cũng ở tình trạng tương tự. Jack chơi bóng đá và cricket, học bơi và tennis, lại còn nhận vai trong một nhóm kịch. Vào những ngày cuối tuần, gia đình đi tham quan các phòng trưng bày nghệ thuật và viện bảo tàng, dự các buổi hòa nhạc dành cho trẻ em và đến thăm trung tâm nghiên cứu thiên nhiên ở ngoại vi Luân Đôn. "Chúng tôi điều khiển cuộc sống của mình, kể cả Jack cũng vậy, y như một chiến dịch quân sự," Nicola nói. "Tính đến từng giây."

Rồi một chiều cuối xuân, mọi sự thay đổi. Jack muốn ở lại nhà và chơi trong phòng của cậu thay vì đi đến lớp học tennis. Mẹ cậu nài nỉ cậu đi. Trong khi xe của họ tăng tốc qua phía Tây Luân Đôn, vừa rít lên chói tai quanh các góc phố vừa vượt đèn vàng để tránh muộn giờ, Jack tự dưng không nói gì ở ghế sau. "Tôi nhìn vào trong gương, thấy cháu đang ngủ gật - và đó chính là lúc tôi chợt thức tỉnh," Nicola nhớ lại. "Tôi bất giác nghĩ" 'thật điên rồ, mình đã lôi con mình đến việc mà bản thân thằng bé không thực sự muốn làm. Mình đang khiến con mình kiệt lực.'"

Chiều tối hôm đó, gia đình Barnes quây quần quanh chiếc bàn bếp để giảm tải lịch hàng ngày của Jack. Họ đi đến quyết định là Jack không tham gia quá ba hoạt động ngoại khóa tại thời điểm hiện thời. Cuối cùng, Jack chọn bóng đá, bơi lội và diễn kịch. Cả gia đình cũng nhất trí cắt bớt cá cuộc đi chơi dã ngoại cuối tuần theo lịch. Kết quả là giờ Jack có thêm thời gian để đi thơ thẩn trong vườn, gặp gỡ bạn bè trong công viên gần đó và chơi trong phòng riêng của cậu. Vào các ngày thứ Bảy, thay vì mệt mỏi đổ sập lên giường sau bữa tối, giờ cậu chủ trì những bữa tiệc qua đêm[83]. Sang buổi sáng Chủ nhật, Jack cùng với bạn làm bánh rán và rang ngô. Chuyển tốc độ xuống một số như vậy thực sự cũng phải quen dần, ít nhất là về phần bố mẹ. Chị Nicola lo ngại rằng Jack sẽ chán và bồn chồn, nhất là vào những ngày cuối tuần. Alex, chồng chị, sợ rằng con trai mình có thể nhớ cricket và tennis. Thế nhưng, Jack lại tươi như hoa trước cái lịch trình nhẹ bớt. Cậu hoạt bát hơn, hay chuyện hơn và đã thôi cắn móng tay. Huấn luyện viên bóng đá của Jack nghĩ đường chuyền của cậu sắc sảo hơn. Trưởng nhóm kịch thấy Jack hoạt bát hơn. "Tôi nghĩ cháu sẽ chỉ tận hưởng mọi thứ trong cuộc sống của cháu nhiều hơn," mẹ cậu nói. "Giá mà chúng tôi vợi bớt gánh nặng cho cháu sớm hơn."

Giờ đây, chị Nicola cảm thấy gần gũi hơn với con trai nên hai mẹ con họ dành nhiều thì giờ đi ra ngoài cùng nhau. Người mẹ cũng thấy cuộc sống của chính mình bớt hối hả. Tất cả những qua lại như con thoi thoi từ hoạt động này sang hoạt động kia quả là căng thẳng và tốn thời gian.

Gia đình Barners còn đang dự định sẽ cắt giảm căn nguyên của mọi hoạt động ngoại khóa khác: vô tuyến truyền hình. Ở phần trước, tôi đã mô tả các thành phố như là những cỗ máy gia tốc phân tử khổng lồ. Đó là một phép ẩn dụ dễ dàng áp dụng cho truyền hình, nhất là đối với giới trẻ. Truyền hình thúc đẩy trẻ em bước vào thế giới của người lớn bằng cách phô bày trước chúng những vấn đề của tuổi trưởng thành và biến chúng thành những người tiêu dùng ở tuổi nhỏ. Do trẻ em xem quá nhiều truyền hình - trung bình lên tới bốn giờ trong một ngày tại Mỹ - nên chúng phải vội vã nhồi nhét mọi thứ khác vào lịch hàng ngày. Năm 2002, mười tổ chức y tế hàng đầu, bao gồm cả Hiệp hội Dược phẩm Mỹ và Viện Hàn Lâm Trị liệu Mỹ, đã ký một bức thư cảnh báo rằng xem truyền hình quá nhiều khiến trẻ em hung hăng hơn. Một số công trình nghiên cứu chỉ ra rằng trẻ em quen với truyền hình bạo lực hay trò chơi vi tính dễ bị bất an, còn không thể ngồi yên tĩnh và tập trung được.

Trong các lớp học trên khắp thế giới, nơi ngày càng nhiều trẻ em bị chẩn đoán rối loạn thiếu tập trung, các giáo viên ngày càng hay trỏ ngón tay vào chiếc vô tuyến. Tốc độ hình ảnh cao trên chiếc màn hình nhỏ chắc chắn có một tác động nhất định đối với những bộ não non nớt. Khi truyền hình Nhật Bản phát sóng băng video Pokémon năm 1977, những ánh sáng nhấp nháy rực rỡ đã gây ra những cơn động kinh cho gần bảy trăm trẻ em ngồi xem tại nhà. Để đề phòng những vụ kiện cáo, các công ty phần mềm ngày nay kèm những cảnh báo sức khỏe cho các trò chơi của họ.

Điều này giải thích vì sao nhiều gia đình nói đủ rồi là đủ rồi. Trong các gia đình bận bịu và nhằng nhịt dây điện trên khắp thế giới, các bậc cha mẹ đang hạn chế con em tiếp cận với màn ảnh nhỏ - và thấy rằng cuộc sống bớt đi sự điên rồ khi không có nó. Để trực tiếp tìm hiểu khu vực không sử dụng truyền hình, tôi thu xếp đến thăm nhà Susan và Jeffrey Clarke, đôi vợ chồng bận rộn trạc tuổi bốn mươi hiện sống với hai con nhỏ ở Toronto. Cho đến gần đây, vô tuyến truyền hình vẫn là trung tâm thu hút sự chú ý của gia đình này. Ngồi bắt rễ như những kẻ dở sống dở chết trước màn hình, cậu con trai mười tuổi Michael và cô con gái tám tuổi Jessica thường xuyên quên mất giờ giấc, rồi rốt cuộc hối hả để khỏi bị muộn. Cả hai đứa trẻ nuốt vội nuốt vàng bữa ăn để được quay lại với chiếc tivi.

Sau khi đọc được tin về phong trào chống vô tuyến truyền hình, gia đình Clarke quyết định thử xem sao. Họ quyết làm triệt để, bèn cất chiếc tivi Panasonic 27 inch vào một tủ bát dưới gầm cầu thang. Một khi những phản kháng ban đầu tan biến, kết quả thật đáng ngạc nhiên. Trong vòng một tuần, bọn trẻ đã phủ kín sàn tầng hầm bằng những tấm thảm và bắt đầu đặt lịch tập luyện cùng nhau các động tác nhào lộn và trồng cây chuối. Giống như những gia đình không dùng vô tuyến khác, người nhà Clarke bỗng thấy họ có thời gian trong tay, các giúp loại bỏ sự vội vã ra khỏi đời sống hàng ngày. Nhiều tiếng đồng hồ trước đây dành xem tivi giờ dành hết cho những thú giải trí thong thả hơn - đọc sách, đánh cờ, cưỡi ngựa dạo quanh sân sau, nghiên cứu âm nhạc hoặc đơn giản chỉ chuyện phiếm. Cả hai đứa trẻ xem ra khỏe mạnh hơn, và học khá hơn ở trường. Jessica thấy ngủ dễ hơn vào buổi tối. Michael, cậu bé từng gặp rắc rối trong tập trung suy nghĩ và đọc sách, thì nay tự mình ngấu nghiến những cuốn sách.

Vào một buổi tối thứ Năm rất gần đây, gia đình Clarke thanh bình đến phát thèm. Susan làm mì ống trong bếp. Michael đọc truyện Harry Potter và Chiếc Cốc Lửa trên chiếc so-fa trong phòng khách. Bên cạnh đó, Jeffrey đang lướt qua tờ báo Địa cầu và Thư Tín. Trên sàn nhà, Jessica đang viết thư gửi cho bà nội.

Gia đình Clarke không đạo đức đến phát chán như có vẻ thế. Giờ đây, chiếc vô tuyến đã được kê lại trong phòng khách, còn trẻ con chỉ được phép xem các chương trình lặt vặt. Jeffrey đảm bảo với tôi rằng căn nhà của họ thường trông hỗn độn hơn lúc tôi đến thăm. Song việc cắt giảm xem vô tuyến đã thay đổi nhịp sống vốn có của gia đình từ hối hả đến điên rồ sang một cung bậc khoan thai có giá trị hơn. "Rõ ràng có một sự yên tĩnh mà trước đây chưa từng xuất hiện ở nhà chúng tôi," Susan nói. "Chúng tôi vẫn sống sôi động và thích thú. Khác là ở chỗ bây giờ chúng tôi không còn lăng xăng như gà không đầu nữa."

Tuy vậy, trong một thế giới bị ám ảnh làm cái gì cũng phải nhanh hơn, một số sẽ thấy dễ dàng hơn số khác trong việc nuôi dạy con cái theo Mốt Chậm. Một số hình thức giảm tốc kèm theo cái giá mà không phải ai cũng có thể đáp ứng. Bạn cần tiền để gửi đứa trẻ đến một trường tư thục có áp dụng quan điểm Chậm trong việc học hành. Để có thời gian cho giáo dục tại nhà, ít nhất một trong hai bố mẹ phải giảm bớt công việc, điều không phải lựa chọn cho mọi gia đình. Tuy nhiên, nhiều cách đưa trẻ em vào con đường thong thả là hoàn toàn miễn phí. Chẳng hạn, giảm thời gian xem truyền hình hoặc những hoạt động ngoại khóa chẳng tốn phí gì cả.

Tuy vậy, hơn cả tiền bạc, cản trở chính trong việc nuôi dạy trẻ Chậm - thực ra cho bất cứ hoạt động Chậm nào - chính là tư duy hiện đại. Thôi thúc phải nhanh chóng giáo dục đứa trẻ vẫn còn ăn sâu trong đầu óc. Thay vì hoan nghênh những nỗ lực chính thức hòng giảm bớt gánh nặng tại các lớp học, nhiều bậc phụ huynh Nhật Bản vẫn bắt con em mất thì giờ tại các trường nhồi sọ trong vùng. Trên khắp thế giới công nghiệp, các ông bố bà mẹ cùng các chính trị gia vẫn còn lệ thuộc vào các kết quả thi.

