Người Mỹ Trầm Lặng - Chương 2

CHƯƠNG II

Cái buổi sáng tôi tới quảng trường trước khách sạn Continental, tôi đã chán ngấy các ông bạn đồng nghiệp trong làng báo chí Mỹ, người lớn mà vẫn con nít, kềnh càng và ồn ào, lúc nào cũng tuôn ra những lời châm biếm chua chát đối với người Pháp, dù sao họ cũng là những người phải đánh nhau trong cuộc chiến tranh này. Từng thời kỳ, khi một cuộc giao chiến chấm dứt, khi mọi việc đã được xếp đặt đâu vào đó, những người chết và bị thương đã được mang khỏi chiến trường, họ được mời ra Hà Nội, phải bay non bốn giờ, nghe một bài diễn thuyết của vị tổng tư lệnh và ngủ một đêm tại một trại báo chí, nơi mà họ cho rằng có người phục vụ rượu cừ nhất toàn Ðông Dương; người ta cho họ bay trên nơi vừa diễn ra trận đánh, ở độ cao nghìn mét, ngoài tầm bắn của đại liên; họ lại được đưa trở về một cách an toàn, đỗ xuống khách sạn Continental, ồn ào như một đám học sinh sau một buổi đi ăn bữa cơm ngoài trời.

Pyle lặng lẽ, hắn có vẻ khiêm tốn, đôi lúc trong ngày đầu tiên đó, tôi phải cúi xuống mới nghe rõ hắn nói gì. Và hắn nghiêm trang, rất nghiêm trang. Nhiều lần, hắn như tự co lại khi nghe thấy những tiếng ồn ào mà các nhà báo Mỹ gây ra từ tầng gác cao nhất, tầng mà những người dân thường cho rằng không thể đáp lựu đạn tới được. Nhưng hắn không chỉ trích ai.

– Anh đã đọc York Harding chưa? – Hắn hỏi tôi.

– Chưa. Chưa, tôi tin rằng tôi chưa đọc. Anh ta viết những gì?

Pyle chăm chăm nhìn một cửa hàng bán những đồ uống làm từ sữa bên kia đường phố và nói một cách mơ màng:

– Bên kia như có một dòng suối sô–đa ngon lành.

Tôi tự nghĩ có một chiều nhớ tổ quốc sâu thẳm nào đó đã khiến hắn chọn một điểm để ngắm nghía một cách kỳ lạ như vậy giữa bao nhiêu thứ trong cái quang cảnh nước ngoài lạ lùng này. Nhưng nghĩ lại bản thân khi lần đầu tôi đi dọc phố Catinat, tôi chẳng trước hết chú ý tới tủ hàng trưng bày những lọ nước hoa mang nhãn hiệu Guerlain là gì và tôi thấy ấm lòng nghĩ rằng từ đây về châu Âu cũng chỉ mất 30 giờ đồng hồ. Hắn ta như luyến tiếc mãi khi thôi không nhìn cửa hàng bán sữa. Hắn nói:

– York đã viết một cuốn sách nhan đề Những bước tiến của Trung Hoa đỏ. Ðó là một cuốn sách rất sâu sắc.

– Tôi chưa đọc. Anh quen với tác giả à?

Hắn gật đầu một cách trịnh trọng và lại chìm đắm trong một sự im lặng, lát sau, hắn nói để làm thay đổi cái cảm giác hắn có thể gây cho tôi:

– Tôi cũng không quen tác giả nhiều lắm. Thật ra tôi chỉ gặp anh ta có hai lần.

Ðiều hắn làm tôi ưng ở hắn là hắn chỉ dám cho mình quen biết anh chàng anh chàng gì nhỉ? Là York Harding, là một sự khoác lác. Sau này tôi mới hiểu, hắn ta vô cùng kính nể những người mà hắn gọi là những nhà văn nghiêm chỉnh. Cái từ này loại trừ những người viết tiểu thuyết, những nhà thơ và những nhà viết kịch, trừ khi họ đi vào đề tài mà hắn gọi là đương đại và ngay cả trong trường hợp này, tốt hơn hết là đi thẳng vào sự kiện, vào những tư liệu nguyên thô như người ta thấy trong tác phẩm của York.

– Anh phải biết rằng khi người ta sống lâu năm tại một nước, tôi nói, – thì người ta hết muốn đọc những cuốn sách viết về nước đó.

– Lẽ tất nhiên, tôi quan tâm đến việc những người sống tại chỗ có những điều gì muốn nói, – hắn thận trọng trả lời tôi.

– Sau đó anh thẩm tra lại qua các tác phẩm của York.

– Ðúng vậy – Có lẽ hắn ta nhận được ý mỉa mai trong câu hỏi của tôi, vì hắn nói thêm với vẻ lễ độ thường có. Tôi tự coi như được rất ưu đãi nếu anh dành được một chút thời giờ cho tôi biết những điểm chính của tình hình. Anh hiểu đấy: York đã xa nơi đây hơn hai năm rồi.

Thái độ sòng phẳng của hắn đối với Harding làm tôi vui lòng dù Harding là ai đi nữa. Hắn không giống như những tên bạn của hắn chỉ biết chê bai và trâng tráo một cách ấu trĩ.

– Chúng ta hãy làm thêm một chai bia thứ hai, tôi nói, tôi sẽ thử cho anh hiểu về tình hình hiện nay.

Tôi bắt đầu nói và hắn nhìn tôi chăm chú như một học trò ngoan. Tôi giải thích về tình hình phía Bắc – xứ Bắc Kỳ – nơi mà hiện nay người Pháp đang cố bám lấy châu thổ sông Hồng, nó gồm cả Hà Nội và cái cảng độc nhất của miền Bắc là Hải Phòng. Ðó là nơi có những cánh đồng lúa và khi gió mùa về là lúc diễn ra cuộc chiến đấu hàng năm để giành giật thóc gạo.

– Ðấy là tình hình miền Bắc, tôi nói, những người Pháp tội nghiệp có thể cầm cự được, nếu những người Trung Hoa không tới giúp đỡ cho Việt Minh. Ðây là một cuộc chiến tranh giữa nơi rừng núi và ruộng lầy, những nơi người ta lội nước đến tận vai và quân thù bỗng biến mất, chôn vũ khí và khoác bộ áo nông dân vào người. Nhưng họ có thể chết mục giữa những tiện nghi đầy đủ trong sự ẩm ướt của Hà Nội. Họ không thả bom xuống đó, trời cũng không hiểu tại sao. Người ta có thể nói đó là một cuộc chiến tranh kiểu chính quy.

– Còn ở miền Nam này?

– Người Pháp kiểm soát được những đường giao thông chính cho tới bảy giờ chiều; sau đó họ kiểm soát được các chòi canh và một phần của các thành phố. Ðiều này không có nghĩa rằng ở đây được an toàn, vì nếu thế thì chẳng cần có lưới thép trước các tiệm ăn nữa.

Không biết bao nhiêu lần tôi đã phải giải thích về những điều này. Tôi thấy tôi như một cái đĩa hát mà người ta quay cho bất kỳ kẻ nào mới tới nghe: những nghị viên của Quốc hội, ngài bộ trưởng mới của Anh quốc. Có khi tôi thức giấc ngay giữa đêm, miệng nói lảm nhảm: “Hãy xem trường hợp những người theo đạo Cao Ðài hay những người theo đạo Hoà Hảo, bọn Bình Xuyên hay tất cả những đội vệ binh đánh nhau thuê vì tiền hay vì thù hằn lẫn nhau”. Những người nước ngoài coi đó thật ngoạn mục, nhưng có điều gì là đẹp đẽ trong sự ngờ vực hay phản trắc?

– Và bây giờ, – tôi nói tiếp, – là tướng Trịnh Minh Thế. Lão ta đã là tham mưu trưởng của quân đội Cao Ðài, nhưng đã đi vào rừng để đánh lại cả hai bên, quân Pháp và quân Cộng sản.

– York đã viết, – Pyle nói, – rằng cái cần phải có ở phương Ðông là một lực lượng thứ ba.

Có lẽ lúc đó tôi đã phải nhận thấy trong mắt hắn ánh lên sự cuồng tín, thấy sự phản ứng mau lẹ của hắn trước những công thức đã được thừa nhận, hay trước ma lực của những số thứ tự như Ðội quân thứ năm, Lực lượng thứ ba, Ngày thứ bảy. Tôi đã tránh được cho tất cả mọi người cho cả Pyle nữa, biết bao nhiêu sự phiền toái, nếu như tôi hiểu được bộ óc non trẻ và không mệt mỏi của hắn đang hoạt động theo phương hướng nào. Nhưng tôi đã để hắn trước cái hậu cảnh lởm chởm những thây ma đó và tôi đi bách bộ hàng ngày dọc phố Catinat. Hắn phải tự tìm hiểu được cái hậu cảnh thật, cái hậu cảnh nó giữ người ta ở lại đây mãnh liệt như một thứ hương thơm: những cánh đồng rực vàng khi mặt trời sắp lặn nom dẹt đi; những chiếc vó mắc vào bộ gọng mảnh khảnh bay lên bay xuống như những con muỗi khổng lồ trên những cánh đồng; những chén nước trà uống với vị thầy tu già trên gác thượng của tu viện, bên chiếc giường, cuốn lịch quảng cáo, những chiếc xô, chiếc chén mẻ, như những vật trôi dạt của cả một cuộc đời mà thời gian đã vứt bỏ lại quanh chiếc ghế tựa của thầy; những chiếc nón lá của các cô con gái sửa đường nơi một quả mìn vừa nổ; màu kim tuyến, màu xanh non và chiếc áo dài sặc sỡ ở miền Nam; màu nâu thẫm, những bộ quần áo thâm, vòng núi do phía bên kia chiếm giữ, tiếng máy bay ù ù ở miền Bắc. Khi mới tới, tôi đếm từng ngày trên cuốn lịch. Tôi tưởng tôi gắn bó với cái gì còn sót lại của một quảng trường thành phố Bloomsbury, với chuyến xe hơi công cộng số 73 chạy qua cổng Euston và với cái quán ăn tại quảng trường Torrington khi mùa xuân tới. Lúc này dù hoa huệ hay tulip có thể đang nở trong công viên, tôi cũng chẳng hề quan tâm. Tôi chỉ ham sống những ngày có những tiếng nổ đanh gọn, có thể là tiếng nổ của xe máy hay của lựu đạn, tôi chỉ muốn nhìn theo bóng dáng những người mặc quần lụa thâm duyên dáng đi lại trong bầu không khí nóng ẩm của phương Nam, tôi chỉ ao ước Phượng và tổ ấm của tôi đã xê dịch đi tới mười lăm nghìn ki–lô–mét.

Tôi đi vòng qua dinh Cao uỷ, nơi những tên lính lê dương đội mũ kê–pi trắng và đeo ngù vai sặc sỡ đứng gác, qua đường sát Nhà thờ Lớn và lộn lại dọc theo tường của Sở Liêm phóng Việt Nam, nơi mùi nước tiểu và cả sự bất công toả ra sặc sụa. Và những cái đó cũng trở thành của quê tôi y như những hành lang tối om trên tầng gác cao của nhà tôi xưa, những nơi mà lúc nhỏ người ta cố tránh. Những số mới xuất bản của những tờ tạp chí khiêu dâm như cấm kỵ và ảo ảnh, đã được trưng bày ở các giá hàng, gần với bến cảng; những lính thuỷ nốc rượu bia trên vỉa hè; những cái đích rất ngon cho một quả bom tự tạo. Tôi nghĩ tới Phượng lúc này có lẽ đang mặc cả mua cá tại đường phố thứ ba về phía tay trái, trước khi cô đi ăn nhẹ ở hiệu bán sữa vào hồi mười một giờ, vào thời đó, tôi có thể tìm thấy Phượng bất cứ ở đâu và vào giờ nào và tất nhiên đầu óc tôi không cần bận tâm nghĩ đến Pyle nữa. Tôi cũng chẳng nói về hắn ta với Phượng khi chúng tôi ăn bữa sáng ở phòng tôi, trên gác khách sạn phố Catinat. Hôm đó, Phượng mặc chiếc áo dài lụa hoa đẹp nhất của cô, vì hôm đó là ngày kỷ niệm hai năm trước đây chúng tôi gặp nhau ở Chợ Lớn, tại Ðại Thế Giới.

