Những Bố Già Châu Á - Chương 7

7. MÀN CUỐI: ĐỜI SỐNG CHÍNH TRỊ, THẬT BUỒN TẺ

"Nếu chúng tôi đã làm điều gì sai trái, hãy gửi người của Ngài đến với người của tôi, để họ có thể làm lại việc này."

J. PIERPONT MORGANT Trả lời Tổng thống TEDDY ROOSEVELT, sau khi

nghe tin về một vụ kiện gây mất lòng tin của chính phủ.

"Có thể tôi đã phạm nhiều tội lỗi trong đời, nhưng tôi có thể nói với các bạn rằng, tôi không hề ăn cắp."

FERDINAND MARCOS Trả lời phỏng vấn của TED KOPPEL,

phóng viên chương trình ABC Nightline, trong khi lưu vong,

ngày 4 tháng 4 năm 1986.

Từ quan điểm kinh tế vĩ mô, sự phục hồi kinh tế của Đông Nam Á những năm gần đây có thể được tóm tắt trong hai vấn đề: hàng xuất khẩu và sự bùng nổ ở Trung Quốc, bắt đầu vào năm 2003. Hàng xuất khẩu sản xuất ở Đông Nam Á được các công ty đa quốc gia đưa sang cho các nhà thầu địa phương có khả năng nhưng có quy mô nhỏ và có những người công nhân cần cù chăm chỉ. Các bố già có tham gia nhưng không đáng kể. Nhưng luận điểm cho rằng hàng xuất khẩu, ở một mức độ nào đó, đã giúp Đông Nam Á thoát ra cơn khủng hoảng tài chính được ít người thừa nhận. Độc giả của các báo có thể suy nghĩ rằng, tất cả các hoạt động chế biến, gia công xuất khẩu của thế giới đã chuyển sang Trung Quốc, và sự thay đổi về nhận thức là một yếu tố quan trọng đối với cuộc khủng hoảng ở châu Á. Thực tế, hàng xuất khẩu của Đông Nam Á từ năm 1997 sau một cuộc suy thoái ngắn trước và trong khủng hoảng – đã làm tỷ lệ tăng trưởng thấp đi một chút so với tỷ lệ tăng trưởng trung bình dài hạn trong 30 năm qua. Vì phải cạnh tranh toàn cầu, các nhà sản xuất hàng xuất khẩu phải bỏ vốn từ dòng tiền mặt lưu động để có được sự tăng trưởng sau khủng hoảng hoặc trong trường hợp các công ty đa quốc gia thông qua đầu tư trực tiếp từ các công ty mẹ. Công việc gia công có giá trị thấp hơn được chuyển vào Trung Quốc (và Việt Nam, Bangladesh) với tốc độ nhanh chóng. Nhưng việc làm này đã bắt đầu trước khi có khủng hoảng và vẫn còn tiếp tục. Các công việc có chuyên môn cao hơn, hoặc yêu cầu được bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ không thể thực hiện tại Trung Quốc, tiếp tục mở rộng sang Đông Nam Á. Ví dụ, hàng bán dẫn xuất khẩu từ Malaysia và Philippines đã tăng vọt trong thập kỷ qua. Đồng thời, các công ty đa quốc gia đã có phản ứng với việc Mỹ và châu Âu hạn chế nhập hàng xuất khẩu của Trung Quốc vì thặng dư thương mại của nước này đang tăng cao và giá trị đồng tiền tương đối rẻ bằng cách xác định, và đôi khi sử dụng, các nhà cung ứng khác nhau trong khu vực. Đây là cuộc chơi giống như hồi đầu thập niên 1990, khi chính quyền Clinton đe dọa trừng phạt Trung Quốc vì đã xâm phạm quyền con người. Ví dụ, hãng Nike đã sản xuất một nửa sản lượng giày đế mềm tại Trung Quốc và một nửa tại Indonesia. Hàng xuất khẩu là trụ cột của Đông Nam Á, và đã không bị đổ vỡ do khủng hoảng. Một trong những điều nó đã làm được là đầu tư vào sản xuất trong nước, phần lớn xuất phát từ các công ty thống trị nền kinh tế địa phương của các bố già (trái ngược với những nền kinh tế bên ngoài). Khi khủng hoảng nổ ra, các ngân hàng trong khu vực đa số do các bố già kiểm soát và thao túng đã bị phá sản và không thể cho vay được nữa. Các đại gia, đắm chìm trong bất động sản không bán được và các tài sản không sinh lời nên không thể vay vốn, cho đến khi các nhà chính trị giải cứu họ hoặc các nền kinh tế hồi phục đến mức đủ để làm dịu cơn bội thực của họ. Sau cơn khủng hoảng, đầu tư của toàn Đông Nam Á giảm hơn 10%. Kết quả là, tỉ lệ đóng góp của xuất khẩu ròng vào GDP tăng vọt. Xuất khẩu trên danh nghĩa, với tư cách là là tỷ trọng GDP, tại các lãnh thổ mà chúng ta đang khảo sát tăng từ 45% năm 1997 lên 65% năm 2006. Các chính phủ biết rõ về những gì sắp xảy ra đối với việc giải cứu các doanh nghiệp nên mua vét hết các nguồn vốn ngoại tệ để giữ giá cho đồng tiền của họ (và vì thế hàng xuất khẩu rẻ), lại tiếp tục quy đổi ra đồng đôla đối với ngân sách dự trữ.

Nhiều bố già, mặc dù không hoạt động trong khu vực sản xuất nhưng vẫn được hưởng lợi lớn từ làn sóng xuất khẩu thứ hai sau cuộc khủng hoảng đó là xuất khẩu hàng hoá. Hiện tượng này là do nhu cầu từ Trung Quốc, một đất nước bắt đầu có sự bùng nổ do đầu tư mạnh mẽ vào năm 2003, tốc độ tăng trưởng lên đến hơn 10% một năm, điều chưa từng có ở nước này. Đối với hàng xuất khẩu đến người tiêu dùng cuối cùng chủ yếu ở châu Âu, Mỹ và Nhật Bản, chương trình công nghiệp hóa có chỉ huy của Trung Quốc đã thúc đẩy thêm nhu cầu về hàng hóa cứng và mềm cho Đông Nam Á khí ga Malaysia, cao su Thái Lan, gỗ tấm của Indonesia, v.v... Không giống như sản xuất, đây là những lĩnh vực mà các bố già tham gia rất tích cực, bởi họ có được sự nhượng bộ kinh doanh từ giới chính trị. Các đại gia Đông Nam Á đã từng bị mất những khoản tiền lớn tại Trung Quốc trong những năm 1990 do sự bùng nổ và đổ bể bất động sản lại kiếm được những khoản tiền lớn hơn do hàng hóa đến từ Trung Quốc. Những người hưởng lợi tiêu biểu là Robert Quách và Eka Tjipta Widjaya với dầu cọ và sản phẩm đồn điền; và Ananda Krishnan, người có được nhượng bộ về dầu khí tư nhân. Trung Quốc cũng gây nên sự bùng nổ về kinh doanh sòng bạc ở châu Á, vì tại nước này, sòng bạc và hầu hết các hình thức cá cược là bất hợp pháp, nhưng việc qua lại biên giới của công dân thì đã được giải phóng. Tổ hợp sòng bạc Genting Highlands to lớn của gia đình nhà Lâm ở gần Kuala Lumpur bắt đầu giảm giá cho các con bạc người Trung Quốc, nhưng kẻ thụ hưởng lớn nhất là Ma Cao, từ năm 1999 là một đặc khu hành chính của Trung Quốc. Cựu thuộc địa Bồ Đào Nha này đã trở thành cái máy thu tiền khổng lồ, tạo ra trò tiêu khiển để nhiều quan chức chính phủ và Giám đốc doanh nghiệp nhà nước ở Trung Quốc rửa sạch những của cải bất chính mà họ dễ dàng kiếm được. Độc quyền về kinh doanh sòng bạc của Stanley Hà, Henry Hoắc và Trịnh Dụ Đồng đã hết hạn vào năm 2001 do sự xuất hiện và cạnh tranh của các sòng bạc Mỹ thành ra ít quan trọng hơn đối với việc thu hút dòng tiền mới từ Trung Quốc chảy vào Ma Cao. Năm 2006, Ma Cao đã vượt qua Las Vegas để trở thành thành phố có thu nhập về vui chơi giải trí lớn nhất thế giới. Bố già Stanley Hà có thể hơi mệt mỏi trong những ngày này, nhưng ông ta vẫn mỉm cười và trở nên giàu có hơn bao giờ hết. May mắn là Chiến tranh thế giới thứ hai đã khiến ông ta từ Hồng Kông vượt qua cửa sông Châu Giang để đến Macao.

NHỮNG NGƯỜI PHẢI TRẢ GIÁ

Nếu các bố già hạng trung không trả giá cho cuộc khủng hoảng tài chính châu Á, việc GDP của Đông Nam Á quay ngược lại năm 1995 có phải là một căn bệnh trầm trọng không? Để trả lời câu hỏi này, phải tìm hiểu đời sống của những người dân bình thường. Về lý thuyết, có thể đo lường sự thay đổi về mức độ giàu có trong những xã hội khác nhau bằng các tính toán dựa trên dữ liệu kinh tế vĩ mô: các nhà kinh tế cố gắng đong đo cả của cải về tài chính bao gồm tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, chứng khoán, trái phiếu và đầu tư ở nước ngoài và của cải vật chất gồm bất động sản, nhà máy và trang thiết bị, hàng tồn kho, v.v... Bằng cả hai phép đo, và nếu quy đổi sang đồng đôla Mỹ, người dân Đông Nam Á hồi đầu năm 2007 đã nghèo đi so với năm 1995, bất chấp kinh tế đã tăng trưởng vững chắc trở lại. Tuy nhiên, cách đo sự giàu có của kinh tế vĩ mô mắc phải nhiều nhược điểm về phương pháp luận. Có lẽ sẽ thiết thực hơn khi xem xét ai đã phải chịu khổ nhiều nhất do cuộc khủng hoảng này bằng cách nhìn vào các chỉ số đơn giản hơn, như tiền lương thực tế và sự nghèo đói.

Hãy bắt đầu với Singapore và Hồng Kông. Rất khó tránh được kết luận rằng, những người phải trả giá cho cuộc khủng hoảng này không phải là những người tạo ra nó, và họ có khả năng chi trả thấp nhất. Hậu quả này, một phần là do áp lực kiềm chế lạm phát đưa ra sau năm 1997 và một phần là do các chính sách có cân nhắc cẩn thận của chính phủ. Ở Singapore, theo dữ liệu riêng của chính phủ, thu nhập thực tế của những người nghèo nhất chiếm 40% dân số giảm xuống trong thời gian từ 2000 đến 2005, thậm chí cả khi nền kinh tế đã tăng trưởng mạnh trở lại. Người thua thiệt nhiều nhất là những người trên 50 tuổi – những lao động dư thừa do không còn những việc làm có mức lương thấp, và với tất cả sự giàu có của nó, nhà nước Singapore lại hầu như không có trợ cấp thất nghiệp. Đồng thời, chính phủ lại tiếp tục ban hành một chính sách giảm thuế thu nhập cá nhân đối với phần dân số giàu nhất từ 28% năm 2000 xuống chỉ còn 20%; tỷ lệ thuế thu nhập doanh nghiệp cũng được hạ thấp. Ngược lại với những động thái đó, các loại thuế gián tiếp mọi người đều phải trả đã tăng lên vào năm 2007 thuế VAT từ 5% tăng lên đến 7%. Thật kỳ quái, các Bộ trưởng lại nói rằng việc tăng thuế này là cần thiết để hỗ trợ thêm cho người nghèo. Harry Lý Quang Diệu, người đã từng học ở Học viện Raffles và Đại học Cambridge, khi thanh minh cho chính sách thuế này, đã nói với các nhà báo: "Đây là một thế giới khắc nghiệt đầy cạnh tranh." Cư dân địa phương đành phải ngậm ngùi vì hai lý do thông thường: người dân ở các quốc gia lân bang còn nghèo hơn và bị ngược đãi nhiều hơn, và dân Singapore rất sợ những cơn giận dữ của Harry. Những người đi chào mời kinh doanh, bị hạn chế trong địa hạt kinh doanh ở cấp trung ương, không thể tưởng tượng nổi sự nghèo đói và một tầng lớp dưới đáy lại tồn tại ở Singapore; nhưng chỉ cần đi vào các khu chung cư là thấy rõ điều đó.