Cứu giúp thế hệ kế tiếp thoát khỏi sự bùng bái tốc độ đồng nghĩa tái tạo toàn bộ triết lý của chúng ta về thời thơ ấu như những người theo trào lưu Lãng mạn đã làm hai thế kỷ trước. Tự do hơn và linh hoạt trong giáo dục, nhấn mạnh hơn đến học tập như một thú vui, nhường chỗ cho vui chơi không câu thúc, bớt ám ảnh bởi việc tính toán từng giây và bớt áp lực phải bắt chước người lớn. Những người trưởng thành chắc chắn có thể làm trọn bổn phận của mình bằng cách kiềm chế cái thôi thúc làm cha làm mẹ thái quá và đề ra một hình mẫu chậm cho cuộc sống của chính họ. Chẳng có biện pháp nào là dễ thực hiện cả. Nhưng bằng chứng hiển nhiên là rất đáng làm theo.

Nicola Barnes lấy làm sung sướng con trai mình, cậu bé Jack, không còn phải hối hả làm cho được thật nhiều bài tập từng phút trong ngày. "Đó là một bài học quan trọng cần phải học, cho cả bọn trẻ cũng như người lớn," chị nói. "Cuộc sống sẽ tốt hơn khi bạn biết cách lắng mình chậm lại."

KẾT LUẬN - TÌM RA NHỊP CHUẨN

Toàn bộ nỗ lực trong đời ở chừng mực nào đó chính là nỗ lực xác định xem phải làm từng việc chậm ra sao hoặc nhanh đến mức nào.

-STEN NADOLNY, TÁC GIẢ CUỐN KHÁM PHÁ SỰ THƯ THẢ (1996)

Trong năm 1898, Morgan Robertson xuất bản tác phẩm Sự phù phiếm, một tiểu thuyết viễn tưởng kỳ quái về sự theo đuổi điên cuồng bằng mọi giá kỷ lục tốc độ vượt qua Đại Tây Dương. Câu chuyện bắt đầu khi một công ty tuyên bố hạ thủy chiếc tàu thủy lớn nhất từ trước đến nay, một chiếc tàu thủy "hầu như không thể đắm" có khả năng vựơt biển khơi hết tốc lực trong mọi điều kiệm thời tiết. thế nhưng, trong chuyến đi đầu tiên, con tàu đã đâm thủng một tàu lớn khác. Một nhân chứng của vụ tai nạn công khai chỉ trích "tội cố tình hủy họai mạng sống và tài sản nhân danh tốc độ." Tên của con tàu hư cấu là Titan. Mười bốn năm sau, vào năm 1912, tàu Titanic đã đâm sầm vào một tảng băng, giết chết hơn một ngàn năm trăm người.

Việc con tàu Titanic "không thể đắm" mà vẫn đắm đã hội đủ yếu tố của lời cảnh tỉnh một thế giới nô lệ cho tốc độ. Nhiều người hy vọng tấn thảm kịch sẽ buộc nhân loại ngừng lại để thở, xem xét thật kỹ lưỡng và nghiêm khắc nạn sùng bái tăng tốc và nhận ra đã tới lúc phải thong thả lại đôi phần.

Mọi sự lại không như vậy. Một thế kỷ sau, nhân loại vẫn đang ráng sức làm mọi việc nhanh hơn - và đang phải trả một cái giá vô cùng đắt. Tổn hại gây nên bởi nền văn hóa-hối hả đã được tập dượt trước rồi. Chúng ta đang đưa hành tinh và chính bản thân chúng ta tới chỗ kiệt quệ. Chúng ta thật thiếu-thốn-thời-gian và mắc-bệnh-thời-gian tới độ xao lãng bạn bè, gia đình và đồng sự. Chúng ta không còn biết hưởng thụ cái gì nữa vì chúng ta luôn luôn ngóng vọng tới sự việc tiếp theo. Phần lớn thực phẩm ta ăn đều nhạt nhẽo và không có lợi cho sức khỏe. Khi cả con cái chúng ta cũng bị cuốn vào cùng cơn bão của sự vội vã, thì tương lai xem ra thật là ảm đảm.

Tuy nhiên chưa phải đã mất hết. Vẫn còn thời gian để xoay chuyển chiều hướng. Dù cho tốc độ, sự bận rộn và nỗi ám ảnh tiết kiệm thời gian vẫn còn là những biểu hiện của đời sống hiện đại, một làn sóng phản ứng mãnh liệt đang nhen nhóm. Phong trào Chậm đã hành quân. Thay vì làm mọi việc nhanh hơn, nhiều người đang chậm lại, và nhận thấy sự chậm rãi giúp họ sống, làm việc suy nghĩ và vui chơi tốt hơn.

Nhưng, phong trào Chậm có thực sựn là một phong trào? Nó chắc chắn có đủ những yếu tố cấu thành mà các nhà hành lâm tìm kiếm - mối thiện cảm rộng rãi, kế hoạch chi tiết cho một lối sống mới, động thái của người dân. Đúng là phong trào Chậm không có một cơ cấu chính thức, còn chưa được công nhận thật rộng rãi. Nhiều người chậm lại - làm việc ít giờ hơn, hoặc thu xếp để có thời gian nấu nướng - mà không hề có cảm giác mình là một bộ phận của cuộc vận động toàn cầu. Tuy nhiên, mỗi hành động giảm tốc là một hạt lúa mạch góp vào chiếc cối xay chung.

Ý có thể được xem như thánh địa của phong trào Chậm. Coi trọng lạc thú và sự nhàn nhã lối sống truyền thống vùng Địa Trung Hải là một liều giải độc tự nhiên cho tốc độ. Đồ ăn Chậm, Đô Thị Chậm và Tình dục Chậm, tất cả đều có cội rễ Ý. Tuy nhiên, phong trào Chậm không nhằm biến toàn thể hành tinh thành một khu nghỉ mát Địa Trung Hải. Đại đa số chúng ta chưa muốn thay sùng bái tốc độ bằng sùng bái sự thư thả. Tốc độ có thể vui nhộn, năng suất và mạnh mẽ và chúng ta sẽ nghèo đi một khi không còn tốc độ. Điều thế giới cần cũng là điều phong trào Chậm cống hiến, chính là con đường trung dung, một phương pháp nhằm kết hợp la dolce vita với học thuyết động lực của kỷ nguyên thông tin . Bí mật nằm ở sự cân bằng: thay vì làm gì cũng vội vã thì hãy làm mọi việc vừa phải. Đôi khi nhanh. Đôi khi chậm. Đôi khi ở đâu đó giữa nhanh và chậm. Chậm nghĩa là không bao giờ hối hả, không khi nào ra sức tiết kiệm thời gian chỉ vì lợi ích của thời gian. Như thế có nghĩa duy trì điềm tĩnh không bối rối ngay cả khi hoàn cảnh thúc giục chúng ta tăng tốc. Một cách để nuôi dưỡng sự lắng chậm nội tâm là dành thời gian cho những hoạt động thách thức sự tăng tốc - thiền, đan lát, làm vườn, yoga, vẽ tranh, đọc sách ,đi bách bộ, khí công.

Không có một công thức chung nào cho chậm lại, không có hướng dẫn hoàn cầu nào cho tốc độ chuẩn. Mỗi người, mỗi hành vi, mỗi thời khắc đều có một eigenzeit riêng. Một số người sung sướng ở tốc độ dễ đưa những người khác xuống mồ. Từng người phải có quyền lựa chọn nhịp độ làm cho mình vui sướng. Như Uwe Kliemt, một nghệ sĩ dương cầm Nhịp Chuẩn, nói, "Thế giới sẽ phong phú hơn nhiều khi có chỗ cho những tốc độ khác nhau."

Dĩ nhiên phong trào Chậm còn phải đối diện với khá nhiều trở ngại dễ khiến con người ta nản chí - chưa kể đến thiên kiến của chúng ta. Ngay cả khi chúng ta ước ao chậm lại, chúng ta vẫn thấy miễn cưỡng bởi lẫn lộn tính tham lam, thói bảo thủ trì trệ vào nỗi sợ phải duy trì nhịp độ. Trong một thế giới bị trói chặt vào tốc độ, thì chú rùa còn phải thuyết vô số điều.

Những người phản bác thì coi phong trào Chậm như một sở thích lập dị nhất thời, hoặc như một triết lý ngoài lề chẳng khi nào nhập được vào dòng chính thống. Hiển nhiên lời kêu gọi giảm bớt tốc độ vẫn chưa ngăn chặn được đà tăng tốc của thế giới kể từ Cách mạng Công nghiệp. Và nhiều người theo trường phái chậm những năm 1960 và 1970 phải dành hẳn những năm 1980 và 1990 vội vã chạy đua để đuổi theo cho kịp. Khi nền kinh tế toàn cầu lại bắt đầu gầm rú cất cánh, họăc khi đợt bùng nổ tiếp theo của "phong cách chấm - com" tiến bước, thì liệu mọi lời bàn về “hãy thong thả" có bị vứt qua cửa sổ khi ai nấy đều vội vã kiếm đô la? Đừng có đặt cược vào đó. Hơn bất cứ một thế hệ nào trước đây, chúng ta hiểu mối hiểm họa và bản chất phù phiếm không hiệu quả của việc không ngừng tăng tốc và càng kiên quyết hơn bao giờ hết đẩy lui một tôn thờ tốc độ. Nhân khẩu học cũng đang theo phe giảm tốc. Khắp thế giới phát triển, dân chúng già cả, và khi chúng ta già đi phần lớn chúng ta có một điểm chung: chậm lại.

Phong trào Chậm có động lực riêng. Nói "không" với tốc độ đòi hỏi phải hết sức can đảm, con người có khả năng sẽ lao theo khi biết mình chẳng hề cô đơn, có nhiều người khác chia sẻ cùng ảo mộng và chấp nhận cùng những mạo hiểu như mình. Phong trào Chậm cho sức mạnh về số lượng. Cứ mỗi lần một nhóm như Đồ ăn Chậm hoặc Hội Giảm tốc Thời gian được đưa lên tít báo, thì vấn đề lại trở nên dễ dàng hơn đôi chút với tất cả những người còn lại chúng ta. Còn nữa, một khi quần chúng gặt hái thành quả của chậm lại trong một lĩnh vực của đời sống thì họ thường tiếp tục áp dụng chính bài học đó sang những lĩnh vực khác. Alice Waters, người sáng lập nhà hàng Chez Panisse danh tiếng lẫy lừng ở Berkeley, bang California, là một ngôi sao trong phong trào Đồ ăn Chậm. Năm 2003, cô bắt đầu thuyết gảing về những ích lợi của Trường phái Chậm. Nhiều người cũng đang kết nối các trang web ở trình độ phổ cập. Sau khi khám phá những khoái lạc không hối hả của tình dục Tantra, Roger Kimber đã rút ngắn lịch làm việc của mình. Còn với Claire Wook, từ bỏ công việc đầy quyền lực trong ngành bảo hiểm để về sản xuất xà phòng liên quan mật thiết với việc nuôi dạy Beth, con gái chị, tại nhà. Sử dụng khí công để chậm lại trên sân bóng quần đã giúp giáo sư kinh tế Jim Hughes biết dành thời gian cho công việc tư vấn và thư thả thuyết trình trên giảng đường. Tắt điện thọai di động vào buổi tối đã khiến Jill Hancock, bà giám đốc ngân hàng có hứng thú vào bếp nấu cơm. "Một khi anh bắt đầu thách thức hệ tư tưởng làm-liên-tục-không-ngơi-nghỉ trong công việc, thì anh bắt đầu thách thức nó ở khắp nơi," bà nói. "Anh chỉ còn muốn đào sâu hơn vào mọi vấn đề, thay vì lướt qua trên bề mặt."

Cảm giác có một điều gì đó mất mát trong cuộc sống của chúng ta càng củng cố niềm khao khát về sự chậm lại toàn cầu. Tuy nhiên, liệu rằng "điều gì đó" ấy có sâu rộng hơn một chất lượng sống tốt hơn thuần túy thì vẫn còn là một câu hỏi bỏ ngỏ. Nhiều người thấy "chậm lại" nằm ở khía cạnh tinh thần. Nhưng nhiều người khác lại không thấy như vậy. Phong trào Chậm đủ rộng lớn để dung chứa cả hai. Trong bất kỳ trường hợp nào, sự khác biệt giữa hai khuynh hướng này không thật lớn như người ta tưởng. Lợi ích to lớn của "chậm lại" là giành lấy thời gian và sự an bình để thiết lập nên những kết nối ý nghĩa - với con người, văn hóa, công việc, thiên nhiên, với chính thể xác và tinh thần của chúng ta. Một số gọi đó là sống tốt hơn. Số khác lại mô tả rằng đó là khía cạnh tinh thần.

Phong trào Chậm chắc chắn bao hàm việc chất vấn chủ nghĩa coi trọng vật chất vốn dĩ chẳng hề bị ngăn trở đang dẫn dắt nền kinh tế toàn cầu. Chính vì vậy mà những người chỉ trích nghĩ rằng chúng ta không có đủ khả năng trang trải, hoặc việc "chậm lại" sẽ chỉ như lối sống dành riêng cho giới lắm tiền nhiều của. Đúng là một số những biểu lộ của triết lý Chậm - như y học thay thế, những khu dân cư ưu tiên người đi bộ, thịt bò nuôi chăn thả - không thích hợp với mọi hầu bao. Nhưng tuyệt đại bộ phần là có thể thực hiện. Dành nhiều thời gian hơn cho bạn bè và gia đình chẳng tốn kém gì. Kể cả những việc như đi bách bộ, nấu nướng, thiền, làm tình, đọc sách báo hoặc ăn tối tại bàn ăn thay vì ngồi trước máy thu hình. Chỉ đơn giản cưỡng lại sự hối thúc vội vã là hoàn toàn miễn phí.

Phong trào Chậm cũng chẳng hại gì tới chủ nghĩa tư bản. Ngược lại, nó công hiến một quy tắc sống. Trong hình thái hiện tại, chủ nghĩa tư bản toàn cầu buộc chúng ta phải sản xuất nhanh hơn, làm việc nhanh hơn, tiêu dùng nhanh hơn, sống gấp gáp hơn, bất kể phí tổn là gì. Nhờ coi con người và môi trường như những tài sản đáng giả, chứ không chỉ như những nhân tố đầu vào có sẵn, tùy chọn Chậm có thể buộc nền kinh tế làm việc cho con người chúng ta, chứ không phải điều ngựơc lại. Chủ nghĩa tư bản Chậm có thể đồng nghĩa với tăng trưởng chậm hơn cung cách bán tống bán tháo nghiệt ngã trong một thế giới bị ám ảnh chỉ số Dow Jones, nhưng quan niệm rằng cuộc sống không chỉ là tăng trưởng tối đa GDP, hoặc chiến thắng trong cuộc đua tranh quyết liệt hòng duy trì địa vị, hiện đang ngày càng thịnh hành, nhất là ở các quốc gia giàu có nơi ngày càng có thêm nhiều người đắn đo trước cái giá quá đắt mà họ phải trả cho cuộc sống điên cuồng. Trong kỷ nguyên khóai lạc của chúng ta, phong trào Chậm có con chủ bài marketing trong tay áo: nó bán rong khoái lạc. Nguyên lý trung tâm của triết lý Chậm là dành thời gian để hoàn thành mọi việc thật trọn vẹn, và theo cách ấy mà yêu thích công việc hơn. Dẫu cho tác động lên bảng cân đối thu chi của nều kinh tế thế nào chăng nữa, triết lý Chậm cũng cho chúng ta những thứ làm chúng ta thật sự vui suống: sức khỏe tốt, môi trường sống sung túc, những mối quan hệ và cộng đồng gắn bó, tự do thoát khỏi hối thúc triền miên.

Tuy nhiên thuyết phục mọi người về những ưu điểm của lắng mình chậm lại mới chỉ là bước khởi đầu. Giảm tốc sẽ vẫn là cuộc đấu tranh cho tới chừng nào chúng ta phải viết lại những luật lệ chi phí phối hầu như tất cả các phạm vi đời sống - nền kinh tế, môi trường công sở, kiến thiết đô thị, giáo dục, y tế. Điều này sẽ cần đến một hòa trộn khôn ngoan của thuyết phục nhẹ nhàng, lãnh đạo nhìn xa trông rộng, luật lệ cứng rắn và đồng thuận quốc tế. Sẽ là một thách thúc, nhưng đó là điều cốt yếu. Đã có những cơ sở để lạc quan. Nhìn chung, chúng ta đều thấy cuộc sống của chúng ta quá cuồng loạn, và ta muốn chậm lại. Tính về từng cá nhân đơn lẻ, ngày càng có nhiều người trong chúng ta hãm phanh và thấy rằng chất lượng cuộc sống có tốt lên. Câu hỏi lớn hiện nay là khi nào thì cái đơn lẻ này trở thành cái toàn thể. Khi nào thì vô số những hành vi giảm tốc cá nhân đang diễn ra trên toàn cầu này sẽ đạt tới số đông đáng kể? Khi nào thì phong trào Chậm sẽ trở thành cuộc cách mạng Chậm?

Để giúp cho thế giới đạt tới điểm đảo lộn này, mỗi người trong chúng ta cần cố gắng nhường chỗ cho Sự Thong Thả. Điểm thích hợp để bắt đầu chính là đánh giá lại mối quan hệ của chúng ta với thời gian. Larry Dossey, vị bác sĩ người Mỹ đã tạo ra thuật ngữ "căn bệnh thời gian", giúp các bệnh nhân của mình chiến thắng hòan cảnh bằng cách dạy cho họ bước ra khỏi thời gian, sử dụng liên hệ phản hồi sinh học, thiền định hoặc cầu kinh để xây dựng "những cửa ra thời gian." Nhờ dũng cảm đương đầu với cung cách chiếc đồng hồ chi phối cuộc sống của họ lâu này, họ có thể chậm lại. Tất cả chúng ta đều có thể học hỏi được từ đây. Hãy thử nghĩ về thời gian không phải như một nguồn lực có hạn đang không ngừng chảy đi mất, hoặc như một gã côn đồ đang e sợ hoặc cần chế ngự, mà chỉ như một nhân tố tốt lành trong đó chúng ta sống trong. Hãy ngừng kiểu sống từng giây một cứ như thể Fredrerick Taylor đang lảng vảng đâu đây, chăm chăm kiểm tra đồng hồ bấm giờ và tặc lưỡi trên bìa kẹp hồ sơ.

Nếu chúng ta bớt kích động thần kinh về chuyện thời gian, chúng ta có thể bắt tay vào sử dụng hợp lý hơn cái xã hội hai mươi bốn tiếng đồng hồ này. Trong phần đầu cuốn sách này, tôi đã biện luận rằng một xã hội mở suốt ngày đêm là một xã hội mời chào sự vội vã. Cho ta cơ hội làm bất cứ việc gì, bất cứ lúc nào, và ta sẽ nhồi nhét lịch làm việc tới mức bục tung. Nhưng xã hội hai-mươi-bốn-tiếng không phải xấu xa về bản chất. Nếu chúng ta tiếp cận nó với tinh thần Chậm - làm việc ít đi, và giảm bớt sự vội vã - xã hội đó có thể cho ta sự linh họat cần thiết để giảm tốc.

Nói tới chậm lại, tốt nhất là nên khởi sự từ việc nhỏ. Hãy nấu một bữa ăn từ khâu đầu tiên trở đi. Hãy đi dạo với bạn bè hơn là nháo nhào ra phố mua những thứ chưa thực sự cần. hãy đọc báo mà không mở tivi. Thêm mát-xa vào chuyện làm tình của bạn. Hoặc đơn giản ngồi yên vài phút tại một nơi yêu tĩnh.

Nếu cảm thấy hành vi chậm lại nho nhỏ đó là tốt, hãy chuyển tới việc lớn hơn. Hãy cân nhắc lại giờ làm việc hoặc chiến dịch vận động khiến cho khu dân cư của bạn thân thiện hơn với người đi bộ. Khi cuộc sống trở nên tốt hơn, bạn sẽ tự hỏi mình câu mà tôi thường tự hỏi: Tại sao mình không chậm lại sớm hơn nhỉ?

Dần dần từng chút một, chứng cuồng-tốc-độ của bản thân tôi mất đi. Dường như thời gian không còn giống gã đốc công tàn bạo và độc đoán. Làm nghề tự do giúp ích nhiều cũng giống như ngồi thiền và cất đồng hồ vào ngăn kéo. Tôi nấu nướng, đọc sách, đọc báo và tắt điện thọai di động thường xuyên hơn. Áp dụng phương phái ít-hơn-là-nhiều-hơn vào những sở thích cá nhân - không chơi tennis nữa tới chừng nào các con tôi lớn hơn - giảm nhẹ đi áp lực phải hối hả. Nhắc nhở bản thân tôi rằng tốc độ không phải lúc nào cũng là phương sách tối ưu, rằng vội vã thường chẳng đi đến đâu vào có khi còn phản tác dụng, là đủ để kiềm chế phản xạ tăng tốc. Bất cứ lúc nào tôi chộp được mình đang hối hả, chỉ để mà hối hả, tôi liền dừng lại, hít thở sâu và nghĩ: "Không việc gì phải vội. Cứ nghỉ ngơi đã. Chậm chậm lại."

Mọi người chung quanh tôi nhận ra sự khác biệt. Tôi vẫn thường căm ghét những quầy thanh toán tại siêu thị, coi chúng như sự lăng mạ cuộc thập tự chinh của cá nhân tôi vì tốc độ và sự hiệu quả. Các bà, các cô thong thả cào bới trong ví để lấy tiền lẻ là những bà ba bị đặc biệt. Bây giờ thì tôi thấy thoải mái khi đứng xếp hàng, không còn nổi đóa, ngay cả khi những hàng khác xem ra chuyển động nhanh hơn. Tôi không còn bực dọc về những phút hoặc giây "lãng phí" nữa. Trong chuyến đi mua sắm vừa qua, tôi thậm chí còn thấy mình mới người đàn ông xếp hàng đằng sau chuyển lên trước vì ông ta chỉ mua ít món hơn. Vợ tôi ngạc nhiên:"Anh thực sự đang chậm đi đấy," cô nói, vẻ tán thưởng.

Dù vậy, khi tôi chuẩn bị viết cuốn sách này, thì phép thử thực thụ cho việc giảm tốc của bản thân tôi là liệu tôi có loại trừ được sự vội vã khỏi những câu chuyện trước giờ đi ngủ. Kết quả thật tốt đẹp. Bây giờ tôi có thể đọc vài cuốn sách mỗi lần mà chẳng hề băn khoăn về thời gian hoặc cảm thấy sốt ruột muốn lướt trang. Và tôi đọc chậm rãi, thưởng thức từng chữ, nâng cao kịch tính hoặc pha trò bằng giọng đọc diễn cảm và nét mặt. Thằng con tôi, bây giờ được bốn tuổi, tỏ vẻ thích thú, và khỏang thời gian đọc truyện trở thành giờ phút tâm đầu ý hợp, chứ không còn là cuộc chiến về câu chữ nữa. Chẳng còn cái câu cãi vã ngày xưa "Con muốn chuyện nữa!" /"Thôi, thế đủ rồi!"

Buổi tối mới đây thôi, một chuyện đáng lưu ý đã xảy ra. Tôi nằm trên giường con tôi để đọc cho cháu nghec câu chuyện thần thoại dài về người khổng lồ. Cháu có hàng mớ câu hỏi, và chúng tôi ngừng đọc để trả lời cho hết. Rồi tôi lại đọc một chuyện khác còn dài hơn về con rồng và cậu con trai người nông dân. Khi gập sách lại ở trang cuối, tôi bỗng nhận ra rằng mặc dầu tôi chẳng để ý là mình đã đọc bao lâu - mười lăm phút, nửa giờ đồng hồ, hoặc là lâu hơn nữa - tôi vẫn sẽ vui sướng được đọc tiếp. Mối tình nhăng nhố giữa tôi với Câu Chuyện Một Phút Trước GIờ Đi Ngủ nay đã là một kỷ niệm xa xưa. Tôi hỏi xem con tôi có muốn tôi đọc nữa không. "Bố ơi, con nghĩ tối nay đủ rồi," cháu dụi mắt nói. "Con thấy mệt thật rồi." Cháu hốn lên má tôi và trường vào dưới tấm chăn. Tôi vặn nhỏ đèn đầu giường trước khi ra khỏi phòng. Mỉm cười, tôi chầm chậm bước xuống thang.

CHÚ GIẢI - PHẦN DẪN LUẬN

"CĂN BỆNH THỜI GIAN" (time-sickness): Larry Dossey, Không gian, Thời gian và Y học (Space, Time and Medicine) (Boston: Các ẩn phẩm Shambhala, 1982).

TÂM LÝ NỘI TẠI CỦA TỐC ĐỘ (INNER PSYCHOLOGY OF SPEED): Từ cuộc phỏng vấn của tôi với Guy Claxton tháng 7 năm 2002.

KAMEI SHUJI: Scott North, "Karoshi và Những quan hệ lao động Đồng quy ở Nhật Bản và Mỹ" (Karoshi and Converging Labor Relations in Japan and America). Người Đưa tin Trung tâm Lao động 302.

AMPHÊTAMIN TẠI CÔNG SỞ MỸ: Dựa trên các cuộc kiểm tra công sở do Quest Diagnostics tiến hành năm 2002.

BẢY PHẦN TRĂM NGƯỜI TÂY BAN NHA CÓ NGỦ TRƯA: Được nêu trong Báo cáo Chính thức của Viện Hàn Lâm Thần Kinh Mỹ (Official Report of the American Aacademy of Neurology) (Tháng Sáu 2002).

SỰ MỆT NHỌC VÀ CÁC TAI HỌA (FATIGUE AND DISASTERS): Leon Kreitzman, "Xã hội 24 giờ" (THe 24 Hours Society) (Luân Đôn: Profile Books, 1999), tr. 109.

TRÊN BỐN MƯƠI NGÀN NGƯỜI CHẾT: Con số của Ủy ban Châu Âu.

CÁI CÁC NHẠC SĨ GỌI LÀ NHỊP CHUẨN: Percy A. Scholes, Bạn Đồng Hành Oxford tới Âm Nhạc (Oxford Companion to Music). (Nhà xuất bản Đại học Oxford, 1997), tr. 1.018.

CHƯƠNG 1: HÃY LÀM MỌI VIỆC NHANH HƠN.

Các thầy tu dòng thánh Benedict: Jeremy Rifkin, Những Cuộc Chiến Thời Gian: Cuộc Xung Đột đầu tiên trong Lịch sử Loài Người (Time Wars: Primary Conflict in Human History) (New York: Touchstone, 1987), tr. 95.

Uvatiarru: Jay Griffiths, "Xua đuổi Ông Đồng hồ," (Boo to Captain Clock) Nhà Quốc tế Chủ Nghĩa Mới 343, tháng Ba 2002.

Đồng hồ Cologne: Gerhard Dorn-Van Rossum, Lịch sử của Giờ. Những chiếc đồng hồ và Trật tự Thời gian hiện đại (History of the Hour: Clocks and Modern Temporal Orders) (Chicago: Nhà xuất bản Đại học Chicago 1996), tr. 234-35.

LEON ALBERT: Allen C. Bluedom, Sự Tổ chức Thời gian của Con người: Những thực tiễn và Trải nghiệm về Thời gian (The Human Organization of Time: Temporal Realities and Experience) (Stanford: Nhà Xuất bản Đại học Stanford, 2002), tr. 227.

SÁNG TẠO GIỜ CHUẨN TOÀN CẦU (CREATION OF GLOBAL STANDARD TIME): Clark Blaise, Chúa tể Thời gian: Người Canada đáng chú ý Đã Lỡ CHuyến Tàu và Làm Thay đổi Thế giới (Time Lord: The Remarkable Canadian Who MIssed His Train, and Changed the World)) (Toronto: Nhà xuất bản Knopf, 2000).

KHUYẾN KHÍCH ĐÚNG GIỜ NHƯ MỘT BỔN PHẬN CÔNG DÂN (PROMOTING PUNCTUALITY AS A CIVIC DUTY): Robert Levine, Địa lý học Thời gian: Những cuộc Phiêu lưu Thời gian của một nhà Tâm lý Xã hội (A Geography of Time: Temporal Adventures of a Social Psychologist ) (New York: Nhà Xuất bản Basic Books, 1997), tr. 67-70.

Frederick Taylor: cùng cuốn sách, tr. 71-72.

VẬN TỐC HÓA (VELOCITIZATION): Mark Kingwell "Tiến nhanh về Phía trước: Theo đuổi Tốc độ. Cao của chúng ta chẳng đến đâu," (Fast-Forward: Our High-Speed Chase to Nowhere). Tạp chí Harper's (tháng Năm 1998).

Năm trăm Triệu Nano-Giây: Tracy Kidder, Linh hồn của Cỗ Máy Mới (The Soul of a New Machine) (Boston:: Nhà Xuất bản Little, Brown, 1981), tr. 137.

CHƯƠNG 2: CHẬM LÀ TỐT ĐẸP

NHỮNG TÁC HẠI CỦA TỐC ĐỘ (DELETERIOUS EFFECTS OF SPEED): Stephen Kern, Nền Văn hóa của Thời gian và Không gian (The Culture of Time and Space), 1880-1918 (Cambridege, MA: Nhà xuất bản Đại học Hvard, 1983), tr. 125-26.

"Bộ mặt Xe đạp" (Bicycle Face): Cùng cuốn sách, tr. 111.

CHƯƠNG 3: THỨC ĂN: ĐẨY NHANH TỐC ĐỘ BÀN ĂN

Bữa ăn McDonald Trung bình Mười một Phút: Nicci Gerrard, "Chính kiến của Người gầy" (The Politics of Thin), Tờ The Observer, 5 tháng 1 2003.

ĂN CHUNG QUÁ CHẬM (COMMUNAL DINING TOO SLOW): Margaredt visser, Những Nghi thức Bữa tối: Nguồn gốc, Sự tiến triển, Những Dị biệt và Ý nghĩa của cách Cư xử tại Bàn ăn (The Rituals of Dinner: The Origins, Evolution, Eccentricities, and Meanings of Table Manners) (New York: Nhà xuất bản HarperCollins, 1991) tr. 354.

CÁ HỒI TĂNG TRỌNG (SALMON GROW FASTER): James Meek, "Nước Anh giục cấm Cá hồi tăng trọng," (Britain Urged To Ban GM Salmon) Tờ Guardian, 4 tháng Chín 2002.

BA MƯƠI BIẾN THỂ BỮA ĂN CỦA TAD (TAD'S 30 VARIETIES OF MEAL): Eric Schlosser, Quốc gia Đồ ăn nhanh: Mặt trái của Bữa ăn kiểu Mỹ (Fast Food Nation: The Dark Side of the All-American Meal) (New York: Nhà Xuất bản Penguin, 2001), tr. 114.

Tiệm ăn Nhanh (Restauration Rapide): Adam Sage, "Tạm biệt Bữa trưa Thong thả" (Au Revoir to the Leisurely Lunch), (Luân Đôn) Tờ Times, 16 tháng Mười, 2002.

NHIỄM ĐỘC KHUẨN KIẾT LỊ TỪ BÁNH HAMBURGER (ECOLI POISONING FROM HAMBURGERS): Schlosser, Quốc gia Đồ Ăn Nhanh, tr. 196-99.

Biến thể áctisô đang thoái hóa: Số liệu của Renato Sardo, Giám đốc Chương trình quốc tế Đồ ăn Chậm, Anna Muoio trích dẫn trong "Tất cả chúng ta đến cùng một chỗ. Hãy đến đó thong thả" (We all go to the Same Place. Let Us Go There Slowly) Fast Company, 5 tháng Giêng, 2002.

ĐƯỜNG Ở CỦ YACON KHÔNG CHUYỂN HÓA (YACON SUGARS UNMETABOLIZED): Hội đồng Nghiên cứu Quốc gia, Những Vụ thu họach thất bác của người Incas: Những thực vật ít người biết đến của Vùng Andes với Triển vọng Canh tác trên toàn Thế giới (Lost Crops of the Incas: Little-Know Plants of the Andes with promise for Worldwide Cultivation) (Washington DC: Nhà Xuất bản Việc Hàn Lâm Quốc gia, 1989) tr. 115.

BỮA TRƯA VĂN PHÒNG DÀI BA MƯƠI SÁU PHÚT (BUSINESS LUNCH LASTS THIRTY SIX MINUTES): Dựa trên điều tra của Fast Company.

NGƯỜI KWAKIUTL BÀN VỀ ĂN NHANH: Visser, Những Nghi thức bữa tối, tr. 323.

