Những Kẻ Cầu Toàn Đã Thay Đổi Thế Giới Như Thế Nào? - Chương 3
– Mỗi nhà một khẩu súng, mỗi ca-bin một đồng hồ
Dung sai: 0,000 01
Hôm nay ta gọi tên các bộ phận của khẩu súng.
Hôm qua, Ta lau chùi hàng ngày. Và sáng mai,
Ta sẽ làm những gì phải làm sau khi bắn. Nhưng hôm nay,
Hôm nay ta gọi tên các bộ phận của khẩu súng.
– Henry Reed, “Naming of Parts” (1942)
Anh là một người lính, không ai biết đến tên anh hoặc họ đã quên mất nó từ lâu, anh là một tình nguyện viên trẻ tuổi cấp thấp thuộc Trung Đoàn Baltimore số Năm của Joseph Sterrett. Hôm đó là ngày 24 tháng 8 năm 1814, và trong trí tưởng tượng của tôi, người lính trẻ có lẽ đang nhễ nhại mồ hôi trong bộ quân phục dùng lại được làm từ len, chằng chịt miếng vá, không vừa người anh và cũng chẳng phù hợp chút nào với cái nắng chói chang cuối hè.
Người lính trẻ đang chờ trận chiến bắt đầu, sẵn sàng xông pha ra chiến trường. Anh đang ẩn náu sau một bức tường đá đổ nát bên ngoài một đồng ngô, không rõ mình đang ở đâu, tuy vị trung sĩ có nói anh đang ở trong một thành phố cảng nhỏ tên là Bladensburg, thông ra biển qua một nhánh sông Potomac dẫn vào Vịnh Chesapeake. Nghe đồn quân đội Anh đã đổ bộ vào đây từ các con tàu và hiện đang nhanh chóng tiến quân từ hướng đông. Washington, thủ đô của một quốc gia mới giành độc lập chưa đến 40 năm trước, nằm cách anh tám dặm về phía tây, và anh là một trong số 6.000 lính được điều động để bảo vệ thành phố. Các binh lính thì thào với nhau Tổng thống James Madison đã đích thân tới chiến trường Bladensburg, quyết buộc quân Anh lũ lượt tháo chạy về tàu của chúng.
Chàng trai trẻ đoán anh sẽ không được sử dụng nhiều cho trận chiến sắp tới, vì anh không có súng – ít nhất là một khẩu súng có thể hoạt động. Cây súng hỏa mai của anh, dòng Springfield 1795 tương đối mới, đã bị hỏng cò. Anh đã làm gãy súng, vỡ ốp lót tay và làm hỏng cò ở trận chiến trước đó, một trong số các cuộc đụng độ nhỏ mở đầu cho cuộc chiến mà họ gọi là Chiến tranh 1812.
Anh được trang bị đủ tốt ở mọi phương diện khác. Anh được cấp cho nhiều đạn giấy bột đen, một túi chứa đầy các viên đạn tròn. Nhưng sĩ quan phụ trách vũ khí nói với anh phải mất ít nhất ba ngày để làm cò súng mới cho anh, nên anh phải tự xoay sở với lưỡi lê anh đã mài trước bình minh. Còn không, người sĩ quan mỉm cười nói, cứ lấy báng súng vốn được làm từ gỗ sồi để nện quân địch – ít nhất cũng làm chúng bầm mắt.
Một câu nói đùa không buồn cười chút nào. Quân Anh đã phả hơi rất gần, ở bờ trái của nhánh Đông Potomac, với màn khai hỏa sáng hôm ấy, đầu tiên là một loạt tên lửa Congreve đinh tai nhức óc, một kỹ thuật đáng sợ mà người Anh phát triển khi giao tranh ở Ấn Độ. Đúng lúc ấy, khi những tảng đất đá lớn rơi xuống xung quanh, người lính trẻ cho rằng mạng sống của mình còn đáng giá hơn sự thành bại của cuộc chiến này, và nếu quân đội không thèm sửa súng, anh sẽ chạy. Vì thế, anh quay lưng và lao vào đồng ngô, tìm đường về nhà ở Baltimore.
Anh sớm nhận ra mình không phải là người duy nhất. Qua những thân cây ngô, anh có thể thấy ít nhất năm, mười, hàng tá lính tráng cũng đang bỏ chạy khỏi trận chiến giống mình. Một số người anh biết, những cậu trai trẻ từ Annapolis, Xưởng tàu Hải quân Washington và Light Dragoons, tất cả đều tin không còn hy vọng nào cho Bladensburg. Anh chạy, chạy và chạy, và tất cả bọn họ cũng đều chạy, qua ranh giới của Quận Columbia, rồi chạy tiếp, nhiều người đã thở dốc, và nửa tiếng sau hiện ra trước mắt họ là những tòa nhà kỳ vĩ của thủ đô, nơi chính phủ đang loay hoay với sự bao la của nước Mỹ.
Anh chạy chậm lại. Anh cảm thấy lúc này mình đã an toàn. Nhưng thành phố của anh thì không. Trước khi màn đêm buông xuống, quân Anh đã truy đuổi đến đây và cướp phá sạch bách. Sau này, anh được biết quân Anh đã nói với dân chúng của thành phố rằng họ phải xuống tay tàn bạo như vậy là do quân Mỹ mấy tuần trước đó đã cả gan phá hoại các tòa nhà ở thành phố York, Thượng Canada nên họ mới đốt phá ở đây để trả đũa. Quân Anh đốt tòa nhà Quốc hội Mỹ đang xây dang dở. Họ moi ruột Thư viện Quốc hội với 3.000 quyển sách và cướp phá Hạ viện. Các sĩ quan Anh dùng bữa tối hôm ấy với thức ăn Madison dự định sẽ dùng ở Phủ Tổng thống và rồi, sau hành vi sỉ nhục ấy, họ đốt nhà của ông cho đến khi một trận mưa giông dữ dội – có người bảo đó là vòi rồng – ào tới và dập tắt ngọn lửa.