Tại Hồng Kông, những người ít có khả năng chi trả cũng phải trả giá đắt cho cuộc khủng hoảng châu Á. Mặc dù phúc lợi có tăng một chút dưới thời Thống đốc cuối cùng là Chris Patten, đói nghèo đã tăng dần ở khu vực thành thị trong thập niên 1990, và cuộc khủng hoảng đã làm cho điều này trầm trọng hơn, lại thêm nhiều người có mức lương thực tế giảm xuống. Dấu hiệu của đói nghèo ở Hồng Kông thể hiện ở tỷ lệ các hộ gia đình sống dưới mức một nửa thu nhập hàng tháng của các hộ gia đình hạng trung, chỉ 1.290 đôla. Với xu hướng này, tỷ lệ người nghèo tăng từ 11,2% vào năm 1991 lên 15% năm 1996 và 18,3% vào năm 2000. Đa số người giàu ở Hồng Kông cho con em họ đi học ở trường tư ở nước ngoài, trong khi một phần tư trẻ em đang đi học ở Hồng Kông hiện nay đều là con em các gia đình nghèo khó, tiếp tục gây thêm áp lực cho hệ thống giáo dục công lập thường được cấp kinh phí rất eo hẹp. Cuộc khủng hoảng cũng ảnh hưởng đến thu nhập của những người tự cho mình thuộc tầng lớp trên trung lưu. Năm 2001, tỉ lệ thu nhập của người nghèo chỉ chiếm 15,6%. Sự khác biệt về ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng giữa Hồng Kông và Singapore là, Hồng Kông giữ được đồng tiền của mình ổn định hơn nên áp lực hạn chế lạm phát tại Hồng Kông là do thị trường chứng khoán và bất động sản, chứ không phải do tỷ giá hối đoái. Đa số tiền vốn của người giàu, chiếm một nửa dân số, đã được sử dụng để đầu tư vào bất động sản và nhà ở một cách tiêu cực, suốt một thập kỷ cho đến khi giá nhà ở trung bình bắt đầu đạt mức năm 1997 vào cuối năm 2006. Cơn sốc này đối với các tầng lớp có nghề nghiệp có thể đã góp phần đáng kể vào việc thúc đẩy đời sống chính trị của Hồng Kông trong những năm gần đây.

Tại Thái Lan, Malaysia và Indonesia, tầng lớp trung lưu ở thành thị cũng bị ảnh hưởng, nhưng đau khổ thực sự rơi xuống đầu hàng chục triệu người dân nghèo vì tiền lương thực tế giảm đi, tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm tăng, và chi phí cho nhu cầu thiết yếu hàng ngày tăng nhanh. Mức độ giàu có của tầng lớp trung lưu ở thành thị bị ảnh hưởng đầu tiên, trong hai năm 19971978, khi chứng khoán và bất động sản tụt dốc, tiền lương thực tế ở thành thị giảm xuống. Tác động đến người nghèo có chậm hơn, nhưng 5 năm sau cuộc khủng hoảng thì trở nên nghiêm trọng. Cuộc khủng hoảng có một đặc điểm chung về địa lý, đầu tiên nó tác động đến các thành phố đặc biệt là các thành phố lớn và sau đó bắt đầu lây lan, những vùng nông thôn cũng không thể tránh khỏi. Tại Thái Lan, hầu hết các ước tính cho thấy khoảng một triệu người trong số 60 triệu dân đã bị tái nghèo. Tại Malaysia, một nước có rất ít các công trình nghiên cứu về đói nghèo sau cuộc khủng hoảng, tỉ lệ bị tác động cũng tương tự. Tại Indonesia, lạm phát làm giảm tiền lương thực tế của khoảng 40% dân số, tỷ lệ đói nghèo sau cuộc khủng hoảng tăng gấp đôi, lên đến 27% dân số, khoảng 54 triệu người. Sau đó, đói nghèo tuyệt đối có giảm đi phần nào, rồi lại có xu hướng tăng lên vào năm 2005. Năm 2006, một số nhóm công tác xã hội đã ước tính có khoảng 80 triệu người Indonesia đang sống trong cảnh nghèo đói. Di sản thảm hại mà cuộc khủng hoảng để lại như nhau, đối với số người Đông Nam Á đang sống ở trên mức nghèo đói một chút. Báo cáo Phát triển năm 2006 với chủ đề "công bằng và phát triển" của Ngân hàng Thế giới cho thấy, tỷ lệ dân số sống trên hơn ngưỡng nghèo 1 đôla mỗi ngày, nhưng ít hơn 2 đôla mỗi ngày, là 52% ở Indonesia, 32% ở Thái Lan. Tỷ lệ so sánh ở Argentina là 14% và ở Brazil là 22%.

Có một chút hy vọng là ở Philippines, việc tháo gỡ những khó khăn về kinh tế của nó được bắt đầu vào những năm cuối thời Marcos, là nước còn lại của khu vực mà tỉ lệ đói nghèo không tăng và vẫn có đủ việc làm. Theo Báo cáo Phát triển năm 2006, 15% dân số Philippines đang sống trong cảnh nghèo đói tuyệt đối, và 47% đang sống với thu nhập 12 đôla một ngày. Một nửa trong số 12 triệu dân của thủ đô Manila phải sống trong các khu phố tồi tàn dọc theo đường cao tốc, đường sắt và đường thuỷ. Sau 25 năm lại có khủng hoảng kinh tế, nền kinh tế Philippines giờ đây hoàn toàn phụ thuộc vào thu nhập ở nước ngoài của khoảng 10 triệu người, chủ yếu là lao động nữ trên tổng dân số 80 triệu làm những công việc như chăm sóc trẻ em, y tá ở nhiều nước giàu hơn trên thế giới. Số lao động này tiếp tục làm việc ở nước ngoài và chẳng có quốc gia nào lại phụ thuộc vào nguồn kiều hối đến như vậy: 12 tỷ đôla được gửi về năm 2006, chiếm 15% GDP của Philippines.

ĐỜI SỐNG CHÍNH TRỊ

Rõ ràng, tình trạng kinh tế của các bố già là tác nhân làm tăng nghèo đói và bất bình đẳng ở Đông Nam Á. Hàng chục tỷ đôla tài sản của ngân hàng bị xóa sổ do việc giải cứu các doanh nghiệp đã sinh ra lạm phát, chi tiêu cho phúc lợi giảm, thuế má thì tăng mà tiền lương thực tế của nhiều người lại giảm. Các bố già rất nhiều người trong số họ đã khôi phục được tài sản là tác nhân duy nhất của tai họa này. Trách nhiệm thực sự thuộc về các chính trị gia, những người đã cho phép tình trạng kinh tế của các bố già tồn tại ở ngôi đầu. Phần giới thiệu của cuốn sách này đã tuyên bố rằng, sau cuộc khủng hoảng, Đông Nam Á tự thấy mình đang ở một ngã ba đường, và nó phải thực hiện một lựa chọn mang tính chính trị: một con đường xuống dốc nghiêng về phía bất bình đẳng và xa lánh xã hội, cùng với những cuộc khủng hoảng kinh tế lặp đi lặp lại như ở khu vực Mỹ Latinh; hoặc một con đường đốc lên dẫn đến tăng trưởng bền vững và công bằng xã hội. Đây không phải là những lời nói khoa trương được đưa ra để gây sốc đối với người đọc. Sau cuộc khủng hoảng, nghèo đói tuyệt đối ở Philippines còn tồi tệ hơn, và ở Indonesia cũng xấu như vậy, cũng như ở Nam Mỹ, trong khi tỷ lệ người dân ở Philippinnes, Indonesia và Thái Lan đang sống dưới mức 2 đôla một ngày tăng lên đáng kể. Một hình bóng của nghèo đói khi so với đất nước Venezuela lao đao của Hugo Chavez. Bất bình đẳng – đi kèm với đói nghèo ở bốn quốc gia chính của Đông Nam Á mà chúng ta đang nói đến, như hệ số Gini tiêu chuẩn đã xác định, vẫn còn ít nghiêm trọng hơn so với Mỹ Latinh, nhưng nó đang trở nên tồi tệ hơn. Tại Hồng Kông và Singapore, sự bất bình đẳng đã tăng đến mức độ như trong thập kỷ trước. Hệ số Gini của hai lãnh thổ này hiện giống như ở các đô thị của Argentina. Đời sống chính trị đặt ra rất nhiều câu hỏi cho Đông Nam Á, và đó là một chuyến du lịch vào nền chính trị đương thời mà chúng ta phải rút ra kết luận. Nếu không có thay đổi về chính trị, khu vực này chắc sẽ tự nhận thấy mình đang bị mắc kẹt trên xa lộ Mỹ Latinh.

Đó là Philippines, đi tiên phong về thất bại chính trị thời hậu thuộc địa ở Đông Nam Á, và những diễn tiến ở đó kể từ khi có khủng hoảng đã làm những người lạc quan phải tỉnh ngộ. Tầng lớp tinh hoa chính trị cũ, được Corazon Aquino thuộc dòng dõi bố già khôi phục sau khi Marcos bắt đầu nắm quyền năm 1986, có vẻ cực đoan chưa từng thấy. Tổng thống hiện nay, Gloria MacapagalArroyo con gái của một cựu Tổng thống đã dành nhiều thời gian để chống đỡ những lời buộc tội của Quốc hội đối với bà vì những cách thức, có thể là trái với Hiến pháp, mà bà đã dùng để lật đổ người tiền nhiệm của mìnhJoseph Estrada năm 2001, và những luận điệu tranh cử của bà năm 2004. Trong một diễn tiến tương tự ở Mỹ Latinh, đã có sự gia tăng khủng khiếp trong các vụ tử hình các nhà báo, học giả và các nhà hoạt động xã hội mà không qua xét xử trong nhiệm kỳ của bà MacapagalArroyo, mặc dù cá nhân bà ta không dính líu gì. Cảnh sát Philippines nói rằng đã có 110 vụ tử hình không qua xét xử mang tính chính trị kể từ năm 2001. Tổ chức Ân xá quốc tế đã lập hồ sơn 240 trường hợp; Kerapatan, một nhóm nhân quyền ở địa phương, tuyên bố hơn 700 trường hợp; Kerapatan cho rằng có khoảng 3.000 người mất mạng trong hai thập kỷ Marcos nắm quyền. Philip Alston, người chuẩn bị báo cáo đặc biệt cho Liên Hiệp Quốc về tử hình không qua xét xử được phái đến Manila vào đầu năm 2007, đã mô tả lực lượng vũ trang của Philippines – mà ngay cả các quan chức chính phủ cũng thừa nhận là các đơn vị của nó có liên quan đến nhiều vụ giết người ở trong "một tình trạng hoàn toàn lộng quyền". Bà MacapagalArroyo, trong tháng 2 năm 2006 đã tuyên bố tình trạng khẩn cấp, cho phép bắt giữ không cần giấy phép đối với những kẻ thù của nhà nước đã đổ lỗi cho Hiến pháp vì sự bất ổn về chính trị. Bà nói Philippines cần chuyển đổi sang chế độ Quốc hội một nghị viện. Nhưng trong khi những lập luận của bà MacapagalArroyo không được khen ngợi, những nỗ lực của bà nhằm đảm bảo cho sự thay đổi Hiến pháp đã cho thấy có chút sự tôn trọng đối với những quy tắc dân chủ. Tháng 12 năm 2006, bà sử dụng đa số phiếu của mình tại Quốc hội để bác bỏ quyền phủ quyết của Thượng nghị viện; việc này dẫn đến các cuộc biểu tình lan rộng của dân chúng nên bà vội vã rút lui. Niềm tin trong tiến trình chính trị đã mất đi, sự nổi dậy của những người cộng sản diễn ra ở hầu hết các tỉnh, tầng lớp tinh hoa ở địa phương vẫn là tầng lớp ích kỷ và tư lợi nhất trong khu vực. Tác giả nổi tiếng của Philippines, Sionil Francisco José, than thở trên tạp chí Kinh tế Viễn Đông tháng 12 năm 2004: "Chúng ta nghèo vì tầng lớp tinh hoa của chúng ta không hiểu về dân tộc mình. Họ hợp với những ai có quyền hành người Tây Ban Nha, người Nhật, người Mỹ, và trong thời gian gần đây, với Marcos. Các tầng lớp tinh hoa của chúng ta hấp thụ những giá trị của các nhà thực dân.” Tóm lại, Philippines chưa bao giờ thoát khỏi kỷ nguyên thuộc địa và những hình mẫu thống trị vô luân lý của tầng lớp tinh hoa mà nó tạo ra.