PATRICK SEROG BÀN VỀ ĂN CHẬM: Sage, "Tạm biệt."

ĐIỆN THOẠI CẦM TAY VÀ CHI TIÊU ĂN UỐNG Ở Ý (ITALIA CELLPHONE AND FOOD SPENDING): Phỏng vấn Cario Petrini đăng trên New York Times, 26 tháng Bảy, 2003.

CHƯƠNG 4: ĐÔ THỊ: PHA TRỘN CŨ VÀ MỚI

MỘT NGÀN NĂM TRĂM NGƯỜI RỜI KHỎI CÁC ĐÔ THỊ ANH MỖI TUẦN: Dựa trên báo cáo 2004 về Thay đổi và Đa dạng Kinh tế Xã hội ở Nông thôn nước Anh (Social anh Economics Change and Diversity in Rural England) của Trung tâm Nghiên cứu Bằng chứng Nông thôn.

"CÁC CHÍNH SÁCH VỀ THỜI GIAN Ở ĐÔ THỊ" (URBAN TIME POLICIES): Jean-Yves Boulin và Ulrich Muckenberger, Thời gian ở Đô thị và Chất lượng Cuộc sống (Times in the City and Quality of Life) (Brussels: Quỹ châu Âu về Cải thiện Điều kiện Sống và Làm việc, 1999).

CUỘC CHIẾN TIẾNG ỒN Ở CHÂU ÂU (WAR ON NOISE IN EUROPE): Emma Daly, "Cố gắng để vỗ về một Đô thị nữa hầu như không ngủ" (Trying to Quiet Another City That Barely Sleeps), New York Times, 7 tháng Mười, 2002.

GIAO THÔNG ĐI LẠI TÁC ĐỘNG ĐẾN TINH THẦN CỘNG ĐỒNG (TRAFFIC AFFECTS COMMUNITY SPIRIT): Donald Appleyard, Giáo sư thiết kế Đô thị tại Đại học Clifornis, Berkeley, nghiên cứu tiên phong về đề tài này năm 1970.

DI CHUYỂN ĐẾN VÙNG NGỌAI Ô CHẬM CHẠP (FLOW TO SUBURBIA SLOWS): Phillip J. Longman, "Kẹt xe ở Mỹ" (American Gridlock), Tin Mỹ và Bản tin Thế giới (US News and World Report), 28 tháng Năm, 2001.

PORTLAND THÀNH PHỐ SÔI ĐỘNG NHẤT (PORTLAND MOST LIVEABLE CITY): Charles Siegel, Chậm là Tốt đẹp (Slow is Beutiful): Các giới hạn tốc độ như là những Quyết nghị Chính trị về Hình thức Đô thị (Speed limits as Political Decisions on Urban Form) (Berkeley: Nghiên cứu Chính sách Viện Lưu trữ, 1996).

CHƯƠNG 5: TINH THẦN THỂ XÁC: MỘT TINH THẦN LÀNH MẠNH TRONG MỘT CƠ THỂ CƯỜNG TRÁNG

THƯ GIÃN MỘT ĐIỂM BÁO CỦA TƯ TƯỞNG CHẬM (RELAXATION A PRECUSOR OF SLOW THINKING): Guy Claxton. Trí tuệ Thỏ, Tinh thần Rùa: Vì sao Trí Thong minh tăng lên khi bạn bớt suy nghĩ (Hare Brain, Tortoise Mind: Why Intelligence Increase When you Think Less ) (Luân Đôn, Nhà xuất bản Fourth Estate, 1997), tr. 76-77.

Những Nhà Tư tưởng vĩ đại suy nghĩ Thong thả: Sách đã dẫn trên, tr.4.

THIỀN - NIỆM CHÚ CẮT GIẢM TỈ LỆ NHẬP VIỆN (TRASCENDENTAL MEDITATION CUTS HOSPITALIZATION RATES): Các kết quả của năm năm nghiên cứu hai ngàn người trên khắp nước Mỹ, xuất bản trong Thuốc trị bệnh Thần kinh (Psychosomatic Medicine) 49 (1987).

"TRONG VÙNG" (BEING IN THE ZONE): Robert Levine, Địa lý học THời gian: Cuộc phiêu lư Thời gian của một Nhà Tâm lý Xã hội (New York: Nhà Xuất bản Basic Books, 1997), tr. 33-34.

MƯỜI LĂM TRIỆU NGƯỜI MỸ THỰC HÀNH YOGA: Dựa trên điều tra do Cục Dịch vụ Tương tác Harris tiến hành cho Tập san Yoga (Yoga Journal) năm 2003.

"ĐI BỘ GIÚP KÉO DÀI..." (WALKING TAKE LONGER...) Edward Abbey, Hành trình về Nhà: Vài lời bênh vực cho Miền Tây nước Mỹ (The Journey Home: Some Words in Defense of the American West ) (New York: Dutton, 1977), tr. 205.

TẬP LUYỆN SIÊU-CHẬM THÚC ĐẨY CHOLESTEROL HDL: Thư gửi tới trang web Health101.org do Phillip Alexander, TIến sĩ Y khoa, Phụ trách Đội ngũ y bác sĩ, Khoa Trung tâm Y tế College Station, Đại học A&M Texas, Trường Y.

CHƯƠNG 6: BÁC SĨ VÀ ĐỨC KIÊN TRÌ.

"Y TẾ MÁY NHẮN TIN" (BEEPER MEDICINE): James Gleick, Nhanh hơn: Tăng tốc tất cả (Faster: The Acceleration of Everything) (New York: Nhà Xuất bản Random House, 1999), tr.85.

NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH SẢN 2002 (2002 FERTILITY STUDY): Thực hiện bởi David Dunson thuộc Viện Quốc gia các môn Khoa học Y tế Môi trường ở Bắc Carolina, thu thập dữ liệu từ bảy thành phố châu Âu.

Những người thực hành CAM vượt số dân Anh Quốc (Cam Practitioners outnumbers GPs): Con số do Hiệp Hội Y tế Anh quốc công bố năm 1998.

CHƯƠNG 7: TÌNH DỤC: NGƯỜI TÌNH BÀN TAY CHẬM

NỮA GIỜ MỖI TUẦN DÀNH CHO LÀM TÌNH (HALF AN HOUR PER WEEK DEVOTED TO MAKING LOVE): Nghiên cứu năm 1994 do các nhà nghiên cứu Trường Đại học Chicago tiến hành. Trích dẫn trong James Gleick: Nhanh hơn: Tăng tốc tấc cả New York: Nhà xuất bản Random House, 1999), tr. 127.

VÂNG- VÂNG-XIN-CẢM-ƠN-BÀ (WHAM-BAM-THANK-YOU-MA'AM): Xem Judith Mackay, Benguin Atlas về Hành vi tình dục con người (Penguin of Hunan Sexual Behavior ) (New York: Penguin Books, 2000), tr. 20.

ARVIND VÀ SHANTA KALE: Trích trong Van Sampson, Tantra: Nghệ thuật Tình dục tác động tới tinh thần (Tantra: The Act of Mind-Blowing Sex). (Luân Đôn: Nhà Xuất bản Vermillion 2002), tr. 112.

NHỮNG VẤN ĐỀ HÔN NHÂN ẢNH HƯỞNG TỚI NĂNG SUẤT (MARTIAL PROBLEMS HURT PRODUCTIVITY): Melinda Forthofer, Howard Markman, Martha Cox, Scott Stanley và Ronald Kessler, "Những liên hệ giữa Hôn nhân bất hạnh và Mất việc ở một quốc gia điển hình" (Associations Between Martial Distress and Work Loss in a National Sample), Tập san Hôn nhân và Gia đình 58 (Journal of Mrriage and the Fmily 58) (Tháng Tám 1996), tr. 597

CHƯƠNG 8: LÀM VIỆC; NHỮNG LỢI ÍCH KHI CÔNG VIỆC BỚT NHỌC NHẰN.

BENJAMIN FRANKLIN BÀN VỀ GIỜ LÀM VIỆC NGẮN HƠN (BENJAMIN FRANKLIN OF SHORTER WORK HOURS): John De Graaf, David Wann và Thomas H. Nylor, Sự sung túc dịch bệnh tiêu-dùng-đủ-thứ (Affluenza: The All-Consuming Epidemic) (SanFrancisco: Nhà Xuất bản Berret-Koehler, 2001) tr 129.

GEORGE BERNARD SHAW TIÊN ĐOÁN: Từ một báo cáo do Benjamin Kline Hunnicutt trình bày tại Hội thảo Chuyên đề về làm việc quá sức : Nguyên nhân và hậu quả, tại Baltimore MA, 11-13 tháng ba 1999.

TUẦN LỄ BỐN NGÀY CỦA RICHARD NIXON: Dennis Kaplan và Sharon Chelton, " Liệu đã đến lúc bỏ Tuần Làm việc mười bốn giờ?" (Is is time to dump the forty - hour week?), Conscious Choice (Lựa chọn có ý thức, tháng chín 1996.

THƯỢNG VIỆN MỸ DỰ BÁO GIỜ LÀM VIỆC NGẮN HƠN: De Graff, sự sung túc, tr. 41.

TRONG KHI NGƯỜI MỸ LÀM VIỆC NHIỀU NHƯ THẾ (WHILE AMERICANS WORK AS MUCH): Theo số liệu của Tổ chức lao động quốc tế và tổ chức hợp tác và triển kinh tế, giờ lao động tại Mỹ đã tăng lên trong khoảng từ năm 1980 đến năm 2000, sau đó giảm nhẹ khi kinh tế ngưng trên.

NGƯỜI MỸ NGÀY NAY TRUNG BÌNH LÀM VIỆC TRÊN 350 GIỜ: John de Graff, trang web www.timeday.org.

MỘT TRONG NĂM-BA MƯƠI GÌ ĐÓ NGƯỜI ANH (ONE IN FIVE-THIRTY SOMETHING BRITONS): Từ một cuộc điều tra về làm việc ngoài giờ trên toàn quốc do Bộ thương mại và công nghiệp Anh cùng Tạp chí Management today (Quản lý ngày nay) thực hiện năm 2002.

MARILYN MACHLOWITZ BÀN VỀ THỜI THAM VIỆC (MARILYN MAMCHLOWITZ ON WORKHOLISM) : Matthew Reiss,"Karoshi Mỹ" (American Karoshi), Nhà quốc tế chủ nghĩa mới 343 (tháng Ba, 2002).

TRÊN 15% NGƯỜI CANADA CÓ Ý ĐỊNH TỰ TỬ: Dựa trên điều tra của Ipsos-Reid tiến hành năm 2002.

NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG CỦA BỈ, PHÁP VÀ NA UY: Con số năng suất theo giờ dựa trên phân tích trong báo cáo 2003 của Tổ chức lao động quốc tế.

70% NGƯỜI DÂN MUỐN CÓ SỰ CÂN BẰNG HỢP LÝ HƠN GIỮA LAO ĐỘNG VÀ CUỘC SỐNG: Điều tra công bố năm 2002 của Andrew Oswald thuộc Đại học Warwick (Anh quốc) và David Blanchflower thuộc Đại học Dartmouth (Mỹ).