Ngày hôm đó, ngày 24 tháng 8 năm 1814, sẽ còn được nhớ tới trong nhiều thế kỷ tiếp theo. Trận Bladensburg, cuộc kháng cự cuối cùng trước khi Washington và Nhà Trắng chìm trong biển lửa, là biểu tượng hỏa hoạn nặng nề nhất, một trong những thất bại nổi tiếng nhất trong toàn bộ lịch sử nước Mỹ, một ký ức đầy hổ thẹn và đau thương. Câu chuyện tưởng tượng về người lính vô danh ở trên mô phỏng những gì thực sự đã xảy ra vào ngày hôm ấy: tiền tuyến tan vỡ và binh lính tháo chạy trong hoảng loạn trước quân thù.
Có nhiều lý do giải thích cho thất bại này, và các hội cựu chiến binh sẽ còn tranh luận về chúng trong nhiều năm sau đó. Lãnh đạo kém cỏi, chuẩn bị sơ sài, quân số eo hẹp là những biện hộ thường được đưa ra cho sự tổn thất nặng nề trong suốt nhiều năm. Nhưng một lý do, điểm yếu chí mạng nhất của quân đội Mỹ (một lực lượng không có mấy kinh nghiệm chiến đấu từ sau Chiến tranh giành Độc lập), là những cây súng hỏa mai trang bị cho bộ binh cực kỳ thiếu ổn định và hơn nữa là vô cùng khó sửa khi xảy ra sự cố.
Khi một cấu phần của súng bị hỏng, thợ rèn của quân đội sẽ phải chế tạo cấu phần thay thế một cách thủ công, một công đoạn có thể mất nhiều ngày, đặc biệt với tình trạng dồn ứ đơn hàng gây ra bởi sự cố liên miên. Nếu là một binh sĩ, bạn sẽ phải ra trận mà không có lấy một khẩu súng tử tế, hoặc phải chờ ai đó hy sinh và lấy súng của anh ta, hoặc cố xoay sở với lưỡi lê, hoặc như người lính trẻ ở trung đoàn của Sterrett, đào ngũ.
Vấn đề nguồn cung súng đến từ hai phía. Súng trường tiêu chuẩn của Lục quân Hoa Kỳ thời đó là loại súng hỏa mai kíp đá lửa nòng trơn, vốn dựa trên mẫu súng Charleville của Pháp. Những khẩu súng đầu tiên được Mỹ, khi ấy mới giành được độc lập, nhập trực tiếp từ Pháp; sau đó được sản xuất ở xưởng đúc vũ khí mới của chính phủ Hoa Kỳ tại Springfield, Massachusetts. Cả hai dòng súng này đều hoạt động ở mức độ khả dĩ chấp nhận được, tuy tất cả súng kíp đều gặp hiện tượng tịt nòng và những vấn đề chung của mọi loại vũ khí chế tạo thủ công sử dụng liên tục – quá nhiệt; phần thuốc súng còn sót lại làm nghẽn nòng; hoặc các bộ phận kim loại bị nứt, gãy, oằn, rời ra, rơi mất.
Từ đây phát sinh vấn đề tiếp theo – một khi đã bị hư hại về mặt vật lý, toàn bộ khẩu súng sẽ phải chuyển về nơi sản xuất hoặc đưa tới một thợ súng giỏi để làm lại hoặc thay thế. Tuy đứng ở một phần tư thiên niên kỷ trong tương lai mà nhìn lại thì cảm thấy khó tin, nhưng việc xác định bộ phận bị hỏng và thay thế nó bằng một bộ phận mới trong kho vũ khí là điều bất khả thi thời bấy giờ. Không ai nghĩ tới việc lắp ráp một khẩu súng từ các cấu phần được chế tạo chính xác sao cho chúng giống hệt nhau. Nếu việc này được thực hiện, chúng ta chỉ cần thay thế đúng bộ phận bị hư hại, bởi chế tạo chính xác cho phép các cấu phần có thể đổi lẫn cho nhau. Nếu làm gẫy cò súng khi đang chiến đấu, tất cả những gì người lính phải làm chỉ là lùi về sau chiến tuyến tới chỗ sĩ quan phụ trách vũ khí để anh ta mở hộp thiếc đề nhãn “Cò súng” và lấy ra cò súng mới, lắp vào khẩu súng, và người lính có thể quay lại hỏa tuyến với đầy đủ vũ trang trong vài phút.
Không phải là chưa ai nghĩ tới điều này. Trước đó 30 năm, trước khi nước Mỹ chịu cảnh thất bại ê chề ở Bladensburg, một quy trình sản xuất mới đã được xây dựng và nếu nó được hiện thực hóa vào năm 1814, có lẽ nước Mỹ đã tránh được những thất bại do vũ khí trục trặc. Ý tưởng mới về nguyên tắc sản xuất súng, một ý tưởng đáng lẽ đã bảo vệ Washington trước ngọn đuốc của quân thù, không hình thành ở Washington hay ở hai xưởng đúc vũ khí liên bang tại Springfield và Harpers Ferry, Virginia, cũng không ở những nhà máy vũ khí non trẻ xuất hiện trong và sau Cách mạng. Nó ra đời cách đó 3.000 dặm, ở Paris.
QUAY TRỞ LẠI thời điểm cuối thế kỷ XVIII, không ai dùng cụm từ “phe hắc ám” cả. Đó là một cụm từ của thời hiện đại, quá mới để xuất hiện trong Từ điển Tiếng Anh Oxford. Trong hầu hết tất cả các cuộc phỏng vấn về các thiết bị, dụng cụ và thí nghiệm siêu chính xác và về tương lai của công nghệ chính xác, mà tôi thực hiện để viết cuốn sách này, các kỹ sư và nhà khoa học thường xuyên ám chỉ những thứ đang diễn ra ở “phe hắc ám”. Đôi khi, tôi gặp được một vài người thừa nhận họ từng tiếp xúc với tin mật và vì thế trên lý thuyết, họ có khả năng trao đổi chi tiết hơn về hệ quả của thí nghiệm này, về cách chế tạo thiết bị kia, hay về tương lai của dự án nọ – nhưng họ luôn mỉm cười và nói “không”, họ không thể nói về những gì mà “phe hắc ám” đang làm.
“Phe hắc ám” ở đây là quân đội Mỹ, và khi nói về những loại vũ khí mới hoặc các công trình nghiên cứu về công nghệ siêu chính xác khó tin, nó thường có nghĩa là Không quân Hoa Kỳ. Khu vực 51 là phe hắc ám. DARPA là phe hắc ám. NSA là phe hắc ám. Phe hắc ám giữ vai trò quan trọng trong câu chuyện sau đây, nhưng ở xã hội hiện tại, nó ít khi được đề cập đến một cách trực diện.
Lewis Mumford, nhà triết học và sử học về công nghệ, là một trong những người đầu tiên nhận ra vai trò chủ chốt của quân đội trong sự phát triển của công nghệ, trong việc phổ cập các tiêu chuẩn dựa trên sự chính xác, trong hoạt động sản xuất hàng loạt vũ khí chết chóc, đồng bộ đến từng na-no-mét hoặc nhỏ hơn. Câu chuyện sau đây, về quá trình chuẩn hóa và việc sản xuất dựa trên độ chính xác trở thành tham vọng chính yếu của quân đội các nước hai bờ Đại Tây Dương, cho thấy tầm nhìn xa trông rộng của Mumford cũng như nhấn mạnh vai trò của quân đội trong quá trình phát triển của công nghệ chính xác. Các câu chuyện về thời kỳ đầu của ngành khoa học công nghệ chính xác tất nhiên không có gì bí mật; nhưng những câu chuyện của thời nay lại nằm trong số những chủ đề tuyệt mật được bảo vệ nghiêm ngặt nhất trên thế giới. Tuy nếu được biết tới trọn vẹn, chúng sẽ giúp chúng ta có một cái nhìn đầy đủ về bức tranh của một thế giới siêu chính xác và ám ảnh với sự chính xác, nhưng chúng lại được cất giữ trong bóng đêm thường hằng, bởi phe hắc ám buộc phải làm như vậy.
THỦ ĐÔ NƯỚC PHÁP năm 1785 là nơi đầu tiên hiện thực hóa ý tưởng về những cấu phần đổi lẫn cho súng, cũng là nơi quá trình sản xuất dựa trên sự chính xác phục vụ mục đích này lần đầu đi vào hoạt động. Dù vậy, vẫn có một câu hỏi là: nếu quy trình mới được vẽ ra từ năm 1785, vậy tại sao nó lại không được áp dụng chính thức vào hoạt động sản xuất súng của Mỹ năm 1814, thời điểm cách đó 29 năm? Binh lính đào tẩu, kháng chiến thất bại, các đô thị lớn chìm trong biển lửa – một phần vì súng của lục quân không được chế tạo đúng như cách chúng cần được chế tạo. Câu trả lời này không hề dễ chịu chút nào.
NHỮNG NGƯỜI ĐẦU TIÊN tạo ra hệ thống này đáng lẽ có thể mang lại cho nước Mỹ những khẩu súng tử tế, nếu nó được triển khai đúng thời điểm và đúng cách, là hai người Pháp không còn mấy ai nhớ tới. Người đầu tiên, ít tiếng tăm hơn, dù có cái tên thuộc dòng dõi cao quý hơn, là Jean-Baptiste Vaquette de Gribeauval, một nhân vật quảng giao, thuộc dòng dõi thượng lưu, chuyên thiết kế đại bác cho pháo binh Pháp, ông được cho là đã đưa ra một phương pháp khoan đại bác vào năm 1776 sử dụng các kỹ thuật gần như y hệt các kỹ thuật mà John Wilkinson phát minh ở Anh: đưa một đầu khoan quay vào một khối sắt đặc có kích cỡ và hình dáng giống đại bác. Wilkinson đã được cấp bằng sáng chế cho một hệ thống như vậy hai năm trước đó, vào năm 1774. Dù sao, hệ thống của người Pháp, trong ba thập kỷ tiếp theo được biết tới với cái tên système Gribeauval, sẽ thống trị hoạt động sản xuất pháo của Pháp trong một thời gian dài. Nó cho phép quân đội Pháp tiếp cận một loạt pháo dã chiến hiệu quả và gọn nhẹ, tuy không phải hoàn toàn do người Pháp nghĩ ra[∗]. (Gribeauval đã sử dụng một thứ được gọi là dưỡng kiểm đạt/ không-đạt để đảm bảo đạn đại bác có thể xếp vừa khít bên trong nòng, nhưng kỹ thuật này khó có thể nói là mang tính cách mạng, vì nguyên tắc của nó đã tồn tại từ trước đó năm thế kỷ.)
Nhân vật thứ hai là người có cống hiến lớn nhất trong việc đưa hệ thống cấu phần đổi lẫn vào quá trình sản xuất súng và là tác giả của kỹ thuật này (không gây tranh cãi như Gribeauval): Honoré Blanc, ông không phải là binh sĩ, mà là một thợ súng, và trong quá trình học việc ông đã làm quen với hệ thống Gribeauval. Từ những năm đầu làm nghề, ông cho rằng mình có thể mang lại một bộ tiêu chuẩn tương tự cho quá trình sản xuất súng hỏa mai kíp đá lửa, vì lợi ích của các chiến binh trên trận địa.
Nhưng có một sự khác biệt. Đại bác là thứ súng to, nặng và thô thiển – lính pháo binh chỉ cần cầm gậy châm, nối với ngòi cháy chậm, vào lỗ thông, và thế là đại bác bắn – vì thế, cấu phần của nó mới dễ được chuẩn hóa. Trong khi đó, với súng kíp hỏa mai, kíp đá lửa (bộ phận tạo ra tia lửa làm nổ thuốc mồi khiến thuốc nạp nổ và đẩy đạn ra khỏi nòng) là một bộ phận mỏng manh và phức tạp, được cấu thành từ rất nhiều mảnh ghép đa dạng và có thể gặp đủ loại sự cố. Những người không chuyên sẽ dễ bị bối rối với tên của các bộ phận cấu thành nên kíp đá lửa: má cương, hãm cò, mặt cọ xát, cốc thuốc mồi, cùng một loạt các lò xo, đinh vít, bu lông và đĩa, tất nhiên là đá lửa để tạo tia lửa (khi cọ vào mặt cọ xát ở trên). Để biến kíp đá lửa thành một dụng cụ quân sự tiêu chuẩn, với cấu phần đồng nhất ở tất cả các kíp, là một thách thức không nhỏ.
Các bộ phận của kíp đá lửa trong một khẩu súng trường cuối thế kỷ XVIII đều được làm thủ công và phải được giũa cho khớp với nhau
Chi phí, chứ không phải sự an toàn của binh sĩ hay việc điều hành tác chiến, mới là động cơ chính. Vào giữa thập niên 1780, chính phủ Pháp tuyên bố các thợ súng đang đòi quá nhiều tiền công, và yêu cầu họ cải thiện quy trình sản xuất hoặc hạ giá thành. Các thợ súng theo lẽ tự nhiên không ưa đề nghị này và ngay lập tức tìm cách bán tháo sản phẩm của họ cho các nhà sản xuất súng và vũ khí bên bờ kia Đại Tây Dương – tức nước Mỹ, một động thái báo động đối với chính phủ Pháp vì nó có thể khiến họ không còn vũ khí.
Chính tại thời điểm này, Honoré Blanc đã góp mặt vào câu chuyện, với tư cách là thanh tra kiểm soát chất lượng của quân đội – một vị trí dân sự. Những người thợ súng anh em của ông hết sức thất vọng khi thấy người của phe mình lại sang phe bên kia, từ một thợ săn trộm biến thành kiểm lâm. Blanc bỏ ngoài tai những lời đả kích và bắt tay vào công việc mới, với động lực làm việc chính là đảm bảo an toàn cho các binh sĩ thay vì để chính phủ cắt giảm chi phí. Ông chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi M. de Gribeauval và quyết định mô phỏng hệ thống chuẩn hóa của Gribeauval nhằm đảm bảo tất cả các cấu phần của một khẩu súng hỏa mai kíp đá lửa được làm ra chính xác và giống hệt với nguyên mẫu.
Ông tự tay chế tạo nguyên mẫu này một cách tỉ mỉ và chỉn chu nhất, với tất cả các thông số kỹ thuật được liệt kê chính xác nhất có thể (sử dụng hệ thống đơn vị đo cổ lỗ của chế độ cũ với những pointe, ligne và pouce) với dung sai khoảng 0,02 mm. Sau đó, ông sử dụng máy giũa và máy tiện sẵn có để chế tạo hàng loạt đồ gá và dưỡng kiểm nhằm đảm bảo tất cả các kíp đá lửa sản xuất sau đó đều giống hệt với nguyên mẫu hoàn hảo này. Blanc thuê các thợ súng thực hiện công việc này – vẫn bằng tay –và họ đã tạo ra từng kíp súng hệt như nguyên mẫu. Như vậy, tất cả các bộ phận sẽ khớp hoàn hảo với nhau và tất cả các kíp tạo ra cũng sẽ khớp hoàn hảo vào các khẩu súng.
Nhưng chỉ có một số ít thợ súng sẵn sàng làm việc theo những yêu cầu nghiêm ngặt của Blanc. Phần lớn đều từ chối. Họ cho rằng nếu chỉ đơn thuần làm ra những khẩu súng bằng cách sao chép các bộ phận thì sẽ làm giảm đi giá trị trong tài nghệ của người thợ. Những kẻ chẳng có tay nghề cũng có thể làm thay họ. Nói cách khác, những người thợ súng Pháp cũng cất lên tiếng nói phản đối giống như phong trào Luddite dấy lên ở Anh: công nghệ chính xác biến tay nghề của họ trở thành thứ vô giá trị. Phản đối này sẽ còn được dấy lên nhiều lần nữa trong tương lai, khi công nghệ chính xác dần xâm lấn mạnh mẽ hơn vào châu Âu, châu Mỹ và toàn thế giới. Thái độ chống đối từng thấy ở miền Trung nước Anh nửa thế kỷ trước đang tái diễn ở miền Bắc nước Pháp, cùng lúc đó công nghệ chính xác bắt đầu trở thành một hiện tượng quốc tế với các hệ quả tác động sâu rộng.
Trên thực tế, sự thù địch ở Pháp đối với Honoré Blanc đã dâng cao đến mức chính phủ phải cho người bảo vệ ông, và đưa ông cùng một nhóm nhỏ thợ súng trung thành xuống hầm dưới tòa lâu đài Château de Vincennes bề thế ở phía Đông Paris. Ở thời đó, tòa lâu đài nguy nga này (ngày nay nó vẫn còn tồn tại và thu hút nhiều du khách) được dùng làm nhà tù: Diderot và hầu tước de Sade từng bị giam giữ ở đây. Trong sự thanh bình tương đối ở một nơi mà 30 năm sau đó sẽ trở thành một trong những xưởng vũ khí lớn nhất của nước Pháp thời kỳ hậu cách mạng, Blanc và nhóm thợ của ông đã lao động để làm kíp súng, tất cả các thành phẩm đều được cho là giống hệt nhau. Blanc đã chế tạo tất cả các dụng cụ và gá kẹp cần thiết để phục vụ sứ mệnh này – theo một nguồn tin, họ còn làm cứng các mẩu kim loại bằng cách vùi chúng trong phân gia súc của tòa lâu đài hàng tuần liền.
Đến tháng 7 năm 1785, Blanc đã sẵn sàng trình bày sản phẩm của mình, ông gửi lời mời tới những nhân vật nổi tiếng trong giới thượng lưu và quân đội ở thủ đô, và cả những thợ súng trong nghề vốn chưa nguôi lòng căm phẫn, để cho họ xem thành tựu của mình. Nhiều quan chức đã tới, nhưng không có mấy thợ súng đến xem – họ vẫn chưa hết tức giận. Trong số đó có một yếu nhân tương lai xuất hiện tại cánh cổng kiên cố của tòa tháp canh: công sứ Hoa Kỳ tại Pháp, Thomas Jefferson.
Năm trước đó, Jefferson đã tới Pháp trong vai trò đại sứ chính thức của chính phủ mới thành lập của Hoa Kỳ, cùng với Benjamin Franklin và John Adams. Tình cờ, hai nhân vật kia đều rời Paris vào tháng 7 cùng năm (Adams tới London, còn Franklin quay về Washington), để lại Jefferson, một học giả thông thái và ham khám phá, một mình ở nước Pháp sục sôi không khí cách mạng. Một buổi giới thiệu sản phẩm khoa học, với tiềm năng ứng dụng vào ngành công nghiệp vũ khí mới ra ràng của nước nhà bên kia bờ đại dương là cái cớ giết thời gian lý tưởng trong một buổi chiều thứ Sáu nóng nực. Hơn nữa, tầng hầm của lâu đài tương đối mát mẻ, dễ chịu hơn nhiều so với thời tiết trên mặt đất của Paris ngày 8 tháng 7 năm 1785.
Honoré Blanc đã xếp ra một bộ 50 kíp, lấp lánh trong ánh nắng lọt qua các khe cửa sổ. Khi tất cả các quan khách đã yên vị chỗ ngồi và tập trung chú ý, ông nhanh chóng tháo rời một nửa số kíp, bỏ các cấu phần của 25 kíp đó vào các hộp một cách ngẫu nhiên: 25 mặt cọ xát ở đây, 25 vỏ kíp ở kia, 25 má cương chỗ nọ, 25 cốc thuốc mồi ở một chỗ khác nữa. Ông lắc từng hộp để xáo trộn các mảnh nhiều nhất có thể – sau đó, hết sức bình thản và tự tin tuyệt đối vào phương pháp của mình, ông nhanh chóng lắp ráp lại 25 kíp đá lửa mới tinh từ mớ hỗn độn các cấu phần trong các hộp.
Thomas Jefferson, khi là Công sứ Hoa Kỳ tại Pháp, đã chứng kiến những thành tựu đầu tiên trong công cuộc tạo ra các cấu phần đổi lẫn cho súng hỏa mai kíp đá lửa, và báo cáo với cấp trên ở Washington rằng các thợ súng của Mỹ nên học theo người Pháp
Mỗi kíp trong số này được tạo thành từ những bộ phận chưa từng lắp với nhau trước đây – nhưng không hề có khác biệt nào. Mọi thứ đều khớp với nhau, bởi lý do đơn giản là chúng đều được chế tạo với độ chính xác cao và tuân thủ nghiêm ngặt các thông số kích thước của nguyên mẫu, tất cả đều đồng nhất. Nói cách khác, tất cả các bộ phận có thể hoán đổi chính xác cho nhau.
Blanc đã gây ấn tượng mạnh với các quan chức người Pháp. Quân đội chính thức bảo trợ cho Blanc một xưởng đúc súng và ông bắt đầu sản xuất các bộ phận của kíp súng với chi phí thấp cho quân đội và tạo ra lợi nhuận cho bản thân. Trong bốn năm sau đó, mọi việc có vẻ diễn ra tốt đẹp. Nhưng bước sang năm 1789, tam tai đã ập đến: Cách mạng Pháp, sự kiện Gribeauval qua đời và Triều đại Khủng bố. Lâu đài bị độc chiếm, xưởng đúc súng của Blanc bị những kẻ bạo loạn cướp phá. Blanc đột nhiên mất đi người bảo trợ; phái San-culotte (chủ nghĩa cấp tiến của các nhà cách mạng và quần chúng) có thái độ thù địch đến mức cực đoan đối với cơ giới hóa, với những cải tiến hiệu suất có lợi cho tầng lớp trung lưu, với các kỹ thuật mới khiến công việc lương thiện của những người thợ thủ công và nghệ nhân bị đẩy vào thế bất lợi. Bước sang thế kỷ XIX, ý tưởng về các cấu phần đổi lẫn đã héo tàn và chết yểu ở Pháp – có ý kiến cho rằng nhờ sự sống sót của nghề thủ công và sự miễn cưỡng cực đoan đối với những thứ hiện đại mà nước Pháp ngày nay mới giữ được danh tiếng là thiên đường của những vẻ đẹp lãng mạn quá vãng.
Ngược lại, nước Mỹ lại có phản ứng hoàn toàn khác, tất cả là nhờ tầm nhìn xa trông rộng của Thomas Jefferson. Lần đầu tiên ông miêu tả lại những gì đã chứng kiến là vào ngày 30 tháng 8, trong một bức thư dài gửi tới John Jay, lúc bấy giờ là ngoại trưởng Hoa Kỳ. Ông mở đầu thư bằng một lời giải thích dài dòng theo thông lệ về con đường mà lá thư trước đó phải đi để đến được tay John Jay, một khó khăn mà chúng ta ngày nay không hiểu khi được sống trong thời kỳ bưu điện mọc lên khắp nơi.
Tôi rất hân hạnh được viết bức thư này gửi tới ngài vào ngày 14 tháng này, thông qua ngài Cannon bang Connecticut, vận chuyển bằng đường thủy. Kể từ thời điểm đó, bức thư của ngài vào ngày 13 tháng 7 sẽ tới tận tay. Do việc gửi bưu phẩm qua đường thủy bị trì hoãn, tôi xin phép được gửi thư qua Ngài Fitzhughs bang Virginia, dự kiến sẽ cập bến ở Philadelphia...
... Ở đây, họ đã có một cải tiến trong việc chế tạo súng hỏa mai mà Quốc hội có lẽ sẽ quan tâm, nếu có lúc họ cần súng. Cải tiến này xoay quanh việc chế tạo mọi cấu phần của khẩu súng để chúng đồng nhất tới mức một bộ phận của khẩu súng này có thể dùng cho tất cả các khẩu súng khác trong kho. Chính phủ ở đây đã kiểm nghiệm và thông qua phương pháp này, đồng thời đang xây dựng một nhà máy lớn cho mục đích đó. Hiện nhà phát minh [Blanc] mới chỉ hoàn thiện phương pháp này cho kíp súng, ông ta sẽ ngay lập tức bắt tay vào nòng súng, báng súng và các bộ phận của chúng với cùng phương pháp. Cho rằng việc này có thể sẽ hữu ích đối với Hoa Kỳ, tôi đã đến gặp người thợ súng và ông ta đã cho tôi xem cấu phần của 50 kíp tháo rời từng mảnh rồi xếp chúng vào các ngăn. Tôi đã tự lắp ráp một vài kíp, lấy các mẩu một cách ngẫu nhiên, và chúng ăn khớp với nhau hoàn hảo. Có thể thấy rõ lợi thế của phương pháp này trong sửa chữa vũ khí. Ông ta thành công nhờ các công cụ tự chế, và chúng cũng rút ngắn công đoạn sản xuất, cho phép mỗi súng hỏa mai được trang bị kíp với chi phí rẻ hơn chi phí thông thường hai livre. Nhưng sẽ mất hai hoặc ba năm nữa ông ta mới có thể cung cấp một lượng lớn súng. Tôi đề cập tới việc này vì nó có thể có ý nghĩa với kế hoạch trang bị loại khí tài này cho các kho vũ khí của chúng ta.
Jefferson quả thật rất ấn tượng với hệ thống của Blanc và nhiều lần viết thư cho bạn hữu cũng như đồng sự ở Washington và Virginia, nhấn mạnh quan điểm của ông rằng thợ súng Mỹ nên được khuyến khích ứng dụng hệ thống mới của người Pháp. Cuối cùng thì các thợ súng cũng nhận được thông điệp này, đặc biệt ở New England, nơi tập trung phần lớn thợ súng[∗]. Nếu châu Âu vẫn còn hoài nghi thì người Mỹ đã chứng tỏ họ có tư duy của Tân Thế Giới, và những nghi ngại vảng vất nhanh chóng bị quét sạch khi chính phủ Mỹ có kế hoạch đặt hàng một lượng lớn súng hỏa mai mới, miễn là các cấu phần của chúng đổi lẫn được cho nhau theo đúng ý của Jefferson.
Có hai hãng sản xuất súng tư nhân dẫn đầu cuộc đấu thầu hợp đồng lô sản xuất súng hỏa mai đầu tiên của chính phủ: 10.000 đến 15.000 khẩu tuỳ theo nguồn. Người thắng thầu, đồng nghĩa với việc ngay lập tức nhận được một khoản thanh toán bằng tiền mặt lên tới 5.000 đô-la, là Eli Whitney của bang Massachusetts.
Whitney ngày nay vẫn là một cái tên nổi tiếng đối với nhiều người Mỹ. Ông còn hiện diện trên tem bưu chính, được nhắc đến trong sách giáo khoa, được xếp vào hàng ngũ các nhà phát minh kiêm doanh nhân như Edison, Ford, John D. Rockefeller. Đối với thế hệ học sinh thời nay, cái tên Whitney gần như đồng nghĩa với một vật: máy tỉa bông. Người đàn ông New England này, ở tuổi 29, đã phát minh ra một thiết bị tách hột khỏi quả bông, biến việc thu hoạch bông trở thành nền tảng kinh tế siêu lợi nhuận cho các bang miền Nam – nhưng phải sử dụng tới các lao động nô lệ, một điểm cần lưu tâm.
Tuy nhiên, đối với các kỹ sư có vốn hiểu biết sâu hơn, cái tên Eli Whitney lại có ý nghĩa hoàn toàn khác: một kẻ lừa gạt, dối trá, bịp bợm. Tiếng bịp bợm của Whitney chủ yếu bắt nguồn từ việc buôn súng, từ quy trình sản xuất chính xác và lời hứa cho ra các loại vũ khí lắp ráp từ những cấu phần đổi lẫn. “Tôi cam kết,” ông long trọng tuyên bố khi bỏ thầu làm súng cho chính phủ Mỹ, “sẽ làm ra những bộ phận giống nhau cho các khẩu súng khác nhau, như kíp súng chẳng hạn, giống như các bản khắc liên tục trong việc in khắc đồng.”
Đó là một tuyên bố hoàn toàn tào lao. Khi Whitney thắng thầu và ký hợp đồng với chính phủ vào năm 1798, ông ta không biết gì về súng hỏa mai và các cấu phần của nó: ông thắng thầu chủ yếu nhờ mạng lưới quan hệ từ Yale và mạng lưới cựu sinh viên mà ngay từ thời đó đã bám rễ trong các hành lang quyền lực ở Washington, DC. Sau khi nắm hợp đồng trong tay, ông ta đã cho dựng một nhà máy nhỏ bên ngoài New Haven và nhanh chóng tuyên bố là đang sản xuất súng hỏa mai ở đó, các khẩu súng trường nòng nhẵn kiểu Mỹ, dựa vào thiết kế khẩu Charleville của Pháp. Nhưng mãi chẳng có khẩu nào xuất xưởng. Hợp đồng yêu cầu nhà thầu cung cấp mẻ súng đầu tiên vào năm 1800, nhưng Whitney chỉ có vài ba khẩu súng hoàn thiện và đến hạn chỉ có thể xoa dịu chính phủ bằng cách biểu diễn chất lượng của những khẩu súng mà nhà máy của ông được cho là đang sản xuất.
Whitney thực hiện màn biểu diễn sản phẩm đầy tai tiếng của mình vào tháng 1 năm 1801 – một động thái củng cố niềm tin như cách gọi ngày nay – trước các cử tọa quan trọng, bao gồm Tổng thống đương nhiệm John Adams và Phó Tổng thống Thomas Jefferson, người sau này sẽ sớm trở thành Tổng thống kế nhiệm, đồng thời đã khởi xướng việc này 15 năm trước. Ngoài ra còn có vài chục nghị sĩ, binh sĩ và quan chức cấp cao, những người cần được thuyết phục là ngân khố quốc gia đang được dùng cho một việc thực sự xứng đáng. Họ được cho biết Whitney sẽ biểu diễn tính đổi lẫn của các kíp súng hỏa mai mà ông ta sản xuất chỉ với một chiếc tua vít.
Tất cả cử tọa đều sẵn lòng tin Whitney vì danh tiếng từ phát minh máy tỉa bông của ông ta nhiều năm về trước. Tuy nhiên, dường như không ai cảm thấy có gì đó sai sai khi Whitney thậm chí còn không buồn tháo rời các kíp súng ông ta bày ra. Thay vào đó, ông chỉ đơn thuần lấy một số khẩu súng hoàn thiện, dùng tua vít tháo rời kíp khỏi báng gỗ, rồi lắp chúng vào các báng súng khác, và khiến các cử tọa ngây thơ tin các cấu phần của ông ta thực sự có thể đổi lẫn được cho nhau đúng như cam kết.
Vừa biểu diễn, Whitney vừa giảng giải về những gì đang làm; ngay cả Jefferson, người đã chứng kiến màn trình diễn của Blanc ở Vincennes năm 1785 và có lẽ có đủ hiểu biết để thốt ra câu “Gượm đã!” cũng không dám thách thức Whitney hay bày tỏ sự hoài nghi dù là nhỏ nhất. Thực tế là ngược lại: vị Tổng thống mới đắc cử đã hoàn toàn bị thuyết phục trước màn trình diễn của Whitney và còn viết thư cho thống đốc bang Virginia lúc bấy giờ, ca tụng Whitney “đã phát minh ra khuôn và máy để sản xuất các mẩu kíp đồng nhất chính xác đến độ dù tháo 100 kíp thành các mảnh rồi trộn lẫn các bộ phận với nhau, sau đó lấy ngẫu nhiên từng mảnh thì vẫn có thể lắp ráp được 100 kíp.”
Sự thật là Jefferson và tất cả mọi người đã bị lừa. Không có khuôn, cũng chẳng có cái máy nào để làm ra các bộ phận “đồng nhất”. Nhà máy mới xây của Whitney, chạy bằng sức nước chứ không phải bằng hơi (dù động cơ hơi nước đã trở nên phổ biến), không có dụng cụ hay khả năng để sản xuất các chi tiết kỹ thuật chính xác. Nhận ra điều này, ông ta đã thuê một nhóm thợ thủ công để làm kíp bằng tay, với giũa, cưa và máy đánh bóng của chính họ, từng chiếc một – và không nhất thiết phải giống hệt nhau. Ông ta sắp xếp màn biểu diễn của mình sao cho không ai có thể tự kiểm tra kíp súng mà chỉ thấy chúng lắp được vào báng súng mà thôi.
Do đó, chẳng có kỹ thuật mới nào ở đây cả. Tất cả mọi thứ đều được làm theo cách cũ, và khán giả đã bị lừa rằng thứ họ vừa chứng kiến là một đột phá mang tính cách mạng, sống động và bằng xương bằng thịt. Không có gì trong buổi trình diễn là thật cả: không có kíp nào được tháo rời, và ngay cả báng súng cũng được chọn trước để đảm bảo chắc chắn khe của chúng đủ lớn để lắp vừa bất kỳ kíp thay thế nào trong số mười kíp súng được bày trước mắt khán giả.
Súng hỏa mai do Whitney sản xuất vẫn tồn tại trong các bộ sưu tập ngày nay, và chúng đã kể một câu chuyện bẽ bàng: tiềm năng của công nghệ chính xác và lợi nhuận nó hứa hẹn đã tạo thời cơ cho tham nhũng và bịp bợm. Trong các khẩu súng còn tồn tại đến nay, không một khẩu nào được chế tạo tốt, và các kíp cũng chẳng đồng nhất. Chúng có thể khớp với báng súng, nhưng các cấu phần của chúng thì không khớp với nhau.
Ấy vậy nhưng buổi trình diễn đã thành công. Sự màu mè của Whitney đã thuyết phục chính phủ cấp cho ông ta thêm một khoản tiền mà ông đang rất cần, và tất cả những người chứng kiến buổi trình diễn đều bị lừa. Whitney là một tên bịp bợm và việc ông ta mất tám năm tiếp theo để cung cấp súng cho chính phủ cho thấy những người cho ông ta tiền xứng đáng với những gì họ nhận được.
CÔNG LAO THỰC SỰ trong việc ứng dụng hệ thống của Honoré Blanc vào phương thức sản xuất dựa trên sự chính xác ở Mỹ thuộc về ba nhân vật ít tiếng tăm hơn: hai nhà sản xuất súng Simeon North và John Hall, cùng với Thomas Blanchard, người có khả năng làm ra những thứ có thể nhân rộng đáng kể với gỗ. North mở xưởng rèn cách nhà máy của Whitney chưa đầy 25 dặm ở Middletown, Connecticut. John Hancock Hall thì ở xa hơn, ở miền nam Maine, ông kiếm được một khoản gia tài nhờ vận hành một xưởng thuộc da ban đầu, sau đó là một loạt các xưởng đóng tủ và thuyền gỗ. Súng chỉ là thú vui bên lề – cho đến năm 1811, khi ông đăng ký bằng sáng chế cho một loại vũ khí hoàn toàn mới: một khẩu súng do ông tự phát minh và thiết kế, một khẩu súng trường bắn phát một, nạp đạn từ khóa nòng thay vì từ miệng nòng như súng hỏa mai.
Trong thời gian này, cả North và Hall đều trúng thầu sản xuất súng cho chính phủ – North sản xuất súng ngắn cho kỵ binh ở Connecticut; Hall sản xuất loại súng nạp đạn khóa nòng mới của mình ở Portland, sau đó là ở một trong hai nhà máy vũ khí liên bang mới xây ở Harpers Ferry, Virginia. (Nhà máy còn lại ở Springfield, Massachusetts.) Đột phá tương đối quan trọng của hai người này – thực ra là của ba người, dù Blanchard chỉ đóng vai trò thứ yếu – nằm ở chỗ: họ là những người đầu tiên dùng máy móc để sản xuất các bộ phận của súng. Đây là một thay đổi to lớn, nhờ vậy mà họ đảm bảo được (chứ không phải chắp tay cầu nguyện) sản phẩm của mình luôn chính xác và gần như hoàn hảo.
Súng để trên giá còn gọi là “đàn óoc hỏa mai” ở Xưởng đúc vũ khí Springfield của chính phủ Mỹ ở Massachusetts, nơi hệ thống sản xuất cấu phần đổi lẫn của Pháp tạo nên một cuộc cách mạng trong sản xuất súng
Những người đầu tiên nuôi hoài bão về sự đổi lẫn, Blanc và Gribeauval ở Pháp, cũng như những người trong chính phủ Mỹ đã ngây thơ đặt niềm tin vào Eli Whitney, đều thuê nhân công để chế tạo các bộ phận một cách thủ công, dựa vào một nguyên mẫu cho mỗi phần. Họ thành công nhờ tạo ra các đồ gá, dưỡng kiểm, và các mô hình mẫu. Những người thợ thủ công được thuê để làm việc này, trong lúc phàn nàn họ đang lãng phí tay nghề tôi luyện nhiều năm, phải làm ra các cấu phần mới bằng cách dùng các đồ gá, sau đó đo lường chúng bằng dưỡng kiểm, cuối cùng so sánh các chiều kích của chúng với nguyên mẫu, xác thực chúng là phiên bản chính xác, do đó đạt được tính đổi lẫn.
Nhưng con người có thể mắc sai lầm, dù tay nghề có tốt đến đâu. Bàn tay của người đẽo, con mắt của người mài, tâm trí của những người tự tuyên bố là không bao giờ mắc lỗi – những yếu tố mà bản năng người thợ dựa vào để đánh giá xem thế nào là chuