Người Bản Lĩnh - Phần 2

PHẦN HAI : ĐỐI-THA

CHƯƠNG VII. ÓC THÀNH THỰC

CHƯƠNG VIII. ÓC CHỊU ĐỰNG

CHƯƠNG IX. ÓC BẶT THIỆP

CHƯƠNG X. ÓC THÀNH BẠI

CHƯƠNG XI. ÓC DẪN DỤ

CHƯƠNG XII. ÓC SÂU SẮC

CHƯƠNG VII : ÓC THÀNH THỰC

« Thành thực không phải là nói tất cả điều mình tưởng mà không nói gì nghịch hết với điều mình biết ». C. DEMANET

« Ở đời thành thực là khôn. » WATERSTONE

1. Bữa nọ vua Cảnh Công dự tiệc tại nhà Án Tử, thấy vợ Án-Tử, liền nói : phu nhân của khanh già, xấu. Ta có đứa con gái trẻ đẹp. Khanh muốn đem về làm hầu, ta rất đồng ý. Án-Tử bất mãn nói : « Nội tử tôi đã kết tóc xe tơ với tôi từ lúc còn trẻ đẹp, trông cậy được tôi nâng đỡ lúc già xấu. Nhà vua muốn ban ơn cho tôi, tôi cảm ơn ; nhưng tôi không thể bội bạc với nội tử tôi. » Câu chuyện nầy thường để nêu gương vợ chồng chung thủy song dùng để đề cao đức thành thực vẫn rất hay. Ngày nay trong xã hội có mấy người tánh thẳng thắn như Án-Tử. Ngay từ trong gia đình, đứa con giỏi láo với người lớn, chối lỗi hay, lại có khi được khen là khôn, được ôm nựng và hi vọng sau nầy lanh lợi với đời. Trong bầu khí cuồng loạn của cuộc khủng hoảng gia đình ở thời đại nầy, có nhiều người chồng bất kể đạo tào khang, lén lút tham ván bán thuyền. Cũng không ít bà vợ nhờ chối giỏi, nhờ xon xỏn mắng chồng, làm nư làm trận, mặt lớn mặt nhỏ hay nhờ lời mật tiếng đường mà che giấu được lòng đàng điếm chia xẻ tình chung của mình. Ở học đường, học sinh gạt cha mẹ lấy học phí đánh bài, ăn hút, sắm những vật không cần, lường thầy bảo là nghèo, là mồ côi xin học bổng. Thay vì lo học tập có học sinh nam dám chuyên môn lừa đảo nhiều tấm lòng thiếu nữ khờ dại để « một tay chôn mấy cánh phù dung ». Nhiều lòng hoa láo với cha mẹ là đi tập hát, gạt thầy là cha mẹ bịnh, nên ở nhà để lết hết nhà bướm nầy đến cửa ong kia. Họ đối với các thứ nầy cũng láo và láo để bán lòng băng tuyết, mua chút ít lời đường mật, vài chiếc khăn vải, một cây bút máy hay những giấy xi nê, những câu chuyện lời qua tiếng lại xàm láp. Trong hàng ngũ các nhân viên ban giám đốc hay giáo ban của trường, người ta dám thức những đêm trắng để đấu trí, tìm mưu ăn thua nhau với mục đích không vì văn hóa nào hơn « văn hóa Tiền ». Có nhà giáo thiếu tài đức đến quá tệ mà vẫn lãnh nhiệm vụ giáo dục, giáo dục trúng không ít học sinh chuyên môn quỵch học phí, chuyên môn giả hình ngồi như phật mà lo viết thư tình, lo đánh cờ tướng. Thì ra thầy mướp dẳng trò mạt cưa, lo thi đua gạt nhau. Hồi ngoài cuộc đời mùa láo cũng dậy lên mênh mang và mênh mang. Tôi không bàn thứ láo mà người ta chịu, chẳng những chịu, mà còn đòi buộc nữa. Bạn đừng cười nhé. Một người vợ đối với chồng hay một phụ nữ qua đường đối với khách lạ, có diện tướng xấu như khỉ. Để vậy coi kỳ, người ta dùng son phấn, nữ trang chuyển biến cái xấu thành cái coi được mà người ta bằng lòng, có khi khoái trá cái nhan sắc giả tạo ấy. Tôi không trách thứ lường gạt đó, dầu từ bản chất cũng là lường gạt. Tôi cũng không nói chỉ tánh chất giả tạo của kịch tuồng. Mục đích của kịch tuồng thì hay lắm nhưng xét cho kỹ khi một bạn gái đóng vai Điêu-Thuyền, bạn đóng vai Đổng-Trác còn tôi đóng vai Tào-Tháo thì chúng ta coi khán giả ra sao ? Chúng ta càng khéo gạt, càng thành công, càng « tài tử » nói theo tiếng thời đại. Mà thôi, thứ gạt nầy xã hội thèm : ta cho thông qua. Bạn hãy ngó vào các tiệm cao đơn hoàn tán. Không phải ở đây hoàn toàn người ta lường gạt đâu, nhưng coi chừng ngón tay của satan rất tinh nhanh, thưa bạn. Người ta còn sợ ngay trong các tiệm thuốc Âu Mỹ của thời đại nguyên tử nầy có hằng lố chay nước đường để uống cho ngọt miệng chơi hơn là trị bịnh. Rồi vải hồ, rồi đồng hồ đem sửa bị mất bộ phận tốt, buôn lậu, chợ đen, ăn cắp tài liệu vật dụng của công sở, mưu cơ phỉnh nịnh để lên chức. Thưa bạn cái cảnh « đụt đáy thùng lường thưng tráo đấu » mà satan giựt dây dụi, quả đã làm cho lòng con người thời đại đã đảo điên lại càng điên đảo hơn. Nếu phải nói một sự tế nhị nào bực nhứt, tôi nói ngay tới sự tế nhị trong lối láo, lối bịp của một số người có óc trục lợi bằng đủ thứ hình thức trong thời đại tao loạn của chúng ta. Khiếp lắm. Thưa bạn, khi tiếp chuyện với họ, bạn không có lý nào hồ nghi họ cả. Bạn hồ nghi họ sao được vì họ thuyết với bạn thao thao bất tuyệt, lên giọng bổng xuống giọng trầm, khi khoan khi nhặt, khi đầy chí khí, khi âu yếm van lơn. Họ dùng gọi được là đủ mỹ-từ-pháp để thuyết dụ bạn. Bạn tin họ. Rồi tôi đến kẻ nghịch họ. Kẻ nầy không chịu thua địch thủ của mình. Thế rồi họ lý luận, dẫn dụ tôi bằng trăm phương ngàn cách. Tôi tin họ như giáo dân tin kính. Và thưa bạn như vậy thì sao ? Tôi với bạn phải đảo điên và đảo điên. Đó là tôi chưa nói những ngọn lưỡi rắn dùng láo xược để báo cáo, để lập công hại người. Biết bao người vô tội phải vong mạng bằng đủ thứ kiểu chết vô nhân đạo trong mùa chinh chiến vừa qua và ngay lúc tôi viết mấy giòng nầy cho bạn.

2. Người lạ lừa bịp nhau đi đã đành. Ngay trong bè bạn, tình đồng chí chết sống nhau trong một thời gian lâu, khi có tiền và tình xen vô, phải tan vỡ cách trân tráo đến cười ra nước mắt. Có những trường hợp, càng huấn luyện nhau về thành thực, càng căn dặn nhau keo sơn lại, càng gặp sự bội bạc, phản nộp. Không nên bi quan gọi một số đông loài người giống loài hồ ; nhưng phải thẳng thắn nói rằng ta xử với nhau cáo già quá. Mà bạn càng thành thực, càng xử bằng lòng đạo hạnh, có nhiều hạng lưu manh đến cực độ sẽ lạm dụng lòng tốt bạn để làm giàu, làm giàu trên xương máu bạn và mỗi lần gặp bạn giảng đạo đức hùng biện không mấy ai sánh lại.

Đó, thưa bạn, là một góc cạnh bộ mặt thực của xã hội thời đại chúng ta. Người Bản Lĩnh phải nhận thấy căn bệnh nguy hiểm ấy. Muốn mưu những thành công lương thiện, lâu bền, người bản lĩnh nhứt định phải thành thực. Kẻ giả dối nói ở đời đa mưu là khôn. Người bản lĩnh nói ở đời thành thực là khôn. Cái óc quỉ quái mà có lẽ nhân tổ của ta chịu ảnh hưởng của « con rắn quỉ » buổi đầu lịch sử nhân loại, hình như đều có trong mỗi cá nhân không nhiều thì ít. Ngay từ lúc chưa sạch máu đầu, rủi làm bể cái chén, lúc gặp mẹ, chúng ta chối leo lẻo. Ăn vụng cũng là triệu chứng của một lòng không ngay thẳng. Mà nói xa hơn, con nít lúc tiêu lén, tiểu dầm mặt sượng ngắt : nó có sự bẽn lẽn nầy là dấu hiệu tố cáo lòng tà. Rồi lớn lên có biết bao nhiêu nguyên nhân xô đẩy ta nói láo. Có người cho đến lúc gần xuống lỗ, bị đủ thứ thất bại vì lòng thiếu thành thực của mình mà lúc ăn nói vẫn thêm mắm dặm muối. Để trở thành hạng người làm nên trên đời một cái gì, ta nhứt định tiêu diệt mầm lao trong ta. Người giả dối tưởng rằng mình đầy đủ sáng suốt để đề phòng mọi sự khám phá mưu cơ mình của kẻ xung quanh. Nhưng kinh nghiệm cho ta biết rằng ở đời đâu ai gạt ai suốt đời và cũng đâu ai gạt được hết mọi người. Thời gian sẽ làm cho kẻ giả hình giấu đầu lòi đuôi và mất uy tín. Làm lớn mà có tâm tánh cáo già tức là tạo cho hạ cấp một bầu khí tù ngục. Kẻ dưới vì bổn phận hay vì bắt buộc bởi lý do nào đó đành khum đầu chịu sự lãnh đạo của họ. Nhưng rất bực mình vì lòng của họ không biết đâu mà ngừa. Ngay lúc họ âu yếm hỏi thăm, thân mật bàn tâm sự có thể là lúc họ gián tiếp điều tra để sa thải, để đổi cho những nhiệm sở khổ nhọc. Bàn công chuyện với họ cũng không vững dạ vì có khi họ đồng ý ngày nay và bởi họ muốn trá hình để làm gì có họ sẽ đổi ý ngày mai. Lắm lúc vì muốn đẹp lòng người dưới, ai mượn điều gì, yêu cầu việc chi, họ ừ ừ, được được hết, mà rốt cuộc đẩy trớt hết. Còn họ hứa không hơn gì quảng cáo thuốc sơn đông. Trong sự huấn luyện hay lãnh đạo hứa cho kẻ dưới những quyền lợi đẹp như bích mộng và vì căn tạng của họ là láo nên điều họ hứa mãi là mộng và mộng. Tội nghiệp nhiều kẻ bị trị có óc giản lược sống lạc quan gọi được là quay cuồng, hăng say trong những điều họ hứa. Khốn nhứt là họ có cả mưu cơ xảo quyệt để tuyên truyền, họ phất cờ trở gió tùy người tùy cảnh đến một mực độ gian xảo khiến ai nấy phải đảo điên. Đáng tởm nhứt là họ dùng những mánh lới satan : lòng của họ là lòng rắn nhưng bên ngoài họ hiền như bồ câu. Họ có thể lát nữa hạ sát một người mà bây giờ lạm dụng người ấy, dùng lời đường mật dẫn dụ kẻ ấy để đụt gân bóc lột. Sống trong bầu không khí họ tạo ra, người ta lúc nào cũng có cảm tưởng bồn chồn, lo âu, nghi kỵ, đề phòng, hoảng sợ.

Người giả dối đối với kẻ ngang vai họ cũng rất nguy hiểm về nhiều phương diện. Bởi người giả dối thường là người ganh tị, nên các đồng bạn không dám tin tưởng lời họ nói. Trong chương trình mưu việc lớn, lần lần người ta xa họ. Nếu có bàn vấn đề gì người ta chỉ bàn góc cạnh và nhém đi những điểm quan trọng. Lẽ dĩ nhiên là họ có thể phản động bất ngờ. Có thể họ là con rắn hai đầu, chuyên môn gieo nghi kỵ, phá hoại hòa khí bằng những câu chuyện đến xóc. Còn nếu họ làm nhỏ thì không gì khốn đốn cho họ bằng những lời xiêng ngoa, nếu định theo đuổi một lý tưởng nào thì sớm muộn họ cũng bị sa thải. Vì miếng ăn, manh mặc mà họ bán sức lao động cho một ai, họ cũng chỉ làm một thời gian. Sau cùng họ cũng mang thân phận của múi cam sau khi đã vắt hết nước.

Trong gia đình sự giả dối làm cho những tâm hồn uyên ương nếm đủ mùi cay đắng. Tình yêu bị héo đi vì nghi nan, đề phòng. Những cảnh cơm không lành, canh không ngọt thường xảy ra vì một lời hai ba ý, vì nói một đàng làm một ngả. Có nhiều sự nghiệp gia đình hằng mấy mươi năm tưới bằng mồ hôi nước mắt, lúc vợ chồng gần xuống lỗ, đổ tan tành chỉ vì vợ thay lòng chung thủy hay chồng tham ván bán thuyền. Sự giáo dục con cái cũng thất bại vì giả dối gây nên đủ thứ mâu thuẫn. Cha cứ láo với mẹ hoài mà bảo con cái nói thật với mình sao được, con ăn cắp tiền mẹ mà mẹ cứng họng rầy không được giữ chìa khóa tủ sắt bởi có lần mẹ túm tiền đem nuôi vì ba không cho mẹ duyên mới và đỏ đen.

Không có gì bực mình ở học đường cho bằng thầy trò xử với nhau bằng bụng dạ chồn già. Có nhiều điều nhà giáo dốt đặc trăm phần trăm nhưng sợ mất uy tín tầm bậy nên tán hưu tán vượn. Trò biết được khinh thầy rẻ như bèo. Trong khi thầy giảng bài, trò tìm trăm phương ngàn cách gạt thầy để chơi. Có rủi bị bắt trò tráo trở, chối leo lẻo. Thầy trở mặt đi, trò cáo già diễn lại. Như vậy, thưa bạn, sự giả dối ở gia đình cũng như học đường làm mất uy tín nặng nề và gây không biết bao tai hại. Ngoài cuộc đời, sự lập thân, sự mưu sinh, sự đạt chí mà căn cứ trên giả dối không sớm thì muộn cũng sụp đổ. Trong cuộc làm ăn người thiếu lương thiện lần lần thua kẻ cộng tác, mất khách hàng. Những sự nghiệp do giả dối tạo sự mưu phản và sự băng hoại.

3. Xét về các phương diện, người bản lĩnh quyết tin suốt đời mình đức thành thật là lá bùa của thành công. Có đức nào mà chưa có đức thành thực thì kể như lầu đài nhơn đức của mình không có nền. Hẳn Thượng đế nhập thể đã thấy chân thành là tối yếu nên mỗi lần nói với môn đệ, Người nhấn mạnh « Quả thực, quả thực ta nói cùng các con : amen, amen dico vobis... ». Người nêu cho vạn thể, gương lộng lẫy về nhân đức vàng ngọc nầy. Những gì Người phán trước cùng môn đồ sau người thực hành hết : sự phục sinh của người chẳng hạn.

Nhưng phải hiểu thế nào là thành thực. Bạn đã biết nghịch với thành thật là láo, tức là tráo trở tư tưởng với ý định gạt kẻ khác. Thành thực là thái độ tinh thần của người không có ý gạt kẻ khác về những điều mình nói hay không nói. Vẫn căn cứ vào định nghĩa nầy, có đôi trường hợp bạn có ý gạt vì lý do bác ái hay vì lý do giỡn chơi mà không phải là thiếu thành thực hiểu theo nghĩa xấu. Một người cha gần giường hấp hối của vợ mình nói con của mình mắc đi học đến thăm không được. Nhưng kỳ thực nó đã chết từ lâu. Nếu chồng nói hết sự thật có thể làm nguy hại sức khỏe của người vợ. Trong câu chuyện giữa người thân có những lối nói lố, những câu gạt nhau để cười như bảo ai đó rằng cấp trên kêu. Người nầy vừa chạy đi liền hô là không có rồi cười. Có nhiều người mang những chứng bịnh thần kinh hay màng óc : trí nhớ bị tổn thương, trí tưởng tượng quá lố. Lắm lúc họ nói rất sai chân lý mà lòng vẫn thành thực. Ngần ấy trường hợp không phải là láo. Phải căn cứ vào ác ý, muốn lường gạt của một lời nói để xác định nó là thiếu thành thực. Có nhiều nguyên nhân khiến người ta thiếu thành thực. Cha mẹ láo có thể sinh con láo. Người Pháp nói : « chó săn có nòi ». Người Việt nói : « rau nào sâu nấy. » Luật đi thuyền không phải luôn đúng như toán học. Nhưng ngay khi ca mẹ èo uột bịnh hoạn, sống giả dối đối với nhau và lúc con cái sống gần mà cha mẹ cư xử cùng nhau bằng láo và láo thì con cái khó thành thực. Tôi biết một người họ xét về bản tánh rất tốt nhưng vì ở gần ông và bà hay nói tục và gian xảo nên lây tật nói xầy và nhám tay. Nếu rủi sinh trong gia đình có truyền thống láo xược, phương thế nên dùng là ngờ những kẻ láo và dùng ý chí cương quyết nói sự thật.

Nói láo vì trục lợi. Người ta tô lục chuốc hồng hàng hóa xấu để bán mắc tiền. Trong trường hợp nầy nên khôn ngoan tin rằng ăn chắc mặc dày hơn là gạt người làm giàu chỉ một lúc.

Có nhiều người vì muốn tỏ ra hơn người nói láo để khoe của. Chị dâu nói với em chồng rằng cha mẹ ruột mình đất cò bay mỏi cánh trong khi kỳ thực đất ấy là đất ông nội chị chưa từng tương phân cho hằng đoàn lũ con cháu. Trừ tật nầy bằng cách cho rằng láo như vậy là thiếu nhân cách. Nói láo để chữa mình vì sợ hình phạt là thường. Thằng bé sớn sát đập bể chén cơm, đổ thừa với mẹ là tại chó chạy. Decroly nói : « Láo là sự tỏ ra bản năng tự vệ ». Trong những trường hợp một tội nhân bị nhân viên công lý đánh tra quá, vì đau nói láo rằng mình làm cái nầy, biết cái kia v.v… là trường hợp láo vì sợ chết. Nếu thấy láo làm hạ thấp nhân vị thì nên anh dũng là hơn. Lắm kẻ láo vì bản tánh tự nhiên xu hướng về sự láo. Hễ mở miệng ra là họ tìm cách làm cho kẻ khác lầm. Tôi biết có vài người được cha mẹ, thầy giáo, bè bạn chỉ cho tật xấu ấy nhiều lắm, họ ừ ừ, dạ dạ rồi láo cứ láo. Hình như họ có máu Sa-tan hay sao. Victor Hugo nói : « Santan có hai tên : tên satan và tên láo ». Người mang chứng láo nầy nên nhớ lời Đức Giêsu mắng bọn Pharisiêu : « Mả tô vôi, loài rắn độc, gốc quỉ... ».

Có người thiếu thành thực « hơi hơi » thôi, nhưng người tế nhị vẫn biết được. Họ sợ bị chê là dốt, thiếu kinh nghiệm hay mất mặt sao đó nhưng vì muốn biết một vài điều nên hỏi mé mé, gại gại cho người trống miệng. Những kẻ nầy nên nhớ mình phải thành thực và thành thực không phải tại sợ kẻ khác biết mình dốt nát, xấu xa mà sợ Thượng đế thấy lòng tà của mình. Nên nhớ ngạn ngữ nầy của tín đồ Hồi giáo : « Thượng đế thấy rõ trong đêm tối nhứt, trên đá cẩm thạch đen nhứt, một con kiến hôi ».

Có khi láo vì già hàm. Bị nói tía lia, không kịp thở, dĩ nhiên là không kịp suy nghĩ, nên lỡ nói nhiều chuyện không thật và lỡ nói, thôi nói luôn thành ra chuyện nói láo. Trị bịnh láo nầy bằng cách suy ngẫm tư tưởng của Pythagore : « Ai nói là gieo, ai nghe thì gặt ». Hồi còn nhỏ ta hay láo vì lười biếng. Mẹ bắt nấu cơm, ta hô nhức đầu. Không làm bài, thầy hỏi ta nói quên. Lười biếng là căn nguyên của tật xấu cũng như láo là ung nhọt của nhân cách. Người lớn có bổn phận giáo dục hãy căn dặn con trẻ điều quan trọng đó.

Nhiều lúc láo vì đầu óc ưa nói nghịch lại. Tôi quen vài bạn không ác tâm nhưng có tật hễ ai quả quyết điều gì thì họ tìm cách nói ngược lại bằng những điều không thật. Thứ láo của họ ác không lắm vì không có ý gạt nhưng tai hại cho cuộc xã giao của họ vì làm mất bè bạn. Trừ căn chứng láo nầy, ta có thể tập thuật đắc nhân tâm.

4. Còn nhiều nguyên nhân khác nữa của láo. Chung qui Người Bản Lĩnh quyết định tập đức thành thực. Hãy lấy câu nầy của Boileau làm kinh nhựt tụng : « Không có gì đẹp bằng thật, chỉ có thật là khả ái ». Cũng nên chiêm nghiệm những lời thánh ký : « Lạy Thượng Đế những môi láo đáng lởm gớm trước mặt Ngài » (Prov. XII, 22). Trước hết hãy xa lánh men của Pharisiêu là Giả hình : Lời Đức Giêsu trong Luc XII, 1.