THẾ HỆ FUREETA (GENERATION FUREETA): Robert Whymart. [Luân Đôn], Tạp chí Thời báo, 4 tháng năm 2002.

NGƯỜI ĐÚC TRUNG BÌNH SỬ DỤNG THỜI GIAN ÍT HƠN 15%: Dựa trên con số của Tổ chức lao động quốc tế.

CUỘC THĂM DÒ MANG TÍNH BƯỚC NGOẶT VỀ TUẦN BA MƯƠI LĂM GIỜ (LANDMARK POLL ON THIRTY-FIVE-HOUR WEEK): do CDA (Hội đồng phân tích thăm dò) tiến hành cho tạp chí L'Expansion, (tháng Chín 2003).

NHẬT BẢN NGHIÊN CỨU "MÔ HÌNH HÀ LAN" (JAPAN STUDYING "DUTCH MODEL"): Asako Murakami, "Chia sẽ công việc giúp giải quyết Những tai họa của Hà Lan", Japan Times (Thời báo Nhật Bản), 18 tháng năm 2002.

THÀ LÀM VIỆC ÍT GIỜ ĐI CON HƠN TRÚNG XỔ SỐ (PREFER TO WORK FEWER TAHN WIN LOTTERY): Từ một cuộc điều tra về làm việc ngoài giờ trên toàn quốc do Bộ thương mại và công nghiệp Anh cùng tạp chí Management Today thực hiện năm 2002.

GẤP ĐÔI SỐ NGỪƠI MỸ SẼ CHỌN THỜI GIAN NGHỈ (TWICE AS MANY AMERICANS WOULD CHOOSE TIME OFF): Điều tra do Tập đoàn Yankelovich Partners Inc tiến hành.

NHỮNG NGƯỜI CANADA LÀM VIỆC ÍT LẠI CÓ NHIỀU TIỀN HƠN: Điều tra tiến hành năm 1997-98 bởi công đòan công nhânh ngành giao thông, năng lượng và ngành giấy của Canada.

DỰ ÁN THÍ ĐIỂM CHUỖI KHÁCH SẠN MARIOTT (MARIOTT HOTEL CHAIN'S PILOT PROJECT): Billl Munck, "Thay đổi Văn hóa Thời gian bề mặt" (Changing a culture of face time), tạp chí thương mại Havard (Havard Business Review) (tháng Mười một 2002).

Donald Hensrud: anne Fisher, "Luôn kiệt lực? Vẫn chẳng tới đâu?" (Exhausted all the time? Still getting nowhere?), tờ Fortune, 18 tháng ba, 2002.

MỘT BÁO CÁO MỚI ĐÂY CỦA NASA: JANE E.BROODY, "Khía cạnh mới của giấc ngủ trưa, một sự nghỉ ngơi làm hồi sức" (New Respect for the Nap, a pause that refreshes), tờ Science Times (Thời báo khoa học) 4 tháng giêng 200.

CHURCHILL BÀN VỀ NGỦ TRƯA (CHURCHILL ON NAPPING): Walter Graebner, Ngài thân mến của tôi (My dear mister), (luân Đôn: Nhà xuất bản Michael Joseph, 1965).

CHƯƠNG 9: THƯ NHÀN: TẦM QUAN TRỌNG CỦA NGHỈ NGƠI.

PLATO TIN TƯỞNG Ở HÌNH THỨC CAO NHẤT CỦA THƯ NHÀN: Josef Pieper, Thư nhàn: Cơ sở của Văn hóa (The Basis of Culture) (South Bend, In: nhà xuất bản St. Augustine, 1998), tr. 141.

"...CUỘN TRONG MÊ LY...": Franz Kafkaz, dịch giả Malcolm Pasley, Cách ngôn tuyển chọn (The Collected Aphorisms) (Luân Đôn: Nhà xuất bản Syrens, Penguin, 1994), tr. 27.

TRÊN BỐN TRIỆU NGƯỜI MỸ: Con số người đan lên từ hội đồng sợi thủ công Mỹ.

Giá trị tinh thần tương đương của bài tập siêu chậm: trích từ tập san của Cloudwatcher của Cecilia Howard tại trang Web: www. morelife.org/cloudwatcher/cloudwatch_112001.html.

LISZT MẤT "GẦN MỘT GIỜ" (LISAT TOOK "PRESQUEUNE HEURE): Grete Wehmeyer. Nhịp nhanh: Tài khám phá sự thong thả trong m nhạc (The Rediscovery of Slowness in Music), (Hamburg: Rowolth, 1993). (Bằng tiếng Đức).

CƠN THỊNH NỘ NHỊP MOZART: Uwe Kliemt, "Bàn về nhịp hợp lý" (on Reasonable Tempi, bài tiểu luận công bố trên trang web Nhịp Chuẩn: www. tempogiusto.de

BEETHOVEN BÀN VỀ NGHỆ SĨ BẬC THẦY: Nguồn dẫn như trên.

Richard Elen: Bài phê bình của ông có trên trang web: www. audiorevolution.com

DÀN NHẠC TO HƠN NHIỀU: Norman Lebrecht, "Chỉnh nhỏ xuống" (turn it down!), Tờ Evening Standard, 21 tháng tám 2002.

CHƯƠNG 10: TRẺ EM: NUÔI DẠY MỘT ĐÚA TRẺ KHÔNG VỘI VÃ

NHỮNG ĐỨA TRẺ MẤT NGỦ KHÓ KHĂN TRONG KẾT BẠN (SLEEP-DEPRIVED KIDS HAVE TROUBLE MAKING FRIENDS: Samantha Levine, "Dậy quá muộn" (Up too late). Tin Mỹ và bản tin thế giới, 9 tháng chín 2002.

CUNG CÁCH LÀM VIỆC KIỂU ĐÔNG Á ĐANG PHẢN PHÁO (EAST ASIAN WORK ETHIC BACKFIRING): "Các nhà trường Châu Á quay lại với sổ sách" (Asian school go back to the books), tờ Time, 9 tháng tư 2002.

PHẦN LAN LIÊN TỤC ĐỨNG ĐẦU CÁC ĐÁNH GIÁ XẾP HẠNG TRÊN THẾ GIỚI (FINLAND ROUTINELY TOPS WORLD RANKINGS): John Crace, "Thiên đường và Helsinki" (Heaven and Helsinki), tờ Guardian (người bảo vệ) 16 tháng chín 2003.

PHẦN KẾT LUẬN: TÌM KIẾM NHỊP CHUẨN.

TOÀN BỘ CUỘC ĐẤU TRANH SINH TỒN: Từ cuộc phỏng vấn của tôi với Sten Nadolny năm 2003.

SỰ PHÙ PHIẾM, MỘT CUỐN TIỂU THUYẾT TIÊN TRI KỲ LẠ: Stephen Kern, Văn hóa của thời gian và khộng gian, 1880-1918 (Cambridge, MA: Nhà xuất bản đại học Havard, 1983), tr. 110.

DANH MỤC NGUỒN THÔNG TIN

Tôi đã đọc nhiều sách báo để nghiên cứu về tốc độ, thời gian và sự chậm lại. Dưới đây là những sách báo nổi bật. Tuy một vài trong số chúng nặng tính hàn lâm, hầu hết nhằm vào người đọc phổ thông. Dưới nữa là danh mục các trang Web hữu ích. Chúng là khởi đầu tốt để khám phá lợi ích của sự chậm rãi cũng như để liên kết những người đang chậm lại.

SÁCH

Clark Blaise. Chúa tể thời gian: Người Canada đáng chú ý đã nhỡ tàu và làm thay đổi thế giới. Toronto. Nhà xuất bản Knopt Canada, 2000.

Allen C. Bluedom. Tổ chức của con người về thời gian: Những thực tiễn và Trải nghiệm về thời gian. Stanford. Nhà xuất bản sách kinh tế của Stanford, 2002.

Daniel J. Boorstin. Những người phát hiện: Một câu chuyện về cuộc tìm kiếm của con người nhằm hiểu biết thế giới và bản thân anh ta (A history of Man's search to know his world and himself). New York: Nhà xuất bản Random House, 1983.

Guy Claxton. Trí tuệ thỏ, tinh thần rùa: vì sao trí thông minh tăng lên khi bạn bớt suy nghĩ lại. Luân Đôn: Nhà xuất bản Fourth Estate, 1997.

John De Graaf, David Wann và Thomas H. Naylor. Sự sung túc: Dịch bệnh tiêu dùng đủ thứ. San Francissco: Nhà xuất bản Berrett-Koehler, 2001.

James Gleick: Nhanh hơn: Tăng tốc tất cả. New York: Nhà xuất bản Random House, 1999.

Dina Glouberman, Cái thú của dốc hết tốc lực: Cuối đường có thể là một sự khởi đầu mới ra sao (the Joy of Burnout: How the end of the road can be a new beginning). Luân Đôn: Nhà xuất bản Hodder & Stoughton, 2002.

Kathy Hirsh-Psek và Roberta Michnik Golinkoff. Einstein không bao giờ dùng thẻ ghi chú: Con cái chúng ta học ra sao và tại sao chúng cần chơi nhiều hơn và nhớ ít đi (Einstein never used flashcards: How our children learn 3/4 and why they need to play more and memorize less). Nhà xuất bản Emmaus, PA: Rodale 2003.

Will Hutton. Thế giới nơi chúng ta sống (the world we're in). Luân Đôn: Nhà xuất bản Little, Brown, 2002.

Matt James. Người thành phố làm vườn (The city Gardener). Luân Đôn: Nhà xuất bản Harper Collins, 2003.

Stephen Kern. Văn hóa của thời gian và không gian, 1880-1918. Cambridege, MA: Nhà xuất bản đại học Havard. 1983.

Alex Kerr. Chó và quỷ (Dogs and Demons): Sự sụp đổ của Nhật Bản hiện đại. New York: Nhà xuất bản Penguin, 2001.

Leon Kreitzman. Xã hội hai mươi bốn giờ. Luân Đôn: Nhà xuất bản Profile Books, 1999.

Corby Kummer. Những khoái lạc của Đồ ăn chậm: Tôn vinh những truyền thống đích thực. Khẩu vị, và công thức chế biến (The pleasures of Slow Food: Celebrating Authentic Traditions, Flavor, and Recipes). San Francisco: Nhà xuất bản Chronicle Books, 2002.

Milan Kundera. Sự chậm rãi (Slowness). Luân Đôn: Nhà xuất bản Faber and faber, 1006.

Robert Levine. Địa lý học thời gian: Những cuộc phiêu lưu thời gian của một nhà tâm lý xã hội. New York: Nhà xuất bản Basic books, 1997.

Kathleen McDonelle. Em yêu, chúng ta đã mất bọn trẻ: Suy ngẫm lại thời thơ ấu trong kỷ nguyên Đa truyền thông (Honey, we lost the kids: Rethinking childhood in the multimedia age). Toronto: Nhà xuất bản Second Story Press, 2001.

Peter Meiskins và Peter Whalley. Đặt công việc vào đúng chỗ: Một cuộc cách mạng thầm lặng (Putting work in its place: A quiet revolution). Ithaca: Nhà xuất bản Đại học Cornell, 2002.

Jeremy Millar và Michael Schwartz (Các biên tâp viên): Tốc độ: Tầm nhìn của thời đại tăng tốc (Speed: Visions of an accelerated age). Luân Đôn: Gallery của các nhiếp ảnh gia, 1998.

Berrnadette Murphy. Thiền và nghệ thật đan: Khám phá những mối liên hệ giữa đan, sự duy linh và tính sáng tạo (zen and the art of knitting: Exploring the links between knitting, sprituality and creativity). Avon: Adams Media Corporation, 2002.

Sten Nadolny. Khám phá sự chậm rãi (The discovery of slowness). Tái bản. Edinburgh: Nhà xuất bản Canongate books, 2003.

Keibo Oiwa. Chậm là tốt đẹp (Slow is beautiful). Tokyo: Heibonsha, 2001 (tiếng Nhật).

Carlo Petrini. Đồ ăn chậm: Tản mạn về khẩu vị, truyền thống và những thú vui lương thiện của đồ ăn (Slow food: Collected thoughts on taste, tradition, and the honest pleasures fo food). White River Jct, VT: Chelsea Green Publishing Co, 2001.

Pieper Joseph, Thư nàhn: Cơ sở của văn hóa. South Bend, IN: Nhà xuất bản St Augustine, 1008.

Robert D. Putnam. Nói riêng bowling: Sự sụp đổ và hồi sinh của công đồng Mỹ (Bowling slone: The collapse and revival of American community). New York: Nhà xuất bản Sinmon, Schuster, 2001.

Jeremy Rifkin. Những cuộc chiến thời gian: cuộc xung đột đầu tiên trong lịch sử loài người. New York: Nhà xuất bản Touchstone, 1987.

Bartrand Russell. Ca ngợi sự nhàn rỗi (In prasie of Idleness). Luân Đôn: Nhà xuất bản Routledge, 2001.

Van Sampson. Tantra: Nghệ thuật tình dục tác động tới tinh thần. Luân Đôn: NHà xuất bản Vermillion, 2002.

Eric Schlosser. Quốc gia đồ ăn nhanh: Mặt trái của bữa ăn kiểu Mỹ. New York: Nhà xuất bản Penguin, 2002.

Margaret Visser. Những nghi thức bữa tối: nguồn gốc sự tiến triển, những dị biệt và ý nghĩa của cách cư xử tại bàn ăn. New York: Nhà xuất bản HarperCollins, 1991.

TẠP CHÍ

Mark Kingwell, Mark. "Tiến nhanh về phía trước: Theo đuổi tốc độ. Cao của chúng ta chẳng đến đâu." Tạp chí Harper's. Tháng năm 1998.

CÁC TRANG WEB

Chung

www.zeitverein.com (Hiệp hội giảm tốc thời gian, Áo)

www.slothclub.org/index02.html (Nhật Bả)

www.slow-life.net (Nhật Bản)

www.longnow.org (Mỹ)

www.simpleliving.net (Mỹ)

Đồ ăn

www.slowfood.com (Ý)

www.farmersmarkets.net (Anh Quốc)

www.cafecreosote.com/Farmers_Markets/index.php3 (Mỹ)

Đô thị

www.matogmer.no/slow_cities_citta_slow.html/ (đô thị chậm, Ý)

www.homezones.org (Anh quốc)

www.newurbanism.org (Bắc Mỹ)

Tinh thần thể xác

www.trn.org (Thiền tiên nghiệm, Mỹ)

www.webcom.com/-imcuk (Trung tâm thiền quốc tế)

www.gi-flow-golf.com (Khí công cho những tay gôn. Anh Quốc)

www.superslow.com (Bài tập Mỹ)

Y học

www.pitt.edu/-cbw/altm.html (Y học bổ sung và thay thế Mỹ)

www.haleclinic.com (Anh Quốc)

www.slowhealing.com (ANh Quốc)

Tình dục

www.slowsex.it (Ý)

www.tantra.com (Mỹ)

www.diamonlighttantra.com (Anh quốc)

Lao động

www.swt.org (Nhóm thời gian làm việc ngắn hơn, Mỹ)

www.worktolive.info (Mỹ)

www.employersforwork-lifebalance.org.uk (Anh quốc)

www.worklessparty.ca (Canada)

www.timeday.org (Mỹ)

Thư nhàn

www.tvturnoff.org (Mỹ)

www.ausweb.scu.edu.au/awoi/papers/edited/burnett/ (Đọc chậm, Canada)

www.tempoguisto.de (Đúc)

Trẻ em

www.pdkintl.org/kappan/ko212hol.htm (học chậm, Mỹ)

www.nhen.org (Giáo dục tài nhà, MỸ)

www.home-education.org.uk (UK)

www.flora.org/homeschool.ca (Canada)

www.marketplace.chef2chef.net/farmer-markets/canada.htm (Canada)

LỜI CẢM ƠN

Tôi không thể viết cuốn sách này nếu không có sự giúp đỡ của nhiều người. Tôi bắt đầu nghiên cứu phong trào chậm bằng một loạt các bài báo đăng trên tờ National Post (bưu điện tòan quốc) và tôi xin cảm ơn John Geiger, biên tập cũ của tôi tại đây. Với sự thu xếp khéo léo của đại diện của tôi, Patrick Walsh, giúp cho tôi viết được cuốn sách này. Micahel Schellenberg là một biên tập viên tuyệt vời, kiên nhẫn,sáng suốt và tỉ mỉ. Louise Dennys và Angelika Glover tại nhà xuất bản Knopf Canda, Gideon Wil tại nhà xuất bản HarperCollins San Francisco và Sue Sumeraj, biên tập viên đọc bản in cũng giúp định hình cuốn sách.

Tôi cũng xin cảm ơn hàng trăm người dành thì giờ chia xẻ với tôi những câu chuyện, quan đểm và chuyên môn của học với tôi. Chỉ có một số người được nêu tên trong cuốn sách, nhưng mỗi cuộc phỏng vấn tiếp nối đã tạo nên tòan cảnh. Tôi xin đặc biệt cảm ơn Lou Abato; Danira Caleta; Uwe Kiemt; George Popper: Carlo Petrini và mọi thành viện phong trào chậm.

* * *

[1] Dr.Seuss: Bút danh của một nhà văn Mỹ nổi tiếng với các tác phẩm viết cho thiếu nhi.

[2] Thảm họa Chernobyl: Vụ nổ Nhà máy Điện Nguyên tử Chernobyl ngày 26 tháng Tư năm 1986 khiến nhiều khu vực ở Ukraine, Belarus và Nga bị nhiễm phóng xạ nghiêm trọng. Đây được xem như thảm họa tồi tệ nhất của ngành năng lượng nguyên tử.

[3] Exxon Valdez: Tên con tàu chở dầu của hãng Exxon. Rạng sáng ngày 24 tháng Ba năm 1989, trong khi rời cảng dầu Valdez, bang Alaska, tàu vướng vào dải san hô Bligh và làm tràn dầu ra khắp vùng eo biển Prince William. Đây được xem như thảm họa môi trường lớn nhât trong lịch sử nước Mỹ.

[4] Sự cố chảy lõi lò phản ứng nhạt nhân gây rò rỉ phóng xạ tại nhà máy điện hạt nhân số 2 thuộc Trạm Điện Hạt nhân Three Mile Island, bang Pennsylvania, Mỹ, năm 1979. Hậu quả vô cùng nặng nề cả về kinh tế lẫn phản ứng của dân chúng. Sự cố này nổi lên như vụ việc gây sụt giảm uy tín trầm trọng nhất cho toàn ngành điện hạt nhân.

[5] Union Carbide: Công ty Hóa chất Mỹ nổi tiếng vì vụ rò rỉ khí methyl isocyanate từ nhà máy Bhopal (Ấn Độ) năm 1984, giết chết hàng ngàn người và gây thương vong cho hàng chục ngàn người khác.

[6] Challenger: Thảm họa nổ tàu vũ trụ con thoi Challenger 73 giây sau khi rời bệ phóng ngày 4 tháng Tư năm 1983, làm chết toàn bộ phi hành đoàn gồm 7 thành viên. Thảm họa đã gây ra làn sóng công phẫn từ phía người dân Mỹ về sự khinh xuất của NASA.

[7] The Exorcist: Bộ phim năm 1973 dựa trên tiểu thuyết cùng tên của tác giả William Peter Blatty xuất bản lần đầu năm 1971.

[8] Cassandra: Con gái Priam, vua thành Troy, người được Apollo ban cho tài tiên tri nhưng bị nguyền rủa không bao giờ được người đời tin tưởng. Kiểu Cassandra: ý nói mình cảnh báo đúng mà không ai nghe.

[9] Nhà văn Anh thế kỷ 19, đoạt Nobel Văn chương năm 1957 (N.D.)

[10] Câu đầu tiên trong bài thơ “Nếu” của Rudyad Kipling.

[11] Luddite: một nhóm thợ ở Anh hồi thế kỷ 18 đình công phá hoại máy móc (N.D.).

[12] Tantra (tiếng Phạn): Chỉ các hình thức tập luyện và một hệ thống tín ngưỡng xuất phát từ truyền thống Hindu, nhằm giúp con người hòa nhập với vũ trụ.

[13] Slow Food, Sloth Club, Long Now Foundation, Society fot the Decelaration of Time.

[14] Nguyên văn: To make a fast buck.

[15] Benjamin Franklin: Chính khách Mỹ kiêm triết gia, 1706-1790 – ND.

[16] Nano-giây (Nanosecond): một ngàn phần triệu giây.

[17] Arcadia: một vùng ở Hy Lạp, còn có nghĩa là nơi đồng quê thanh bình hạnh phúc – HD.

[18] The boss keeps thời gian, so I don’t want to keep thời gian ở đây vừa có nghĩa quản lý thời gian, vừa có nghĩa đúng giờ.

[19] Lasagna: mì ống dẹt, thường thêm rau bina cho thơm ngon và hấp dẫn. Hoặc món nướng gồm thịt băm, cà chua, xốt phomát – ND.

[20] Một nhãn hiệu mì của Mỹ.

[21] Mùi và vị.

[22] Giăm-bông hun khói có gia vị kiểu Ý, thái lát mỏng – ND.

[23] Loại mì ống nhồi, giống bánh cảo ở ta: làm từ những vuông mì ống nhỏ, bên trong có thể nhồi thịt, pho mát hoặc nhiều thức khác.

[24] Quinoa: một loại cây rau muối đặc sản vùng núi Andes, Tây Nam Mỹ, có hạt ăn được.

[25] Dunkin’s Donuts: Nhãn hiệu nổi tiếng cung cấp các loại bánh rán và cà phê, Dunkin’s Donuts là một chuỗi hơn 6000 cửa hàng trên khắp toàn cầu.

[26] Calista Flockhart: Nữ diễn viên Mỹ từng đoạt giải thưởng Quả Cầu Vàng và đề cử giải Emmy. Cô là một ngôi sao phim truyền hình Mỹ.