Thái Lan từ lâu đã lặp lại hình thức cai trị của Philippines và hiện nay những điểm tương đồng này rõ ràng hơn bao giờ hết. Từ những năm 1980, tầng lớp tinh hoa kinh tế Thái thông qua việc ứng cử và ngày càng chiếm được nhiều ghế trong Quốc hội bắt đầu tràn sang lĩnh vực chính trị và sáp nhập các quyền được hưởng thụ về kinh tế và chính trị vào một chính thể đầu sỏ thống nhất. Sau khủng hoảng, sự phát triển này đã đạt đến giai đoạn cực thịnh, với sự nổi lên của Thaksin Shinawatra, trước khi có sự ghen tị trong tầng lớp tinh hoa do chính sách cai trị của ông sinh ra, mở cánh dẫn đến một cuộc đảo chính quân sự khác. Cuộc sống sau đảo chính, diễn ra vào tháng 9 năm 2006, cho thấy đời sống chính trị ở quốc gia Đông Nam Á có ít nhất di sản thực dân này tiếp tục thất bại thảm hại, cũng như ở Philippines. Nói vậy không phải để đổ lỗi cho người lãnh đạo cao nhất vì những gì sai trái xảy ra trong khu vực. Trong vài tháng sau khi nhậm chức, vị Thủ tướng "dân sự" mới của giới quân sự, tướng Surayud Chulanont, đã có bất đồng với người đứng đầu hội đồng tư vấn là tướng Sonthi Boonyaratglin. Đường lối hành động thật rối rắm, chính quyền cam kết về một "nền kinh tế toàn diện" mập mờ do nhà vua Bhumibol tưởng tượng ra. Đường lối hành động này hình như muốn dựa vào chủ nghĩa dân tộc và sự bảo hộ, dẫn đến những động thái vội vàng là áp đặt quyền quản lý ngoại hối có giới hạn và sửa đổi các luật liên quan đến doanh nghiệp có sở hữu nước ngoài. Thị trường chứng khoán và đầu tư nước ngoài quay cuồng, chính phủ bế tắc, và Bộ trưởng Tài chính một thành viên của gia đình Hoàng gia Thái đã từ chức vào tháng 2 năm 2007. Tại miền Nam, chính phủ vẫn tiếp tục chiến dịch tàn bạo của Thaksin chống lại cuộc nổi dậy của những người theo đạo Hồi nên tình hình càng trở nên tồi tệ hơn. Trong khi đó, Thaksin tuy vẫn lưu vong nhưng nhiều tỉ đôla của ông ta vẫn còn nguyên vẹn. Ông đã đi khắp thế giới, trả lời các cuộc phỏng vấn, tự giới thiệu mình như là một vị cứu tinh khiêm tốn của nhân dân đã bị các vị tướng quân đội tàn nhẫn làm dang dở sự nghiệp. Tại Bangkok, chứng cớ rõ ràng về thói đạo đức giả của các chính trị gia Thái là những vết nứt lớn xuất hiện trên đường băng của sân bay mới, dự án cơ sở hạ tầng quan trọng nhất của Thaksin. Đó là một vở hài kịch chính trị với những câu chuyện đùa, như thường lệ, nói về những người dân Thái Lan. Quân đội lại hứa hẹn về một hiến pháp mới, một cuộc trưng cầu dân ý và những cuộc bầu cử vào cuối năm 2007, nhưng điều này còn lâu mới rõ ràng nếu các ông tướng chưa cúi chào để hạ màn hài kịch đó.

Philippinnes, ở mức độ thấp hơn Thái Lan, là điểm tham chiếu cho các chính trị gia như Lý Quang Diệu, người cho rằng quá dân chủ là không tốt cho sự phát triển. Nhưng tất cả những gì mà các quốc gia này thực sự chứng minh được là nền dân chủ đến bằng nhiều cách, và một chính thể tự do trong việc thực hiện chức năng đòi hỏi một bộ máy tư pháp, một lực lượng cảnh sát, một đội ngũ quan chức và một ngân hàng trung ương độc lập và hiệu quả. Do thiếu vắng các thể chế sau cùng, các tầng lớp tinh hoa của Philippines và Thái Lan kết hợp các đơn vị bầu cử của người lao động ở nông thôn và thành thị lại, rồi xây dựng các liên minh ít sản sinh ra những lợi lộc về quyền lực chính trị, và làm việc thoải mái mà không sợ rằng cảnh sát, thẩm phán hoặc ngân hàng trung ương sẽ thất hứa. Đông Nam Á đưa ra những bài học về sự thất bại của nền dân chủ: có quá nhiều khó khăn đối với việc làm cho nên dân chủ hoạt động có hiệu quả.

BIẾN THỂ MALAYSIA - INDONESIA

Tại Malaysia, sự xuyên tạc có chủ tâm về nguồn gốc dân tộc của nền dân chủ trên danh nghĩa phô bày một hình ảnh xấu khi đất nước này tổ chức lễ kỷ niệm lần thứ năm mươi ngày Quốc khánh vào năm 2007. Tầng lớp quý tộc Mã Lai - và người kế nhiệm mới nổi của nó là Mahathir nắm chặt quyền lực hàng nửa thế kỷ bằng cách kết hợp quyền bầu cử của người Mã Lai - chính thống với sự hỗ trợ của người Trung Quốc và Ấn Độ rất sợ phe đối lập theo đạo Hồi. Một mạng lưới bảo trợ rộng lớn, chủ yếu được chi trả bởi những đóng góp của các bố già Malaysia, đã được phát triển xung quanh liên minh Mặt trận dân tộc cầm quyền mà cốt lõi là Tổ chức dân tộc thống nhất Mã Lai (UMNO). Năm 2004, các cử tri đã ủng hộ để người kế nhiệm của Mahathir là Abdullah Badawi có một chiến thắng vang dội trong cuộc tổng tuyển cử chiếm 198 trong số 218 ghế quốc hội khi ông ta hứa hẹn một khởi đầu mới cùng với bãi bỏ quy định về kinh tế, cải cách lực lượng cảnh sát hung bạo và đấu tranh chống tham nhũng triệt để. Nhưng đã có rất ít thay đổi; các chiến dịch chống tham nhũng và cải cách lực lượng cảnh sát nói riêng diễn ra yên tĩnh một cách kỳ quái sau khi chiến thắng đã ở trong tay ông ta. Badawi đã từng nói về việc xóa bỏ chương trình hành động chống phân biệt đối xử tốn kém của Malaysia, trong đó tạo ra một thế hệ các nhà tư bản bản xứ sống bằng tiền lợi tức và làm cho đói nghèo lan rộng trong người gốc Ấn, nhưng tình hình hoàn toàn ngược lại. Ông lo sợ một cuộc nổi loạn của UMNO nếu ông thách thức chương trình hành động chống phân biệt đối xử; và trong năm 2006 đã công bố một khoản chi 2 tỉ ringgit mới giúp người Mã Lai mua bất động sản. Điều này là không đủ đối với một thế hệ các nhà lãnh đạo UMNO mới nhiều người là con cái các nhà cựu lãnh đạo những người đã bắt đầu chán ngấy các khoản trao tay và muốn nhiều hơn thế. Tại hội nghị thường niên của UMNO tháng 11 năm 2006, các đại biểu đã phát biểu những lời lẽ gây kích động nhất về chủng tộc. Họ hứa sẽ "tắm trong máu" để bảo vệ quyền lợi của đa số người Hồi giáo chống lại thiểu số người Trung Quốc và Ấn Độ. Bộ trưởng Bộ Giáo dục đã huơ một thanh đoản kiếm Keris truyền thống để biểu thị sức mạnh và niềm đam mê của mình, và kêu gọi hãy sử dụng nó. Nhiều người Malaysia nói rằng, hiện nay ở nước này có ít sự tương tác giữa các nhóm chủng tộc so với hơn ba mươi năm trước đây. Những người hy vọng có sự đảo ngược xu hướng này, và hy vọng chủ nghĩa bạn bè giảm đi, đã cảm thấy có nhiệt tâm khi người cấp phó của Mahathir là Anwar Ibrahim thoát khỏi chốn ngục tù năm 2004. Anwar tìm cách thống nhất các chính đảng đối lập dựa trên một cương lĩnh chung. Đảng của chính ông, Keadilan, là một đảng đa sắc tộc. Nhưng căn cứ vào cách làm việc của UMNO, nếu Anwar trở thành một mối đe dọa chính trị nghiêm trọng, có khả năng là UMNO sẽ chào đón ông ta trở lại với vị trí lãnh đạo cao cấp của chính phủ; và hoàn toàn có thể là Anwar sẽ chấp nhận, dựa trên những việc làm trước đây. Thật khó tưởng tượng điều gì sẽ thay đổi quỹ đạo chính trị của Malaysia. Nếu không có thay đổi, sự lãng phí và không hiệu quả về kinh tế sẽ vẫn cao, và mức tăng trưởng sẽ giảm đi.

Indonesia là một nước "hợp thức" như chúng ta đã xem xét, là nơi đã từng có một thước đo của sự tiến bộ chính trị kể từ sau cuộc khủng hoảng tài chính. Điều này ngược lại với sự kiện Suharto sụp đổ năm 1998. Các chính phủ của Abdurrahman Wahid và Megawati Sukarnoputri, trong thời gian 1999-2004, đặc trưng bởi việc thâu tóm quyền lực đến điên cuồng, tham nhũng ngang bằng hoặc tồi tệ hơn thời Suharto và xảy ra xung đột phe phái ở các vùng khác nhau của quần đảo này. Susilo Bambang Yudhoyono, người đầu tiên trở thành Tổng thống được bầu trực tiếp sau cuộc khủng hoảng, năm 2004, đã làm việc khá tốt để ổn định tình hình. Không giống như các chính phủ ở Philippines và Thái Lan, ông giải quyết các vụ bạo loạn bắt nguồn từ đói nghèo và bất công, nhất là bất đồng về ý thức hệ, bằng cách đàm phán, cũng như bằng "cuộc chiến chống khủng bố". Một vụ tấn công phiến quân ở Aceh, bắc Sumatra, nơi có hơn 10.000 người đã thiệt mạng trong cuộc xung đột với lực lượng an ninh kể từ cuối những năm 1980, đã dẫn đến giải giáp vũ khí và hòa bình trong năm 2005. Xung đột giáo phái ở các tỉnh miền Đông Maluku và Sulawesi, từ năm 1999 đến 2001, gây tổn thất hàng nghìn sinh mạng, cũng được giải quyết. SBY, như dân chúng thường gọi vị Tổng thống này, không đại diện cho sự phân chia về chính trị; ông là một tướng lĩnh cấp cao thời Suharto và có khuynh hướng lập lờ nước đôi điển hình cho văn hóa chính trị Java. Tuy nhiên, bất chấp đói nghèo tăng cao, đa số người Indonesia cho rằng ông ta thành thật và đại diện cho lợi ích của cộng đồng rộng lớn. Trong cuộc thăm dò ý kiến vào đầu năm 2007, điểm đánh giá tán thành cho SBY là 70%, đa số là của những cử tri đã đưa ông lên nắm quyền. Tăng trưởng kinh tế đã trở lại mức 6%, lạm phát được kiểm soát và đồng tiền đã lên giá. Trong khi đó, Tổng thống đã có một số nỗ lực cải cách thể chế. Ông đã thành lập một đội ngũ quản lý theo mô hình Bộ tham mưu của Tổng thống Hoa Kỳ cánh Tây của Nhà Trắng với một nỗ lực buộc thay đổi bộ máy quan liêu khổng lồ của Indonesia. Phần lớn các khoản thu thuế đã được phân phối cho chính quyền địa phương với hy vọng rằng việc phân quyền sẽ làm cho chính phủ hoạt động hiệu quả hơn. Trợ giá nhiên liệu đã được cắt giảm để cân bằng ngân sách và các bước thăm dò được thực hiện để giảm số lượng các doanh nghiệp do quân đội kiểm soát và đưa các thành viên của nó ra các tòa án dân sự. Sẽ lạc quan quá mức khi nói rằng tiến bộ về cải cách rất ấn tượng nhiều chủ trương còn dở dang hoặc bị trì hoãn nhưng những thay đổi đó đủ để cho các nhà lãnh đạo quân sự đã nghỉ hưu là Try Sutrisno và Tyasno Sudarto bắt đầu công khai rêu rao rằng sự dàn xếp dân chủ mới gây nên "sự hỗn loạn". Tại Indonesia, những khúc ai ca như vậy có lẽ là dấu hiệu của sự tiến bộ. Bất chấp sự chỉ trích về dân chủ của các vị tướng này, trong cuộc đấu tranh lâu dài để cải cách chế độ tư pháp chuyên ăn hối lộ của Indonesia và các doanh nghiệp hùng mạnh của giới quân sự, SBY ít phải đối mặt với rủi ro về một cuộc đảo chính như ở Philippines hay Thái Lan. Quân đội Indonesia, mặc dù tham nhũng và tham lam, nhưng thường đáp ứng ý kiến của công chúng, và sự nổi tiếng của SBY là không thể phủ nhận. Thêm một mối đe dọa nữa là thách thức từ Phó Tổng thống Jusuf Kalla trong cuộc tổng tuyển cử năm 2009. Kalla, xuất thân từ một gia đình bố già người Mã Lai bản xứ giàu lên nhờ dược nhượng bộ kinh doanh của nhà nước những năm 1950, và đôi khi là một phụ tá hữu ích và chắc chắn có sức lôi cuốn cho chính quyền của SBY. Nhưng viễn cảnh về một gia đình đại gia địa phương nắm giữ ghế Tổng thống không phải là một viễn cảnh có sức thu hút; nó dẫn Indonesia đến cái đầm lầy chính trị như Philippines và Thái Lan. May mắn là, các cử tri Indonesia đã nhận ra điều này.

SINGAPORE CÓ THỂ DỰ ĐOÁN

Trong những năm gần đây, có rất ít điều để nói về đời sống chính trị của Singapore nơi nương náu yêu thích của những kẻ vô lại người Indonesia. Năm 2006, Đảng hành động nhân dân cầm quyền (PAP) đã giành thắng lợi trong cuộc bầu cử lần thứ mười, với 67% số phiếu. PAP đã sử dụng bộ máy chính trị to lớn của nó, và được sự hỗ trợ đáng tin cậy của các phương tiện truyền thông của nhà nước. Họ thường hứa về các quỹ nhà ở bổ sung cho các đơn vị bầu cử có đông công nhân đã ủng hộ họ, và cảnh báo trước là sẽ từ chối tài trợ cho những ai không ủng hộ họ. Các luật sư của PAP tung ra những vụ kiện phỉ báng truyền thống để chống lại các chính trị gia đối lập, và hầu hết bọn họ đều nhanh chóng khom lưng uốn gối chứ không dám đối mặt. Lãnh tụ của phe đối lập chính bị tống giam một thời gian ngắn trước cuộc thăm dò ý kiến để thẩm vấn về sự độc lập của bộ máy tư pháp và một lần nữa sau cuộc thăm dò, vì nói trước công chúng mà không được cho phép. Đó là chiến thắng đầu tiên trong bầu cử đối với Lý Hiển Long, con trai của Lý Quang Diệu; và ông già này vẫn giữ chiếc ghế ở Nội các của mình với cái danh hiệu lố bịch là Bộ trưởng cố vấn. Giống như UMNO, phần lớn thành công của PAP là hình như nó không thể bị công kích, và do đó có thể thu nạp thêm những người có tham vọng về chính trị. Trong những cuộc bầu cử gần đây, hơn một phần năm ứng cử viên của nó là người ứng cử lần đầu. Tuy thế, sự ủng hộ của 75% cử tri trong cuộc tổng tuyển cử trước đó đối với PAP đã mất đi vào năm 2006. Và sau khủng hoảng, chính phủ khuyến khích chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài thông qua giảm thuế, trong khi lại cân đối ngân sách nhà nước bằng cách tăng các loại thuế gián tiếp, dẫn đến tình trạng căng thẳng trong xã hội. Tăng trưởng GDP trở lại mức 8% năm 2006, nhưng tăng trưởng tiêu dùng cá nhân chỉ là 3%. Điều này phần nào phản ánh sự mở rộng nhanh hơn nhiều của các doanh nghiệp có sở hữu nước ngoài, và trái lại, sự thu hẹp dần các doanh nghiệp địa phương. Tương tự, có sự bùng nổ về các doanh nghiệp nước ngoài chi phối thị trường bất động sản sang trọng, trong khi tăng trưởng trong đầu tư vào bất động sản của người địa phương chỉ trên 2%. Với hầu hết các tiêu chuẩn đánh giá, Singapore và Hồng Kông là hai nơi giàu có nhưng bất bình đẳng nhất thế giới; và sự bất bình đẳng này ngày càng tăng một cách đáng lo ngại. Tuy nhiên, ở Singapore, những người muốn khiếu nại phải thận trọng vì mới đây chính phủ tăng mức thuế quan đối với 19 mức thuế hiện hành và ban hành những hình phạt mới đối với những vi phạm trật tự công cộng, từ các cuộc tụ họp đông người cho đến việc đăng tin trên Internet. Cũng hữu ích khi nhớ lại rằng, xứ sở Singapore yên bình vẫn duy trì hình phạt cao nhất thế giới là xử tử, cũng như Trung Quốc hay Ảrập Xêút. Thay đổi chính trị không thể xảy ra nếu Harry Lý không bước xuống vũ đài chính trị.

HỒNG KÔNG: MỘT LOẠI LÃNH ĐẠO TỪ BÊN NGOÀI KHÁC?

Ở Đông Nam Á, phần lớn các vấn đề chính trị là những nước này thường bỏ qua (và làm lạc hướng sự chú ý như "bình thường") những bài học xấu như nhau. Những bài học đó là các chính trị gia thao túng nền dân chủ, không có thị trường tự do trong những nền kinh tế dựa trên nhượng bộ kinh doanh nên không có cạnh tranh thực sự, và do đó tốc độ tăng trưởng không cao để có thể phát triển bền vững. Ở góc độ này, hy vọng chính trị thực sự cho Đông Nam Á trong những năm tới có thể là Hồng Kông, một thành phố có vị trí địa lý ở lề khu vực. Đây là nơi có thể tạo ra sự lãnh đạo cần thiết. Cái mà các nhà xã hội học gọi là "hiệu ứng biểu tình" cực kỳ quan trọng đối với các nước đang phát triển: mô hình do Nhật Bản thiết lập, như sẽ phác họa dưới đây, có tính quyết định trong việc gây ảnh hưởng đối với các thuộc địa cũ là Hàn Quốc và Đài Loan, và đã giúp họ trở nên giàu hơn nhiều so với các quốc gia Đông Nam Á, bất chấp xuất phát điểm sau chiến tranh của họ khá thấp. Ở châu Âu, “hiệu ứng biểu tình” ở Liên minh châu Âu đã dẫn hướng cho tiến bộ kinh tế và chính trị của các quốc gia Đông Âu kể từ năm 1989. Mặc dù Hồng Kông ở bên lề khu vực nhưng cộng đồng doanh nghiệp Đông Nam Á đã coi nó là thành phố dẫn đầu về các ý tưởng kinh tế và kinh doanh. Hồng Kông có thị trường vốn chi phối khu vực, một nền kinh tế lớn gấp đôi Singapore, và quan trọng nhất là có các nhà tư bản công nghiệp bản địa trong một thế giới phụ thuộc vào việc đầu tư cho các công ty sản xuất đa quốc gia. Trong tương lai, Hồng Kông có thể tạo ra một loại hiệu ứng biểu tình mà Đông Nam Á đang cần.

Quá trình chính trị hóa của cư dân Hồng Kông trong những năm gần đây đã khiến hầu hết mọi người ngạc nhiên. Ở thời thực dân, sự phát triển của đời sống chính trị bị kiềm chế bởi hai lực lượng: một là, cho đến những năm 1990, hầu hết cư dân là những người nhập cư thế hệ thứ nhất có khả năng nhận thức hạn chế về bản sắc của Hồng Kông; và hai là các Thống đốc do Bộ ngoại giao Anh phái đến quyết tâm ngăn chặn sự nổi dậy trong đời sống chính trị của dân chúng, một chính sách đã được khoác lên cái ý niệm huyền ảo rằng những người Trung Quốc vốn "phi chính trị". Việc hình thành một bản sắc chính trị rõ ràng của Hồng Kông tiếp tục bị trì hoãn trong những năm 1980, khi phần lớn dân địa phương giàu có đã không đóng bảo hiểm, bằng cách sử dụng tư cách công dân nước ngoài, để phản đối việc khôi phục chủ quyền của Trung Quốc. Các cuộc thăm dò ý kiến đã luôn cho thấy những người giữ hộ chiếu nước ngoài ít quan tâm đến chính trị, hoặc bầu cử. Không những thế, mong muốn thay đổi đã được ấp ủ thầm kín trong những năm 1990, và nó bắt đầu sôi sục dưới thời Thống đốc cuối cùng là Chris Patten. Vào thời gian Patten được Thủ tướng Anh John Major bổ nhiệm năm 1992, sau khi Major mất kiên nhẫn với việc hành xử quá dễ dãi và không thích hợp của Bộ ngoại giao Anh trong mối quan hệ với Trung Quốc, đa số người dân Hồng Kông đều sinh tại địa phương nên có những hiểu biết rõ ràng về vùng lãnh thổ này. Patten là một nhà chính trị chuyên nghiệp nhưng không có nhiều kiến thức về Trung Quốc, sau đó đã có một quyết tâm không mạnh mẽ lắm nhằm tạo ra lối thoát cho thuộc địa lớn cuối cùng của nước Anh trên cơ sở các nguyên tắc chính trị. Ông đưa ra những thay đổi đáng kể đối với việc chuẩn bị bầu cử ở Hồng Kông – thể hiện trong các văn bản thỏa thuận bàn giao chính thức với Trung Quốc, mặc dù trái với những cam đoan trước đây mà các quan chức Anh và các quan chức Trung Quốc đã bàn kín với nhau và đặt ra mưu kế cho nhiều điều sắp xảy ra đối với cuộc bầu cử hoàn toàn dân chủ năm 1995. Các chính trị gia ủng hộ dân chủ đã giành chiến thắng và có được sự ủng hộ của công chúng. Patten không nhượng bộ khi Bắc Kinh muốn đảo ngược những thay đổi về bầu cử khi họ đã khôi phục được chủ quyền vào năm 1997. Đây là điều đã thực sự xảy ra, nhưng vị thần đa nguyên chính trị ở Hồng Kông đã chui ra khỏi chiếc lọ thần và chưa bao giờ bị buộc phải quay lại đó. Hành động ôm hôn trẻ nhỏ, các cuộc vi hành trong dân gian và sự sẵn lòng tự mình làm việc cũng như tranh luận với cơ quan lập pháp của Patten giúp Hồng Kông có được một cái gì đó mới mẻ. Ông đã, và vẫn còn, rất nổi tiếng ở thành phố này, mặc dù thực tế ông không nói được tiếng Hoa và không có những kiến thức tối thiểu về lịch sử châu Á.