Có nhiều điều không tiện nói ra mà cho đặng giữ đức thành thật ta không cần nói hết. Đức Giê-su đã làm gương cho ta trong câu : « Các con không nên biết sự thật ấy bây giờ ». Nếu phải vì đức bác ái mà giấu sự thật thì phải cẩn thận lựa lời tế nhị. Nên giao du thường với những người ưa nói thật. Tạo bầu khí thành thực trong tâm hồn bằng cách tự mình đừng khi nào mâu thuẫn với mình. Ghét ngôn hành tương phản y như ghét nói láo. Tránh những câu chuyện có thể cám dỗ mình nói láo. Liệu ai sẽ hỏi điều gì bất tiện trả lời thì lái câu chuyện, sang vấn đề khác và dồn nhiều câu hỏi chất vấn lại họ. Luôn đây tôi cũng muốn bạn để ý đức thành thật giúp ta có óc trách nhiệm. Tôi có bàn kỹ tinh thần nầy trong quyển « Thuật Sống Dũng » và nhứt là trong « Rèn Nhân Cách ». Ở đây vì muốn xây dựng bản lĩnh tôi thấy bạn nên lưu ý nó. Có nhiều người sợ tai tiếng, sợ mất quyền lợi, sợ nhọc mệt, dám trốn tránh những trách nhiệm của lời nói, của hành động hay của những mệnh lệnh của mình. Không gì đê mạt bằng để cho người dưới của mình lãnh trách nhiệm cho những lời khuyên hay các huấn lệnh của mình. Muốn tập tinh thần trách nhiệm, nên tập thói quen dám chịu lỗi. Chung qui, bạn thấy đều do đức thành thật, đức cột trụ của bản lĩnh con người. Để kết thúc chương nầy tôi mượn lời nầy của sách Khôn ngoan (1-2) để gởi bạn : « Miệng nói láo giết hại linh hồn ».

KHUÔN VÀNG THƯỚC NGỌC : « Ở THỜI HỎA TIỄN NẦY, LÁO XƯỢC ĐÃ THÀNH MỘT TÔN GIÁO VÀ ĐƯỢC THỰC HIỆN NHƯ MỘT NGHỆ THUẠT. NGƯỜI BẢN LĨNH CHÍNH TÔNG LÀ THÙ ĐỊCH BẤT CỌNG ĐÁI THIÊN CỦA TÔN GIÁO VÀ NGHỆ THUẬT. »

CHƯƠNG VIII : ÓC CHỊU ĐỰNG

« Tiểu bất nhẫn tất loạn đại mưu ». KHỔNG TỬ

« Cao tuổi hay thanh xuân mà biết mình, tận dụng nhân lực mà không quên thần lực, suy nghĩ chín muồi rồi mới nói hay làm, rán thấy cái thiện trong cái ác, bình tâm chịu đựng dao mác của dư luận để đoạt chí, chờ lịch sử phán đoán giá trị mình, thưa bạn, là có bộ óc thép đã trai, có đức chịu đựng : chiếc đũa tiên để sống an lạc tâm hồn và làm cho đời một cái gì. » WATERSTONE

1. Đọc cổ thư bạn có nhớ chuyện nầy của Thanh Lê Tử không ? Vua Ngô muốn đánh nước Kinh. Trong nước nhiều người thấy bất lợi cản ngăn. Vua không nghe, còn đòi xử tử ai ngăn cản. Có sĩ quan nọ định khuyên can vua việc đánh Kinh. Nhưng không dám, luôn ba ngày ông đứng sau nhà vua, từ sáng sớm bị sương rơi ướt cả mình. Vua thấy ngạc nhiên hỏi sĩ quan làm gì vậy. Sĩ quan tâu : « Trong vườn, trên cổ thụ, có con ve cảm thấy mình yên tâm kêu sầu ra rích. Ve không dè sau lưng có con bọ ngựa đương hả càng tính tóm cổ nó. Bọ ngựa khoái chí tưởng mình an phận không ngờ sau lưng có chim sẻ chực mổ đầu mình. Chim sẻ vô tư có biết đâu dưới chân cổ thụ có người cầm cung định cho nó rơi xuống đất và chính tôi đang cầm cung đây không hay sương đã bám cả áo. Thì ra đều vì tham lợi trước mắt mà không thấy hại sau lưng ». Nhà vua nghe câu chuyện thấm thía, bỏ ý nghĩ đánh đất Kinh.

Thưa bạn, mỗi lần nhớ đến chuyện xưa nầy, tôi không sao không nghĩ đến ý nghĩa của thành và bại. Trong cuộc sống muôn mặt của con người, thấy có nhiều việc ta cho là thành mà kỳ thực nó đang chứa mầm thất bại và tại vì thành nó mà bại bao nhiêu việc lớn. Rồi trái lại, có nhiều việc ta cho là bại, mà rồi nhờ thất bại ta đi đến thành công vững chắc hơn. Bàn đến hai chữ thành bại, người vô thần đến đâu cũng phải nghĩ đến một vài lẽ siêu hình. Khi nhận có chữ bại là vô hình hay hữu ý, ta nhận có những yếu tố cần thiết cho thành công mà độc lập với ta. Có thể ta nắm nó được mà cũng có thể nó không tùy ở ta gì hết. Những yếu tố nầy có khi bị ta nắm trăm phần trăm như trong một số lớn trường hợp của hóa học. Hai phần khinh khi hợp với một phần dưỡng khí : ta có nước. Điều đó vững rồi đó. Nhưng quái ác thay, có bao nhiêu hoàn cảnh trên đời, các yếu tố thành công ta nắm cách mập mờ, đặt chúng trong hi vọng. Lắm lúc theo trí hiểu phàm nhân, ta cho là chuẩn bị đủ yếu tố thành công ; nhưng bỗng nhiên, ta gặp thất bại. Tôi hùng biện, có thuật dẫn dụ người, song trước mặt địch thủ, tôi không chắc thuyết phục được anh ta. Anh còn ý chí tự do của anh, anh có những hoàn cảnh riêng biệt chi phối. Có thể anh trở thành bạn tôi, mà cũng có thể anh bất phục ý tôi muốn vì một chủ trương, một áp lực nào đó không cho phép anh. Bạn tôi có tài, chuẩn bị đủ đức tánh để nhận một chức vị nào đó, đến lúc sắp thụ phong, ngã bịnh nặng và mạng vong. Đó là tôi chưa nói trường hợp nếu bạn tôi mạnh khỏe và có những tên thù thưa thọt anh với thượng cấp của anh bằng đủ mánh lới dua nịnh, hại người thì cũng chưa chắc anh chiếm đoạt sở nguyện. Thì ra trên đời có những ý muốn tự do can thiệp vào các sự việc, rồi những ý muốn tự do ấy đôi khi cũng vì tự do để mình dính líu với những gốc rễ yếu tố xa xôi làm cho sự thành công lắm lúc không đơn giản như người ta tưởng. Vả lại có không ít trường hợp mà sự sắp đặt thành bại phải chịu là không do người phàm vi hết. Tác giả cuốn A Shropshire Lad : ông A. E. Housman, là tay khét tiếng về đường trí thức mà cũng là kẻ coi tôn giáo như đồ chơi, lại có lần nhận câu nầy của Phúc-âm-thư : « Ai lo bảo tồn sự sống mình sẽ mất nó » là chí lý. Khi nhận chân những lý do thành bại như vậy ta có phải thái độ tinh thần thế nào để nắm vững thành công sau cùng và giữ tâm hồn hạnh phúc khi thất bại.

2. Trước hết chúng ta nên xét sơ tâm lý kẻ thất bại. Đoạn trường ai có qua cầu mới hay : quả ai đã từng thất bại, nhất là thất bại nặng nề, thì mới thấy cảm mến tất cả mùi vị chua cay của nó. Phước cho bạn nào đang đọc tôi mà chưa từng bị thất bại. Nói thất bại cũng nên hiểu luôn ý niệm bị thù oán nhiễu hại trong đó. Có khi ta thất bại và bị người ta thù hại mà tại ta có ác tâm, ta làm quấy, thì cũng cam đi. Lúc bạn hoàn toàn vì thiện chí như muốn sống cuộc đời cá nhân đúng đắn, muốn phục vụ xã hội đắc lực hơn, muốn cải tân những gì có hại cho tư ích và công ích, bạn bị ganh tị và có đủ thứ người tìm cách thọt gậy bánh xe. Thượng cấp của bạn có khi sống toàn bằng phúc trình hay bằng những tâu nộp của kẻ dua nịnh, hủ lậu, nào có biết bạn ra sao, đâm ra sợ bạn công kích, đả đảo. Trúng những thượng cấp độc tài, khinh miệt kẻ dưới thì bạn càng khổ hơn nữa vì họ mấy khi cho bạn minh oan và theo họ bạn nhỏ hơn họ có nghĩa là bạn nói bậy và hễ có ý kiến nào khác họ thì nếu không điên cũng sai trí, khật khùng. Tôi chưa nói những cấp thượng ganh tài, ghen đức đó. Nếu gặp thứ nầy thì làm nhỏ kể như làm nô lệ hiểu theo nghĩa thời chưa văn minh. Còn kẻ đồng niên, đồng nghiệp, đồng đẳng hay đồng gì khác đối với bạn thì sao ? Điều bạn nắm vững là họ không thua thượng cấp của bạn ở chỗ ganh tị đâu. Có ai mà thập toàn, nên bạn bị lôi vài chỗ yếu ra, phóng đại, đem bán rao rằng tấc lưỡi nọc rắn. Bạn tin tưởng nơi tình bạn phải không ? Bạn tin tưởng tình máu mủ phải không ? Coi chừng. Ở đâu có tiền của, nhứt là ở đâu có ái tình nhúng vô, tâm giao hay cốt nhục gì có thể không khó tương hại, tương tàn. Người trên, kẻ ngang hàng xử đối với bạn như vậy, còn kẻ dưới ra sao ? Đề phòng thứ người có đầu óc xoi bói vạch lá tìm sâu, cắt nghĩa xấu thiện ý của bạn. Bạn làm ơn như nước nguồn cũng khoan vững dạ, vì lòng bạc ơn của con người vô bờ bến. Lắm lúc bạn giàu từ tâm, tha thiết giáo huấn, chỉ cho hạ cấp đường khôn nẻo dại : có kẻ óc nông cạn không biết sánh với cái gì, ngó bạn với bộ mặt bơ bơ, cười sái mũi, hỏi bá láp, ngồi ngáp và đặc biệt nhứt là nghe mười điều không giữ lấy một. Ngần ấy thứ tâm hồn có thái độ tinh thần đối với bạn như vậy thì liệu họ dễ dàng giúp bạn thành công không, liệu bạn thất bại họ xử đối với bạn cách nào. Bạn ơi ! lúc té xuống ngựa rồi, nhiều khi cảm thấy mình như chó ghẻ. Lúc bạn gặp vận may ai đối với bạn chín cũng bỏ làm mười. Bè bạn của bạn đông như kiến cỏ. Khi diều của bạn không còn gặp gió nữa, bạn bị dìm xuống đất đen. Thượng cấp coi bạn như bả mía, hết xài. Có khi bạn không có lỗi lầm gì đáng để đến đỗi con người bạn mất bản chất tốt, mà có thứ thượng cấp cho bạn là tuyệt đối vô dụng. Đó là tôi chưa nói giá trị sự phán đoán của họ khi họ lầm tưởng về bạn. Lỗi gì cũng có thể cải hoán được chớ. Rồi bạn sẽ gặp thứ thủ lãnh bất kể bổn phận của mình, bê tha trong mọi tổ chức, dụng người không theo nguyên tắc nào cả. Có khi về thế lực, vì vận may, vì khéo quị mọp, vì giả hình, vì sự bất công hay lỗi bác ái nào đó họ nhảy lên một chức vị rồi độc tài cách mù quáng không coi ai là có giá trị bằng mình. Bạn bị té ngựa rồi họ bỏ rơi bạn. Họ dùng một số người dễ sai nào đó để thao túng mọi công việc. Có khi họ mất bản lĩnh mà còn uy quyền. Họ không dám quyết định mà bàn hỏi lung tung với hạ cấp, bàn hỏi để rồi không định đoạt được việc gì. Lắm lúc người bàng quan tưởng không phải họ lãnh đạo mà hạ cấp họ lãnh đạo bằng cách giựt dây dụi họ. Bạn đừng mong họ xử tốt với bạn bằng đức bác ái. Đức nầy đáng lẽ làm lớn họ phải tỏ tư cách lãnh đạo mà ban bố cho bạn nhứt là lúc bạn bị thấp chơn, họ còn lỗi với bạn đức công bình nữa kia. Có khi vì chánh nghĩa, vì một lý tưởng nào đó bạn tình nguyện cộng tác với họ, bạn lỡ kẹt cuộc đời tiến thối lưỡng nan, họ cũng bất kể vận mệnh hay tương lai bạn. Họ lãnh đạm, không biết để thời giờ lo công việc gì, mà coi sự lựa chọn cán bộ nồng cốt như rơm rác. Họ có thể dùng óc lãnh đạo mù quáng của họ mà làm tàn héo nguyên cuộc đời bạn và dĩ nhiên xã hội mà họ chịu trách nhiệm phải hưởng những thiệt thòi. Tiếp bạn, họ ăn nói bằng một giọng khinh khỉnh làm bạn có cảm tưởng như họ đánh cướp chức vị cao cả của xã hội rồi bất kể ích lợi của xã hội, lo nhàn hưởng địa vị độc tôn của mình. Con người, bạn ơi, khi lên voi, nói ông trời có cẳng cũng không sao. Giá phải có lỗi lầm gì thì có óc tôn thượng của thiên hạ che lấp cho. Nhưng khi phải xuống chó, thì khổ vô cùng. Dù bạn co ro con người của bạn lại, bạn thinh lặng, bạn trốn xã hội, thiên hạ cũng bươi móc lỗi lầm của bạn. Người trên đã chẳng thương bạn mà còn hết sức nghiêm khắc, bắt nhặt bắt thưa bạn. Chẳng những lúc đầu họ làm sao cho ra bi đát chuyện bằng cọng rác, khi việc bị họ làm lở lầy quầy rồi họ lại làm cho khốn nạn hơn. Kỳ lạ nữa là có khi không phải tại vì họ ác. Có thể họ là thánh nhơn, có ý thương bạn nữa mà vì sự dốt nát trong thuật lãnh đạo, họ tạo thêm cho bạn những cái mà người công giáo gọi là « thánh giá ». Lát nữa tôi sẽ bàn với bạn thái độ cao cả là thụ nhận vì tình yêu quan phòng của Thượng Đế những bất công. Nhưng dù Thượng Đế đã sắp đặt sẵn sự khổ cho con người, kẻ với tự ý của mình ra làm khí cụ để cái khổ đến cho kẻ khác, nói rõ rệt là kẻ vì ác tâm gây khổ vẫn là kẻ làm chuyện phạm pháp. Thượng cấp của bạn bất kể chân lý nầy và cơ hồ tưởng bạn có sức chịu đựng vô bờ bến, họ thẳng tay thử thách bạn, có khi hết sức bất công và lỗi bác ái rồi cứ đổ là tại bạn gây ra tai họa. Khốn nỗi cho mình ở chỗ nầy nữa bạn là lúc chưa gặp gian nan, ta thường nhẹ dạ giao du với thượng cấp, đem chuyện lòng nói sạch sành sanh với họ. Giá ai có kinh nghiệm khuyên ta nên cẩn ngôn, ta chồm chồm tới cãi rằng họ nói bậy và ta cho kẻ ta phanh phui tâm sự là tri âm của ta, là người giàu bác ái, là kẻ thụ ân của ta nữa. Đau đớn thay lúc nghịch với ta, họ biết hết nhược điểm của ta và họ trở thành quân thù vòi trong xương vòi ra của ta. Lúc mà thấp cổ nhỏ miệng bạn đừng trông nói gì mà người trên cho là phải. Câu chuyện chó sói và cừu con của La Fontaine quả chứa chân lý vàng. Bạn suy luận đúng sự thật, họ cho bạn là người ưa lý luận. Bạn có tinh thần tân tiến, họ cho là bạn lố bịch cấp tiến. Bạn muốn cải tổ vì thiện ý họ cho bạn có óc phản loạn, tà ý muốn phá hoại. Bạn chỉ thành thật tự vệ khi bị tấn công thôi, tôi nói tự vệ à nhé, họ nói bạn chuyên môn chỉ trích, gieo hiểu lầm, gây chia rẽ. Có nhiều người lớn khi bạn thành thật trình bày hành động của kẻ thù hại bạn, đâm ra sợ bạn sẽ làm quân thù của họ. Nghe bạn nhận xét việc nầy chuyện nọ, có kẻ thượng cấp e rằng với bộ óc tỉ mỉ đó, bạn sẽ xét đoán nguy hiểm về đời tư, về công tác của họ. Lúc bạn thất bại, đến nói chuyện với thượng cấp, bạn nói lớn tiếng, ra điệu bộ, sẽ bị họ cho là phách, sau nầy có chức vị sẽ hách dịch với bộ hạ. Nếu bạn nhu mì, ăn nói nhỏ nhẹ, họ sẽ cho bạn có tánh đàn bà hay giả hình, trông mong gì sau nầy lãnh trách nhiệm mà điều khiển được ai. Nói tắt, thưa bạn, trăm thế khó cho bạn dưới mắt thượng cấp khi bạn lăn vào hố thất bại. Những người ngang vai với bạn có lẽ là nguồn an ủi của bạn không ? Bạn ơi :

Bạn đường đời thường đông nơi yến tiệc,

Chớ mấy ai gặp lại chốn ngục tù.

3. Tôi rất ghét bi quan, nhưng tôi phải nhận với bạn rằng lòng bội bạc của con người có thực. Hồi lúc thời vận đó, bạn thiếu gì bè bạn. Khi bạn sa cơ họ dang xa lần lần. Xét theo lối xử thế khôn ngoan, đáng lẽ khi bạn lâm nguy, chính các bạn thân phải tìm đến thăm và an ủi bạn. Không ! tình bạn của họ đã tan theo bọt rượu tiệc ngày xưa rồi. Cũng có một số bạn rất tốt nhưng họ hoặc dốt, hoặc nghèo túng, hoặc không thân thế chức quyền gì nên khi gặp bạn chỉ phân trần sự bất lực và an ủi bạn qua đường thôi. Kẻ có thế lực, ngày trước chơi sống chết với bạn có khi là ân nhân của bạn nữa, đã đổi lòng dạ, trở thành dua nịnh thượng cấp. Coi chừng họ công kích bạn ác hơn là quân thù ngoài cuộc của bạn. Vẫn biết không phải không có những tâm hồn bạn vàng ngọc, song rồi họ cũng vô ích đối với bạn, vì khi có chức vị rồi họ lo làm ăn, lo thi hành phận sự, lâu lâu họ nhắc tới bạn trong câu chuyện, cho bạn vài lời than tiếc rồi thôi. Thiện chí của họ có đấy mà bạn cũng không được họ giúp gì. Còn bạn hỏi những kẻ đồng đăng, đồng niên mà từ lâu ganh tỵ với bạn phải không ? Trời ơi ! họ đang hò reo lên cây thang thành công mà gốc của nó bắt trên muôn ngàn thất bại của bạn.

Trường hợp té ngựa, thường mình bị coi là chó ghẻ. Nên thưa bạn, chính trong những kẻ dưới cũng có không hiếm kẻ coi bạn không ra gì. Họ chưa vững thế gì trên đường đời đâu, nhưng họ tin ở tương lai, bởi lẽ là chưa chạm với phong trần. Họ lạc quan tin rằng mề đay không có bề trái, ó lên chê bạn là khờ dại, lắm lúc tỏ ra « cụ non » dạy đời bạn nữa chớ. Có hạng khác từ trước quí mến bạn, nhưng từ khi bạn bị nguy hiểm, cố trốn tránh bạn, khinh bạn cũng có mà chắc chắn là sợ lây sự khốn khó của bạn, sợ thượng cấp cho là cùng phe đảng là đồng lõa phá hoại. Tội nghiệp bạn chưa. Tôi cũng quên nhắc bạn những người dưới dua nịnh, trống miệng, đem công việc của bạn đến tấn ơn tấn ích cùng cấp trên và kết quả là có khi vị nhẹ dạ, vô tình, vô tội cách hữu trách, họ hại bạn. Bạn cũng khó tránh được những ca buồn cười nầy là có một số người mà địa vị, quyền thế hay tài đức còn thua bạn xa lắm, mặc dầu bạn bị bạc đãi, nhưng họ lúc gặp bạn sẽ lên mặt bề trên rầy bạn. Họ tự cho họ cái quyền dạy đời bạn, trở thành cho bạn một nhà luân lý hai xu. Lẽ dĩ nhiên là trong khối người dưới không phải là không có kẻ tốt thương xót bạn, muốn giúp bạn. Mà rồi chính họ cũng lâm nguy. Họ lo cho họ chưa xong còn mong gì cứu vãn bạn. Hay giá muốn cứu vãn đến đâu cũng không có đủ uy tín để giúp.

Ngoài ra ba hạng người trên, bạn nên quan tâm đề phòng những người ruột thịt hoặc lớn hoặc ngang vai hoặc nhỏ hơn bạn. Họ thì thương bạn lắm đấy. Song khi bạn mắc nạn, họ thiếu khôn ngoan, vô tình với ý tốt, muốn giải cứu bạn, lại là chứng nhân hay cáo nhân của bạn về những lỗi lầm của bạn. Lúc họ vụng dại như vậy, người ngoài sẽ nói đơn sơ rằng cốt nhục của bạn mà còn không giấu được khuyết điểm của bạn, thì quả bạn đáng số kiếp quá.

Nếu đi sâu vào tâm lý của người thất bại, ta thấy nhiều khía cạnh chua chát lắm. Khi bạn dự định một chương trình nhằm phục vụ lý tưởng, bỗng chương trình ấy gãy như củi khô. Thời gian trôi qua. Tuổi bạn chồng chất lên. Cơ hội trôi mất. Phương thế, uy quyền thiếu nát. Mộng thì nhiều mà thể hiện chẳng bao nhiêu :

Thân chẳng nên thân, thời lỡ thời,

Tan tành chí cả, mộng đồ trôi.

Có những thất bại nhỏ, bạn có thể dễ dàng vượt qua để làm cái mà người ta gọi là thất bại mẹ thành công. Nhưng giá bạn đại bại, bại vào lúc lỡ thời thì thất bại kiểu ấy coi chừng là mẹ của thành cái gì chớ không phải là thành công. Tôi có cảm tưởng bạn như người sa lầy, muốn vươn mình lên mà càng vươn cao, càng sụt sâu. Đau xót là trên đường xã giao bạn cứ gặp thêm toàn sự đắng cay do sự khinh rẻ của người chung quanh. Có mấy người cho bạn có lý ở đâu. Trăm con mắt có đến chín mươi chín mỉa mai kết án bạn. Có người gọi đường đời là đường thất chi. Họ có lý một phần ở chỗ nhiều khi bạn không khinh ai khi họ có chức vị cao hơn bạn, nhưng họ được ưu thế mà họ không tính làm gì khi bạn bị thất thế với bao nhiêu hoài vọng lên meo lên mốc.

4. Trở lên là đôi nét tâm lý chính của tâm hồn thất bại. Và đây tâm trạng của kẻ thành công. Cứ chung mà nói khi thành công ta ít nghĩ đến « câu chuyện ông già mất ngựa ». Mỗi thành công ta đều cho là may mắn. Ta bị xu hướng ăn nói, hành động lạc quan đến thiếu hẳn dè dặt lo hậu. Ngoài những tâm tình vênh vênh tực đắc, ta có thể có tâm tính khinh người và dám tưởng mình có đủ thứ khả năng nên hăng say nhúng tay vào nhiều công việc mà trong đó bẫy thất bại tương lai đang gài ta. Đối với thượng cấp hay kẻ thi ân cho ta, sau lúc thành công, nếu không công khai bội bạc, chúng ta cũng đôi khi trống trải có thái độ lãnh đạm hay lên mặt. Vô tình ta tạo cho mình những người ganh tỵ, thù hiềm. Đối với các đồng niên, đồng nghiệp thành công có thể mua chuộc cho ta thất bại trước mắt, nếu ta không cẩn thận mà coi ai cũng là tri âm hay người cộng tác. Nên nhớ lòng nham hiểm cũng như óc tị hiềm của con người có muôn mặt. Coi chừng đối với người dưới thành công như ta đến chỗ hách dịch, ăn nói « ông hoành, ông trấn » khiến người nhỏ sợ ta thì sợ nhưng coi ta như cỏ rác.

Vậy, cho một bộ óc già giặn, thành bại phải được quan niệm thế nào ? Ở đây dĩ nhiên bạn và tôi, nhấn mạnh về chữ bại hơn. Nếu trên đường đời ta thành công thì vấn đề không có gì thắc mắc lắm. Tôi nói không thắc mắc lắm để hiểu là cũng có chút ít. Nghĩa là ta nên dè dặt với chữ thành công mà ngày nay ở đâu cũng nghe người ta nói. Hình như thành công bây giờ có nghĩa một phần nào giàu mưu trí, giỏi lường gạt và kiếm thật nhiều tiền. Vẫn biết phải có tự nhiên giúp cho siêu nhiên : natura supponit suroaturain. Nhưng lý tưởng số một của con người, không phải tiền. Bằng chứng là khi có tiền người ta đỡ khổ một phần nào về vật chất chớ không phải hoàn toàn sung sướng. Theo sách « Gương Chúa GiêSu » mà cũng theo kinh nghiệm, ta biết trước khi có tiền ta bồn chồn tìm kiếm, có xong ta lo âu giữ gìn, rủi mất ta bối rối kiếm lại. Người giàu có tiền một, muốn có hai, nếu không xài bậy thì ích kỷ. Người nghèo bị tiền nhử, đêm ngày mơ ước nó. Vậy tiền không phải là lý tưởng của con người. Mà tiền không làm con người thỏa mãn thì nhan sắc, chức quờn lại càng không làm con người hạnh phúc hoàn toàn. Có nhan sắc nào né khỏi lưỡi búa già cả. Coi chừng bịnh tật, chết chóc nữa. Còn chức quờn có thì cũng vui, nhưng phiền một nỗi là nó giống hệt mão hát bội quá. Làm lớn nghĩa là đóng một tấn kịch rồi sớm muộn, màn cuộc đời cũng buông xuống. Ai biết lấy khẩu hiệu lãnh đạo là : Phục vụ chớ không đòi phục vụ – ministrare sed non ministrari và vì lý tưởng siêu nhiên, thì còn chút an ủi khi cỗi lốt chức vị. Bằng ai lạm dụng uy quyền, bóc lột lòng tin tưởng kẻ dưới, thì làm bia nguyền rủa cho hậu thế. Nói đến thành công mà hiểu chân nghĩa của nó, người ngó khỏi lỗ mũi của mình, người không bằng lòng với những cái tương đối, người sống tuổi mười tám nhưng biết rồi mình cũng sẽ đến tuổi sáu mươi để rồi có giây phút nào đó bạn sẽ làm bạn cùng trùng dế, người đó, thấy thành công là sống đời đạo lý theo một chân giáo và coi Thượng đế là nguồn Chân, Thiện, Mỹ, Phúc, làm đối tượng duy nhứt của mình. Tôi nói chân giáo nghĩa là một tôn giáo được dẫn dắt bởi đức tin, đức tin chớ không phải mê tín, bởi triết lý và khoa học. Chớ cuộc đời mà đi phục vụ cho những tà giáo, hay bị bắt buộc, bị dụ dỗ mà tranh đấu, sống khắc khổ cho một tà thuyết thì uổng cơm. Không nên nói đến trụy lạc, nhưng nếu không có chánh nghĩa tôn giáo con người có thể thua tên trụy lạc vì ít ra cuộc đời dương thế tên trụy lạc cũng có phần vui thú, mặc dù phù vân. Và theo tà thuyết đã không hạnh phúc hiện thế mà cũng giống kẻ trụy lạc mất phần hạnh phúc vĩnh cửu. Những thành công thường thường làm câu chuyện đầu lưỡi của ta là thành công phương thế. Nó là cái bàn đạp để nhảy lên thành công tối hậu là hồn linh siêu rỗi. Vấn đề nầy cao cả quá : xin bạn đọc tôi trong quyển « Tinh hoa tôn giáo ». Ở đây xin bạn nắm giữ chân lý nầy là tất cả mọi sự trên đời đều phù vân và ai không lo chuẩn bị cõi lai sinh, người ấy khi tuổi già đến sẽ thấy hai bàn tay trắng với tấm lòng hối tiếc, khao khát, chơ vơ, buồn thảm.

5. Đấy, khi nói đến thành công ta cần có vài ba dè dặt đó. Chúng ta hãy đi sâu vào chân nghĩa chữ thất bại. Tính nóng nảy, mẹ đẻ của vụt chạc nhiều khi cám dỗ ta chụp những thành công « dĩa » mà đánh hỏng những thành công « mâm ». Chúng ta ham cái lợi trước mắt mà không chịu thấy cái hại núp sau lưng. Thành công trong các trường hợp đó có nghĩa là thất bại.

Thất bại chỉ có ích lợi cho ta khi ta có tinh thần phục thiện, nỗ lực thành công. Nếu không biết lợi dụng những lỡ lầm để trong những công việc sắp tới tránh khỏi thì có thể cuộc đời là một chuỗi thất bại và thất bại đây là mẹ đẻ của thất bại chớ không phải của thành công gì hết.

Nên để ý có những thất bại làm điều kiện cho thành công hay nói đúng hơn dọn đường cho thành công. Hầu hết những vĩ nhân đều qua những thất bại nầy. Tôi không cần nêu gương Chúa Giêsu, bạn cho là Chúa Trời nhập thể, cao cả quá, khó bắt chước. Lấy ngay gương của Đức Thích Ca Mâu Ni. Trước khi ngài giảng đạo cho chúng sinh, Người đã thất bại với mấy nhà sư trong rừng là những người không giúp ngài tìm được chân lý gì hết. Ngài có nản lòng đâu và ngài nỗ lực đi con đường tự giác. Tôi không quảng cáo cho bạn là ngài đã đắc đạo. Nhưng cho ngài đã thành công, thành công hiểu theo nghĩa phật giáo. Người công giáo hay quan niệm sự thất bại theo tinh thần tình yêu vĩ đại của Thiên Chúa quan phòng. Bạn không phải là công giáo nhưng bạn đừng tưởng chỉ người công giáo độc quyền làm con Chúa. Tất cả nhơn loại nói riêng và cả vũ trụ nói chung đều được Thượng đế sáng tạo theo thánh ý của người. Bạn hỏi tôi tại sao ? Không tại vì hơn là Thượng đế yêu mến chúng ta, thưa bạn. Chủ trương vô thần là sự dối minh và gạt người đã đành rồi mà còn giá bạn chủ trương hữu thần, bạn đem các chứng triết lý khoa học giải đáp cái tại sao trên, thì bạn cũng chỉ thỏa mãn tàm tạm. Nhưng bạn chạy đến gần mầu nhiệm tình yêu bao la, vô bờ bến của Thượng đế thì bạn hoàn toàn thỏa mãn. Rồi bạn hỏi bạn nữa tại sao Thượng đế yêu chúng ta, thì tôi cũng trả lời với bạn đơn sơ rằng tại Người yêu. Người không cần gì hết không cho chúng ta là xứng đáng, không nhắm một mục đích nào hơn là muốn sự ích lợi cho chúng ta. Chúng ta, biết hay không biết, muốn hay không muốn, tất cả đều nằm trong Tình yêu quan phòng bao la của Người. Trừ tội lỗi, tức là ác ý phạm pháp, tất cả những sự lành, sự dữ trên trần gian nầy đều xảy ra do thánh ý Thượng đế. Nếu không vậy thì Người không là thượng đế được nữa. Mà trong ý niệm Thượng đế, hàm súc dĩ nhiên ý niệm yêu thương và ý niệm khôn ngoan nữa. Thượng đế thấy hết mọi sự lợi, hại của ta. Có điều ta cho là thất bại, nhưng trong chương trình lo lắng trên kia tôi gọi là quan phòng của Người, vẫn là sự thành công. Trí ta có gang tấc, ta đâu thấy hết mọi lý do, nguyên nhân hoàn cảnh chi phối, nay thấy hay, ta cho là thành, mai thấy dỡ, ta cho là bại. Trong cuốn « Marial Mẹ » tôi có mượn ví dụ nầy của Thánh Grégoinre : « Bác sĩ nọ muốn chữa một vết thương của bệnh nhân rằng cách hút máu độc ra. Bác sĩ nhờ con đĩa. Con đĩa không biết gì đến mục đích của bác sĩ, cứ đem sự hung tợn của mình ra để uống máu. Bệnh nhân cũng không hơn gì con đĩa, lo bất mãn tánh ác độc của con đĩa mà không thấy thiện ý bác ái của vị bác sĩ ». Trong cuộc nhân sinh có biết bao trường hợp Thượng đế đóng vai trò bác sĩ, ta đóng vai trò bệnh nhân còn kẻ thù hại ta đóng vai trò con đĩa. Ta gặp nhiều thất bại, đâm ra oán trời, giận người, than thân phận. Ta giống đứa bé ồ lên khóc, mắng má nó khi má nó giựt con rắn ra khỏi tay nó không để nó khoái trá tự ý cầm chơi. Chúa Giêsu uống chén đáng, chết trên thập ác, người không đức tin công giáo, cho là thất bại. Nhưng người ta có biết đâu máu Chúa đổ ra đã làm cho nhơn loại nên con Thượng đế, được cứu rỗi và máu ấy làm mầm nẩy sinh ngày nay bao nhiêu công-giáo-dân khắp hoàn cầu quả thật tinh thần ta cũng không già giặn bằng tinh thần ông Gióp trong Cựu-ước. Khi Thượng đế để quỉ Satan cướp hết tài sản của ông, ông không như ta mà cho là thất bại, mà đổ cho ai, bình tĩnh nói « Thượng đế ban cho tôi mọi sự, nay cắt lấy mọi sự, Người muốn sao thì xảy ra như thế, xin ca ngợi danh Người ». Thực là một đầu óc lọc lỏi. Và lòng tin tưởng nơi tình yêu quan phòng của Thượng đế đã đem lại cái gì cho ông. Tình trạng mất của, chết con, bị phung cùi mà thiên hạ cho là thất bại của ông, nhờ đức tin căn cứ vào đức mến của ông đối với Thượng đế, là một điều kiện để ông được lại tất cả. Có khi ta ở trong một hoàn cảnh gọi là thất bại, Thượng đế có ý cho ta tránh những tai họa nào đó, cho ta sẩy con tép để chụp con tôm sau nầy. Thánh Giuse bị các anh em ham tiền bán cho Ai cập. Đến khi hạn hán, các anh em đến Ai cập mua lúa, gặp em mình làm quan và Giuse âm thầm giúp anh em qua khỏi cảnh cơ hàn. Hẳn Thượng đế kiên nhẫn lắm người mới chịu nỗi lòng bội bạc của ta, khi vì tình yêu Người giúp ta khỏi những khốn khó mà ta cứ cho là thất bại và bất mãn Người. Người mẹ có buồn tức không, khi chỉ vì sợ đứa con khờ dại nghèo đói xài hết tiền, lấy tiền cất cho nó mà nó tưởng mình tham, ăn xới ăn bớt của nó và nó đến hàng xóm nói hành trách móc mình. Nói vậy không phải đời ta chuyên môn tạo cho mình những tai họa nhưng giá phải gặp thất bại, ta phải có óc chịu đựng. Phải biết chuyển bại thành thắng. Xin bạn đọc thêm vấn đề nầy trong cuốn Rèn Nhân Cách. Đừng đầu hàng trước những thất bại. Coi nó là thánh ý của Thượng đế, nỗ lực lợi dụng nó để mưu thành công tối hậu vì chỉ thành công tối hậu mới đáng kể, phải vậy không, thưa bạn ?

KHUÔN VÀNG THƯỚC NGỌC : « TÊN HUNG DÂM CÓ THỂ PHÁ HOẠI LÒNG BĂNG TUYẾT MỘT TRINH NỮ MÀ KHÔNG THỂ ÁN CƯỚP TÌNH YÊU CỦA CÔ THẾ NÀO THÌ ĐAU KHỔ CÓ THỂ HÀNH HẠ THÂN THỂ, BÔI LỌ NGƯỜI BẢN LĨNH MÀ KHÔNG HỀ LÀM HỌ NẢN CHÍ TIẾN THỦ THẾ ẤY. »

CHƯƠNG IX : ÓC BẶT THIỆP

« Người ta không thể hoàn toàn con người nếu không có óc xã hội. » H. PRADEL

Nền tảng của đức lịch sự là đức bác ái. Quê kệch và môi mép là quân thù của bặt thiệp, nhờ bặt thiệp nhân-vị-tính được đề cao và xã-hội-tính được phát triển. WATERSTONE

1. Không thể tưởng tượng một người bản lĩnh mà quê kệch trong cuộc xã giao. Người bản lĩnh, như trong mấy chương trước ta biết là người rất tôn trọng nhân-vị-tính của mình cũng như của người, là người lúc nào cũng lo phát huy xã-hội-tính của mình và đoàn thể để thành công.

Theo định nghĩa triết lý của Aristote, con người ai cũng biết, là con vật có lý trí. Có thể nói đơn sơ hơn, con người gồm phần xác và phần hồn. Hai yếu tố nầy cấu thành một thực tế mà người thời đại ta nói như cơm bữa là « nhân vị ». Xét về mặt đối nội và đối ngoại của nhân vị, ta thấy mỗi nhân vị có hai phần : nhân-vị-tính và xã-hội-tính. Nhận vị tính là tính cách của một cá nhân hiện hữu trong xã hội, độc lập, duy nhứt, chuyên biệt. Còn xã hội tính là tính cách hướng xã của từng cá nhân trong cuộc giao tế xã hội. Người ta có thể hiểu xã hội tính theo một nghĩa rộng là tính cách chuyên biệt của hợp đoàn cá nhân gồm những nhân vị để tạo thành một pháp nhân. Khi tôi ở trong rừng sâu, tôi vẫn là nhân vị, tôi có nhân vị tính, tôi cũng có xã hội tính hiểu theo nghĩa hẹp là tự nhiên tôi muốn sống với kẻ khác và vì nhu cầu vật chất hay tinh thần tôi cảm thấy cần sống với xã hội. Đó là tôi có óc hưỡng xã. Tôi và bạn cùng một số người nào đó, hội họp lại để làm một khối người, khối người ấy tuy gồm những nhân vị của chúng ta, nhưng với tư cách pháp nhân có những đặc tính đặc biệt của nó mà có thể nhân vị không có khi ở cô lập. Về phương diện tâm lý chẳng hạn, theo Gustave Le Bon, cá nhân hợp thành đoàn thể có những lối tư tưởng, ăn nói, hành động phát xuất do cái « hồn của đoàn thể » do sự sống chung. Những nhận xét trên giúp ta am hiểu chân lý nầy là mỗi cá nhân của chúng ta là một thực hiện tình yêu của Thượng đế quan phòng trong chương trình tình yêu vô bờ bến của Người. Chúa Giêsu là Thượng Đế giáng trần đã thần hóa nhơn loại, đã kết hợp những cá nhân lại thành một thân thể mầu nhiệm mà người là đầu và tất cả chúng ta là chi thể. Cái mà người ta gọi là nhơn loại, đại đồng, bốn bể là anh em là cái mà Thượng đế đã đặt định trong chương trình đời đời của Người và Đức Giêsu lúc nhập thể thể hiện cùng phổ biến.

Sở dĩ tôi thảo luận cùng bạn những vấn đề có tánh chất triết lý trên là để dọn đường cho câu chuyện dưới đây của chúng ta.

Bặt thiệp mà tôi đề cập cùng bạn, xin bạn đừng hiểu cho như phép lịch sự mà người ta hay quen quan niệm là phương thế lấy lòng người để thành công, thành công hiểu theo nghĩa làm giàu hay được một lợi nào đó.

Bặt thiệp cũng phải chỉ là một mớ công thức xã giao mà người ta dùng trong thời văn minh, ở những chỗ văn minh giữa những người văn minh để tỏ ra mình có học thức, giàu có, vinh sang, không thua người.

Bặt thiệp cũng không phải là những cung cách xã giao mà người nầy trả cho người kia như một thứ nợ sau khi được người ta tiếp đãi tử tế.

Bặt thiệp cũng không phải là lối sống chỉ dành riêng cho chỗ đông người, chỗ có kẻ lạ ; cũng không là một thứ xa xỉ phẩm của kẻ ăn không ngồi rồi, của các bà sang trọng, các cô của xã hội thượng lưu.

Thưa bạn, phải hiểu bặt thiệp trước hết là một tinh thần hướng xã và hợp xã căn cứ trên lòng quý mến nhân vị của tha nhân và nhứt là quí mến Thượng đế nhập thể trong tha nhân. Trong cuốn L'Eveil du Sens social, Henri Pradel có dẫn hai định nghĩa nầy của Georges Guyau và của Jaonen về óc hướng xã. Theo Guyau óc hướng xã là ý thức rõ rệt, dẻo dai, lắm lúc bắt buộc và trịnh trọng của sợi dây nối kết con người và xã hội Ki-tô và những bổn phận mà sợi dây ấy đòi buộc. Còn Jaonen nói óc hướng xã là xu hướng nhận thức và thực hiện nhanh chóng như do bản năng trong một cảnh hướng cụ thể đều phục vụ công ích cách thiết thực. Hai định nghĩa nầy rất chí lý. Ngay trong bản chất con người như tôi đã nói, có vừa nhân vị tính vừa xã hội tính. Người là con vật xã hội. Người dù muốn dù không tự nhiên có xu hướng về cuộc sống quần đoàn. Bạn ở mãi trong phòng kín một mình, không chịu được phải tìm kẻ xung quanh để giao thiệp. Tôi vẫn không thích và không thể ở trong một căn phòng cách cô độc năm nầy qua năm kia dù căn phòng ấy sơn son thếp vàng, có cao lương mỹ vị. Con người tự nhiên « thèm » tha nhân, thấy cần tha nhân. Hơn nữa khi ai cũng cảm thấy cần kẻ khác và nhứt là nhận thấy trong kẻ khác có một thực thể siêu hình là nhơn loại, nhận thấy toàn thể nhân loại có đời sống cộng đồng trong tinh thần nhiệm thể, nên óc hướng xã có nghĩa là óc phục vụ, hi sinh. Cái tinh thần co rút cá nhân trong tháp ngà, thờ lạy nhân vị của mình, cái tinh thần bài ngoại cách quá khích, chỉ tôn trọng có dân tộc mình là tinh thần phản nhân bản, ích kỷ. Đã làm gương cho nhân loại, tinh thần bốn biển chung chợ, Ki-tô-giáo đã văn minh hóa mọi rợ, giải phóng người nô lệ, gội rửa các chế độ quân chủ và điều chế chế độ dân chủ. Cũng căn cứ vào tinh thần nầy mà một phần tử trong cộng đồng nhơn loại chịu ảnh hưởng Ki-tô giáo không ghét cá nhân của một người thù nào dù người ấy có làm hại cho công giáo, tam điểm mà chỉ bài xích là thuyết xấu từ bản chất thôi. Tôi có nghe một người đệ tam cao cấp nói với tôi : « Phải đã kích từng cá nhân bọn thực dân, kêu chúng bằng thằng. » Tôi phục lòng ái quốc cùng chí tranh đấu của ông ấy nhưng tôi cho ông kém óc hướng xã và không ý thức cộng đồng nhơn loại. Người bản lĩnh khi họ bặt thiệp lo nghĩ rằng các cá nhân trong nhơn loại vì có chung một nhiệm thể nên chia sớt đời sống với nhau. Một chi thể nào bệnh là toàn nhiệm thể cảm đau. Làm ích cho một phần tử là toàn thân sung sướng. Ý thức được tinh thần đó nên André Gide mới buông ra những lời đầy ý nghĩa nầy : « A ! giá mà hết mọi người công giáo trở thành những Ky-tô-nhân thì bây giờ mọi vấn đề đều được giải quyết ». Phải đó, một số công giáo dân và đại đa số người ngoài công giáo chỉ lo cuộc sống ích kỷ của cá nhân, gia đình, dân tộc, nên thế giới phải lăm le bên lò thuốc súng mà không biết viễn tượng ngày mai sẽ ra thế nào.

2. Ở trên có chỗ tôi nói về óc hợp xã, vậy óc nầy khác với óc hướng xã thế nào ? Óc hợp xã là tinh thần của người ý thức được óc hướng xã và nỗ lực chịu giáo dục về tâm tánh để sống ăn khớp với xã hội. Vậy khi bàn về đức bặt thiệp tôi muốn bạn nhấn mạnh tinh thần hợp xã. Người thì ai cũng có mầm hướng xã nhưng không phải mọi người đều hợp xã đâu.

Có lẽ bạn nhận thấy một số người điển hình nầy trong cuộc sống hằng ngày.

a) Người tốt bụng, không bao giờ có ác tâm chỉ trích, thù hại ai, ưa khách nhưng mỗi lần tiếp khách tỏ ra quê kệch. Gương mặt buồn, tay bắt lạt lẽo sao đó, nên bị khách hiểu lầm là thiếu lịch sự. Kể ra thì hạng người nầy có căn bản bác ai làm hồn cho phép lịch sự. Song tại thiếu xã dục nên họ không biết đủ những cung cách làm đẹp lòng khách.

b) Có người rất tuân thủ đức kiêm ái, kính trên nhường dưới. Mà bất kỳ gặp ai cứ lạnh lạt, điềm tĩnh. Mời ai ăn không nhiều lời. Biết lo phục vụ khách mà không hay nói cười. Thứ người nầy ai biết tánh thì mến sâu. Nhưng bởi óc xét nhận con người hay vụt chạc nên buổi sơ giao họ hay bị hiểu lầm là khinh người, hoặc quạu quọ v.v...

c) Có hạng người tự bản chất giả dối, trong bụng không muốn ai ăn uống gì hao tốn của mình, khinh người nữa, nhưng bên ngoài, ối thôi, môi mép và môi mép. Họ chào. Họ cười. Họ lăn xăn bắt tay. Họ siết tay. Họ nhìn âu yếm. Họ niểng đầu, họ nhăn mặt sao đó, tỏ ra cảm thông. Họ hỏi thăm lung tung. Họ mời mọc lăng nhăng. Nhưng lòng họ là cáo già. Cách chung họ chỉ bịp được những tâm hồn nông cạn. Còn những con người từng trải gớm lối xã giao của họ như cùi.

Đức hợp quần rất cần thiết cho con người thể hiện óc hướng xã để vừa tỏ tinh thần bác ái với tha nhân vừa mưu cho mình những thành công lương thiện. Muốn có đức nầy nhứt định phải được giáo luyện. Trong nhiều tác phẩm trước nhứt là trong « Rèn nhân cách », tôi đã than phiền về lối giáo dục không chuẩn bị con người ra xã hội. Ở đây vì sự quan trọng của vấn đề, tôi nói thêm vài ý căn bản. Trong cuộc sống xã hội người ta có thể tha thứ sự dốt nát. Vả lại có khi người ta không bàn đến hay thương xót người kém văn hóa. Nhưng nhứt định mất dạy, thô lỗ thì không ai chịu được. Tuổi xuân nào sớm muộn rồi cũng ra cuộc đời, ở đó có trăm nghìn lối sống, gặp trăm ngàn thứ tâm hồn tế nhị khác nhau. Vậy mà tuổi xuân không được đầy đủ uốn nắn về xã dục. Tôi nói không được đầy đủ để nói rằng trong gia đình, ở học đường người ta cũng có dạy, nhưng hình như, nhứt là ở thời đại nầy, người ta lo đẩy mạnh nền giáo dục chủ tri, quảng cáo sự chụp giựt cấp bằng nên sự giáo luyện về tâm đức làm cho lấy có. Đầu năm 1960 tôi đọc vài tờ nhựt báo và báo chí, thấy ở Việt nam có sự than tiếc về « phong trào » thiếu niên phạm pháp. Mà ở Mỹ, ở Pháp và nhiều nước khác cũng vậy. Không lạ gì đâu : ai gieo gió thì gặp bão. Trong « Người Chí Khí » tôi nói con nít mới lớn lên là một tên mọi rợ, trong nó tàng trữ cái mầm giống của con người hạ. Nhà giáo dục là cha mẹ và thầy giáo có nhiệm vụ vừa tiêu cực giúp chúng chế ngự con người hạ đó, vừa tích cực đào luyện cho chúng những đức tánh nên người. Nhà giáo dục non tay ấn, tuổi trẻ không để ý gì sự tự luyện thì con người hạ của thiếu niên chỉ còn bị rào bởi cái lưới lễ giáo, dư luận. Chừng nào có cơ hội thì chúng xé lưới nầy mà làm xằng. Chúng chọc gái. Chúng ăn mặc kiểu kép hát. Chúng đánh lộn. Chúng ăn cắp. Chúng du hí. Chúng trốn học. Một phần, tại không ai giúp chúng chế ngự con người hạ đầy chất man rợ, con đẻ của nguyên tội, một phần, tại người lớn trong gia đình và xã hội « dạy » chúng. Tôi bàn rộng vấn đề nầy trong « Con đường giáo dục mới ». Ở đây xin mời bạn nghĩ một điểm nầy. Ngày nay người lớn chúng ta than phiền thiếu niên chọc gái, nghĩa là chúng ta muốn nói tình yêu sao sớm quá và dậy cách sai quấy trong chúng. Mà một phần tại chúng ta. Trong gia đình nhứt là ở thành phố ngày nay cha mẹ lấy làm văn minh ở chỗ tỏ lòng âu yếm với nhau công khai, đùa giỡn nhau trước mặt con cái. Ông cha ăn mặc trống trải để đi tắm. Bà mẹ theo thời trang ăn mặc lõa lồ. Khách người lớn đến nhà ăn mặc như thiếu vải, tán đủ thứ chuyện tình. Radio cơ hồ như ngày đêm rót vào tai con nít những chuyện tình cải lương, hát bội. Tôi biết kết cùng chuyện tình là đạo đức. Nhưng phải lớn tuổi mới thấy được kết cùng ấy. Mà sợ lớn có khi không thấy được nữa. Thiếu niên nhứt, là con nít chưa sạch máu đầu, lòng trắng như tờ giấy mới, có biết gì bề trái của xã hội, có hiểu gì sự éo le của tình duyên để học khôn. Chúng xin ăn, khi sắp ngủ, khi ngồi học khi chơi khi mơ mộng đều thường nghe những nhân vật xấu trong tuồng kịch la ó cách thô bỉ những tiếng ân ái, chọc ghẹo, lừa bịp, năn nỉ v.v... Con người hạ của chúng như bông gòn và sự lớn lên của chúng như dầu săng, còn các gương xấu ấy như lửa. Nên chúng thiên về đường xác thịt bậy và sớm chẳng lạ gì. Nói không phải tôi chủ trương đả đảo tuồng kịch có đề tài tình. Không. Người ta có thể sửa xã hội bằng cách ngạo cười bề trái của xã hội. Người xưa chẳng đã nói : « Người ta sửa phong tục bằng cười cợt : castigat ridendo mores. » Nhưng cha mẹ phải khôn ngoan giúp con cái mình khỏi sớm nhiễm những gì có thể làm cho lòng thú của chúng chồm dậy. Tôi chỉ mới nói ảnh hưởng của Radiô, còn nào điện ảnh, tiểu thuyết khiêu dâm, báo chí bươi móc đời tư tồi bại của thiên hạ v.v... Óc hướng xã của con người ngay khi còn măng trẻ mới mọc lên đã bị theo đường tà. Cách chung chúng ta thấy tinh thần hợp quần ít được giáo luyện đúng đắn. Chúng ta phải tự luyện bằng những kinh nghiệm nhiều khi rất đau xót. Có người gần suốt đời người vẫn thấy xã giao lúng túng. Một phần tại không thói quen bặt thiệp mà nhứt là tại lúc thanh niên lòng ích kỷ không được trấn áp. Ai trong chúng ta mà không tự nhiên ích kỷ. Ngay từ lúc nhỏ đứa bé đã biết la khóc để đòi bú, vài tháng là biết đòi vật nầy vật nọ, trọng trọng là giành đồ chơi với đứa bên cạnh, có khi ôm cả đống đồ chơi nào banh, ngựa cây, súng giả, hòn bi mà còn tóm luôn búp bê, gà, ngỗng bằng cao su. « Cái tánh » tham nếu không trừ được thành « tật » tham. Mà đã là tham thì còn nói gì hi sinh lúc xã giao với người xung quanh.

Trong khi xã giao, người có óc hợp quần hiểu theo nghĩa đúng đắn, không phân biệt cá nhân của kẻ mình giao tiếp. Vẫn tôn trọng chức vị, nhưng trong thâm tâm phải chủ trương rằng tất cả mọi người đều đồng đẳng và bình đẳng trước mặt Thượng đế. Gặp ai ta vui vẻ chào hỏi, dù buồn khổ trong lòng đến đâu ta vẫn bắt tay hay cúi đầu niềm nở không phải tại vì người đó có chức vị cao, có lắm tiền, có duyên dáng, nhan sắc mà chỉ tại họ là một nhân vị ta phải quí trọng, họ là một phần tử trong đại gia đình nhơn loại ta phải coi như huynh đệ. Hiểu lịch sự như vậy không thể nào ta xã giao mà khinh người, mà môi mép bên ngoài để lường gạt, vụ lợi. Tôi sẽ bàn cùng bạn riêng những cách thi hành đức hợp quần trong cuốn « Đức bặt thiệp ».

3. Dưới đây tôi đề cập những bí quyết đức ấy.

a) Cha mẹ hãy lưu ý tạo ngay trong nội gia đình bầu khí tận tình yêu mến nhau. Tình gia đình ấy không phải căn cứ ở môi mép mà được diễn lộ trong những việc làm hi sinh. Tôi mượn lời nầy của Chesterton để gởi bạn : « Chính gia đình là cái lò đào luyện cho ta trước hết tinh thần thích nghi với cuộc sống ngoài xã hội. » Cha mẹ nên tránh những cuộc cãi vả, những cử chỉ dằn dao, dằn thớt. Các cuộc đấm cú, dĩ nhiên là không nên bao giờ để xảy ra. Con nít ở bên cha mẹ như giấy chậm gần nước. Hễ cha mẹ bặt thiệp, biết xử với nhau và với chúng cách lịch sự thì chúng sẽ nên người dễ gieo thiện cảm sau nầy trong xã hội. Tôi vẫn biết có những trường hợp cây lành sanh trái dữ. Nhưng thường ơn là con dữ tại cha mẹ không hiền.

b) Một xã hội thuận tiện nữa để luyện đức bặt thiệp là học đường. Ngày nay dù lạc quan với thế hệ đến đâu cũng phải dè dặt nói rằng trong ruột học đường đang có cuộc khủng hoảng trầm trọng về đức dục. Ở trường công thì giữa những điều đáng khen có xen vô bịnh dịch nầy là một số giáo viên, giáo sư, giảng sư ỷ mình chắc chắn về lương bổng nên coi việc rèn người như việc không hồn, trả nợ quỉ thần. Trong trường tư, có một vài nơi hình như đại loạn. Ngoài ra bao nhiêu điều tốt đẹp, thỉnh thoảng có lối xử thế ngọt như đường mà mục đích tối hậu là làm giàu của hàng ngũ giám đốc, nhà giáo. Còn không ít học viên ăn nói tay đôi với kẻ thế cha mẹ mình dạy dỗ mình. Có một số học viên lấy làm văn minh, hợp thời ở chỗ ăn mặc kép hát, ăn nói với nhau như kẻ mất dạy đứng bến xe. Xin Bộ Quốc Gia Giáo Dục, xin những vị có nhiệm vụ ở học đường nỗ lực tạo một bầu khí tĩnh yên trong sạch dưới hiên trường. Tình yêu ấy được diễn lộ ra trong những nếp sống cộng tác, hi sinh để chuẩn bị cho thế hệ đương lên đức bặt thiệp, tối cần cho họ khi họ lao mình vào cuộc lập thân ngoài ngưỡng cửa cuộc đời. Henri Pralel bảo đừng quá lý thuyết mà phải tạo bầu khí. Thưa những nhà giáo dục dưới hiên gia đình hay học đường, lời khuyên trên là minh triết. Tuổi trẻ như sáp, quí vị dùng gương lành ảnh hưởng chúng thì chúng sẽ giống khuôn tốt đẹp của quí vị. Bầu khí hợp quần mà chúng quen sống, chúng sẽ giữ và phổ biến sau nầy trong gia đình của chúng và trong xã hội mà chúng giữ những nhiệm vụ công cộng.

c) Người tập đức bặt thiệp hãy tự ám thị rằng càng bặt thiệp ta càng tỏ ra là người và cá nhân ta càng nẩy nở.

d) Sống theo tinh thần sách « Gương Chúa Giê-su » tức là tinh thần nhẫn nhịn những khuyết điểm của tha nhân. Ta xử bạc với Thượng đế biết bao mà người còn nhịn ta vậy sao ta quá gay gắt với đồng loại.

e) Đừng tự cô lập hóa bằng tánh thắc mắc với xã hội. Mình muốn thiên hạ đáng mến, mình hãy đáng mến trước và phải đáng mến mới được mến. Không nên bỏ mất đời sống nội tâm, chạy xạo, chia trí, nhưng ăn cái gì mà thui thủi ăn một mình, ngồi đâu mà như phật đúc, nói như sợ mất lời, thì bạn lần lần mất hết và nhân vị tính ngày càng cằn cỗi đi.

f) Sau hết là nỗ lực vui vẻ trong bất cứ trường hợp nào khi tiếp xúc với tha nhân. Điều nầy rất khó vì đời ai cũng có những chiều thu trong cõi lòng. Nhưng càng cố gắng, đức bác ái càng đâm bông kết quả trong ta và người xung quanh càng mến ta nhờ đó ta dễ đắc lực trong bổn phận hằng ngày.

KHUÔN VÀNG THƯỚC NGỌC : « BẶT THIỆP THỰC LÀ BÁC ÁI, LÀ TỎ RA ĐÃ THUẦN THỤC, CHỚ KHÔNG PHẢI MÔI MÉP, LƯỜNG GẠT ĐỂ LẤY TÚI NGƯỜI TA. »

CHƯƠNG X : ÓC THÀNH BẠI

« Lưỡi mềm nên còn, răng cứng nên gãy ». LÃO TỬ

1. Cứng như sắt và mềm như chuối. Vấn đề đào luyện ý chí, tôi đã bàn riêng trong quyển « Người chí khí ». Dưới đây tôi chỉ bàn qua một vài tác vị quan trọng của ý chí khi người bản lĩnh dùng nó trong việc xử thế.

Tôi muốn hiểu thái độ quyết đoán cứng như sắt của người bản lĩnh theo một nghĩa đặc biệt. Cứng như sắt không hiểu luôn luôn là dùng biện pháp mạnh như hò hét, nói nặng lời, dùng võ lực.

Trường hợp Aristote trả lời thẳng cho vua cựu Đờ Ni rằng không gả con gái cho ông vì ông là bạo chúa, và khi vua thủ tiêu con gái Aristote, ông nầy vẫn nói với cựu Đờ Ni rằng ông không hối hận vì lời ông nói, là trường hợp không phải ai cũng dễ lướt qua mà khỏi hậu họa. Vẫn biết có lắm trường hợp đối với những lời nói vũ bão, nhưng nhứt định sự thô bạo thì dù cần thiết thế nào, cũng không nên có, vì một mặt nó nghịch bản chất nhân cách của người bản lĩnh, mặt khác nó dễ gieo hiểu lầm, chà đạp tử ái kẻ nghe và tạo thù oán.

Sự cứng rắn trước hết, phải hiểu là sau suy nghĩ kỹ lưỡng, kiên quyết không thay đổi kể cả những lúc được năn nỉ, bị lay chuyển bằng giọt lệ, lời nói đường mật, sự dụ dỗ hứa hẹn, kể cả sự rầy rà, hăm dọa, nói xấu. Chúa Cơ Đốc là gương mẫu về phương diện nầy, nên Thánh Bảo Lộc khi khuyên Giáo-Dân đức cương-nghị nói rất chí lý : « Những ai muốn sống theo Chúa Cơ Đốc phải ăn chịu sự bắt bớ, lời ngạo nghễ hay sự hãm hiếp ». Ngay mấy lúc Chúa Cơ Đốc trả lời cho nhà chức trách hãm hại người, nhiều lúc cứng lắm, nhưng vẫn êm dịu, lễ độ. Vậy đức cương mà người bản lĩnh tập tự bản chất loại tất cả những gì thô bạo và đòi sự êm dịu, lễ độ, nói lên một ý chí đã trui. Nói cho đúng người bản lĩnh muốn, nghĩa là chọn lựa dứt khoát, đeo đuổi ý định chọn lựa của mình. Ý định ấy ngấm ngầm, dẻo dai, được diễn lộ ra lúc tối cần bằng lời nói, cử chỉ hành vi, có tính chất nước. Tuy nhiên ta nên nhấn mạnh điều ấy. Sáng suốt có những quyết định sắt mà xử đối đường mật không phải là chuyện dễ. Cái khó nằm ở chỗ tự thắng. Sertillanges nói : « Tự thắng, đó là cái khó. » Tại sao ? Có nhiều lý do. Đây ta chỉ nêu ra vài cái chánh, khi có ý định làm một việc gì, ngay lúc ấy, ta thường bị sự thúc đẩy của tình cảm, của khát vọng. Các tính ham lợi lộc, danh vọng hay bổn phận lôi cuốn sự quyết định của ta về một góc cạnh nào đó. Nó mô tả trước cho ta sự có thể thành công, thứ thành công rực rỡ lâu bền. Mấy lúc ấy ít khi ta thấy, hay nói đúng hơn, ta chịu thấy trở lực. Mà trở lực không phải là không có. Có thể là thời gian, dư luận, cực phiền gây ra bởi nghèo túng, cô đơn. Thời gian, kinh nghiệm cho biết, nó là yếu tố đáng để ý. Chính nó cũng là mẹ đẻ của lớn lên, suy thạnh, già giặn mà cũng chính nó là yếu tố của tàn lụn, suy vong, chán nản. Thiếu gì công việc trên đời ngay buổi mới ngày đầu ai làm cũng hăng hái ồ ạt. Nhưng rồi trên con đường dài, đồng chí dần dần thưa, chí của đồng chí còn lại dần dần yếu và may lắm mới được một vài người đeo đuổi đến thành công cuối cùng. Trong lãnh vực tình cảm, thời gian cũng có ma lực làm giảm tình yêu của những tâm hồn nên thoạt đầu mến nhau mà không được trói buộc bằng ái tình có ánh sáng của đức tin hay lý trí, làm giảm hay tiêu diệt sự oán thù của nhiều kẻ vì lý do nào ngày trước hận nhau bất cọng đại thiên. Thành công nào cũng cần được xây đắp bằng nhuệ khí hoạt động. Mà nếu ta không dẻo dai, thời gian có thể làm hao mòn nhuệ khí khiến công việc bán đồ nhi phế.

2. Còn dư luận ? Một tên tử thù của kiên chí. Người ta có thể hung bạo bằng sức mạnh thể xác, bằng võ lực, có quát tháo, la lối, hò hét và cũng có thể hồi hộp, run sợ trước dư luận. Làm lỗi thì làm, nhưng ai cũng coi nhân vị của mình là quan trọng, coi phẩm giá của mình khả quan nên một khi dư luận đề cập đến mình, vì chạm đến danh dự mình, liền nao núng. Ít có người không sợ dư luận. Phải được huấn luyện về ý chí già giặn lắm, con người mới ăn chịu nổi búa rìu của miệng đời. Rắc rắc ai ai trên đời, khi nghe thiên hạ bàn đến mình, đều tự nhiên muốn biết coi tha nhân nghĩ về mình làm sao. Người ta cũng thường đa nghĩ, chuẩn bị sợ người ta nói xấu mình. Tôi không cần nói trường hợp của người có lỗi, người mà dân Việt gọi là « có tịch ». Tôi nói ngay cả những người, cách chung và hiện tại, cảm thấy mình không có lỗi lầm gì, khi nghe dư luận đề cập đến cá nhân hay gia đình mình, cũng bồi hồi. Cái câu « ninh thọ tử bất ninh thọ nhục » hình như mỗi thế nhân đều ý thức cách thấm thía. Với áp lực kinh khiếp về đường tinh thần như thứ áp lực của tiếng cắn rứt trên lương tâm người tội lỗi, dư luận dày xéo tâm hồn người có chí, khi bắt tay thi hành công việc. Người ngoại cuộc có thể thả tiếng đồn vì nhiều lý do. Có kẻ thương hại : thấy việc người nguy biến, động lòng trắc ẩn, hỏi thăm và thương tiếc. Có kẻ nhẹ dạ : thấy việc lạ mắt thì nói, nói rồi thôi không nhắm lợi hại gì cả. Có kẻ giàu óc chỉ trích : thấy việc người là dòm hành, kiếm cho được những góc cạnh xấu để chê bay. Có kẻ ganh tị : Đây là hạ cấp mà cũng có thể là thượng cấp. Không cần thấy người mình chỉ trích làm điều gì quấy bậy, chỉ việc hơn mình là đủ họ ghét cay ghét đắng. Có thứ người khác vì muốn phá công việc thiên hạ, thả những tin thất thiệt, khủng bố tinh thần kẻ mình oán ghét. Đó là tôi chưa kể những thứ tiếng đồn của người ngoại cuộc sớn sát hiểu lầm do dư luận của người khác chủ trương với ta phá hoại ta. Họ ghét ta, nói xấu ta chỉ tại đơn thuần ta không phải là họ, không trở thành họ. Trong sức hăm dọa đáng khiếp của dư luận, người bản lĩnh phải chịu đựng lắm mới khỏi rủn chí. Mấy lúc bão tố dư luận đàn áp, người bản lĩnh dùng đạo cương nhu cương đây không có nghĩa là phải đi đính chánh dư luận, cãi vã hay tệ là chỉ trích lại đối phương. Nhu đây không có nghĩa là ta cảm sợ dư luận rồi thối chí bỏ bê công việc của mình đến thất bại. Khi ghe ai chỉ trích mình, người bản lĩnh kiểm điểm lại đường lối hoạt động của mình, các ngôn ngữ, hành vi cử chỉ của mình. Nếu thấy cách vô tư không có chi đáng trách thì cứ tiến. Đối với kẻ thù, ta thinh lặng và cư xử êm dịu. Cái câu « Sống trên dư luận », người bản lĩnh hiểu với đầu óc khôn ngoan. Cứ nỗ lực thi hành lý tưởng đã được suy nghĩ kỹ thì sau cùng đời sẽ biết giá trị của mình.

3. Sau hết là những nỗi đau khổ trong tâm hồn gây ra bởi cảnh cơ hàn, cô độc. Tôi thường nghe nhiều tuổi trẻ cười chê kẻ cao tuổi quá câu nệ về tiền của trong việc hôn nhơn, việc xử thế. Hồi yêu nhau, hồi mê thích xa hoa thì đồng tiền coi thua lỏm chuối. Nhưng khi phải tự mình gánh trọng trách kinh tế cho mình, cho gia đình mình, người ta mới thấy tiêu tiền phải đặt vào hàng cẩn thận bực nhứt. Tiền của là vật chất đấy và người ta hay khinh rẻ vật chất. Nhưng người ta hay quên rằng vật chất đôi khi chi phối tinh thần, có khi điều khiển một phần nào đạo hạnh nữa. Ngay mấy lúc cơ hàn mà thấy co tay không còn phương thế làm ăn kiếm tiền, tự nhiên tinh thần con người xuống. Người ta cảm thấy mình bơ vơ trong xã hội, mất tự do một phần nào trong lối xã giao. Chí hướng cách chung, đòi tài chánh để thực hiện mà đụng đói rách, nếu tinh thần không dẻo dai, có thể bị sứt mẻ, nếu không phải tiêu diệt. Hẳn ai cũng biết, có nhiều thiên tài ra đời rất muộn chỉ vì nghèo. Rất có thể nhiều thiên tài úng héo ngay từ trong mộng chỉ tại gia đình thiếu ăn thiếu mặc, không được học hành. Đau khổ, tôi biểu ở đây là tật bệnh và phiền muộn. Kinh nghiệm bản thân cho người ta biết rằng lắm lúc đang hăng say làm việc, bỗng ngã bệnh như sốt rét chẳng hạn, thấy « hết muốn làm gì ». Bệnh xoàng còn vậy, huống hồ bị cụt tay, chân phế, thân hay mắc những chứng khó trị (tôi không dùng tiếng nan y, vì ngày nay tin tưởng y khoa người ta không chịu) như phong cùi, ung thư, chi dời non lấp biển cũng coi chừng cảnh ngồi khoanh tay rế ngáp dài than thân trách phận.