[27] The Golden Arches: Những cây cung vàng, biểu tượng của hãng McDonald, chỉ các hãng đồ ăn nhanh nói chung.

[28] Cheddar: Loại phomát dày, màu vàng hoặc đỏ cam, đa vị - ND.

[29] Wensleydale: phomát cứng của Anh, vị thơm nhẹ.

[30] Stillons: Một trong hai loại phomát trắng của Anh hương vị rất đậm, chế biến hoàn toàn từ sữa.

[31] Big Apple: Táo To, tiếng lóng chỉ thành phố New York.

[32] Pesto: Món nước xốt thịt băm chế biến từ các loại rau cỏ, cà chua và dầu ô liu. Dùng là nước xốt cho món mì ống.

[33] Burger: Một loại chả bao bột nhỏ, hình thù dẹt, viên từ thịt gà, cá, rau và các loại hạt.

[34] Gelaterie: Hiệu kem – ND.

[35] Antipasti: Đồ nguội khai vị.

[36] Carpaccio: Món ăn làm từ thịt bê hoặc cá ngừ, thịt thái lát mỏng, thêm dầu ô liu và nước chanh, sau đó nêm gia vị.

[37] Tay vợt tennis Mỹ, 1959 – ND.

[38] Pigato và vementino: Hai nhãn hiệu rượu vang nho nổi tiếng của Ý.

[39] Zucchini – loại bí mùa hè, hình thù như dưa chuột, vỏ nhẵn màu xanh thẫm hoặc vàng, ăn thay rau.

[40] Mortadella: xúc xích Ý.

[41] Pappardelle có nguồn gốc từ chữ “pappare” nghĩa là “nhai ngấu nghiến”. Đây là món mì ống dẹt, dày và to bản, vị rất ngon.

[42] Risotto: món cơm kiểu Ý, nấu từ gạo tấm và nhiều nguyên liệu khác nhau.

[43] Cappon magro – hải sản thập cẩm với bột cà chua xanh salsa verde, món ăn hàm lượng mỡ thấp.

[44] Mascarpone: phomát kem nổi tiếng của Ý, giàu chất béo, có vân sọc rộng.

[45] Nhà thơ Anh, 1731-1832 – ND.

[46] Basingstoke: Thành phố thủ phủ vùng Hampshire, nước Anh, dân số trên 70 ngàn người.

[47] Buffalo: Thành phố cảng ở phía Tây bang New York, gần hồ Erie và ngay trên sông Niagara, dân số gần 300 ngàn người.

[48] Percy Bysshe Shelley: Một trong những thi sĩ lớn của trào lưu Lãng mạn Anh (1792-1822) – ND.

[49] Frederick Olmstead: (1822-1903) nhà thiết kế vườn hoa và công viên nổi tiếng nhất của Mỹ trong thế kỷ 19. Ông được xem như người sáng lập ra khoa thiết kế vườn hoa và công viên.

[50] Ebenezer Howard: (1850-1928), nhà quy hoạch đô thị xuất chúng người Anh. Ông là người đề ra và triển khai quan điểm Thành phố Vườn, kết hợp thành thị với nông thôn, dẫn đến sự ra đời các thành phố ngoại vi quy mô nhỏ, quy hoạch trước cẩn thận và bao quanh bởi vành đai xanh đất nông nghiệp.

[51] Andalusia: Khu tự trị ở phía Nam Tây Ban Nha, giáp giới với Địa Trung Hải và Đại Tây Dương, nổi tiếng có các thành phố là địa danh lịch sử và các công trình kiến trúc Ma-rốc.

[52] Sardinia: đảo thuộc Ý nằm trên biển Địa Trung Hải. Sardinia là đảo lớn thứ hai Địa Trung Hải, sau Sicily, với dân số khoảng 1.659.466 người tính đến năm 1996.

[53] Herbert Ernest Bates: Tiểu thuyết gia người Anh, 1905-1974, nổi tiếng vì thành công và viết nhiều. Tuy nhiên, tác phẩm vĩ đại nhất, Nụ tầm xuân tháng Năm, của ông chỉ được xuất bản sau khi ông mất – ND.

[54] Norman Rockwell: (1984-1978), họa sĩ Mỹ nổi tiếng được hầu hết người dân Mỹ yêu chuộng. Trên bốn mươi năm minh họa cho tờ Bưu điện Chiều Thứ Bảy đưa lại cho ông lượng người xem đông đảo hơn bất cứ họa sĩ nào trong lịch sử.

[55] Nandina (Heavenly Bamboo): Một loại cây thân bụi, rễ mút, có lá nhiều màu, thuộc họ hoàng liên gai, phổ biến ở vùng Đông Á. Tuy tên có nghĩa là Heavenly, tức Tre Trời, nhưng lại không phải họ tre.

[56] OM (AUM): là lời mở đầu và kết thúc mọi lễ tụng kinh, là mật chú (mantra) thứ nhất, uy quyền nhất trong truyền thống Ấn Độ. Được xem như là biểu trưng mãnh liệt nhất của thánh thần cả ở thế giới bên ngoài lẫn bên trong nội tâm, tích tụ nguồn cảm hứng sáng tạo. Theo Vệ Đà giáo thì đây là tiếng kêu khởi thủy, đánh thức vạn vật, có hiệu lực đặc biệt đối với những diễn biến tinh thần.

[57] Marmite: một loại mứt gia vị sền sệt, có mùi vị rất đặc trưng, xuất xứ từ người Anh. Loạt gia vị này được chiết xuất từ men bia và nước ép rau xanh, được xem là sản phẩm cuối cùng của quá trình sản xuất bia.

[58] Thiền TM: Phương pháp nhập thiền bằng cách liên tục niệm chú – ND.

[59] René Descartes (1596 – 1650): Một trong những triết gia nổi tiếng nhất trong nền triết học phương Tây, được xem như cha đẻ của Triết học hiện đại.

[60] Tiếng Pháp: Đứa trẻ quậy phá - ND

[61] Pumping iron: Tên bộ phim tài liệu năm 1977 có sự tham gia diễn xuất của nam diễn viên Amoid Schwarzenegger, hiện là thống đốc bang California. Đây là bộ phim về cuộc chạy đua giành danh hiệu Vô địch thể dục thể hình Olympic 1975, được xem như tác phẩm điện ảnh kinh điển mọi thời đại về bộ môn thể dục thể hình.

[62] Insulin: một kích thích tố điều tiết lương glucose trong máu.

[63] Nguyên văn: New Age.

[64] Ayurveda: phép chữa bệnh Vệ đà, là một dạng y học thay thế được thực hành chủ yếu ở tiểu lục địa Ấn Độ. Vệ Đà nhấn mạnh vào cuộc sống lành mạnh, kết hợp với những liệu pháp chữa bệnh nhằm vào sự hài hòa thể xác, tinh thần, xã hội và tâm linh.

[65] Marma: mát-xa dùng phép chữa bệnh Vệ đà, tức là ấn mạnh một số điểm trên cơ thể để phục hồi năng lượng.

[66] Tên khoa học là Hypericum perfortatum, thường được biết đến qua tên St. John Wort vì loại cây này nở hoa màu vàng rất đẹp vào ngày 24 tháng Sáu, tức ngày Thánh John Baptist. Vào thời Trung cổ SJW được dùng để trừ tà ma, làm trong sạch không khí, cầu được mùa khi đốt trên ngọn lửa vào đêm trước lễ St. John.

[67] Đạo diễn điện ảnh người Mỹ, nổi tiếng là nhà làm phim danh giá đồng thời có khối lượng tác phẩm đồ sộ nhất kỷ nguyên hiện đại, ông còn thủ vai chính trong các phim của mình, là nhà văn, nhạc sĩ kiêm diễn viên hài.

[68] Ponter Sisters: Nhóm nhạc R&B của Mỹ rất thành công trong thập kỷ 70 và thập kỷ 80.

[69] Nguồn năng lượng an lạc Kundalini, tức nguồn tâm hỏa trong người, có khi còn được gọi một cách hình ảnh là con hỏa xà ngủ yên trong các luân xa.

[70] Nhân cách típ A: theo cách phân loại của tâm lý học, là những người có khí chất mạnh mẽ, hướng ngoại ưa hoạt động.

[71] McJob: từ lóng chỉ công việc thu nhập thấp, tiền đồ không có gì đặc biệt, một công việc thời vụ, ngẫu nhiên. Thuật ngữ này ám chỉ thực tế nhiều công việc tốt cho tầng lớp lao động thượng lưu bị hy sinh vì lợi nhuận và tự động hóa.

[72] Bertrand Arthur William Russell, nhà toán học kiêm triết học Anh (1872-1970) - ND

[73] Triết gia Hy Lạp, 384-322, trước Công nguyên - ND.

[74] Plato: Triết gia Hy Lạp, 427-347, trước Công nguyên - ND.

[75] Nhà văn Đức, 1863-1924 - ND.

[76] John Maynard Keynes: Nhà kinh tế học người Anh (1883-1946) - ND.

[77] Debbie Stoller: Tác giả, người làm xuất bản kiêm nghệ sĩ đồ vải, sản phẩm của bà bao gồm hàng len đan và hàng thêu bằng kim móc. Stoller là người sáng lập, bà chủ kiêm tổng biên tập tờ tạp chí Bust (Ngực), chào mời một lựa chọn hiện đại, nữ tính, hướng về tuổi trẻ cho văn hóa đại chúng.

[78] Canadian Prairies: Khu vực rộng lớn toàn đất trầm tích bằng phẳng trải khắp miền Tây Canada. Các đồng cỏ Canada là bộ phận của Đồng Bằng Lớn che phủ nhiều đồng cỏ và rừng bụi.

[79] Harpsichord: Một nhạc cụ có dây - dây được gẩy bằng một mẩu lông quạ gắn ở cuối phím - hình dáng hao hao một chiếc đàn dương cầm lớn. Mặc dù từng phổ biến và được nhiều nhà soạn nhạc lừng danh như J.S.Bach sử dụng, sang thế kỷ 19 harpsichord hoàn toàn bị đàn dương cầm thay thế.

[80] Clavichord: Nhạc cụ phím sơ khai, phổ biến vào khoảng thế kỷ 15 đến thế kỷ 19, đồng thời - là tiền thân của đàn dương cầm. Khi người chơi nhấn vào phím, các thanh chặn bật lên đập vào dây đàn tạo ra những âm thanh khe khẽ.

[81] Gustav Mahler: (1860-1911), nhà soạn nhạc người Áo gốc Bôhem kiêm nhạc trưởng. Sinh thời Mahler nổi tiếng là nhạc trưởng hàng đầu của dàn nhạc giao hưởng và opera. Sau đó ông còn được công nhận là soạn giả quan trọng của thời kỳ hậu-lãng mạn.

[82] Hình thức chơi nhạc không dùng các thiết bị điện tử.

[83] Sleepover: bữa tiệc dành cho các em nhỏ sau đó có ngủ lại qua đêm tại nhà một ai đó.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.