Chúng tôi không ai nói đến tên hắn khi ngủ dậy, sau hôm hắn chết Phượng đã dậy trước khi tôi tỉnh ngủ và đã pha trà xong. Người ta ai lại còn ghen với người đã chết và sáng hôm đó tôi thấy như dễ dàng sống lại với Phượng cuộc sống ngày xưa.

– Tối nay cô ở lại đây? – Tôi hỏi Phượng với một vẻ cố làm ra tự nhiên nhất, khi tôi ăn chiếc bánh sừng bò.

– Em phải đi mang hòm của em về.

– Có lẽ cảnh binh đang ở đó. Ðể tôi đi cùng cô thì hơn.

Trong những lời chúng tôi nói với nhau ngày hôm ấy đó là những câu bóng gió gần nhất về hắn.

Pyle có một căn hộ trong một biệt thự mới gần phố Duranton, một phố kề ngay những đại lộ mà người Pháp luôn chia lại để gán cho những tên tướng của họ, vì thế mà quãng phố De Gaulle từ ngã tư thứ ba trở thành phố Leclerc và phố này trước sau chắc sẽ đột nhiên thành phố de Lattre. Chắc có một nhân vật quan trọng nào từ Âu châu vừa đáp máy bay sang, vì cứ 20m lại có một cảnh binh đứng gác, mặt quay ra phía hè đường, trên con lộ dẫn tới dinh Cao uỷ.

Trên con đường đi trải sỏi đi đến nhà Pyle có nhiều xe máy đỗ: một viên cảnh sát người Việt xem tấm thẻ phóng viên của tôi. Hắn cấm không cho Phượng vào trong nhà và tôi đi tìm một sĩ quan người Pháp. Trong phòng tắm của Pyle, Vigot đang rửa tay bằng xà phòng của Pyle và cũng dùng khăn mặt của Pyle để lau tay. Cánh tay áo bằng vải trắng của y có vết dầu ăn; dầu của Pyle, tôi đoán như vậy.

– Có gì mới không? – Tôi hỏi.

– Chúng tôi thấy xe hơi của Pyle vẫn ở trong nhà chứa xe. Bình xăng rỗng. êm qua chắc hắn đi bằng xe tay, hay đi nhờ xe người khác. Có lẽ họ đã lấy hết xăng của xe hắn.

– Có lẽ hắn đi bộ, – tôi nói – Anh hiểu người Mỹ tính nết ra sao rồi đấy.

– Xe hơi của anh bị đốt cháy rồi phải không? – Vigot tư lự nói tiếp – Anh không thay xe mới à?

– Không.

– Ðiều này cũng chẳng quan trọng lắm.

– Ðúng thế.

– Anh có ý kiến gì không?

– Lắm ý kiến đấy.

– Nói nghe xem nào.

– À, HẮN CÓ THẺ BỊ VIỆT Minh giết. Họ đã giết khối người ở Sài Gòn. Xác hắn được tìm thấy ở gần cầu Ða Kao, mảnh đất của Việt Minh kiểm soát sau khi đêm đến, cảnh binh của các anh rút về. Hoặc hắn bị bọn liêm phóng Việt Nam giết, điều này có lần xảy ra. Có lẽ họ không ưng những người mà Pyle hay lui tới. Hắn cũng có thể bị bọn Cao Đài giết vì hắn quen với tướng Thế.