Ảnh hưởng của Patten không thể đến được các lực lượng khác sự trỗi dậy của bản sắc chính trị khác biệt của Hồng Kông, sự trưởng thành của các chính trị gia địa phương, sự thừa nhận rộng rãi rằng nhiều thập kỷ tăng trưởng đã không làm cho đa số người dân giàu lên nhưng nó là đáng kể. Ngày 1 tháng 7 năm 2003, sáu năm sau khi Patten đến, tất cả các xu hướng dẫn đến chính trị hóa mạnh hơn ở Hồng Kông đã trở nên cực kỳ rõ ràng trong một sự kiện duy nhất. Sau khi đặc khu trưởng đầu tiên, Đổng Kiến Hoa đề xuất pháp chế chống lật đổ được Bắc Kinh mong đợi, hơn nửa triệu người 10% dân số xuống đường phản đối cuộc tấn công vào quyền tự do cơ bản của công dân và sự lãnh đạo của các đại gia. Đối với bất kỳ ai, như tác giả, những người đã sống ở Hồng Kông tẻ nhạt về chính trị những năm 1990, cảnh tượng này thật tuyệt vời. Nền chính trị từ dưới lên, tự phát và không có tính cách mạng của những người dân bình thường trái ngược với sự quản lý từ trên xuống của tầng lớp tinh hoa đã đến được Hồng Kông, và do sự kết giao với Đông Nam Á.

Dù ít dù nhiều, người dân đã bàn tán về các bộ luật chống lật đổ. Thay vào đó, chương trình nghị sự về chính trị đã chuyển sang vấn đề cải cách việc bầu cử của Hồng Kông. Chế độ thực dân trước thời Patten được Bắc Kinh phục hồi năm 1997 có nghĩa là độc quyền kinh doanh nhỏ, các đơn vị bầu cử chức năng phân chia theo doanh nghiệp và được các nhà bảo thủ và lợi ích của các bố già kiểm soát – trước kia chịu ơn nước Anh và bây giờ là Trung Quốc giữ sự cân bằng cho quyền lực của Hội đồng Lập pháp. Ở góc độ này, cải cách chính trị hoàn toàn là một cuộc đấu tranh giữa quần chúng và tầng lớp tinh hoa kinh tế. Nói riêng, câu hỏi về bầu chọn đặc khu trưởng, người hiện được chọn bởi một Ủy ban Bầu cử 800 thành viên đa số ủng hộ Bắc Kinh sẽ như thế nào. Cuộc đấu tranh cho dân chủ ở Hồng Kông đã sinh ra cuộc đấu thú vị nhất trên bàn cờ chính trị Đông Nam Á. Một bên là các doanh nghiệp lớn, liên quan đến quyền lợi được thụ hưởng và Trung Quốc, và bên kia là những cử tri khác của Hồng Kông khi được phép tham gia bầu cử ở các đơn vị bầu cử phân theo khu vực địa lý – cho thấy sự hỗ trợ đắc lực cho các ứng cử viên có xu hướng dân chủ và bãi bỏ quy định về kinh tế.

Quân cờ quan trọng nhất trên bàn cờ là Donald Tằng, một cựu công chức thuộc địa cao cấp và là người thay thế cho đại gia lãnh đạo đã thất bại Đổng Kiến Hoa đã được Bắc Kinh chấp nhận. Tằng là một người thuộc tầng lớp tinh hoa, vốn dĩ coi trọng quyền lực theo thể thức Trung Hoa, nhưng khi ông ta lên nhậm chức lại theo thể thức của Bộ ngoại giao Anh (ông ta vẫn ngại thắt nơ con bướm). Nhưng ông cũng đủ thông minh để hiểu khái niệm công luận. Động thái đầu tiên của ông, năm 2005, là đề xuất sửa đổi một chút việc chuẩn bị bầu cử cho vị trí của mình năm 2007, và các cuộc bầu Hội đồng Lập pháp năm 2008. Không may, ông không thể hiểu được Hồng Kông đã thay đổi nhiều thế nào hoặc dân chúng đang cần một chính phủ thích ứng hơn nữa. Mọi phương cách đều không thể bảo đảm có được đa số hai phần ba cần thiết trong Hội đồng Lập pháp, vì họ hầu như không có sự hỗ trợ chính thống. Sau đó, Tằng nói sẽ không có thay đổi nào trong năm 2007 và 2008. Tuy nhiên, điều này chỉ làm suy yếu khả năng chia rẽ đối thủ của ông. Các chính đảng lớn, và các cựu công chức cao cấp như thư ký trưởng Anson Trần của Patten, tập hợp lại xung quanh các kiến nghị chuyển tiếp sang nền dân chủ có phân chia giai đoạn ở cả cơ quan lập pháp và bầu cử đặc khu trưởng giữa năm 2008 và năm 2016.

Tháng 3 năm 2007, Tằng được chính thức được Ủy ban bầu cử không có cải cách và bị Bắc Kinh chi phối "bầu chọn". Thắng lợi của ông là một quyết định đã được dự tính trước, nhưng cách vận động bầu cử của Tằng đã đẩy ông vào một ngã rẽ giống như Đổng Kiến Hoa. Ông đã không thể xây dựng được một hình ảnh chính trị phù hợp với nguyện vọng của dân chúng để thay thế cho việc phải dựa vào sự hỗ trợ truyền thống của tầng lớp các bố già. Chủ trì chiến dịch tranh cử của ông là David Lý của Ngân hàng Đông Á, cũng là người cung cấp các văn phòng hiện đại để làm tổng hành dinh cho cuộc vận động. Các nhà tài trợ chính của Tằng gồm một loạt các đại gia. Hầu hết mỗi bố già ở Hồng Kông, và trong nhiều trường hợp là con cái của các bố già cũng như các Giám đốc điều hành cao cấp đều đóng góp 100.000 đôla Hồng Kông theo gợi ý của phe Tằng. Ba gia đình lớn K.S. Lý, Peter Ngô và Stanley Hà – mỗi nhà đóng góp 900.000 đôla Hồng Kông. Những nhà tài phiệt hậu thuẫn cho Tằng đã chi số tiền nhiều hơn bảy lần mà ông đã dành cho bầu cử; nhiều hơn số tiền đã đóng góp cho các quỹ từ thiện. Vì những tin tức ban đầu nói rằng Tằng sẽ nhận bàn giao từ Đổng Kiến Hoa vào tháng 3 năm 2005 đã trở nên công khai do bố già ngành cờ bạc Stanley Hà nói chuyện với các nhà báo, nên cuộc bầu cử 2007 củng cố ý niệm rằng các đại gia là trái tim của hệ thống chính trị ở Hồng Kông. Tằng đã thắng cử, nhưng cách chiến thắng của ông đã không tạo ra bất kỳ tính hợp pháp phổ biến nghiêm túc nào. Cuộc vận động cải cách chính trị có lẽ được củng cố bởi một thực tế là, Tằng không thể tạo ra diện mạo của một cơ sở ủng hộ chính trị rộng lớn hơn dưới việc chuẩn bị bầu cử hiện hành. Nếu không thừa nhận tính cấp thiết phải có những cải cách lớn, Tằng có nguy cơ không được quần chúng tín nhiệm cũng như Đổng Kiến Hoa. Rủi ro của ông cao hơn nhưng bất chấp công luận – nên chiến lược là phải lặng lẽ và chắc chắn đến Bắc Kinh rồi nói rằng nếu không có kế hoạch cải cách chính trị, Hồng Kông có khả năng sẽ trở nên không thể quản lý được. Điều này sẽ dẫn đến mối đe dọa tiềm ẩn là từ chức. Ở Trung Quốc, thỉnh cầu hoặc đối đầu mạnh mẽ cũng chẳng mang lại điều gì; chỉ một tuyên bố giản đơn về các sự kiện là khả năng thay đổi đặc khu trưởng có thể xảy ra.

Tất nhiên, có nhiều khả năng, Tằng sẽ chơi canh bạc là có thể phải từ chức mà chẳng làm được điều gì nghiêm túc trong cải cách chính trị, tăng trưởng kinh tế sẽ củng cố lợi ích chính trị, và Trung Quốc sẽ không ngốc nghếch tạo ra một điểm bùng phát khác nữa như pháp chế chống lật đổ khiến dân chúng phải biểu tình trên đường phố. Ông có thể đúng, nhưng Hồng Kông luôn là câu chuyện chính trị thú vị nhất ở Đông Nam Á, vì có thể ông cũng sai. Dân chúng đã hiểu rõ ách kìm kẹp của giới tinh hoa chính trị và muốn họ phải nới lỏng ra. Hiện luôn luôn có sự bàn tán xôn xao về chính trị, xung quanh việc cần phải có luật cạnh tranh và bãi bỏ quy định đối với nền kinh tế trong nước. Các bố già đang bị vây hãm chứ không thoải mái như trước nữa. Báo chí bằng tiếng Trung Quốc bạo dạn hơn thập kỷ trước rất nhiều. Và những mánh lới cũ nhằm biện minh cho các hoạt động thực tiễn về chính trị và kinh tế dựa trên những khác biệt về xã hội và văn hóa đã lỗi thời hơn bao giờ hết. Như Edmund Terence Gomez, học giả hàng đầu thế giới về quyền lực và các mối quan hệ giữa chính trị và kinh doanh ở Đông Nam Á, đã nhận xét: "Cuộc khủng hoảng châu Á đã phá vỡ huyền thoại về quyền lực." Ở góc độ này, có một sự tương tự về lịch sử với nước Anh. Hồng Kông đã rời xa thời đại Victoria, nơi chỉ mặc những bộ lễ phục sang trọng cũng đủ để có được sự tôn kính đối với quyền lực chính trị và kinh tế, để chuyển sang thời Edward, nơi những mong đợi của tầng lớp tinh hoa khác xa với những mong đợi của công chúng. Các bố già và một số công chức không muốn có gì thay đổi nhiều, họ khăng khăng rằng những phương thức cũ vẫn là tốt nhất; và bất cứ ai không đồng ý với họ đều bị cho là kẻ gây rối. Trong khi đó, nguyện vọng cá nhân và nguyện vọng chính trị của phần lớn cư dân đã tăng lên, và các chính trị gia đã được bầu chọn đang bắt đầu thích ứng với những điều này. Nhưng ý chí chính trị mà Winston Churchill đã đề cập đến trong thập niên 1910 là "quần chúng bị bỏ quên" sẽ được giúp đỡ, còn lâu mới rõ ràng. Kết cục là một cảnh tượng gây tò mò, trong đó Hồng Kông trở nên phức tạp và có tính quốc tế hơn nhiều so với năm 1997, đồng thời rất nhiều tỷ phú và các vị lãnh đạo chính phủ tỏ ra khó hiểu một cách vô lý; và những quan điểm chính trị trịch thượng của họ thậm chí chẳng hữu ích chút nào.

Cần nhấn mạnh rằng, khi cải cách chính trị tại Hồng Kông chắc chắn sẽ dẫn đến việc bãi bỏ những quy định kinh tế, thì không có nghĩa là có sự chấm dứt thời đại của các bố già đã thích nghi. Họ đã có quá nhiều tiền, và như các cháu trai của một trong những người giàu nhất Đông Nam Á đã nói: "Nói chung, tiền lại làm ra tiền." Tuy nhiên, việc bãi bỏ quy định là hết sức quan trọng, nếu không nó sẽ gây nên tình trạng những doanh nghiệp trẻ, sáng tạo hơn, và các doanh nghiệp sản xuất đang muốn đổi mới công nghệ không được quan tâm đúng mức. Hiện nay, các công ty này đang tiến vào một lĩnh vực mới với những hoạt động sản xuất vượt ra ngoài biên giới Trung Quốc. Không có gì để họ làm ở Hồng Kông, vì tất cả không gian kinh tế của nền kinh tế trong nước đã bị giới tinh hoa cực đoan chiếm giữ. Các doanh nhân công nghiệp hàng đầu ở Hồng Kông như Michael của doanh nghiệp may mặc Esprit và Patrick Vương của nhà sản xuất động cơ điện cực nhỏ Johnson Electrics đã gia nhập hàng ngũ tỷ phú của thế giới những năm gần đây. Nhưng trái ngược với các đại gia trong lĩnh vực dịch vụ, họ chẳng được hưởng gì từ những ảnh hưởng chính trị và chính sách ở Hồng Kông. Điều đó cũng cho thấy, ở một nơi dễ kiếm tiền như Hồng Kông, những nhà tư bản công nghiệp đang có xu hướng bán bớt vốn sở hữu của mình khi các doanh nghiệp sản xuất đã đạt đến một quy mô nhất định, nhưng không bỏ tiền vào các dự án đầu tư thụ động như bất động sản.

Ở mức tối thiểu, cải cách chính trị và kinh tế tại Hồng Kông sẽ làm cho nơi này công bằng hơn, và đây có thể là lập luận tốt nhất cho nhu cầu cần thay đổi. Hồng Kông được coi như phần còn lại của Đông Nam Á là một nơi rất không công bằng. Các doanh nhân giàu nhất ngày càng giàu có hơn vì có những cartel và công ty độc quyền, trong khi những người khác phải gượng gạo trả giá cao nhưng lại chỉ nhận được những dịch vụ chất lượng thấp và không phải là dịch vụ thiết yếu, vì những chính sách hạn chế như nhau. Tầng lớp các đại gia giàu có đến khó tin chẳng phải trả một thứ thuế nào vì họ có thu nhập từ cổ tức miễn thuế, hoàn toàn tương phản với cư dân lao động, mức lương tối thiểu cứ giảm dần trong khi phải trả giá cao (vì lạm phát) cho thức ăn, điện, khí đốt, dịch vụ ngân hàng, bất động sản và nhiều thứ khác nữa. Ở một mức độ nào đó, nếu dân chúng được tham gia vào tiến trình chính trị thì cuộc sống của người nghèo ở các thành phố còn có thể chịu được. Nhưng điều này lại thiếu vắng ở Hồng Kông. Hầu như không có đất cho công viên đô thị (các dự án phát triển đã choán hết không gian), không có sự quan tâm tối thiểu đến chất lượng môi trường (ô nhiễm môi trường đang nhanh chóng trở nên tồi tệ hơn, và các đại gia lại thường xuyên ở nước ngoài, nên hình như họ không mấy quan tâm) và việc liên tục xây dựng đường bộ (được một thiểu số giàu có, sở hữu những chiếc xe hơi sang trọng phê duyệt) tiếp tục làm xuống cấp các khu vực mà đa số người dân sinh sống. Hồng Kông là một bài toán: Công việc khó khăn thì cùng làm chung, nhưng phân phối lợi nhuận có được từ công việc đó lại cực kỳ bất công. Tính thích ứng của chính trị và bãi bỏ quy định kinh tế là hợp lý, cần thiết và có thể. Về khía cạnh này, Hồng Kông là một nơi có thể chỉ cho người dân ở khắp Đông Nam Á thấy rằng, một cuộc sống tốt đẹp hơn so với cuộc sống hiện tại, mà hầu hết người dân đã phải cam chịu từ lâu, là hoàn toàn khả thi.

MỘT MÔ HÌNH HIỆU QUẢ HƠN

Nếu phân tích trên đây về tiềm năng chính trị của Hồng Kông có vẻ hơi mơ tưởng thì cần nhớ là châu Á không có một mô hình phát triển khác, đã được kiểm chứng, để làm cho xã hội giàu có hơn, bình đẳng và tự do hơn những xã hội ở Đông Nam Á. Mô hình này còn lâu mới hoàn hảo, nhưng nó chỉ ra sự yếu kém có tính biện chứng của những người đang lập luận rằng, tỷ lệ đói nghèo ở một quốc gia như Thái Lan giảm từ hai phần ba trong những năm 1960 xuống dưới 10% hiện nay, Đông Nam Á có thể được nhận xét là đã làm tốt công tác xóa đói giảm nghèo. Dòng suy nghĩ như thế chỉ hợp lý nếu hạn chế khắt khe những mong đợi của của người dân. Thay vào đó, nếu so sánh với Đông Bắc Á thì thấy rõ đời sống chính trị quan trọng như thế nào đối với phát triển kinh tế. Mô hình Đông Bắc Á do Nhật Bản phát triển hơn một thế kỷ trước đây đã trực tiếp dựa trên những lựa chọn chính trị, nó vẫn là mô hình duy nhất để đưa một nước không phải của người da trắng thoát khỏi đói nghèo và trở thành một nước phát triển. Thực tế là có một quốc gia đã theo hiệu ứng biểu tình của Nhật Bản; đó là Đài Loan một xã hội Trung Hoa. Nó cho thấy rằng văn hóa và chủng tộc thực sự không quá quan trọng đối với phát triển kinh tế, mặc dù các nhà lãnh đạo Đông Nam Á quyết tâm chứng minh điều ngược lại. Đài Loan cũng có tính Trung Quốc như Hồng Kông hoặc Singapore – hai quốc gia hoàn toàn thuộc về Đông Nam Á nhưng về khía cạnh kinh tế, nó giống Nhật Bản nhiều hơn.

Có ba điều làm cho mô hình Đông Bắc Á khác với mô hình của Đông Nam Á, và tất cả đều liên quan đến đời sống chính trị. Thứ nhất là Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan đã thực hiện cải cách ruộng đất, và do đó đảm bảo rằng họ sẽ được hưởng một quá trình phát triển từ dưới lên, trong đó gần như tất cả mọi người đều có một chút vốn liếng để xây dựng một cuộc sống tốt hơn. Ở Đông Nam Á, tầng lớp tinh hoa chính trị lẩn tránh cải cách ruộng đất. Trường hợp rõ nhất là Philippines, như đã lưu ý, có tầng lớp chính trị ích kỷ nhất và chỉ biết chăm chút lợi ích của mình, chủ yếu dựa vào sự giàu có về đất đai. Các chính phủ Đông Bắc Á thực hiện cải cách ruộng đất vì họ có một cam kết chính trị rộng mở hơn đối với mục tiêu công bằng xã hội. Hệ số Gini của Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan lần lượt là 0,25, 0,32 và 0,24. Ở Đông Nam Á, chỉ số này là 0,34 ở Indonesia, và nhanh chóng tăng lên 0,5 ở Hồng Kông và Singapore. Tính hòa nhập về chính trị tại Đông Bắc Á cũng được phản ánh thông qua sự khoan dung của nhà nước đối với người lao động và các tổ chức của họ dưới hình thức nghiệp đoàn. Các chính trị gia có thể không thích nghiệp đoàn, nhưng không như ở Đông Nam Á, họ không đè nén hoặc làm dân chúng suy nhược, hoặc lý luận rằng các tổ chức đại diện cho công nhân nếu hoạt động độc lập thì sẽ cản trở sự phát triển.

Đặc điểm thứ hai của mô hình Đông Bắc Á là, khi các chính phủ cố gắng chọn người được hưởng lợi về kinh tế như tất cả các quốc gia đang phát triển đã quen làm việc này họ đã hậu thuẫn cho các nhà sản xuất và doanh nghiệp có khả năng phát minh ra công nghệ mới. Hầu như tất cả các công ty được ưu tiên ở Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan là các công ty gia đình, và họ cũng hối lộ các chính trị gia, nhưng không phải là các công ty có hoạt động bị giới hạn trong thương mại và dịch vụ. Vì có được các khoản cho thuê kinh tế trong dịch vụ tài chính công cộng, và được tiếp cận nguồn vốn nên những dòng tiền mặt có giá trị này ít bị giới tinh hoa kinh tế không tham gia sản xuất kiềm giữ, vì họ không thể cạnh tranh toàn cầu. Samsung hoặc Hyundai là những tập đoàn khổng lồ của gia đình, nhưng nó cũng là một doanh nghiệp mà một số công ty con của nó sản xuất ra những loại hàng hóa được bán trên phạm vi toàn cầu. Ngược lại, các tập đoàn ở Đông Nam Á không quen với thị trường toàn cầu, và khi được cấp nhượng bộ kinh doanh thì chỉ đơn giản là đưa ra các yêu cầu về công nghệ và tạo thêm việc làm cho các công ty đa quốc gia. Sự sa lầy đã lâu vào "công nghiệp hoá không có công nghệ" này như Yoshihara đặt tên cho nó hai thập kỷ trước đây – thường được che giấu bằng tỉ lệ tăng trưởng cao và những tòa nhà chọc trời sáng bóng chốn thị thành. Và thực tế là, năng lực xuất khẩu quy mô lớn của Đông Nam Á là do các nhà đầu tư nước ngoài tạo ra. Nói như vậy có thể gây tranh cãi, nhưng có một minh chứng mạnh mẽ là bản chất của công nghiệp hóa định hướng xuất khẩu thực sự làm giảm khả năng cạnh tranh quốc tế của Đông Nam Á, bởi vì nó không tạo ra áp lực để có chính sách kinh tế trong nước hiệu quả hơn. Hiện nay, Hàn Quốc và Đài Loan đang có GDP bình quân đầu người cao gấp 312 lần so với bốn nước chính ở Đông Nam Á. Đầu thập niên 1950, sự khác biệt là không đáng kể. Hàn Quốc và Đài Loan giống như Nhật Bản đã thành công trên trường quốc tế, có những doanh nghiệp có thương hiệu mạnh; còn Đông Nam Á hầu như không có doanh nghiệp nào.

Điểm khác biệt thứ ba ở mô hình Đông Bắc Á là, hệ thống chính trị luôn luôn hoạt động nghiêm túc hơn ở Đông Nam Á, và là động lực phát triển. Cuối thế kỷ XIX, khi Nhật Bản bắt đầu hiện đại hóa, đã có một cuộc tranh luận khá cởi mở về loại thể chế chính trị nào là tốt nhất và phù hợp nhất với đất nước. Sau nhiều cuộc khảo sát, Nhật Bản đã sao chép hiến pháp của Đức nhiều nhất, và đã vượt lên sự nghèo nàn của chính mình và từ lâu đã gây nên một cuộc tranh luận về chủ nghĩa ngoại lệ trong văn hóa đang lan tràn ở châu Á. Trong kỷ nguyên hậu Chiến tranh thế giới thứ hai, khi Nhật Bản lặp đi lặp lại thủ thuật phát triển nhanh theo một Hiến pháp được người Mỹ sửa đổi, thì Hàn Quốc và Đài Loan đều đang trải qua một thời kỳ dài của chế độ độc tài quân sự. Tuy nhiên, khi những hạn chế của chế độ lãnh đạo độc tài trở nên rõ ràng hơn vào những năm 1980, các quốc gia này đã tăng cường năng lực một cách đáng kể để thực hiện những điều chỉnh về chính trị và thể chế. Hàn Quốc và Đài Loan đã tiến hành cuộc chuyển tiếp sang dân chủ đầy đau thương nhưng cũng đầy quyết tâm. Khi Hàn Quốc là quốc gia ở Đông Bắc Á bị ảnh hưởng nhiều nhất do cuộc khủng hoảng tài chính, độ thuần thục về chính trị lại càng rõ ràng hơn. Kim Daejung (Kim Đại Trung), một nhà hoạt động lâu năm trong phong trào dân chủ và nhân quyền, được bầu làm Tổng thống năm 1997 và bắt đầu quá trình cải cách đạt hiệu quả cao nhất so với các quốc gia chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng. Một trong những thước đo của sự thành công tương đối của Hàn Quốc trong việc giải quyết sự đổ vỡ về tài chính là, vào đầu năm 2007,họ đã đưa tỉ giá trao đổi tiền tệ của họ so với đồng đôla Mỹ trở lại tỉ giá năm 1996, trong khi tỷ giá trao đổi với đồng đôla Mỹ của các quốc gia Đông Nam Á khác không hồi phục được như vậy. Hàn Quốc có những vấn đề riêng của nó, nhưng thành tích chính trị, thể chế và kinh tế của nó từ năm 1997 đã làm cho hình ảnh các nước Đông Nam Á lu mờ.

NÓI "KHÔNG" VỚI BỮA ĂN TRƯA MIỄN PHÍ

Người dân Đông Nam Á đã thất bại là vì các chính trị gia của họ. Điều này không chỉ là thất bại có tính lịch sử của tầng lớp chính trị gia sau thời độc lập, mà đó còn là sự bất lực của họ trong việc nắm bắt các cơ hội phát triển sẵn có hiện nay. Rõ ràng nhất là các lợi ích bắt nguồn từ một thị trường tích hợp chung của ASEAN.

Một Cộng đồng Kinh tế ASEAN trên lý thuyết, trong đó các cuộc thảo luận vòng vo xung quanh việc bãi bỏ quy định kinh tế, là sự lặp lại chính xác cái tên Cộng đồng Kinh tế châu Âu (EEC), được thiết lập bởi sáu quốc gia khác nhau vào năm 1957. Nhưng những nét tương đồng đã không còn nữa. Năm mươi năm trước đây, Liên minh châu Âu, như tên gọi ngày nay, được đặc trưng bởi sự lãnh đạo chính trị mạnh mẽ. Các thành viên sáng lập của EEC Pháp, Tây Đức, Ý, Bỉ, Hà Lan và Luxembourg trong nhiều năm qua, đã rất nghiêm túc trong việc phân chia thị trường, và ở một số khía cạnh nào đó, đã điều tiết nguyện vọng của mình để bãi bỏ thỏa thuận năm 1957. Ngược lại, ASEAN có một truyền thống là thảo luận quá nhiều mà hành động lại quá ít. Hiện nay, nhóm này có mười quốc gia, có một Ban thư ký trung ương nhỏ đóng trụ sở tại Jakarta. Mỗi quốc gia thành viên có một Ban thư ký địa phương, phản ánh một truyền thống chính trị "không can thiệp vào công việc của các nước thành viên khác". Trên thực tế, ASEAN chỉ là một câu lạc bộ vui vẻ của các chính trị gia trong khu vực, không có thay đổi gì từ khi ra đời vào những năm 1960 như là một liên minh chống cộng dưới dự lãnh đạo của Mỹ. Cuộc thảo luận về một thị trường chung và bãi bỏ quy định đã được bàn tán từ khi có cuộc khủng hoảng châu Á, nhưng thực tế vẫn tụt hậu. Năm 2003, các nước ASEAN cam kết với nhau về một hiệp định thương mại tự do trong buôn bán hàng hoá, dịch vụ và đầu tư vào năm 2020. Đầu năm 2007, hạn chót được xác định lại là năm 2015. Tuy nhiên, không có thời gian biểu chi tiết, không có cơ chế tuân thủ và không có các nhà lãnh đạo cấp khu vực đủ uy tín để thúc đẩy quá trình này. Một trong những thước đo của tình trạng thương mại là sự kiện năm 2007, một nhóm các nhà chính trị lão thành (Eminent Persons Group), do cựu trợ lý của Marcos là Fidel Ramos đứng đầu, đã kêu gọi các chính phủ hiện nay của ASEAN tăng cường thực thi các mục tiêu đã đặt ra.

Việc thiếu sự lãnh đạo thiết thực và khả năng nắm bắt tình trạng trì trệ của sự tiến bộ là rất đáng thất vọng. Tại châu Âu, việc hội nhập thị trường đã làm nên ba thập kỷ tăng trưởng nhanh chóng ở các nước nhỏ có sự khác biệt, và họ đã giàu lên nhiều hơn so với các nước Đông Nam Á. Người Pháp gọi đó là "ba mươi năm vẻ vang" (les trentes glorieuses). Tất nhiên, phần lớn các động lực để hội nhập tại châu Âu là do Chiến tranh thế giới thứ hai tạo ra. Đó là một biến động lớn mà so với nó, cuộc khủng hoảng châu Á chỉ là sự mô phỏng mờ nhạt. Không những thế, nhu cầu kinh tế của Đông Nam Á ít nhất là cũng cấp thiết hơn của châu Âu. Dân số của ASEAN nhanh chóng tăng đến 560 triệu người, so với dân số 300 triệu người của 27 nước thành viên thuộc Liên Minh Châu Âu. ASEAN phải cạnh tranh về vốn và sức hút của thị trường Trung Quốc và Ấn Độ, nơi ECC đã buộc phải phải dè chừng với Mỹ. Khi làm điều đó, ASEAN phải đối mặt với một thách thức rõ ràng: làm cho chi phí thực tế của chế biến xuất khẩu thấp, phù hợp với lời hứa về một thị trường trong nước rộng lớn. Điều này không quá khó khăn, mặc dù thu nhập bình quân đầu người trung bình cũng là vấn đề đặt ra với cả Trung Quốc và Ấn Độ. Tuy nhiên, với mười nước nhỏ, việc chào hàng của ASEAN sẽ không bao giờ có hiệu quả. Khu vực này hiện vẫn là một nơi nghỉ dưỡng cho các nhà quản lý cấp trung chẳng có gì xuất sắc của các công ty đa quốc gia. Không có một thị trường chung, ASEAN chẳng bao giờ có thể được xuất hiện trên trang nhất của các tạp chí kinh tế toàn cầu.

Không thể biết đến bao giờ thì Đông Nam Á mới có thể chống lại được lực hấp dẫn của logic kinh tế. Trong thời kỳ sau khủng hoảng, Malaysia, một đất nước nhỏ với 27 triệu dân, là công cụ ngăn chặn những toan tính tự do thương mại trong một khu vực có dân số cao gấp 20 lần dân số của nó; động lực dẫn dắt nó là mong muốn bảo vệ ngành công nghiệp ô tô bé nhỏ, kém hiệu quả và những lợi ích về dầu cọ. Trong toàn khu vực, chi phí cho những lợi ích thứ yếu như vậy cho thấy một thực tế là, sau cuộc khủng hoảng, đa số các toan tính thương mại thuần túy trong nội bộ khu vực đều thất bại. Năng lực xuất khẩu trên danh nghĩa có tăng nhưng khi một số doanh nghiệp phụ tùng và linh kiện phát triển sang đất Trung Quốc bị xé lẻ, rõ ràng là Đông Nam Á phải lệ thuộc vào châu Âu và Mỹ hơn bao giờ hết. Không thể mở rộng thương mại trong nội bộ khu vực hiện tại là 20% so với 50% trong Liên minh châu Âu vì ASEAN không tự điều chỉnh chính mình. Nếu thực tiễn chính trị không thay đổi điều này, thì cuối cùng hoàn cảnh bên ngoài sẽ thay đổi nó. Trong một thập kỷ, của từ trên trời rơi xuống ở Đông Nam Á sau chiến tranh là dầu cọ, khí ga và gỗ sẽ bắt đầu cạn kiệt. Nhưng thay đổi trong những điều kiện như thế này sẽ rất tồi tệ, khi những điểm yếu của nền kinh tế thực sự đã bộc lộ, cũng như khi giới chính trị bắt đầu đổ lỗi cho nhau.

VÀ CUỐI CÙNG, NHỮNG TIN TỐT LÀNH

Sau cuộc khủng hoảng tài chính, nếu có những tin tốt lành ở Đông Nam Á, thì sẽ là thế này: một kinh nghiệm đau thương cuối cùng đã xua tan lời tự dối mình, rằng nền kinh tế của khu vực Đông Nam Á là câu chuyện về chủng tộc chứ không phải về giai cấp, hoặc nói một cách đơn giản, là câu chuyện về những người nhập cư chứ không phải về các tầng lớp tinh hoa. Những nỗ lực mà các nhà chính trị Thái Lan đã thực hiện vào mùa hè năm 1997 để đổ lỗi rằng, cuộc khủng hoảng về lợi ích của các doanh nghiệp của người "Trung Quốc" khiến công chúng phải khổ sở. Sau đó, phe đối lập với chính quyền của Thaksin Shinawatra, sau năm 2001, đã không để ý đến tính cách sắc tộc Trung Hoa của ông ta, hoặc của nhiều bộ trưởng trong Nội các của ông. Tại Indonesia, mọi người đều tin rằng dù không được chứng minh một cách thuyết phục quân đội đứng đằng sau những vụ tấn công đầy bạo lực vào cộng đồng người Indonesia gốc Trung Quốc vào mùa xuân năm 1998. Nhưng những cố gắng châm ngòi cho sự căng thẳng về chủng tộc này không gây ra các vụ nổ bom giết người phổ biến như đất nước này đã chứng kiến trong những thập niên 1960 và 1970. Ngược lại, các chính phủ sau thời Suharto đã dỡ bỏ lệnh cấm sử dụng ngôn ngữ Trung Quốc và lễ đón năm mới của người Trung Quốc với một số bất đồng nho nhỏ. Ý niệm cho rằng, trách nhiệm đối với cuộc khủng hoảng có thể được đặt lên những người gốc Hoa hoàn toàn không bị phản đối.

Dù sao đi nữa, “tính Trung Quốc” được bàn đến khá nhiều ở Đông Nam Á trong những ngày này, đôi khi thật kỳ quái. Với kịch bản Phố Tàu khi xưa đang phát đạt ở Bangkok, hầu hết diễn viên hiện nay lại là người Lào, người Trung Quốc đã chuyển đi khỏi đó để làm các công việc được trả lương tốt hơn. Dưới thời Thaksin, hầu hết ứng cử viên của đảng Thai Rak Thai (người Thái yêu người Thái), trong khi vận động tranh cử đã viết tên của họ bằng chữ Trung Quốc trên áp phích. Tất cả điều này liên quan rất nhiều đến sự trỗi dậy về kinh tế của Trung Quốc, với một mong muốn được thừa nhận là đang hiệu chỉnh "tương lai", nhưng cũng phản ánh một thời kỳ suy giảm về năng lực của các tầng lớp tinh hoa bản địa để chia và trị các đối tượng của họ. Thời gian kể từ khi kết thúc làn sóng nhập cư quy mô lớn trước Chiến tranh thế giới thứ hai vừa là một người chữa bệnh vừa là một nhà giáo dục. Ở Philippines, chủng tộc không là vấn đề lớn. Hồng Kông đã trở thành một xã hội cởi mở hơn về văn hóa, thuần thục và hòa nhập sau khi chế độ thực dân kết thúc vào năm 1997. Các trường hợp ngoại lệ là Singapore, với người Trung Quốc chiếm đa số, và Harry Lý Quang Diệu sẽ tiễn đưa lý thuyết ưu sinh ảm đạm của ông ta xuống nấm mồ; và Malaysia, nơi vẫn còn sự cân bằng tương đối về số dân người gốc Hoa và người Mã Lai bản địa, cho phép tầng lớp tinh hoa chính trị bản xứ (nếu thuật ngữ này vẫn còn có ý nghĩa) kiềm hãm đất nước này dưới danh nghĩa phân biệt đối xử tích cực. Không những thế, ở khắp khu vực, câu chuyện về quan hệ chủng tộc là một câu chuyện rất tích cực.

Sự phát triển của Trung Quốc không phải là vấn đề thảo luận của cuốn sách, nhưng trong những trải nghiệm gần đây, có nhiều bài học sâu sắc cho gã khổng lồ châu Á này – nơi khởi nguồn của rất nhiều cuộc nhập cư vào Đông Nam Á. Hơn nữa, bất cứ điều gì liên quan đến Trung Quốc có tác động nhất định đến phần còn lại của khu vực. Hiện nay, Trung Quốc đang lớn mạnh, với tỉ lệ tăng trưởng hàng năm mà cách đây không lâu các nước Đông Nam Á đã từng đạt được, với niềm đam mê riêng về các lý thuyết phát triển mang tính văn hóa. Nhiều nhà lãnh đạo cao cấp của chính phủ Trung Quốc, và nhiều nhà quan sát từ bên ngoài, đã cả quyết là đất nước này sẽ được hưởng một số quyền văn hóa để tiến bộ. Một trường hợp tương tự thường thấy là Nhật Bản, một nước lớn, đông dân, có nền văn hóa được định hình chặt chẽ. Nhật Bản cũng sớm tiếp thu những luân lý đạo đức từ Trung Quốc, vậy họ đã làm thế nào mà họ đi sau nhung lại tốt hơn? Lập luận này không vững chắc nếu chúng ta nhớ lại những thảo luận trước đây về các hệ thống kinh tế và chính trị đương thời ba điều xác định Nhật Bản và Đông Bắc Á là cải cách ruộng đất, sự phát triển của các doanh nghiệp có thương hiệu mạnh bắt nguồn từ công nghệ và cạnh tranh toàn cầu, và khả năng điều chỉnh cấu trúc chính trị. Trung Quốc thực sự nhìn nhận, dựa trên sự cân nhắc kỹ lưỡng, không mấy dễ chịu về Đông Nam Á. Cải cách ruộng đất đã diễn ra sau năm 1979, cho phép các hộ gia đình ở nông thôn canh tác trên đất của gia đình mình với tư cách là người thuê đất của nhà nước, nhưng quyền sở hữu đất đai không bao giờ được chuyển giao, nghĩa là người nông dân không thể bán, cho thuê hay thế chấp đồng ruộng của họ. Đây là những điều cốt lõi của một cuộc cải cách ruộng đất thực sự. Vẫn chưa thể kết luận được về sự tăng trưởng của các công ty toàn cầu có năng lực công nghệ. Trung Quốc là một nước có diện tích cỡ một châu lục, với thị trường trong nước to lớn đảm bảo cho các nhà sản xuất trong nước có được quy mô phát triển to lớn hơn các nước Đông Nam Á. Thế nhưng 60% và con số này vẫn đang tăng lên hàng xuất khẩu của cả nước đang được các công ty nước ngoài sản xuất, chủ yếu dựa trên mô hình chế biến xuất khẩu tương tự như Thái Lan hoặc Malaysia. Số lượng các doanh nghiệp Trung Quốc có thể cạnh tranh về thương hiệu và phát triển sản phẩm chứ không phải các nhà cung cấp cho các công ty đa quốc gia – còn khá nhỏ. Về mong muốn tham gia phát triển chính trị và đa nguyên về thể chế môi trường chính trị, tự do báo chí, tư pháp độc lập... Trung Quốc lại đang đứng sau Đông Nam Á. Dựa vào các số liệu thống kê trên, nguy cơ tan rã của một Đông Nam Á có thể lớn hơn của một Đông Bắc Á đang trên đường đi đến thịnh vượng và tự do. Nhưng những điều đó cũng có thể thay đổi.

Trong khi đó, Đông Nam Á, giống như Mỹ Latinh, cung cấp một bài học trực quan về cách thức phát triển trong những điều kiện khó khăn. Con đường dẫn đến một vài thập kỷ tăng trưởng kinh tế nhanh, trong một thế giới toàn cầu hoá, không phải là khó tìm. Tuy nhiên, những thách thức mà các tầng lớp tinh hoa chính trị và kinh tế đang kìm hãm sự phát triển có tính giai cấp và lịch sử lớn hơn nhiều. Và đây có lẽ là thách thức lớn nhất đối với phát triển bền vững. Thực sự đáng chú ý rằng, như đã nêu, Nhật Bản đã giải quyết hiệu quả các nhiệm vụ chính trị cũng như thể chế từ hơn một thế kỷ trước và không có nhiều phiền phức cho đến khi có sự nổi lên của chủ nghĩa phát xít Nhật trong thập niên 1930. Nguồn gốc của căn bệnh ung thư tiềm ẩn này là rất phức tạp và gây nhiều tranh cãi, nhưng không nghi ngờ rằng nó đã làm mờ đi sự sáng chói của chương trình hiện đại hóa của Nhật Bản lúc đầu. Sau đó, toàn thế giới đã thấy khó có thể cải thiện tình trạng này. Đối với tất cả các tổ chức toàn cầu hiện nay của chúng ta Quỹ tiền tệ quốc tế, Ngân hàng Thế giới, các chuyên gia toàn cầu và các trường dạy kinh doanh chúng ta đang phấn đấu hết sức để hiểu về cách thức làm cho các nước nghèo trở nên giàu có.

ĐÃ ĐẾN LÚC NÓI LỜI CHIA TAY

Chắc bạn đọc sẽ nhận thấy rằng, các bố già gần như hoàn toàn vắng mặt trong chương cuối cùng này. Đó là một hệ quả tất yếu của cái mẹo về cấu trúc của cuốn sách sử dụng những người giàu có, nhiều màu sắc và thú vị để kể một câu chuyện dài về lịch sử, về các nền kinh tế và sự phát triển. Các bố già chỉ đơn thuần là sản phẩm của môi trường chính trị Đông Nam Á, và cuối cùng, tự thân môi trường mới chính là vấn đề lớn của khu vực.

Tuy nhiên, chúng ta đành phải chia tay với những đại gia này. Cho dù bạn sống ở Đông Nam Á, hoặc chỉ đến thăm nó, hoặc chẳng nghĩ đến những đại gia những kẻ phú hào làm mê hoặc lòng người này thì Lý Gia Thành và Lý Triệu Cơ vẫn cứ đang chơi một hiệp đấu chỉ có hai người tại Câu lạc bộ gôn Hồng Kông nằm kề bên Vịnh nước sâu. Stanley Hà, đang chỉnh lại khuy áo smocking với sự chăm chút của nửa tá vệ sĩ, rồi đi khai trương một sòng bạc mới nữa. Madame Quắc đang kiểm tra tòa nhà cao nhất Hồng Kông Trung tâm tài chính quốc tế cùng với ba người con trai trung tuổi của bà là Walter, Raymond và Thomas đang ngoan ngoãn tháp tùng mẹ. (Các bà vợ của họ đang bận rộn đặt một phòng tắm 5.000 đôla khác cho một điền trang mới ở Cửu Long.) Ở khu bờ sông, một Simon Keswick tính khí khá thất thường đang dự một cuộc họp Hội đồng quản trị ở Tòa tháp có “một nghìn cái lỗ hậu môn” – như lời nguyền rủa của những cổ đông ngờ nghệch. Trong khi đó, Sir Adrian Swire và Sir William Purves đang nghỉ hưu “parttime” khá thoải mái ở Lodon, hoặc ngồi tựa lưng trên ghế sofa đâu đó ở văn phòng công ty trong thành phố và ngẫm nghĩ về việc chuẩn bị tiếp đãi Cheltenham và Ascot như thế nào; (không hiểu sao mà người châu Á lại yêu đua ngựa đến vậy). Ở Singapore, Hoàng Đình Phương nhấc điện thoại và gọi cho chàng Robert trẻ tuổi, bảo bắt chuyến bay buổi chiều từ Hồng Kông sang ăn tối với Harry Lý Quang Diệu. Trên một con đường của thủ đô Kuala Lumpur, Ananda Krishnan đang đi dạo tại khu tam giác vàng của thành phố cùng với Tiến sĩ Mahathir hay ba hoa. Quách Lệnh Xán có thể đang nhìn họ từ văn phòng đầy đủ tiện nghi trên tầng áp mái của ông, miệng cười toe toét trong khi vẫn bập một điếu xì gà lớn. Tại Bangkok, Dhanin Chearavanont không ở nhà, ông đã đến Thượng Hải để kiểm tra trường đua ngựa và các siêu thị của công ty Lotus. Tại Jakarta, Anthony Salim đang nghỉ ngơi một chút chẳng có ai bắt ông ta phải nghiêm nghị nữa, Budi Bloody Hartono đã mua lại ngân hàng của ông, và vẫn còn nhiều dự án của người Trung Quốc. Tại Manila, ở câu lạc bộ chơi gôn, Lucio Trần đang đọc một bài báo về các chính trị gia đang dọa đưa ông ra tòa vì một vụ trốn thuế khác; những kẻ xuẩn ngốc này sao chẳng biết điều vậy nhỉ?

Đó là tất cả những gì xảy ra trong vương quốc của các bố già. Dù ý kiến của họ là gì, các đại gia đã dẫn dắt cuộc sống ít hơn bình thường điều chỉnh để thích nghi với chế độ thực dân, chiến tranh, độc lập và bây giờ, như một vài người trong số họ đã đề cập, là Internet. Thật không phải dễ dàng tìm hiểu lý do tại sao những người nhập cư, gia đình những người nước ngoài với khát khao thành công và được thừa nhận lại là phần cơ bản của câu chuyện kể về Đông Nam Á. Tuy nhiên, thật xấu hổ khi những ý niệm ngây thơ về sự ưu việt của chủng tộc và giai cấp đã được đặt lên trên câu chuyện cổ tích rất hay về tính linh hoạt của con người và việc kinh doanh. Một số bố già, và đa số các nhà lãnh đạo chính trị chủ chốt ở khu vực trong thời hậu chiến, thực sự tin rằng họ hơn người là vì hoàn cảnh xuất thân và giáo dục. Không những thế, như đã nêu trong phần giới thiệu của cuốn sách này, cũng có những bố già hoàn toàn biết rõ luồng gió kinh tế đã từ đâu thổi đến Đông Nam Á. Họ nhận ra rằng, sự tiến bộ sau chiến tranh là một nỗ lực tập thể của những người nhập cư và người bản xứ, cùng với những lỗi lầm và thành công của cả hai bên. Họ cũng biết rằng sự đóng góp của những người nhập cư sẽ là rất ít ỏi nếu không có những nỗ lực phi thường (tuy thường không được thừa nhận) của người gốc Hoa, Ấn Độ, Sri Lanka và các chủ cửa hiệu khác, các chuyên gia và các nhà sản xuất nhỏ mà nghị lực của họ thêm vào đó là của người dân ở địa phương là nguồn lực thực sự của sức mạnh kinh tế của khu vực. Một vài lời đàm luận của một trong những bố già cực kỳ giàu có về thực tiễn của khu vực Đông Nam Á sẽ làm nên giai thoại cuối cùng như sau:

Thời trai trẻ, đại gia này có một thú giải trí ưa thích là đi câu cá dài ngày ở biển Đông. Ông và gia đình cùng các nhà quản lý cấp cao trong các doanh nghiệp của mình thường cùng nhau đi nghỉ một vài ngày. Trong các chuyến đi đó, bố già này thường kết giao với một chủ hiệu nhỏ trên một hòn đảo, mà ông và đoàn tùy tùng của ông thường dừng lại ở đó để mua thực phẩm dự trữ. Đó là một người gốc Hoa, làm việc tất cả các giờ trong ngày và thường xuyên bị ngư dân địa phương đánh thức vào lúc nửa đêm để mua dầu diésel và các đồ dùng thiết yếu khác trước khi họ đi đánh cá lúc trời vừa rạng sáng. Thường thì ngư dân không có tiền ngay và họ phải ký vào sổ nợ, lần nào cũng vậy. Ông chủ hiệu là một người luôn tỏ ra hào phóng. Ông kết hôn với một phụ nữ người Hải Nam độc thân đã có một đứa con gái (một việc khó thực hiện), và nhận trách nhiệm chăm lo cho cả hai mẹ con cô. Qua nhiều năm, bố già và người chủ hiệu này trở thành đôi bạn thân. Sự khác biệt duy nhất giữa họ, như đại gia này nhận xét, là do hoàn cảnh xuất thân và được giáo dục tốt nên ông trở nên giàu có, trở thành một tỷ phú lớn, trong khi người chủ hiệu kia phải làm việc không bao giờ ngừng nghỉ và đã phải bỏ mất cả tuổi thanh xuân. Và bố già này kết luận, một cách rất chân thành: “Đó là câu chuyện thực sự về Đông Nam Á". Nói xong, ông tỏ vẻ mãn nguyện vì đã được tận hưởng những kỷ niệm hết sức ngọt ngào, rồi mời tác giả cuốn sách này một ly rượu vang Pháp tuyệt ngon.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.