Còn phiền muộn ai cũng phải chịu là quân thù của tâm chí. Chuyện xưa nói có người bị nhục buồn rầu ăn ngủ không được. Kinh thánh cho biết Chúa Giêsu buồn rầu đến chảy mồ hôi máu... Ngày nay chắc ít ai phiền muộn bằng Chúa Trời nhập thể. Nhưng lo rầu về thân phận, về gia đình, về lập chí, đến khó ăn khó ngủ thì không phải là không có. Mấy lúc ưu tư, người ta hay có cảm tính cô độc, bị ghen ghét và tai hại nhứt là bi quan. Những trở ngại nhiều khi tầm thường bị quan trọng hóa. Các phương tiện dưới sức tấn công của óc tự ty cơ hồ biến đi đâu hết.

4. Trở lên, thưa bạn, tôi đã đưa ra một số chướng ngại vật thường có thể lung lay chí hướng của ta. Bí quyết linh diệu nhứt để đối phó là phải tùy sự xét đoán khôn ngoan khi cứng như sắt và khi mềm như chuối. Có nhiều trường hợp, gặp người bất kể lẽ phải khinh rẻ pháp luật, coi không ra gì những lời nói êm dịu thì nếu họ không ăn thua đến quyền lợi tư của bạn hay quyền lợi chung, bạn có thể thinh lặng, trọng nhân vị họ và coi hành vi, ngôn ngữ của họ như không có. Còn khi họ cản trở các quyền lợi nói trên, bạn phải có thái độ cứng như sắt. Thái độ cứng đây không hiểu là thô lỗ, cuồng bạo mà cương quyết thông minh. Có khi phải có một lời nói mạnh, một đối phó bằng vũ lực, bằng pháp lý. Tôi biết đối với tiểu nhân, người ta phải xử quân tử ; nhưng quân tử ở đây phải hiểu « năm bảy đường ». Muỗng dừa không nên ăn thua với chén kiểu mà nếu hai thứ phải ở chung, và chén kiểu non tay ấn thì coi chừng thua muỗng dừa. Rồi có những tâm hồn không thích cứng rắn, nói đúng hơn là ưa tế nhị. Không ít hoàn cảnh dụng cương sẽ hỏng hết mọi chuyện hay giá thành công được thì cũng trầy vi tróc vảy. Lời nói đanh thép, những chứng minh, biện hộ đối phó bằng võ lực, trong nhiều góc cạnh cuộc đời, thấy không đem lại lợi lộc gì, có khi gây tai nạn nữa là khác. Hình như loài người ai cũng có lý trí ; nhưng đa số thích sống bằng tình cảm và dễ chịu ảnh hưởng của bản năng, của tình dục. Người bản lĩnh là người dùng khéo chữ « tùy » để lúc cương, lúc nhu. Nếu phải so sánh ta có thể coi chí của người bản lĩnh như nước. Nước chảy vô sông lớn, vô lu, vô chai, vô hang còng, hang cua, nước vẫn giữ gìn bản chất nước, bảo tổn sức mạnh tiềm tàng của nước. Nhưng nước mang hình thái của vật mà nó chui mình vô. Đồ chứa nó coi chừng lở, bể. Trên con đường thể hiện lý tưởng, người bản lĩnh tính như thủy. Có khi phải tiến ồ ạt như vũ bão, có khi phải thối lui, yên lặng thối lui để lấy trớn, yên lặng để vừa thủ, vừa chuẩn bị phản công.

KHUÔN VÀNG THƯỚC NGỌC : « NƯỚC THẮNG LỬA. NGƯỜI CƯƠNG MÀ NHU THẮNG NGƯỜI CỘC MÀ YẾU. »

CHƯƠNG XI : ÓC DẪN DỤ

« Học cao đến đâu mà không có nghệ thuật dẫn dụ kẻ có thực tài, thực đức cộng tác với mình thì vẫn còn ngu. » WATERSTONE

1. Muốn lôi cuốn một người hay một quần chúng theo bạn, thi hành ý muốn bạn, để hộ tiếp bạn thành công một lý tưởng nào, bạn phải làm sao ? Dùng võ lực ư ? Võ lực, một bí quyết không phải không hiệu nghiệm trong việc dẫn dụ người. Song nó không hiệu nghiệm trường kỳ. Bị dồn ép lòng tự ái quá, ngày nào đó người ta sẽ phản loạn. Nó không được vận dụng cho bất cứ ở đâu và lúc nào. Bạn dùng võ lực đàn áp kẻ khác được khi bạn có đủ lực lượng quân sự, gặp thời thế thuận hợp. Nếu lúc cô thế, gặp nghịch cảnh rồi làm sao. Khi dẫn dụ với tính cách tư nhân dùng võ lực áp đảo vài ý chí bạc nhược thì được, song chạm phải những ý chí đanh thép, những bộ óc sáng suốt không dễ gì chiến thắng bằng võ lực…

Bạn có lẽ nói : « không võ lực thì năn nỉ ». Năn nỉ, thưa bạn, vẫn là phương pháp cách khiến ý muốn kẻ khác theo ý muốn mình. Nhưng năn nỉ không phải là bí quyết vừa dẫn dụ vừa gieo tín nhiệm, uy quyền. Nó có thể mua chuộc người khác một thời gian ngắn thôi, dần dần những ý chí tự lập nghi kỵ tài đức của ta, cảm thấy ta yếu đuối, sau cùng ly cách ta...

Có thể bạn trưng những phương thế dẫn dụ khác như thôi miên, tiền bạc v.v... Nhưng thưa bạn, tôi không dám bảo những phương thế ấy không đưa bạn đến thành công chút nào. Không. Ngoại trừ những quỉ kế, những mánh lới đê hèn giáng hạ nhân cách, có bí quyết nào khác thì bạn cứ việc dùng để xây dựng cuộc đời. Song ở đây tôi có ý giúp bạn thêm vài ý kiến. Bạn chịu khó suy nghĩ kỹ đôi bí quyết tôi chân thành tặng bạn dưới đây. Hi vọng chúng sẽ giúp bạn bớt thất bại trên đường đời và ngày mai của bạn sẽ có nhiều thay đổi tốt đẹp.

2. Muốn dẫn dụ người ta phải :

1) Hiểu người. – Không thể nào dẫn dụ ai được nếu ta không hiểu biết kẻ ấy. Muốn thu hút kẻ nào làm theo ý mình, bạn trước tiên nên giao thiệp cùng kẻ thân biết người ấy, hỏi về gia đình, nghề nghiệp, địa vị, tính tình của họ. Bạn tìm cách trực tiếp đàm luận với họ. Cũng khôn ngoan tìm biết các vấn đề họ ưa thích. Nhứt là nghiên cứu lý tưởng chi phối cuộc sống và những hành động hiện tại của họ. Chú ý coi họ có lý tưởng về chánh trị, tôn giáo, nghề nghiệp giống như của mình không. Họ đang khao khát cái gì. Điều ta muốn thông truyền cho họ, họ có thể thu nhận được không. Hay họ quen khao khát sống nếp sống lạc lõng, bập bềnh mà có khả năng làm nên việc cả. Họ đang chờ gieo lý tưởng cho họ. Mà muốn gieo thành công cần am hiểu sở thích. Không ai lấy mồi dừa câu thòi lòi hay lấy chuối câu cá lóc. Cần biết hai giống nầy ưa ăn mồi chi mới mong khỏi hoài công trong việc câu. Dẫn dụ người cũng như câu cá. Cần biết người ưa thích chi. Trả lời thèm khát của họ là dẫn dụ họ được phần nào rồi...

Trong việc tìm hiểu người thiết tưởng bạn nên có một bản đồ kê khai những vấn đề quan hệ cần tìm biết. Bạn có thể chú trọng về sức khỏe, lực học, tính tình, nghề nghiệp, địa vị, gia đình, chủ nghĩa... Tùy nhu cầu của bạn, bạn sắp đặt câu chất vấn. Luôn nhớ ghi chú cẩn thận để việc tìm hiểu khỏi thiếu sót.

Ngoài chất vấn gián tiếp hoặc trực tiếp còn việc tối hệ nầy là quan sát. Bạn nên tỷ mỷ mà khôn ngoan quan sát người bạn muốn dẫn dụ. Đọc trên gương mặt, trong đôi mắt, ở nụ cười, nguyện vọng và tâm tình của họ.

2) Thu tâm. – Không ai thích theo kẻ họ ghét. Tôi cũng như bạn và kẻ bạn dẫn dụ không khác ta, tất cả đều mến thích kẻ làm đẹp lòng mình và nếu có thể được sẽ cộng tác với họ. Thu tâm có nhiều cách. Thành thật là một. Trong lúc giao tiếp tránh những cái liếc tỏ ra quỉ quái, những lời nói quá đón rào, mất tự nhiên ; đồng thời cũng diệt bài những tư tưởng láo xược biểu diễn sự mâu thuẫn giấu đầu lòi đuôi. Láo trong điều quan trọng không nên đã đành, mà cũng đừng có quát tạt nói gạt, dù nói gạt để mà chơi. Lúc xã giao dùng kiểu cách quá lẽ, hãy tự nhiên từ cách nói đến điệu bộ.

Ngoài việc chân thành còn việc quảng tâm rất thần hiệu để ta thu tâm, dẫn dụ. Ai cũng mến thích những tâm hồn quân tử, rộng rãi. Vậy bạn nên rộng tay trong việc xử dụng tiền bạc. Trong xử thế hằng ngày, tán dương đức tính người hơn là chấp nhứt lỗi lầm bằng óc vạch lá tìm sâu. Bón trĩn và tiểu nhân phải coi như thuốc độc của thu hút lòng người.

Sau quảng tâm là vui vẻ. Tôi tưởng ở đời không mấy ai muốn thích kẻ quạo quọ. Quạo quọ như rắn độc ai cũng lo xa tránh. Trái lại vui vẻ là mồi thu hút lòng người. Trong vui vẻ có cái gì sống, cái gì làm nẩy nở tâm hồn, nâng cao nhân cách. Vui vẻ cũng là bùa mê con người, dù người rất chí khí : nó khiến con người khó khóa chặt cửa lòng mình lại, mà phải tung mở ra để giao tiếp. Bạn thí nghiệm đi. Gặp ai bạn có bộ mặt « mùa chay cả » thì kẻ ấy dù nhỏ yếu hơn bạn cũng, nếu không quạo quọ ra mặt cũng lợt lạt với bạn. Tâm lý cố hữu của con người là vậy. Trái lại gặp người khác nghiêm nghị, dù rất khó tính, có uy quyền hơn bạn thế nào, mà nếu bạn vui vẻ mỉm cười chào hỏi van xin điều gì thì sớm muộn họ cũng « xiêu lòng » hay nếu không làm thỏa mãn được ý muốn bạn, họ vẫn làm bạn hài lòng. Sao bạn không dùng bí quyết ấy để thu tâm và dẫn dụ kẻ khác. Trong lúc đàm thoại, bạn cũng rất mực chú ý gây thiện cảm. Khi nói bạn dùng cặp mắt hiền dịu, sâu sắc ngó ngay vào hai con ngươi của kẻ nghe. Câu nói được nói trong một giọng tuy cương quyết, phát biểu ý chí đanh thép, song có nhạc điệu êm ái, thu hút, lôi cuốn kẻ nghe. Điệu bộ hết sức uyển chuyển phát lộ chân thành tình ý của mình. Tránh như lao hủi giọng quát tháo, dáng bộ thô lỗ, cộc cằn.

3) Thuyết phục. – Riêng về các tư tưởng cần trình bày cho kẻ bạn muốn dẫn dụ, xin bạn quan tâm những cốt yếu nầy.

a) Chú trọng quyền lợi kẻ : Kẻ khác có ủng hộ ý kiến bạn, cộng tác với bạn hay không phần do bạn kính trọng quyền lợi của họ nhiều hay ít. Bạn dư biết rằng tính ích kỷ ai cũng có. Bất luận người nào đều tự nhiên quan tưởng quyền lợi của mình hơn của kẻ khác. Không ai dại dột gì đi phụng sự tôi và bạn mà không cầu vọng ích lợi gì. Biết vậy để thu hút người, ta chịu khó gợi cho họ thấy ý tưởng của ta bổ ích cho đời họ, cho gia đình họ... Bạn cố gắng đặt họ làm vai trò chính trong việc thi hành ý tưởng của bạn. Tuy bạn đã am hiểu những việc mình sắp làm, bạn vẫn tự nhiên và thiệt tâm chất vấn họ, khêu gợi đường lối tư tưởng cho họ, khiến họ có đồng quan niệm với bạn và tán thành lần lần những điều bạn muốn ghi tạc vào tâm não họ. Nếu trong câu chuyện, người bạn muốn dẫn dụ chụp lấy vấn đề lý luận, phán đoán, sáng kiến... nhiều hơn bạn là bạn thấy ánh sáng thành công ló dạng rồi.

b) Chuyển hướng tư-tưởng : Trong quyển « Thuật Hùng Biện » vấn đề chuyển hướng tư tưởng tôi bàn khá dài. Ở đây bởi nó quan hệ đến việc thuyết phục, nên xin xét vài đại cương. Thưa bạn ! Thế nào trong lúc thương-thoại, tư tưởng của bạn cũng bị tư tưởng của kẻ khác động chạm có khi đập bẻ nữa. Không hề gì. Trước hết xin bạn đừng nóng. Để họ nói cho đã nư. Trong lúc nghe, bạn tự chủ, giữ nét mặt điềm đạm tự nhiên. Miệng mỉm cười và thỉnh thoảng điểm đôi tiếng tán thành trúng chỗ. Họ trình bày quan điểm xong, bạn toát yếu những ý chính rồi cùng họ thảo luận lại. Những gì thuận hệ thống tư tưởng bạn, thì bạn liệt kê ra trước. Bạn tự nhiên thành thực tán dương người bạn muốn dẫn dụ. Xin bạn để ý tán dương không có nghĩa là « môi mép », là nịnh bợ để người ta « khoái » mình. Mà làm một việc công bình phải làm và làm một việc đắc nhân tâm phát lộ nhân cách biết ở đời của ta.

Rồi đến những ý kiến chống nghịch bạn, tôi van xin bạn đừng bẻ gấp vội mà mạnh miệng bài xích. Có người không biết nói chuyện với mục đích gì, thấy ai nói chọi óc mình là thải tưới vào mặt người ta những tiếng « Bậy, Trật, Ối... » hay những cái xì, cái trề, chỉ mua cười chuốt oán thôi. Người nghe dù quấy bực nào, cũng vì tự ái, nổi cáu, bực dọc trả đũa lại. Thế là um sùm... Thảo luận thất bại. Bạn đề phòng tai nạn ấy. Đừng đánh hỏng cả những tư tưởng của kẻ đàm luận cùng bạn mà bạn bất mãn. Bạn ôn tồn hỏi họ lý do cặn kẽ, tìm đủ tài liệu, hiểu đúng như ý họ muốn. Rồi căn cứ trên lập trường của họ, bạn chuyển hướng họ. Bí thuật cần phải dùng chẳng những áp dụng lối chất vấn ví vào rọ của Socrate, tam đoạn luận của Aristote... mà nhứt là quan tâm gây thiện cảm. Tôi muốn bạn vừa lý phục mà cũng vừa tâm phục. Bạn đừng quên con người là vật ưa lý lẽ song hay thi hành với tình cảm. Muốn người ngoan ngoãn nghe theo mình dùng lý trí mà nhớ đừng quên dùng êm dịu của quả tim.

Việc chuyển hướng tư tưởng có thể sánh như cây cầu. Nó nối liền tư tưởng kẻ khác với tư tưởng của bạn. Nó đưa đường dẫn lối cho họ có những tư tưởng mới do bạn « mạc khải » mà họ không hay, mà họ cảm thấy tự mình sáng kiến, phát minh...

c) Thân mật : Một bí quyết để thuyết phục đắc lực là thân mật. Muốn thân mật và thân mật thiệt với kẻ mình dẫn dụ, bạn nên thi hành câu nầy của một vĩ nhân vô tiền khoáng hậu dạy loài người nay non hai thế kỷ (Hãy yêu người như mình vậy). Và cũng chính Đấng ấy nói (miệng chỉ tiết lộ điều gì trào tràn trong tâm hồn). Bạn có lòng chân thành yêu mến kẻ bạn muốn thu hút, thì tự nhiên bạn tỏ ra thân mật với họ. Tôi nói điều đó để bài bác thân mật giả hiệu, được áp dụng bởi nhiều người như một miếng bùa đắc nhân tâm. Kỳ thực kết quả nghịch ý họ muốn. Bởi lẽ là sau cùng người ta hiểu rõ thâm tâm họ không chân thành thân mật mà lòe đời bằng môi miếng, đường mật mặt ngoài. Riêng bạn, xin hãy phát lộ sự thân mật tuy không âu yếm, yếu đuối, song êm dịu, dễ thương, kích động tâm hồn kẻ nghe bạn. Sự thân mật ấy bù đắp lại bao nhiêu khuyết điểm của bạn cố hoặc vô tình hoặc hữu ý. Lúc nói chuyện, kiêu hãnh, to tiếng, trề môi, liếc mắt : tất cả đều gây ác cảm ở người đối thoại.

d) Óc quân tử : Không thể nào tránh khỏi lỗi lầm mà kẻ đàm luận với bạn gây ra cho bạn, lúc hai bên trao đổi ý kiến. Có khi vì nóng tính, họ nói cộc cằn cùng bạn. Muốn hạ bạn họ nói mỉa mai, gay cấn ; có thể cách vô tội họ nói những lý lẽ quấy mình nghe trặc họng. Trước những lỗi lầm ấy và những khuyết điểm có thể xảy ra, xin bạn vui lòng tha thứ. Tôi biết ai cũng có tính cộc, ai cũng thích trả đũa. Tôi và bạn, chúng ta không tránh khỏi những quái tính nầy. Song ta muốn dẫn dụ người thì phải tự chủ, nhẫn nhịn tiết kiệm sự tranh luận. Có nhiều người háo cãi quá, cho việc bắt bẻ lời lẽ kẻ khác, cãi vụn cãi vặt là giỏi, là thông minh. Họ quên rằng đó là những cái khôn dại, khôn không trúng mùa và đánh hỏng cái khôn cần thiết là biết dại, biết làm thinh để chinh phục người. Dĩ nhiên không phải ai nói gì ra ta cũng tán thành hết. Có những điều cần biện luận, đính chính để đem chân lý ra ánh sáng. Song ta hãy làm công việc nầy với tất cả nhã nhặn, dịu hiền, khôn ngoan.

e) Những cái phải tránh : Có những thuốc độc của thuyết phục mà bạn cũng như tôi phải tránh là khoe khoang, dạy đời, chỉ trích vô ích, nói nhiều, thổ lộ tâm sự... Những việc nầy tôi đã bàn cùng bạn nhiều ở cuốn « Thuật sống dũng ». Ở đây chỉ nhắc lại ngụ ý ước muốn bạn đề phòng xa để việc dẫn dụ có kết quả mỹ mãn.

f) Tư cách : Bùa mê nhân tâm đã đành là lịch sự, hiền dịu, lời lẽ hợp lý, biết dung thứ mà còn là tư cách đường hoàng nữa. Tư cách đừng hiểu là kiểu cách mua chuộc điều lợi, tiếng khen. Chính tại bổn phận của ta là phải ăn ở xứng đáng nhân phẩm. Nhờ sự ăn ở xứng hợp nầy, ta được sự kính phục của dư luận người xung quanh. Niềm kính phục có tiếng vang, gây ở kẻ ta muốn dẫn dụ sự sùng mộ rất có lợi cho sự lôi cuốn họ về ta. Tư cách đường hoàng tôi hiểu ở đây là lời nói chậm rãi, rõ rệt âm điệu đoan trang. Không bao giờ để lọt ra cửa miệng tiếng nào bất nhã, quê mùa. Nét mặt trầm tĩnh, hoa nở. Dáng đi đứng ngay thẳng, nghiêm nghị mà không gò ép thới quá. Những cử chỉ bao giờ cũng diễn lộ một tâm hồn điềm đạm, bình yên rộng rãi, dễ thương.

Chúng ta nên nhớ rằng làm công việc dẫn dụ là ta làm lãnh tụ và làm lãnh tụ ta không có quyền có những thái độ chống tư cách như chưa đi là chạy, lính quýnh, nói không kịp thở, ngồi như nằm, ăn không nhai... Không ai kính phục được hạng người có những thái độ đáng thương hại ấy.

g) Biết nghe : Không cần nói thao thao bất tuyệt. Biết thinh lặng, nghe người cũng có thể thuyết phục người được. Nhiều kẻ đã lầm tưởng nói nhiều là người khác nghe và mến phục. Không ai không giàu tự ái. Ai cũng muốn đem mình ra ánh sáng, muốn bộc lộ ruột gan mình và thấy thú vị trong sự nói liên thanh. Muốn được người mến hãy can đảm tự chế, trả lời đòi hỏi ấy của người. Ngoài khi cần phải trình bày lý tưởng, nên đặt những câu hỏi khích lệ người trả lời. Rồi ngồi lặng thinh nghe. Nghe với nghệ thuật diễn lộ tình ý mình xuyên qua điệu bộ, cử chỉ. Đôi mắt ngó ngay kẻ nói, thỉnh thoảng điển nụ cười, hay gật đầu, ừ vâng... tỏ ra đồng ý... Thái độ ấy rất ích lợi cho sự dẫn dụ. Nó gây ở người niềm tín nhiệm thẳm sâu nơi ta. Nó nối ta với họ bằng giây thiện cảm rắn chắc. Thế là ý muốn chinh phục người bằng đàm thoại của ta đã thành công rồi.

h) Kiên chí : Có thể gọi được kiên chí là đức tính xương sống của dẫn dụ. Là người ai cũng có ý riêng, ai cũng muốn kẻ khác theo ý mình hơn là mình theo ý thiên hạ. Dẫn dụ vì đó là việc không dễ. Nhưng khi muốn thu hút ai, gặp lãnh đạm, phản khán của họ, bạn nản chí sao ? Thiệt ra không phải ai ta cũng đeo đuổi chinh phục cho kỳ được vì ta cần chọn lựa giá trị về học vấn, tính tình có thể giúp ta thành đạt lý tưởng. Song có khi ta cũng phải tối cực dẻo dai để đeo đuổi việc dẫn dụ, dẫn dụ những đầu óc tuy khó thuyết phục mà về sau cọng lực với ta rất đắc lực. Nhờ kiên chí. Có kiên chí, ta coi rẻ sự lâu dài của thời gian, khinh thường những trở lực sinh ra bởi hoàn cảnh, bởi khó tính của kẻ tiếp xúc. Chính những người ta khó thu phục có tâm tưởng phản động ý kiến của ta, tỏ ra dè dặt lãnh đạm với ta buổi mới ngày đầu, phần nhiều là những người trung kiên nhứt đối với ta khi họ tự ý bắt tay hành sự với ta. Trái lại những kẻ bu lua, bu loa, nhẹ dạ, vui vẻ tỏ ra thiện cảm với ta ngay lúc mới gặp, là hạng người ta cần đề phòng. Bởi lẽ phần đông là thứ người tính tình hay lưu dịch. Họ có thể dễ dàng mở cửa lòng đón tiếp ta, thì cũng có thể đóng lại dễ dàng để « đá ngược » ta. Hạng người nầy có thể gọi được nhiều như trấu trên đời. Bạn chắc đồng ý với tôi của gì kiếm cực thì của ấy thường quí. Người cũng vậy. Bạn muốn dẫn dụ ai hay một quần chúng bổ ích cho bạn trên con đường lý tưởng, bạn cần kiên chí tìm người xứng đáng, cố gắng chinh phục họ. Công lao của bạn có lỗ nhiều, nhưng sẽ có kết quả bù lại về sau.

Ngoài sự kiên chí dẫn dụ người bạn còn kiên chí bảo trì lý tưởng của bạn. Bạn là người đáng theo rồi người ta mới theo bạn. Đúng theo đây tôi hiểu nghĩa riêng là có lý tưởng cao cả, can đảm bảo tồn lý tưởng mình trên mọi trở lực. Đừng để nỗi khó khăn nầy, chướng ngại kia lung lạc ý định. Sự lung lạc có thể gây cảnh hoang tàn trên sự tín nhiệm của người bạn dẫn dụ. Trái lại nếu bạn là bực chí khí, người bạn thu hút sẽ dần dần tin phục bạn sâu sắc.

i) Ám thị : Tâm lý học thực nghiệm dạy cho ta biết con người dễ nhiễm cái gì cứ treo bẹo mãi trong đầu óc mình. Kể cả điều mình không thích nữa. Khoa học ấy cũng dạy cách chung con người ưa lý lẽ mà hành động theo dục tính hơn theo lý trí. Biết mấy nhược điểm nầy của con người, sao bạn không dùng ám thị để dẫn dụ. Bạn đừng quá ham dùng lý luận, trưng cầu điều phải của mình, bẻ lọi ý kiến kẻ khác. Lối chinh phục ấy để dành viết sách thì hay song áp dụng mãi ngoài trường đời, thất bại không ít. Bạn nên dùng thường bí quyết ám thị để thu hút người bạn muốn dẫn dụ. Bạn có thể dùng sách báo, truyền đơn, màn bạc, quảng cáo để nhồi nhét lý tưởng vào tận tiềm thức họ, nhồi nhét đến đỗi họ hết quan tưởng đến việc phán đoán mà phải « giựt gân » ám nhãn, và say lý tưởng của bạn. Lối nhồi sọ ấy khiến kẻ bị dẫn dụ hết tự chủ một thời gian, bị bạn lôi cuốn và họ ngoan ngoãn vâng theo, có khi cách oái oăm là họ vâng theo chính những điều ban đầu họ nhiệt liệt phản đối.

j) Quyền Biến : Ở đây không hiểu quyền biến là làm những việc có sức thần thánh hay gian xảo dễ mê hoặc nhân tâm. Mà chỉ hiểu những kỳ công do tài đức của ta, những kỳ công đập mạnh vào tâm não kẻ bị dẫn dụ, khiến họ ngạc nhiên, ngưỡng mộ ta. Những đức tính cần có để quyền biến là sáng suốt, điềm tĩnh, tự tin. Sáng suốt để ta nhận định thiên thời, địa lợi, nhơn hòa hầu chủ trương công việc cho thành công. Điềm tĩnh giúp ta hành động thản nhiên. Khổng Minh yếu thế mà điềm đạm ngồi gải đầu ; gieo vào tâm não Tư Mã Ý và đội binh kiến cỏ của y niềm sợ lấm lét. Tự tin, ta mới đeo đuổi mưu cơ của mình đến cuối cùng. Tuy không vận dụng mãi thuật quyền biến vì làm thường người ta đề phòng và do đó ta bị thất bại, song hễ khi định quyền biến thì cố gây ở người luồng điện thôi miên bắt hồn và cương quyết chinh phục họ. Quyền biến thành công, bạn biết gây ở người bạn muốn dẫn dụ sức tín nhiệm mạnh mẽ. Họ hi vọng khi cộng tác với bạn họ sẽ « ké hùn » thành công và hạnh phúc. Ở đời ai không dụ lợi ? Ta hãy trả lời đòi hỏi tâm lý ấy bằng những kỳ công huyền biến, một thứ bí quyết dẫn dụ người rất đắc lực.

k) Đức dịu hiền : Sô Kỵ muốn chỉnh phong vua Tề Uy Vương là một đế vương trụy lạc, cẩu thả việc triều chính. Mà làm sao chỉnh phong bây giờ. Cho chúng ta thì chúng ta đi ngay vào Vương triều và làm thầy đời... Được ! Nhưng đứt đầu có lẽ. Tề Uy Vương là một ông vua giết người như giết kiến mà Sô Kỵ không dại như chúng ta. Ông đánh bùa tâm lý nầy là ôm tỳ bà gãy, khiến vua mê ly âm nhạc. Vua ra lệnh triệu thĩnh Sô Kỵ vào đền mà giúp vui. Sô Kỵ vừa phải đờn vừa phải bàn quốc sự, thĩnh thoảng khuyên vua điều phải lẽ hay. Tề Uy Vương mến phục Sô Kỵ, nghe lời sửa đổi lề lối trị dân. Đối với người bạn dẫn dụ, bạn cần dùng « nước ngọt » trước. Mà nhớ phải thành tâm.

3. Tới đây bạn đã biết sơ qua vài bí quyết dẫn dụ người. Bạn đem áp dụng vào thực tế thử coi. Hi vọng bạn thành công. Ngần ấy bí quyết không phải toàn là những miếng bùa thần dùng luôn có kết quả tốt đẹp. Ta phải biết tùy người, tùy lúc, tùy nơi áp dụng. Song tất cả đều là những phương thế khả dĩ giúp kiếm người cộng tác. Trên trường đời sống động cô lập không bổ ích cho lý tưởng. Ta cần có sự hộ tiếp của kẻ đồng tâm chí. Có khi phải nhờ kẻ khác thi hành những gì ta không thể làm được nữa. Mà làm sao cho được thu hút người khác thi hành ý ta muốn ? Sai bảo họ như thầy giáo sai học trò hay như chủ sai đầy tớ ư ? ít thành công lắm nếu không phải là luôn thất bại và gây hờn chuốc oán. Bạn cần làm sao vừa được kẻ khác ủng hộ hành động theo mình, vừa được họ mến phục, thế mới gọi là thành công thực thọ. Cho được vậy cần dẫn dụ với nghệ thuật mà những điều tôi bàn cùng bạn trên chỉ là vài « miếng nhà nghề ».

KHUÔN VÀNG THƯỚC NGỌC : « DẪN DỤ LÀ DÙNG LÝ TỤC VÀ TÂM TỤC RƯỚC LẤY NHỮNG TÂM HỒN TÀI ĐỨC ĐỂ MƯU THÀNH CÔNG VÀ HẠNH PHÚC. »

CHƯƠNG XII : ÓC SÂU SẮC

« Biết làm thinh hay hơn thinh lặng ». ANDRÉ ARNOUX

1. Phát, cày, bừa, trục rồi hễ gieo, cấy. Trên con đường xâm chiếm bản lĩnh cho tâm hồn cái thế đầu tiên, có thể gọi là thế thủ, con người cần có là Trầm mặc. Ở đời có những cái kêu um sùm nói lên sức mạnh và người ta lắm lúc tưởng những kẻ ăn to nói lớn là anh hùng. Những quan niệm đó không đúng gì hết cho con người bản lĩnh. Nếu một lu nước mới múc cần yên tịnh, để trong thể nào thì nội tâm ta cũng cần trầm mặc để sáng suốt và cường dũng thế ấy. M.Zunden nói : « chỉ có thinh lặng phô bày những vực thẳm của đời sống. » Khi giao tiếp với xã hội, khi bị thúc phọc trong công việc hằng ngày, ta ít có cơ hội sống với ta. Ta không sống đời nội tâm của mình, không ngó nhìn tâm hồn mình để thấy ưu khuyết điểm của nó. Ta thường dùng một mớ công thức xã giao nào đó để sống theo một khía cạnh nào đó với thế giới bên ngoài tùy chức quờn, phận sự, quyền lợi, ái tình, ham danh v.v... Vì đã tạo một tập quán trong sự thèm khát sống với xã hội, nhiều người mang tật nghiền cảnh náo nhiệt, không chịu nổi khi phải sống cô quạnh. Có nhiều bà ở thành, lúc chồng cỡi ngựa sắt đến sở làm, lo tạt qua nhà hàng xóm nói chuyện cà kê dê ngỗng đến trưa. Thiếu gì ông vừa buông công việc bắt buộc vì phận sự thì tìm cho được bạn đi nhậu nhẹt, bàn chuyện phiếm. Dĩ nhiên là vật xã hội, con người phải đào luyện tinh thần hướng xã. Nhưng điều tôi muốn nói thói quen sống cảnh ồ ạt làm con người nghèo nàn đời sống nội tâm. Cho đặng có những tư tưởng sâu sắc những quyết định đanh thép, điều kiện tiên khởi của tinh thần là tạo một trạng thái thanh bình để các tế bào của bộ óc hoạt động dễ dàng, để những cơ quan tâm linh vận dụng hết khả năng của mình. Điều kiện trầm mặc tuy tiêu cực đối với những kết quả nói trên nhưng lại là điều kiện tất yếu. Phi nó ra, trí tuệ có thể lu mờ, ý chí có thể suy nhược.

2. Những địch thủ của trầm mặc. Trước nhứt, bạn nên đề phòng những cảm xúc thới quá. Ở đây tôi hiểu cảm xúc theo nghĩa triết học, là tất cả những trạng thái tình cảm nổi dậy trong tâm hồn do những khích động nội tâm hay ngoại giới và nổi dậy tạm thời, bồng bột, lắm lúc mang màu sắc đam mê, dã man. Khi các cảm xúc kéo dài ngự trị tâm hồn, người ta gọi chúng là tình dục. Cảm xúc lắm lúc, một phần là con đẻ của bản năng, bản năng sinh tồn, hiếu mỹ, kiêu căng, hà tiện v.v... Trong người, không có lực lượng nào đáng khiếp bằng cảm xúc, nhứt là khi nó chuyển thành tính đam mê. Trong cuộc sống hằng ngày ta thường có nhiều cảm xúc dưới muôn ngàn hình thức khác nhau.

Bạn mến thích một người nào đó ngay buổi sơ giao với họ. Chưa thấu triệt tâm hồn họ ra sao ? Bạn chỉ thấy người ấy có mắt tóc mây óng đẹp, vừng trán cao cao đó, đôi mày cong dịu con tằm nằm, cặp mắt bồ câu mơ trong như nước hồ thu, làn da mặt mịn, đường môi hường nở, hàm răng cẩn ngọc, má núm đồng tiền, chiếc càm chứa duyên, giọng nói như rót mật vào tai v.v... Căn cứ vào những yếu tố như vậy, bạn cảm thấy mến thích triệt để đối tượng yêu của mình. Bạn mơ. Bạn mong gặp. Bạn mê say tiếp chuyện, bạn tìm đủ thứ tặng phẩm để cung hiến. Đó ! Bạn mất quân bình nội tâm rồi.

Trên bàn ăn, lỡ bữa đói quá, bạn múc vật nầy, gắp miếng nọ và bạn húp, bạn ăn lua láo. Chưa nhai, bạn nuốt, chưa nuốt bạn ăn thêm. Rồi bạn uống, uống xong, lựa thức ăn nữa. Đó ! Bạn đã làm nô lệ cho cảm xúc.

Nghe ai chê bạn là bất tài, có giọng hát mèo quàu, chử viết như cua chạy, lé, noi đả đót v.v...Bạn lo lắng hỏi phăng phăng tới coi ai nói và tại sao ? Rồi bạn đính chánh, có khi nói xấu lại giữ lại để giữ thể diện, để trả thù. Nữa ! Bạn bị cảm xúc ngự trị. Bạn nổi tam bành lên, chồm chồm trợn mắt, chành môi, ó ré rùm, xốc tới đánh một ai đó, đứa ở chẳng hạn, có khi vì vô ý nói lời bất lịch với bạn ; người cộng sự vì thất giáo vụt chạc xử đối thiếu cẩn thận với bạn, đụng tay bạn lỡ hư một việc gì, hay vấp đá chơn bạn, té vào người bạn. Rồi ! Bạn hành động theo nanh vuốt của cảm xúc rồi !

Đang dạy học một học sinh đứng dậy có thái độ vô lễ, hỏi hiểm hốc một vấn đề gì. Rủi quên hay không biết, bạn bất mãn, ó ré cả lớp, lên tay chơn, mạt sát học sinh và quơ đũa cả nắm, bạn bảo học sinh là lưu manh, mất dạy. Đấy cũng cảm xuất giựt giây cương bạn.

Một số trường hợp trên giúp bạn nhớ lại những lần làm nô lệ cho thần kinh của mình. Nếu bạn chịu khó suy nghĩ một chút, bạn thấy được sự xử trí sáng suốt trong các hoàn cảnh mà tôi lấy làm thí dụ.

Ái tình, tình tâm giao hay tình đồng nghiệp cũng vậy, thường chịu ảnh hưởng của bản năng. Nó mang hình thức tâm tình căn cứ trên xu hướng hay thị hiếu và những thứ nầy ăn thua đến hoàn cảnh sinh hoạt, đẳng cấp, thời đại v.v... Bạn bỗng mến thích một ai đó. Có điều hay : là bạn gieo thiện cảm. Nhưng ngay buổi sơ ngộ mà cho ai cũng tốt hết, đủ khôn ngoan không ? Họ sống trước mắt mình với tất cả con người tâm lý thành thực của họ chưa ? Họ tử tế, dễ thương là tại bản tánh họ tốt hay vì họ khéo xã giao, dùng mọi xảo kế giao thiệp để « mù » mắt ta, hầu cầu lợi một gian. Biết chừng đâu cái bắt tay lần thứ ba với một người nói với ta bao nhiêu tật xấu của kẻ ấy được gọi khéo léo trong nếp áo quần cao tiền, trong điệu bộ niềm nở, trong gương mặt chiều đón, trong lời nói quyến rủ. Rất có thể thời gian, một lò trui đáng khiếp, mục khải cho bạn xuyên qua những cái nhìn âu yếm, những giọt lệ động trên bờ mi, những tiếng mật rót vào tay, tất cả những sự đểu cán giả dối, tất cả âm mưu, lạm dụng và lối dùng người, giao tiếp với người như ăn cam quăng vỏ. Mấy hồi những tâm hồn mà người ta không tiếc lời gọi là chó má, trở mặt với bạn, bạn sẽ chua chát có những phút trầm ngâm, nghiệm người đời, lắm lúc chỉ thương bạn khi bạn cho họ ăn no, khi bạn để họ lạm dụng. Và mấy câu thơ của một nhà thơ nào :

« Còn tiền còn bạc còn đệ tử

Hết tiền hết bạc hết ông tôi »

Sao nghe nó đúng gần như Kinh Thánh.

Rồi trên bàn ăn, thưa bạn, cứ chung mà nói, ai mà không có một phần tánh mê ăn. Duy có điều người nầy khác người kia là biết kiềm hảm thú tánh ưa ngon thôi. Sau lúc ăn hỗn độn, lua láo nếu suy nghĩ, ta thấy rằng vốn học về trí không ăn thua lắm để ăn uống trầm tĩnh. Đây phải nhờ đức lịch sự. Mà nói đức lịch sự thì phải nghĩ ngay đến đức tự chủ nó giúp ta cầm cương thói ham ăn hay ăn lua láo. Chịu khó và cơm gọn gàng, nhai kỹ, thỉnh thoảng gát đũa, hay muỗng, nĩa xuống để « nghỉ » ăn một chút : tất cả mấy tác vi ấy, tạo cho ta một tư cách cao cả, nói lên nhân vị tính của ta, khi ta làm một công việc mà nếu cẩu thả, ta giống thú vật không ít.

Còn nói đến bị chỉ trích, thì có mấy ai trên trần không nghe lòng tự ái bị tổn thương ít nhiều, kể cả người già giặn trong lò chí dục. Mà nếu bất mãn, nổi cáo lên, buông lời chua chát trả đủa, thì trên đời có thằng ngu nào không biết làm. Chỉ có người biết dồn ép cảm xúc, kiêu căng, bình tĩnh kiểm điểm con người ngoại tâm và nội tâm của mình lại, mới là bậc bản lĩnh. Căn cứ vào một tư tưởng của một thánh hiền, bạn dư biết rằng mỗi lời chỉ trích buông ra về bất cứ ai, trong bất cứ trường hợp và nơi chốn nào, đều té vào một trong hai lầm lỗi : lỗi về đức công bình hay về đức bác ái. Lỗi công hình : nếu người bị chỉ trích không có làm hay nói điều ta tố cáo. Ta chỉ trích làm mất thanh danh của họ. Lỗi bác ái : nếu người bị chỉ trích có nói hay làm điều quấy, chắc họ đã bị bao nhiêu búa rìu dư luận. Lòng họ như bát đầy lệ sầu. Ta chỉ trích là nhỏ thêm một giọt chót cho chén lòng của họ trào tràn đau khổ thôi. Người lính ngáp ngáp trên chiến trường lãnh mũi súng tối hậu (coup de grâce) có thể biết ơn kẻ bắn, chớ người bị chỉ trích đã khổ mà bị chỉ trích thêm thường coi kẻ bôi lọ mình là quân thù. Đã hiểu tâm lý đó thì chắc bạn dư biết đâu là thái độ khôn ngoan phải có khi bị người đời chỉ trích. Trước nhứt, dù ưng hay oan, bạn nên tin vững lời chỉ trích của thiên hạ bao giờ cũng bổ ích cho bạn ở góc cạnh nầy là nó nhắc cho ta phải sống thiện, sống gương mẫu, sống thành công. Nếu ta có làm quấy, lời chỉ trích cần thiết lắm. Nó giúp ta phục thiện. Đó là tôi chưa nói : « đáng », vì ta có lỗi mà ta lo sửa mình chứ. Còn bất mãn khi người ta chỉ trích đúng, thì bộ ta ngoan cố sao ? Như vậy còn đáng chỉ trích hơn nữa. Hay ta tự dối mình và dối người, nghĩa là quấy mà không chịu ai chỉ trích, và vẫn muốn dư luận cho mình là phải, là tốt. Giả chúng ta vô tội, trừ đôi trường hợp cần binh vực thanh danh, cách chúng ta nên noi gương thinh lặng của Chúa Giêsu, khi người bị quân thù tố cáo. Người phàm thì không dễ gì bằng Chúa rồi, nhưng ít ra ta cũng tự chủ, nhận rằng người đời là con mồi của lầm lạc, của sớn sát, của vội đoán, của thành kiến, của phe đảng, của nhẹ dạ. Một danh nhân nào chẳng đã nói một lời chê bất công là một lời khen che đậy. Lời ấy đúng là vàng ngọc. Theo tinh thần sách « Gương Chúa Giêsu », kẻ chê ta xấu, không làm ta xấu hơn, mà kẻ khen ta tốt, cũng không làm ta tốt hơn. Tinh thần câu ấy làm cho tôi có ý nghĩ nầy là khi nghe bất cứ lời chỉ trích nào ta hãy lo cho mình tốt thiệt, tốt từ trong tâm hồn rồi yên tâm. Tôi nghĩ nếu đúng là gỗ lim, thì dù có ai bôi lọ, trét bùn lúc hữu dụng đem rửa vẫn đắc dụng. Sợ e là lau sậy thì dù cho tô lụa chuốc hồng đến đâu, lau sậy vẫn hư và vô dụng. Nói vậy không phải chúng ta lì lợm với dư luận. Nhiều khi câu : « chó đâu có sủa lổ không » có giá trị của nó, ta phải tự kiểm thảo, tự tu, tự tiến. Nhưng không nên sống thờ dư luận quá. Phải phục tùng tiếng gọi của lương tâm. Sống theo lý tưởng và chương trình riêng biệt của mình. Tôi cũng không quên xin bạn khi bị chỉ trích nghĩ đến ích lợi của đức khiêm tốn nghe người khinh rẻ mình mà mình nhẫn nhịn và tự nghĩ người cũng như mình đều là « nhân vô thập toàn » thì tâm hồn ta cao thượng biết mấy. Còn luật xã giao ? Luật nầy cũng dạy, nếu ta muốn gây thiện cảm để thành công, đừng quá tỷ mỷ khi giao tiếp với đời. Khéo léo cho thông qua những lời chỉ trích, thường có lợi hơn là trả đũa, kẻ nói xấu mình.

Sau khi một cái lu đựng vài ba chục sỏi bị quậy lên cặn, lóng cáu xuống rồi, người ta thấy được mỗi cục sỏi bao lớn và nằm theo chiều nào. Bạn có thể nói sau cơn lôi đình, con đẻ của nô lệ thần kinh, người ta thường thấy trong nhiều trường hợp ưa làm cho ra to tát chuyện tấm cám. Ta theo tính ác độc, buông lời chua chát trả thù kẻ lầm lỗi. Lời ta quát mắng thường không nhằm mục đích sửa lỗi mà chỉ là sự phát lộ của tánh nóng hay tật già hàm. Đôi khi ta quên lúc ai lầm lỗi ta làm thinh là cáo cho họ nhiều hơn là ó rầy. Cho kẻ ngoan cố thì không nói gì, còn cho kẻ mới lỡ lầm lần thứ nhứt, khi lầm lỡ xong, họ có tâm hồn bối rối, lo sợ, vẻ mặt tái ngắt, hoảng hốt, chớm chớp mắt như xin lòng nhân của bạn : ngần ấy sự kiện không đủ cảnh cáo họ sao, không đủ cho bạn tha lỗi của họ sao ? Tôi thấy lời mỉa mai, rầy mắng trong trường hợp nầy là thừa. Vả lại trong nhiều trường hợp, lời rầy la tuy phát xuất tự lòng thành thực, mà mang màu sắc mỉa mai, khinh người, buông ra cho kẻ dưới, cho cọng sự viên, kể cả cho kẻ ta làm ơn đủ điều, rất có thể gieo mầm oán loạn, ly gián hận thù thiên thu. Cái câu « nuôi ong tay áo » thường có nghĩa do lối xử thế nhỏ mọn, thấy không xa hơn lỗ mũi của mấy kẻ làm lớn kém sáng suốt.

Còn học sinh, nhứt là học sinh thời nầy, một số lớn phải chịu là mất dạy về tâm đức. Họ lười học, ham chơi, học nhảy lớp, trốn học, láo với phụ huynh lấy tiền tiêu hoang, gạt trường, phản bạn, coi thầy là một thứ người làm mướn tri thức, lớp học là chợ mua văn bán chữ. Tình sư đệ vô nghĩa đối với họ. Thầy dở bị họ « sửa lưng », « đả đảo ». Thầy đạo hạnh thì họ chê là gàn và hủ lậu. Thầy lỡ đi trễ, rủi bịnh, bị họ đòi giờ. Thầy nói trật một tiếng gì, liền bị họ rộ lên cười ngạo nghễ. Hậu sinh khả úy. Xin phép đức Khổng cho ban đổi « úy » ra « cụ ». Và lời ấy áp dụng cho một số không nhỏ học sinh thời nầy mà không cần sửa thêm chữ nào cả. Tuy biết căn bệnh ấy của học đường, nhưng thưa bạn, nếu là nhà giáo dục chân chính phải đối với học sinh bằng tâm hồn người cha. Người xưa quả có lý trong câu : « nhứt nhựt chi sư chung thân vi phụ. ». Học sinh dù thế nào đi nữa vẫn là hạng người để thụ giáo chớ không phải để ăn thua. Nhà giáo phải nhẫn nại dùng mọi bí quyết giáo dục uốn nắn tâm hồn họ. Vả lại trong học sinh đâu phải ai cũng xấu và ngay trong khối kẻ xấu có thể có kẻ xấu vì hoàn cảnh, xấu một thời gian, xấu nhưng vẫn còn dự bị tấm lòng để trở nên tốt. Nhà giáo nổi tam bành hò hét quơ đũa cả nắm, lấy lời cá nhân cảnh cáo đoàn thể học sinh, sợ e thường làm cho họ cảm thấy bị rầy oan nên coi thường các huấn từ. Có cái gì đẹp bằng thái độ lịch sự đầy tình sư đệ của một nhà giáo trước thái độ vô lễ của một học sinh lưu manh. Nói vậy không phải chủ trương dung túng những phần tử sâu mọt của học đường. Mà chỉ muốn nói ngoài lúc tối cần phải xử cứng thì vẫn phải cứng và dám cứng, nhà giáo nên có tư cách của người tự chủ nhã nhặn, khoan hồng, quảng đại. Tôi biết có nhiều nhà giáo xử với vài học sinh cách tệ mạt, có khi láo xược, nói huyên hoang đủ thứ chuyện xàm láp, cơ hồ như tưởng rằng học sinh đều là ngu, đều dốt luôn. Họ quên mất rằng trong lớp nào cũng có đầu óc sáng suốt. Chúng không nói ra lời phản đối đâu có nghĩa là chúng ngu. Rồi chúng đâu có con nít hoài. Chúng sẽ lớn lên, về già, hồi tưởng lại những gì mình đã nghe dưới hiên học đường. Chừng ấy học phí, lương bổng có lẽ ta xài hết, còn mấy lời nói bậy, mấy thái độ gai mắt năm xưa có thể chưa phai mờ trong ký ức « học sinh ». Tôi biết học sinh thì đa số, dễ gạt. Nhiều nhà giáo bất tài, vô đức nhưng khéo dụ dỗ, vô lớp thuyết « tam quốc », nói tiếu lâm, thường tán hưu tán vượn chuyện tình tứ, lựa những đoạn văn, thơ trữ tình kiểu của Từ Trẩm Á, Xuân-Diệu để giảng con gà con kê thì được lắm học sinh thích. Song như tôi đã nói, sau cùng chúng lớn lên, khinh rẻ nhà giáo, bất mãn vì những lỗ trống của nền giáo dục của mình.

Tóm tắt, ngần ấy chứng minh về tính cảm xúc đã cho bạn nhận thấy tay thù gần như số một của bản lĩnh là cảm xúc quá độ. Lá bùa trị chứng ấy nhứt định là Trầm mặc, là dùng mảnh lực của ý chí kiềm hảm thần kinh lại và xử sự đúng tinh thần của mà người dân Việt thường nói : « Chuyện đâu còn có đó. »

3. Một địch thủ nữa của bản lĩnh là óc mơ mộng. Tôi không nói những hạng người có căn tạng mơ mộng, ưu sống cuộc đời viễn vong từ thời ấu trĩ đến buổi lão thành. Những hạng người nầy dĩ nhiên lúc nào cũng cần ý chí để trấn áp tập quán ảo tưởng. Riêng đây, tôi muốn bàn tật thỉnh thoảng thả hồn trong những mơ ước khó bề thực hiện. Đang thi thành phận sự, ta đưa mắt nhìn phương trời xa xăm, mong trúng số, ước ô tô, nhà lầu, cuộc đời ấm êm. Thời xuân trẻ phải là thời học tập, ta để mất bao nhiêu giây phút xây những giấc mơ xanh trong tình ái nhảm nhí, căn cứ trên tình cảm lửa rơm, non kinh nghiệm. Lãnh một chức vụ, đáng lẽ phải tập trung thêm tinh thần để công việc được nhiều năng xuất, ta chia lòng chia trí, hết để xao xuyến vào những chi tiết tầm thường, rồi làm việc nầy ba miếng, việc kia ba miếng, rút cuộc, không việc nào hoàn bị cả. Trong đời sống xã hội, làm nô lệ cho óc mơ mộng ta cứ ước muốn cuộc đời lý tưởng, ở đâu cũng đều làm ta vừa ý, người nào cũng là đối tượng của thiện cảm của ta. Nhưng căn cứ vào kinh nghiệm, huy chương nào cũng có bề trái của nó, bạn thấy xã hội nào cũng có kẻ tốt người xấu và bước đường đời của ta đâu phải luôn gặp những gạch hoa. Muốn sống cuộc sống thực tế, phải nhận những ưu cùng khuyết điểm của nó. Chưa vật lộn với đời ta khờ dại bắt nó tốt đẹp như trí mình tưởng, khi gặp những thất bại ta xao xuyến, bất mãn, bi quan. Trong cuốn « La discipline personnelle – kỷ luật cá nhân » Jean de Courberive có dẫn danh ngôn nầy của bác sĩ Gustave le Bon : « Tạo hóa luôn bắt buộc ở vạn vật lưỡng đạo luận uy hùng nầy : là thích nghi hay tiêu diệt ». Quả thực là chân lý. Cá nhân là con vật hướng xã, không ai được quyền sống kiểu của một Lỗ Binh Sơn hay của một An-Tiêm mà phải chung dung với cuộc đời, len lỏi trong hông nách xã hội, ăn khớp với thế nhân. Ai muốn tạo kiếp sống hạnh phúc nghĩa là có tâm hồn an lạc trong thanh bình, sống thành công trong công ăn việc làm, trong đại nghiệp, nhứt định phải thích nghi với hoàn cảnh thời đại mình sống. Khum đầu xuống bất mãn, bi quan : đời sẽ là sủng lệ thiên thu và rơi xuống sa lầy thất bại.

Bí quyết để có óc thực tế, chiến thắng những mộng viển vông không gì hay hơn là trầm mặc. Tạo cho lòng mình một sa mạc. Vẫn cẩn thận với cuộc đời, vẫn tin tin phòng phòng với bất cứ ai ta giao tiếp ; nhưng luôn lạc quan yêu đời, lấy óc thực tế vật lộn với cuộc sống và tạo giá trị cho đời mình.

4. Tôi thấy một địch quân nữa của người bản lĩnh là tham vọng quá lố. Vẫn biết là người ai không sống bằng hi vọng. Ngày nào một ai thấy đời mình hết biên giới thì cuộc sống của họ xuống dốc. Sớm muộn họ cũng hỏng kiếp sống. Đời ta sẽ đăm bông, ta sẽ chịu đựng nổi những bề trái của thế cuộc, nhoi lên giữa hố lầy khổ cực để « nếu không làm một ngôi sao trên trời, thì ít ra làm một chiếc đèn trong nhà » cho gia đình, quốc gia, nhân loại, khi đời ta còn một lằn trên trời. Vậy tôi nhận hy vọng đóng vai trò phần nào tất yếu trong động cơ sống đắc lực của con người. Song hy vọng không có nghĩa là tham vọng quá lố. Chữ tham vọng tôi hiểu theo nghĩa của sách « Gương Chúa Giêsu » thứ thèm khát của cải, chức quờn, nhan sắc, vui vẻ, phồn hoa, tất cả tạo cho tâm hồn sự náo động triền miên. Nó khiến ta bồi hồi « đứng không vững đứng, ngồi không vững ngồi ». Nếu chịu khó quan sát xã hội một chút, chắc bạn nhận thấy trong khối người xung quanh bạn ai giàu tham vọng, người ấy có sắc diện giớn giác, đôi khi hốt hoảng phong độ quấn quít. Lo âu, thảm sầu hiện lộ trong khóe mắt, trên trán nhăng của họ. Nếu tôi không lầm, thì hình câu « càng cao vọng càng nhiều khổ » có nghĩa thâm thúy. Người không ngự trị được những tham vọng không cương của mình hay đi kiện cáo kẻ khác, hay thắc mắc với người dưới, rắc rối với kẻ trên. Mà bởi xử đối với tha nhân như vậy, đời họ cũng không ít bê bối vì vướng vòng pháp lý, vì bị thiên hạ phá rối lung tung.

Liều thuốc linh nghiệm nhứt để trị chứng tham vọng quá lố vẫn là trầm mặc. Đã hơn một lần tôi nói ta phải có một lý tưởng hiểu theo ý lực của Chân Thiện, Mỹ, Phúc xô đẩy ta hoạt động. Mà muốn cho lý tưởng thực hiện phải có chương trình, phải nỗ lực, phải hoạt động. Và cứ tin rằng hễ có lý tưởng, có phương pháp tốt, luôn nỗ lực, thì sớm muộn cũng có kết quả tốt. Thánh Kinh khuyên « ai gieo trong than khóc sẽ gặt trong vui cười ». Một khi phụng sự lý tưởng rồi thì không cần bôn chôn, xao xuyến, lo âu, bối rối. Những nỗi niềm nầy chỉ làm ta hao tổn dũng lực của ý chí. Nói vậy không có nghĩa là không biết tiên kiến công việc, phòng xa để tránh họa gần. Vẫn khôn ngoan thản nhiên, trầm mặc. Nếu biển yên lặng gây cho khách du ngoạn cảm giác oai nghiêm, bao la đáng sợ hơn lúc cuồng phong, vũ bảo thế nào, thì gương mặt người có lý tưởng, ở kẻ xung quanh mình, tăng gia uy tín cho lời nói, hành vi mình thế ấy.

5. Thái độ vút vắt, liếng xáo của diện tướng cũng là thù địch của bản lĩnh. Nhiều lúc vô lý ta ngó qua ngó lại nhăn trán, nhiếu mày, trợn mắt, trề môi, hất hàm, rùn vai, quơ tay, múa chõ, đá đạp. Đang đi bỗng chạy. Đang đứng vụt ngồi. Thật là rối rít. Hãy cho thần kinh một giây cương. Cố gắng ý thức những cử chỉ của mình. Bớt dần những thái độ dư thừa, làm cho diện tướng mất trầm tĩnh, huyền bí cần thiết cho sự ảnh hưởng lúc xã giao. Trong cuốn « Đức tự chủ » Raymond de Saint Laurent nêu gương một triết gia nọ đi đâu cũng cần một giây xích nhỏ có một trăm vòng. Ông không bao giờ rời giây xích ấy. Ai có hỏi sao ông cầm nó luôn, ông vui vẻ trả lời : « nó là cái hãm, tôi dùng để chế ngự tôi ». Tôi quen thân một giáo sư nọ, tánh tình hiền hậu, lúc nào cũng đeo trong cổ một xâu chuỗi. Có lần tôi hỏi sao đeo chi, ông hiền hậu, ngả đầu, vui vẻ từ từ nói « tôi đeo vòng chuỗi nầy để nhắc tôi sống nhẫn nhịn. » Không dám khuyên bạn mang xích, đeo chuỗi như quí vị nầy, nhưng bạn nên bắt chước họ ở chỗ sống kỹ đời sống. Căn cứ theo lời dạy của tác giả quyển « Maltrise de soi : Đức tự chủ » có lần tôi đã viết « mỗi lần bị cảm xúc tấn công bạn hãy lần tay bạn hai ba mươi lần rồi hễ nói. Đếm thầm trong trí những số và đếm ung dung, nghỉ khoảng giữa hai số chừng một giây. »

6. Một lỗ mội đáng khiếp của nguồn khí lực trong con người là chứng đa ngôn. Ta gọi đa ngôn là một chứng có ý xin bạn phân biệt tật già hàm với tài nói thao thao bất tuyệt của một diễn giả. Người đa ngôn hay nói, không lựa lời, sái mùa, sái chỗ dư thừa, lạt lẽo, vô duyên. Còn diễn giả cũng dùng nhiều lời nhưng có lý nói, nói đúng chỗ, đúng thời và nói điều có giá trị. Nếu chịu khó tĩnh tâm kiểm điểm lại những lời nói suốt ngày, phần đông nếu không phải là tất cả, ta thấy vô số tiếng thừa thãi. Chúng như giọt nước té vào đại dương, vô lý rớt bởm vô cái hư vô vĩ đại, không để lại một cái dư âm nào, ngoài sự chua chát trong tâm hồn, sự yếu đuối của ý chí, sự mất giờ, có thể mất thiện cảm, gây thù, gây nghi kỵ, khinh rẻ nữa. Đây là những lỗi lầm thông thường của ba tấc lưỡi.

a) Bàn tâm sự vô ích : Ta hay gặp bất cứ ai, ở bất cứ đâu, vào bất cứ lúc nào, cũng hay đem chuyện lòng mình ra bàn dưới hình thức nầy hay hình thức khác. Làm việc trong vai trò hạ cấp, bị thượng cấp bạc đãi. Ta tìm bạn thân thổ lộ cang trường, nói rằng mình phải mình có lý, rằng thượng cấp hốp tốp, bất công, không biết lãnh đạo. Mà nói vậy có ai phân xử gì cho ta được đâu. Người nghe có thể vì nhẹ dạ, trống miệng thuật lại thêm mắm dặm muối, gieo hiểu lầm, khiến bề trên có ác cảm với ta. Ta hy vọng bề trên tìm hiểu ta không ? Đề phòng tánh tự nhiên nhẹ dạ, dễ tin của con người. Học cao, chức quờn, giàu có không ăn thua gì lắm đến tánh dè dặt. Cũng đề phòng cái câu : « Chó đâu có sủa lỗ không » ảnh hưởng đại đa số loài người. Khi bị nộp về lời nói như vậy, nếu không bị ghét cũng e sợ bị có những ấn tượng hay thành kiến không đẹp. Mà như thế là lời than tiếc của ta có thể gây họa rồi.

Bạn có lý tưởng, có bản lĩnh, nỗ lực thực hiện một chương trình văn hóa hay đạo đức nào đó. Bạn bị kẻ có quyền thế đồng bạn hạ cấp công kích. Bạn cự nự với bất cứ ai đến tìm hiểu bạn. Bạn trình bày các lý do xô đẩy bạn nói lời nầy, có thái độ kia, làm công việc nọ. Tôi không cần kể cho bạn nghe hằng lố thính giả với hằng lố ác tâm khác, tôi chỉ xin bạn để ý đến thứ người nghe nầy, thứ người mà tôi có dịp biết được. Tôi xin phép thuật y con người tâm lý sống và cá biệt của họ. Họ cá biệt mà có trên trần gian, với tư thái con người tin mình đầy đủ về mọi phương diện, nhứt là về đường đạo đức khôn ngoan. Tất cả trong họ là dạy đời và dạy đời. Lắm lúc dạy cách trâng tráo nữa. Người ta cảm thấy ở họ tính kiêu căng mang màu sắc đạo đức, biến thành một chứng kỳ dị đến không còn biết nhục nhã, ngượng nghịu gì cả. Họ không chịu tìm hiểu bạn mà cũng không cho bạn yêu cầu họ tìm biểu bạn. Họ gạt hết những lý do của bạn, cho bạn là vô lý, là quấy. Bạn thành thực nói phải, nói quấy à ? Họ cho bạn vì khờ dại mà nói. Họ bảo bạn là nông nổi, là không như họ để làm như thế nọ như thế kia. Họ mê tin ở một lý tưởng hay một uy quyền nào đó và đầu óc họ có sẵn một khuôn tư tưởng, một mảnh gương ước vọng. Họ bắt tư tưởng, ước vọng của bạn phải lồng rọi vô khuôn ảnh ấy. Kỳ lắm ! Không cần đợi bạn bộc bạch can trường, họ kêu kiếm bạn, kích thích bạn phơi trải tâm hồn để rồi căn cứ nơi đó họ tỏ ra thương hại bạn, có thái độ lo lắng cho bạn. Nhưng bên trong họ nghi kỵ bạn, cho bạn trăm điều quấy, hành động nói năng nông nổi. Bạn mới hở môi minh oan điều gì, họ chụp lời, nói bằng giọng tiên tri, thầy bói là am hiểu hết mọi chuyện và thưa bạn, kết quả của lời tâm sự của bạn là gì, nếu không phải là con số rỗng với những niềm chua cay, oán hận.

Có rất nhiều người khi bàn tâm sự không có mục đích rõ rệt. Theo thế thường, khi « nói khó » cho kẻ khác nghe chuyện lòng là có ý tìm nguồn an ủi, muốn chứng minh rằng mình hữu lý, nhưng trong nhiều trường hợp, họ không biết kẻ nghe sẽ thỏa mãn họ về điều nào, mà họ cứ kể lể thao thao hết uất ức nầy đến nỗi niềm nọ. Oái oăm là lắm khi họ vui miệng vô tình tố cáo lỗi lầm của họ hay tấn công bạn thân hay người nhà của kẻ nghe họ.

Xét cho kỹ, hầu hết những cuộc phơi bày gan ruột đều tại tinh thần yếu nhược. Không chịu đựng nổi trước sức tấn công vũ bão của dư luận, đầu hàng dưới sự rúc rỉa của đau khổ, khum đầu nô lệ sự tìm hiểu, ăn mày lời khen của kẻ trên người dưới, mất tự tin để tự cường hầu tự lập ! Tất cả đều là những nguyên nhân chánh của bạn tâm sự vô ích. Vẫn biết trong cuộc sống thường nhựt, đôi khi sự cởi mở gây sự tin cậy, nhưng ta phải cẩn thận lắm mới khỏi sa vào lưới bẫy của thày lay là chứng của tánh đa cảm, một thứ tánh nếu thiếu gọng kiềm của đức trầm mặc sẽ xô đẩy con người đến tật đa ngôn, tật « nói toạc móng heo » các chuyện tâm hồn, chuyện bí mật, chuyện không nên nói. Do đó có thể làm mất đức công bình, đức bác ái.

b) Một quái tánh nữa cũng làm hại đời sống nội tâm như chứng bàn tâm sự vô ích là chỉ trích. Óc phê bình theo tinh thần khoa học, nghĩa là biết ngạc nhiên, tìm nguyên nhân lý do, sự kiện, kết quả, thí nghiệm, chứng minh, chỉ tin điều gì mình có thể kiểm soát được v.v… óc đó đáng phục. Nhưng chỉ trích thì nhứt định ít khi đáng khen.

Ở đời có kẻ thận trọng mà cũng có kẻ ba chớp ba sáng. Tật vô ý, cẩu thả, vụt chạc của con người phải chịu lúc vô bờ bến, đến đổi bạn không dè. Nhiều khi chuyện không có gì hết, người ta dám nói ra như núi chuyển bụng. Người ta cũng dám trắng trợn chuyện có nói không chuyện không nói có. Biết bao nỗi bất thuận, chia tay, nghi kỵ, thù hiềm dưới bóng mặt trời, đều lo những ngọn lưỡi đòn xóc, thèo lẻo, thêm dưa thêm hành, chỉ trích vì ganh tị, vì ham lợi vì kiêu căng, vì nhẹ dạ, già hàm. Người bị công kích mất uy tín, mất thanh danh, hao của, tốn công, phí giờ, thua buồn bỏ nhiều công việc. Bạn nghĩ sao về những lời chỉ trích ? Thành ra, thưa bạn, cứ chung mà nói, lời chỉ trích ít khi tránh khỏi gây tai hại. Có thấy thừa không, khi tôi xin bạn để ý phản ứng tâm lý oái oăm và chua chát của người nghe. Là khi ta chỉ trích ai, ta tạo cho gương mặt thái độ vút vác, ta nói như nước vỡ bờ, có khi láo hay nói lố nữa để kẻ nghe tin. Cho người nông nổi thì thôi. Chớ cho người có một chút vốn học thức, kinh nghiệm họ nghi kỵ ta và bắt đầu thủ, ngán ta ngay. Người ta suy luận rằng nếu bữa nay ta có thể chỉ trích người vắng mặt như vậy, thì mai kia mốt nọ, ta vẫn có thể chỉ trích họ. Ta chỉ trích kẻ khác nhiều khi có ý chứng minh rằng ta vô tội, mà ngay khi ta tưởng và muốn kẻ khác tin mình vô tội, là ta đã ít ra phạm tội nói xấu thiên hạ rồi.

c) Rồi chắc bạn dư biết có những ngọn lưỡi nọc rắn, chuyên môn gieo hoang mang, chán nản, bi quan. Bạn hăng say đóng góp công tác, mà thấy tư lợi mỏng manh, thấy hao công tốn của ; hy sinh đã không ai nhận thấy, khen thưởng lại bị ganh tỵ, hiểu lầm. Bạn gặp họ. Họ vạch cho bạn thấy những điểm đen đó. Đánh lạc bạn khỏi lý tưởng, họ tạo cho bạn tinh thần chán nản. Bạn bắt đầu tiêu cực hoạt động. Nhiều tâm hồn thân thiết nhau, đang vựa cật đấu lưng làm những việc bổ ích cho đời, bị nọc rắn của ngọn lưỡi họ mà ly gián, thù địch nhau. Lắm khi lời chỉ trích không do ác tâm, mà chỉ lo nhẹ dạ song vẫn gây tai họa không nhỏ. Tôi đã biết hoàn cảnh bi đát của một người. Một tuổi xuân nọ đang thẳng tiến trên con đường lý tưởng. Vì thiện chí, vì tinh thần đại cuộc, vì muốn tranh đấu cách thực và hiệu lực cho lý tưởng, tuổi xuân ấy tạo nhiều công trình văn hóa khả quan. Nhưng một số đồng nghiệp, một số thượng cấp, cứ cắt nghĩa xấu thiện ý, thi đua nhau vạch lá tìm sâu, dùng đủ hình thức để xuyên tạc, chỉ trích, nhận danh tiếng xuống đất đen. Kết quả là cuộc đời của anh bị một thời bôi lọ, khinh rẽ trong cô đơn, thất bại, bi quan, sầu thảm. Tôi thấy người ta xử với anh nên không bàn đức bác ái, thì ít ra bằng đức công bình chớ. Bao nhiêu lời nói hoặc vì ác tâm thù hại, hoặc vì nhẹ dạ thày lay, hoặc vì muốn khoe tài thông hiểu, trống miệng : tất cả gây vô cùng tai hại trong không biết bao nhiêu cuộc đời. Bây giờ bình tĩnh xét tâm lý của sự làm thinh và sự nói ta thấy coi cái nào có lợi hơn.

7. Càng thinh lặng, tâm hồn càng dũng. Có dũng trong tâm hồn con người mới dũng trên gương mặt, trong điệu bộ và ngôn phong. Trong cái dũng, con đẻ của thinh lặng, không có cái thô bạo. Mà sáng lên bởi những nét êm dịu, khả ái vì thanh cao, siêu thoát. Có khi nào bạn nghĩ đến thinh lặng vĩ đại của cảnh trời bao la, lồng lộng trên đầu ta không ? Khi loài người tội lỗi, khi có ai chưởi bới trời, trời trả lời bằng cái làm thinh cảnh cáo : bạn có nghe khiếp không ? Đạo Thiên Chúa dạy rằng đến tận thế Thượng Đế mới thưởng phạt con người. Sự thinh lặng nhờ đợi của Thượng Đế làm tôi rùn rợn quá. Nói theo tinh thần thần-học, thinh lặng là bí quyết của những tâm hồn sâu sắc giao cảm với thế giới thần linh. Trong thinh lặng, Thánh linh hoạt động nơi tâm hồn thánh. Trong thinh lặng, các thánh nhân nếm nguồn khoái lạc khó tả do cảnh thanh bình, yêu mến, vậy trông Thượng Đế. Điều tôi viết đây chắc có bạn không quan tâm lắm, không quan tâm chắc tại vì tôi có ngòi bút vụng về mà không làm nổi bật được nó. Phước thay những cõi lòng biết thinh lặng, trầm mình trong khối thinh lặng của vũ trụ. Hởi Thinh lặng ! Ngươi cao cả quá, chính Tạo Hóa đã dùng ngươi mà tạo sự sống, tạo sự chết. Có ai nghĩ đến ngươi mà không kính sợ không ? Thưa bạn, nhiều người tiếp chuyện với ta ít nói, thường làm thinh, cười, ngó ta, rờ rẩm đồ vật nào đó, lóng tai nghe ta nói, không lo thuyết phục ta, mà ta phục, ta mến và thấy thích gặp họ, sống gần gũi họ. Trái lại có nhiều như nước thứ người gặp ta, nói đủ thứ chuyện, tìm đủ mánh lới dẫn dụ ta, hỏi ta tía lia, vuốt đuôi câu chuyện ta, ừ dạ liên miệng và dù kẻ ấy khéo môi mép thể nào sự giả dối ở đâu từ bụng dạ họ chui ra trên khóe mắt, trong nụ cười, trong cử chỉ làm bạn bớt tin lời họ, mặc dầu họ cứ nhấn mạnh rằng họ nói thật, làm bạn dần dần chán họ xa họ và mỗi lần giao tiếp với họ bạn có cảm tưởng như là ngục hình. Những tâm hồn non nớt, nông cạn không thấu nỗi góc cạnh tâm lý nầy. Họ tưởng đâu càng đa ngôn càng bảo người ta mến mình, là mình được thích. Họ không dè trong khi họ tốn bao hơi phổi để gây oán ghét, thì người trầm mặc chỉ thinh lặng thôi đã xâm chiếm tâm hồn kẻ gần gũi.

Nhiều khi ta già hàm, đem những bí mật gieo rắc trong câu chuyện nói chỉ vì ta non tinh thần, tìm kiếm cho tâm hồn được vơi nhẹ. Ta căn dặn kẻ nghe giữ một mình họ biết. Nhưng lòng ta kia mà còn tự nộp. Ta kia mà còn không giữ được cõi lòng mình, thì tại sao ta tin kẻ nghe ta cẩn ngôn, lo gìn giữ bí mật cho ta hơn. Phần đông con người đa ngôn mà. Người ta cũng thích nói về thiên hạ, nhất là tọc mạch bươi móc điều bí mật, chuyện lỗi lầm kẻ khác mà. Nhốt bí mật trong lòng bạn mà bạn còn thấy ngột ngạt muốn thả ra huống hồ bạn đã gieo vào đầu lưởi người nghe bạn. Nguy hiểm nhứt là kẻ ấy, vì lý do nào đó, không còn lạm dụng bạn nữa chẳng hạn, đã đổi bạn thành thù bạn. Bạn nói : « Tôi coi lựa toàn bạn thân để nói. » Trời ôi ! Thưa bạn, trên đời tôi được mấy Bão Thúc, còn bạn được mấy Bá Nha. Bạn liệu khỏi gặp những tên dụ lợi, môi mép, nông nổi xã giao qua đường không. Mấy lúc bị tố cáo mà thấy lời nói minh oan không cần lắm thì làm thinh là lá bùa thần diệu để gây tín phục. Có nhiều thứ lỗi khi ai bị cáo mà bạn ó lên chối, có thể bị thiên hạ nghi là đắc tội. Cứ chung nếu đúng là tâm hồn quân tử, nuôi một lý tưởng, sống theo một chương trình, chỉ nói làm điều gì đã già giặn suy nghĩ, thì cần gì sự quảng cáo của loài người. Những vĩ nhân, thánh nhân kia mà còn phần nhiều bị người đồng thời hiểu lầm, bắt bớ huống hồ bọn phàm như tôi và bạn. Một luật sắc cần tuân theo là luôn tự kiểm. Hãy coi lại lý tưởng của mình. Nung nấu người nhiệt huyết hoạt động. Lúc nào cũng sẵn sàng học hay chữa dở. Tin tưởng thành công sau cùng mà thời gian sẽ xây dựng cho ta. Thời gian thường giết chết nổi ái tình là thứ tình mạnh như vũ bão thì nó cũng có thể bắt miệng đời trở lưỡi như cờ trở gió để nhìn nhận giá trị của bạn. Vậy bạn cần hành thiện và cứ thinh lặng.

Trong cuốn « Pratique delavle », André Arnoux nói : « Bạn nói để tự khoe, để tăng giá trị sự tế nhị của bạn, thường bạn nhắm sự kiêu ngạo hơn là ích lợi ». Lời nầy có giá trị vàng ngọc. Trong quyển « Thuật nói chuyện », tôi đã nói rộng vấn đề nầy. Ở đây tôi chỉ xin bạn để ý cần nghiêm trang cân đo lợi hại trong lời nói. Bộ lưỡi lắm lúc giống cái bản lề không con vít, nó lỏng xịch, ta muốn nói gì thì nói, nói rồi quên mất, vô tư, điềm tĩnh. Thành ra mỗi ngày ta đã không tiến bộ trong sự thuyết phục mà còn gây ác cảm. Tôi thấy vài nguyên tắc dưới đây phải giúp ta xử dụng ba tấc lưỡi.

1) Nếu liệu nói không hơn làm thinh thì làm thinh là thượng sách.

2) Trong công chuyện rán thinh lặng được chừng nào hay chừng nấy, miễn sự thinh lặng không tạo bầu khí nghi kỵ, tang ma, bất lợi cho sự thành công.

3) Vấn đề không phải là nói hay không nói, mà là thu phục lòng người, truyền cảm, truyền tinh, truyền ý. Mà đoạt các mục đích ấy đâu phải chỉ có nói. Một khi thấy nói vô hiệu, còn làm thinh có giá trị hơn, thì tại sao không làm thinh. Người ta thường không để ý ma lực của thinh lặng tưởng cho đặng chinh phục tâm hồn chỉ có nói và nói. Trong một đêm lịch sử nọ, bị môn đồ lớn nhứt là Phê-Rô nộp cách nhục nhã, Chúa Giêsu có nói gì, chỉ nhìn thôi mà đã cải hóa được Phê-rô, làm ông nầy cả đời hối hận, trở thành đại thánh.

4) Trong lãnh vực giáo dục tuổi trẻ, sự thinh lặng lắm lúc đắc lực hơn lời nói. Có nhiều lỗi của nhiều đứa trẻ cần lời cảnh cáo. Có nhiều lỗi của nhiều đầu xanh nam nữ hay người lớn không cần cảnh cáo gì cả. Thái độ thinh lặng của thượng cấp nói rất nhiều với kẻ dưới. Không ít tâm hồn tế nhị mặc dầu còn non nớt trên bước đường đời, lúc phạm lỗi xong, lòng họ tràn trề sự đau khổ vì hối tiếc. Lời chỉ trích của ta đối với họ giây phút ấy không cần, có khi dồn lòng tự ái đến chổ chót, sinh ra những phản ứng không hay, nhứt là lúc lòng hối hận cũng đến chỗ lờn.

5) Giữa người đi và kẻ ở, sự thinh lặng tác động trên tâm hồn mạnh mẽ. Ai khéo làm thinh buổi chia tay sẽ gieo trong cung lòng kẻ mình yêu mến muôn nghìn buổi nhớ. Trên đường tình ái thinh lặng là bí quyết lòng dùng nói với lòng. Cái « Tình trong như đã mặt ngoài còn e » của Kim Kiều, cái « Hai bên cùng liếc hai lòng cùng ưa » của Từ và Kiều, đều là con đẻ của thinh lặng một phần lớn. Trong quyển « Đời Uyên Ương » có chỗ tôi viết : « Tình vợ chồng không phải là tình quảng cáo kiểu sơn đông bán thuốc rượu. Nó cần những phút thinh lặng để lớn mạnh từ chìu sâu đến chìu rộng. Từ bản chất, nó kỵ những lời nói đường mật môi mép ». Người ta yêu nhau bằng tâm hồn chứ không bằng tướng diện mà lòng chỉ sâu khi bình lặng.

6) Ngay khi muốn ca tụng ai, những lời « xông hương » đình đám nhiều lúc chỉ có giá trị xã giao, có thể làm cho người được khen đỏ mặt. Vài tiếng tán dương xác đáng với thái độ thinh lặng, một mặt đề cao giá trị kẻ ta khen, mặt khác làm cho họ không tưởng ta nịnh hót, thưa bạn, sẽ làm họ mến phục ta sâu thẳm.

7) Trước máy vi âm để diễn thuyết, thuyết giáo hay giảng bài những phút thinh lặng khéo dùng, sẽ gây uy tín đặc biệt cho lời nói. Nói thao thao bất tuyệt dù có tiếng to đầy ý hay lời đẹp đến đâu mà không biết nghĩ để gây chú ý, người nói khó bề thuyết phục thính giả. Riêng về ảnh hưởng của biện thuyết, không phải chỉ nói liên tục rồi chân lý được hấp thụ. Cần biết nhìn, biết làm thinh để gây chú ý để ý hay khắc tạc tung tâm hồn người nghe.

Riêng về thuật nói, xin bạn đọc riêng những nguyên tắc tôi đã bàn trong quyển « Thuật hùng biện ». Ở đây bạn chỉ để ý mấy bí quyết gốc. Điều gì cần nói phải bằng cách gây ấn tượng trong bầu khí thinh lặng. Nói lải nhải, nặng nề chi tiết làm người nghe quên mất những cần thiết tranh cải những điều phụ thuộc rồi đánh lạc mục đích thuyết phục của bạn.

Không ai hiểu ta bằng ta và khi ta hiểu ta thì đừng hễ ta nói ai cũng dễ dàng hiểu ta. Bạch Cư Dị, Molière lúc sinh tiền còn nhờ người nhà nghe thơ văn của mình rồi mới có ý nghĩ phổ biến. Những ngòi bút bực thầy trong nhân loại mà còn vậy huống gì tôi và bạn. Dù có nói đến đâu ta cũng chưa chắc làm cho kẻ nghe ta thấu đáo ta. Cái câu « Suy bụng ta ra bụng người » đừng áp dụng thường trong câu chuyện. Muốn ra một lệnh, nhờ ai một việc gì ta nói sơ sịa ra dấu, nói lẹ lẹ, tắt tắt... rồi hỏi hiểu không, hiểu không, rồi thôi... Gặp những người vụt chạc, kẻ nông cạn không hiểu. Kết quả là ta tốn hơi phổi cách vô ích, mà thất bại, lỗi tại ai ? Tại người vô ý ? Có. Tại người bất tài, vô đức ? Cũng có. Mà nhứt định là tại ta thiếu kỹ lưỡng. Ta bị tánh vục chạc cầm cương, nên khi nói muốn nói nhanh. Mục đích của nói làm cho kẻ nghe hiểu, ta quên mất, và coi nói là giải thoát ý tưởng, tâm tình, nói cho xong chương trình nói, chớ không lưu ý sự truyền ý, truyền tình, truyền cảm.

Có thể bạn quên điều gì nhưng khi muốn nói bạn cố nhớ chỉ nói cho kẻ cần nghe, vào lúc phải nói, đúng nơi nên nói, và nói thì nói có văn chất, văn sắc, văn khí, văn vị, văn phong. Tôi muốn bạn hiểu văn chất là những ngôn từ gieo chân, thiện, mỹ, phúc ; văn sắc là lớp áo từ hoa, ý hoa làm cho ý được thèm thuồng ; văn khí là hơi văn thu hút tâm hồn thính giả ; văn vị là những tình ý, những giọng điệu gây âm vang lâu bền trong cân não kẻ nghe ; văn phong là tư thái cao nhã, trí thức bộc lộ tâm hồn quí đẹp của người nói.

8. Trở lên là bàn về trầm mặc của lời nói. Chắc bạn hỏi tôi sự điềm tĩnh của gương mặt ? Sự điềm tĩnh nầy trọng hệ cho việc luyện thành người bản lĩnh. Có những gương mặt nói lên chí cang cường, lòng thanh thản, hồn vui tươi. Nhưng cũng có những sắc diện biểu lộ óc bạc nhược, tánh lóc chóc, niềm sầu thảm. Hãy lợi dụng ý chí để cản ngăn những thái độ bất ngờ, trên gương mặt. Những phùng mang, trợn mắt, nheo mày, nhíu mắt, trề môi, hất cằm v.v... nếu lạm dụng sẽ làm cho gương mặt liếng xáo, có cái vẻ mà tiếng thời đại gọi là « láo cá ». Những tác vi ấy về mặt tâm lý, khiến tâm hồn náo động, cuộc sống cạn hẹp, về đường xã giao, làm cho tha nhân ít kính phục nếu không khinh ra mặt. Hễ sắc diện nghiêm trang dọn đường và yểm trợ lời nói bao nhiêu, thì sắc diện khỉ khọt cũng phá hoại giá trị của nó bấy nhiêu. Còn những cử điệu của tay chân ? Đức điềm đạm trong tâm hồn cần những cử điệu trầm tĩnh của tay chơn như thân thể cần thực phẩm. Những năng lực tinh thần khó bề hoạt động khi nội tâm xao xuyến và nội tâm không dễ gì yên ổn, nếu ngũ quan luôn giao động. Điều nầy không khó hiểu lắm vì khi ngũ quan máy động, sự chú ý bị giảm năng lực. Mà chú ý không dồi dào thì các hoạt động tinh thần kém đắc lực. Hãy nghe André Arnoux nói chí lý : « Thinh lặng cần cho tâm hồn cũng như ánh sáng cần cho gương soi. » Dĩ nhiên không phải bất cứ máy động nào của chân tay đều làm giảm khí lực của tâm hồn. Có thể nói trong một guồng máy, máy rồ thì xăng hao, đèn cháy uống dầu tốn tiền thì người hay múa máy cách vô ý thức và vô ích làm tâm hồn suy nhược. Nhưng khi để ý luyện chí, đặt cho ý chí một giây cương thì dù ở giữa chợ, dù phải làm một công việc náo động chơn tay, tâm hồn vẫn điềm tĩnh. Mà trong các trường hợp nầy kinh nghiệm tâm lý cho biết trở lực do huyên náo ngoại giới càng nhiều, ý thức cố gắng tự chủ nội tâm càng cao thì dũng khí càng dồi dào. Một cơ quan nên giữ cẩn thận nhứt là trong các ngũ quan là cặp mắt. Rủi mù mắt thì thôi miễn bàn. Nhưng thị quan lành mạnh, khi muốn tâm hồn trầm mặc, phải tránh sự ngó láo liêng. Đưa đà mắt ngó chậm chậm, ít chớp mắt, tinh thần dễ tập trung, bình yên để ngự trị trong tâm hồn. Trong khi gương mặt điềm đạm, phải lo kiềm hãm não tưởng tượng. Chế ngự nguyên nhân náo động hai mặt như vậy con người mới quả thực cường dũng.

9. Sau khi nghiên cứu sự hệ trọng cùng những hậu quả tốt đẹp của đức trầm mặc, ta thấy nó đích thị là chìa khóa của người Bản Lĩnh. Một mặt nó tập trung khí lực bằng cách chiến thắng những nguyên nhân gây náo động trong ta, mặt khác làm điều kiện cho các nhân đức lớn mạnh.

KHUÔN VÀNG THƯỚC NGỌC : « TẠI SAO THƯỜNG HỄ GẶP RẮN NGƯỜI TA RƯỢT ĐẬP, CHỈ TẠI NÓ PHÁ HOẠI. HÃY PHỤC VỤ, SÁNG TÁC HƠN LÀ CHỈ TRÍCH, THỤ HƯỞNG. »

Trong cuộc sống đối kỷ và đối tha, người ta thường té vào hai thái cực nầy. Là nếu không cứng cỏi đến cường bạo thì mềm mỏng đến bạc nhược. Cộc cằn một mặt tố cáo chất dã man của tâm hồn, mặt khác gây ác cảm. Do đó nội tâm thiếu tế nhị, công việc không được nhiều người hợp tác. Sống giữa xã hội mà như một Lỗ Bình Sơn trên hoang đão. Đời trở thành vô vị đúng như lời Thánh Kinh nói : Khốn nạn cho kẻ cô độc.

Còn tánh bạc nhược có thể gây thiện cảm. Nhưng tâm tình nầy xây dựng trên tình thương hại, để đi đến khinh bỉ, mất tín nhiệm. Nội tâm kẻ bạc nhược không siêu thoát vì thiếu những tâm tưởng cao thượng.

Cả hai thứ tánh nói trên đều là quân thù của người bản lĩnh. Người bản lĩnh chính tông là thứ người nói theo Lão Tử là « nhu nhi bất nhược, cường nhi bất cương ». Nội tâm của họ có lý tưởng riêng, có chương trình hoạt động đặc biệt, có lập trường dứt khoát ; nhưng ngoài diện xử đối với bất cứ mọi người mềm như chuối, len lỏi như nước. Nói tắt người bản lĩnh, lý tưởng của bạn, là người cứng mà không cộc, mềm mà không yếu.

HOÀNG-XUÂN-VIỆT

Loại Sách Học Làm Người TRÌNH-BÀY NHỮNG LOẠI SÁCH GIÁ-TRỊ XỨNG ĐÁNG NẰM TRONG TỦ SÁCH GIA-ĐÌNH CỦA QUÝ NGÀI 1. Bắp thịt trước đã 2. Bí quyết làm cho đời vui tươi 3. Muốn học giỏi

4. Con đường hạnh-phúc 5. Sống vui

6. Người lịch sự

7. Tâm lý bạn trai

8. Tâm lý bạn gái

9. Thuật yêu đương

10. Cái dũng của thánh-nhân 11. Óc sáng suốt

12. Tôi tự học

13. Người con trai nên biết về vấn đề nam-nữ

14. Xã giao hằng ngày 15. Người chí-khí

16. Muốn nên người

17. Vợ chồng

18. Quẳng gánh lo đi và vui sống 19. Thuật tư-tưởng

20. Làm lại sức khỏe 21. Thuật nói chuyện

22. Một nghệ-thuật sống

23. Người con gái sắp lấy chồng nên biết 24. Đông-lai bác-nghị

25. Rèn nhân-cách

26. Thuật xử thế của người xưa 27. Tổ-chức gia đình 28. Hạnh phúc gia đình 29. Gương nghị lực

30. Làm bếp giỏi

31. Dạy con

32. Tôi có thể nói thẳng với anh 33. Thể dục phụ nữ

34. Túi khôn của loài người 35. Ái-tình và hôn nhân 36. Đức tự-chủ

37. Ngón thần để luyện tâm 38. Nghệ-thuật nói trước công chúng 39. Tinh thần tháo vác 40. Một nghệ thuật đọc sách báo 41. Đời sống lứa đôi 42. Huấn-luyện tình-cảm 43. Sống lạc quan

44. Trau dồi ý chí

45. Muốn thành công trên đường đời 46. Luyện trí nhớ

47. Tâm-lý ái tình

48. Đức điềm tĩnh

49. Sống đơn giản

50. Chiến thuật chiếm một chỗ làm 51. Tình bằng hữu

52. Bảy bước đến thành công 53. Tâm-lý quần-chúng 54. Biết người

55. Đời đang lên

56. Nghệ thuật làm đẹp cuộc đời 57. Giáo dục sinh lý trẻ em 58. Gương thành công 59. Thuật chỉ huy

60. Xã giao mới và các nghi lễ

61. Nghệ thuật làm vợ

62. Gia đình giáo dục

63. Người hữu dụng

64. Người phi thường

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.