– Hắn quen với tướng Thế thật à?

– Có tin đồn như vậy. Có khi lại chính tướng Thế giết hắn vì hắn quen với bọn Cao Ðài. Hay có thể bọn Hoà Hảo giết, vì hắn chấp chới với những bà vợ bé của tướng Thế. Trừ khi đơn giản hơn là người ta thịt hắn đi để lấy tiền.

– Hay vì ghen tuông thôi, – Vigot nói

– Cũng không nên quên cánh liêm phóng Pháp, – tôi tiếp, – Bọn này có lẽ không tán thành các hoạt động của hắn. Anh định tìm ra thủ phạm thật đấy à?

– Không. Tôi chỉ làm một bản báo cáo thôi. Hãy coi đó là một việc xảy ra trong cuộc chiến mỗi năm có hàng nghìn người bị giết.

– Xin anh hãy loại tên tôi ra, – tôi nói – ra khỏi tất cả những gì liên quan – tôi nhắc thêm.

Ðiều này như một tuyên ngôn về thái độ của tôi. Phận làm người là thế, người ta đánh nhau, yêu nhau, ám sát lẫn nhau, tôi không muốn dính dáng vào đó. Những đồng nghiệp của tôi tự xưng là phóng viên, tôi ưng cái tên phóng viên, người đi làm phóng sự. Tôi viết ra những điều tôi nhìn thấy, tôi không hành động, có một quan điểm cũng là một cách hành động.

– Anh tới đây làm gì?

– Tôi lấy đồ của Phượng. Người của anh không cho cô ta vào.

– Thì cùng đi xem có thấy gì không?

– Vigot tử tế quá đấy!

Căn hộ của Pyle gồm hai phòng, một ngăn bếp và một phòng tắm. Chúng tôi vào trong buồng ngủ. Tôi đã biết nơi Phượng để hòm của cô, dưới cái giường. Chúng tôi lôi hòm ra: Hòm chỉ đựng sách tranh của cô. Tôi lấy từ tủ đứng ra những bộ đồ lèo tèo mà cô dùng để thay đổi, hai áo dài mới và một chiếc quần. Người ta có cảm tưởng là những thứ đó mới mắc ở đây vài giờ, không nằm trong bối cảnh của nhà này; chúng chỉ như tạt qua, như một con bướm lạc vào phòng. Trong một ngăn tủ, tôi thấy những chiếc quần lót hình tam giác và bộ khăn quàng của cô. Không có gì nhiều lắm để chứa vào hòm, ít hơn cả những đồ mà một người khách mang theo khi được mời đến nghỉ cuối tuần.

Trong phòng khách hẹp có tấm ảnh Phượng chụp chung với Pyle tại Thảo cầm viên, cạnh một con rồng đá lớn. Cô ta cầm dây buộc con chó của Pyle, một con chó giống Tàu lông đen, lưỡi đen. Tôi đút ảnh vào trong hòm.

– Con chó ra sao? – Tôi hỏi.

– Không thấy ở đây. Chắc hắn dắt theo.

– Có khi nó sẽ trở về và anh có thể nghiên cứu chất đất dính vào chân nó.

– Tôi không là Le Coq, cũng không là Megré và đang thời chiến mà.

Tôi đi qua phía kia phòng, xem hai ngăn đựng sách: thư viện của Pyle. Những bước tiến của Trung Hoa đỏ, Thách thức nền dân chủ, Vai trò của phương Tây. Tôi đoán đó là toàn bộ tác phẩm của York Harding. Có hàng tập biên bản những cuộc tranh luận ở Quốc hội Mỹ, một cuốn sách học tiếng Việt, một cuốn lịch sử chiến tranh ở Phi Luật Tân, một cuốn sách của Shakespeare do Nhà xuất bản Thư viện Cận đại ấn hành. Hắn giải trí như thế nào? Tôi tìm thấy tại một ngăn khác những cuốn sách khác nhẹ nhàng hơn là một tác phẩm của Thomas Wolfe, loại sách bỏ túi và một hợp tuyển bí hiểm mang tên: Cuộc chiến thắng của sự sống. Ngoài ra, có một số tác phẩm của các nhà thơ Mỹ. Có cả một cuốn sưu tập các ván cờ. Sau một ngày làm việc, đọc những thứ này thì không có gì giải trí lắm, nhưng, tính đến cùng đã có Phượng. Giấu sau cuốn hợp tuyển, có một cuốn sách bìa mỏng mang tên Sinh lý học trong sự kết hôn. Có lẽ hắn đã nghiên cứu về quan hệ nam nữ, cũng như đã nghiên cứu về Phương đông toàn qua sách. Và cái từ chìa khoá ở đây chữ kết hôn. Pyle là người theo quan điểm bao giờ cũng phải có sự cam kết hẳn hoi.

Bàn giấy của hắn không còn vương tí gì.

– Anh đã thu quét sạch giấy tờ, – Tôi nói.

– Ồ, TÔI ĐÃ PHẢI LÀM TẤT cả những việc đó nhân danh đoàn đại diện Mỹ, – Vigot nói, – Anh hiểu đó, những tin đồn lan đi rất nhanh. Căn nhà có thể bị vào lục soát cướp bóc sạch. Tôi đã cho niêm phong tất cả những giấy tờ của hắn.

Vigot nói rất nghiêm túc, không hề có cười cợt chút nào.

– Có những giấy tờ gì có thể gây phiền hà?

– Chúng tôi không thể tự cho phép mình thấy giấy tờ làm phiền hà liên lụy đến ai tại nơi ở của một người đồng minh, – Vigot đáp.

– Anh có cho phép tôi cuỗm đi một cuốn sách để làm kỷ niệm không?

– Tôi sẽ quay mặt đi, làm như không thấy.

Tôi chọn cuốn Vai trò phương Tây của York Harding và nhét vào hòm cùng với quần áo của Phượng.

– Trên tình bạn thân, – Vigot hỏi, – Anh có điều gì có thể nói riêng với tôi không? Báo cáo của tôi đã làm xong và chấm hết. Pyle bị cộng sản ám sát. Có lẽ việc giết người này bắt đầu cho một chiến dịch chống lại viện trợ cho Mỹ. Nhưng riêng giữa tôi với anh. Này, nói với nhau ở đây thì khát đến bỏng họng mất, ra góc phố làm một cốc vermouth cassis đi, anh nghĩ sao?

– Chưa đến giờ.

– Hắn ta có tiết lộ điều gì với anh trong lần chót hai người gặp nhau không?

– Không.

– Bữa đó là ngày mấy nhỉ?

– Sớm qua, sau vụ nổ lớn.

Anh ta lặng yên, như để những điều tôi nói có thì giờ thấm vào trong óc của tôi, chứ không phải vào trong óc của anh ta. Anh ta hỏi tôi một cách rất thật thà:

– Chiều qua, khi hắn tới thăm thì anh không có nhà hay sao?

– Chiều qua à? Chắc tôi đi vắng. Tôi nhớ không rõ.

– Một ngày nào đó, chắc anh sẽ cần có một thị thực để xuất cảnh. Anh biết rằng chúng tôi có thể để om cái thị thực đó vô thời hạn?

– Anh tưởng thật rằng tôi muốn trở về nước hay sao?

Vigot nhìn qua cửa sổ ra phía ánh nắng chói chang, trời không có lấy một bóng mây.

– Nhiều người lại muốn được trở về quê hương đấy, – Anh ta nói một cách buồn rầu.

– Tôi ở đây thấy dễ chịu hơn. Về nhà, tôi sẽ gặp phải khối vấn đề.

– Mẹc! – Vigot thốt ra, – Tuỳ viên thương mại Mỹ đã đến kia (anh ta nhắc lại với một giọng chua chát): Tùy viên thương mại!

– Tôi chuồn thì hơn. Nếu không, hắn sẽ niêm phong cả tôi lại.

– Chúc anh gặp nhiều may mắn, – Vigot nói một cách mệt mỏi. Chắc hắn sẽ có lắm điều để nói chuyện với tôi đây.

Khi tôi ra cửa, viên tùy viên thương mại đứng cạnh chiếc xe Packard và cố giảng giải điều gì cho người lái xe. Ðấy là một con người giữa hai trạc tuổi, to béo, bộ mông quá ư đồ sộ và bộ mặt như chưa hề biết đến tác dụng của con dao cạo. Hắn gọi tôi:

– Fowler! Anh có thể giảng cho tên lái xe đáng nguyền rủa này.

Tôi giăng họ hắn ta.

– Ðây chính là những điều tôi vừa nói cho nó hiểu! – hắn kêu lên như vậy! – Nó cứ làm như không hiểu tiếng Pháp vậy.

– Ðó có lẽ do cách phát âm.

– Tôi đã qua ba năm ở Paris. Cách phát âm của tôi đâu đến nỗi tồi quá đối với thằng cha người Việt này!

– Tiếng nói của nền dân chủ, – tôi nói.

– Anh nói cái gì vậy?

– Ðó chắc là một tác phẩm của York Harding.

– Tôi không hiểu anh (Hắn nghi ngờ ngó chiếc hòm tôi mang theo). Anh mang cái gì đấy?

– Hai đôi quần lụa trắng, hai áo dài lụa, những chiếc quần lót của phụ nữ, ba đôi thì phải. Toàn những sản phẩm của địa phương. Không có chút gì là của viện trợ Mỹ.

– Anh đã lên gác rồi à?

– Phải.

– Và đã hay tin?

– Phải.

– Ðó thật là một điều ghê gớm, – hắn nói, – ghê gớm!

– Tôi đoán chừng rằng ngài bộ trưởng hẳn đã bị xúc động.

– Tôi tin rằng anh đã nói đúng. Hiện nay ngài đang làm việc với Cao uỷ và xin tiếp kiến với tổng thống. (Hắn đặt bàn tay lên cánh tay tôi và kéo tôi ra xa những chiếc xe hơi). Anh quen biết thân với anh chàng Pyle trẻ tuổi đấy chứ? Tôi không thể nào tưởng tượng được rằng một việc như vậy đã đến với anh ta. Tôi đã từng gặp cụ thân sinh ra anh ta, Giáo sư Harold C. Pyle. Anh đã nghe ai nói về ông ta chưa?

– Chưa hề.

– Ông ta là một nhân vật cỡ toàn cầu về khoa xói mòn dưới biển. Anh đã nom thấy ảnh ông ta trên bìa tờ tạp chí Time tháng trước không?

– Ờ, BÂY GIỜ HÌNH NHƯ TÔI NHỚ RA RỒI. Ở PHÍA TRƯỚC là cặp kính gọng vàng và một bờ biển đang sụp đổ làm nền cho ảnh.

– Ðúng là ảnh ông ta đấy. Tôi đã phải thảo bức điện cho người ta gửi đi. Một nghĩa vụ đau xót. Tôi đã yêu quý người bạn trẻ đó như yêu chính con tôi.

– Ðiều đó làm anh là một người thân thiết với ông cụ thân sinh?

Hắn quay lại tôi, cặp mắt màu nâu ứa lệ:

– Sao anh lại nói thế nhỉ? Ðó không phải là cách nói khi một người trẻ tuổi đáng mến.

– Xin lỗi nhé, – tôi nói, – cái chết không gây ra cảm xúc như nhau đối với tất cả mọi người (có lẽ hắn thực sự mến Pyle). Trong điện anh đã viết những gì?

Hắn tưởng tôi hỏi thật thà và trả lời một cách rất nghiêm chỉnh:

– Rất đau lòng báo tin để cụ biết con trai cụ đã hy sinh như một chiến sĩ đấu tranh vì lợi ích của nền dân chủ. Ngài bộ trưởng đã ký điện.

– Hy sinh như một chiến sĩ, – Tôi nói, – Ðiều đó có gây nên một sự mơ hồ không? Tôi muốn nói là mơ hồ đối với người trong gia đình Pyle. Phái đoàn viện trợ Mỹ không nên để nhập cục với quân đội. Người ta có phát cho anh ta huân chương Trái tim đỏ thắm không?

Bằng một giọng trầm, như nghẹn ngào về sự nhập nhằng, hắn tiết lộ với tôi:

– Anh ta được giao một nhiệm vụ đặc biệt.

– Rõ, rõ, mọi người đều đã đoán ra được.

– Nhưng chính anh ta không tiết lộ gì chứ?

– Ồ KHÔNG, – TÔI NÓI. VÀ câu nói của Vigot lại vẳng bên tai tôi: “Ðó là một người Mỹ rất trầm lặng”.

– Anh có điều phỏng đoán gì về nguyên nhân của vụ sát hại này không? Hay về hung thủ?

Tôi thấy như giận sôi lên. Tôi đã chán ngấy tất cả bọn này rồi. Họ với trữ riêng về coca cola, với những trạm cứu thương nhỏ lưu động, với những chiếc xe hơi to kềnh và những khẩu đại bác không phải là kiểu cổ.

– Có, – tôi đáp – Người ta đã giết hắn vì hắn ngây thơ quá không sống nổi. Hắn còn trẻ, dốt nát, dại dột và hắn đã dính vào những việc không có liên quan gì đến mình. Hắn không hiểu gì hơn anh về những điều đang diễn ra ở đây, và các anh đã đưa cho hắn tiền nong, sách của York Harding viết về Phương đông; rồi các anh đã bảo hắn: “Lên đường đi. Hãy tới giác ngộ Phương Ðông về nền dân chủ”. Hắn nào thấy gì về những điều hắn đã nghe tả tại một phòng diễn thuyết; và những người viết, những người lên diễn thuyết và đã lừa bịp hắn. Ðứng trước một thi hài, hắn không phân biệt nổi những thương tích. Sự đe doạ của cộng sản, chiến sĩ của nền dân chủ đấy!

– Tôi tưởng anh là bạn thân của Pyle – Viên tuỳ viên nói với tôi một cách đầy trách móc.

– Tôi thật sự là người bạn thân của hắn. Tôi ao ước được thấy hắn bận rộn với việc đọc những phụ trương báo ngày chủ nhật ở ngay nhà hắn và chăm chỉ đi xem những trận đánh bóng chầy. Tôi ao ước được thấy hắn sống xa sự hiểm nghèo cạnh một cô bé người Mỹ đúng với khuôn mẫu, có đăng ký làm hội viên của một câu lạc bộ đọc sách.

Hắn ho ho như để đỡ tắc họng, rồi rất ngượng ngập, hắn trả lời:

– Lẽ tất nhiên. Tôi đã quên mất câu chuyện đáng tiếc kia. Tôi đã đứng hẳn về phía anh không dè dặt gì, anh Fowler ạ. Hắn quả không biết cách cư xử. Tôi chẳng ngại nói rằng tôi đã có một cuộc nói chuyện dài với hắn về vấn đề người phụ nữ đó. Anh biết đấy, tôi đã có cái may là quen biết Giáo sư Pyle và phu nhân.

– Vigot đang chờ anh, – Tôi nói và bỏ đi.

Lúc này, hắn vừa nhận ra Phượng; khi quay đầu lại, tôi thấy hắn nhìn theo tôi với vẻ buồn bã và băn khoăn: đúng là ông anh to đầu muôn thủa này đã không hiểu gì hết.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.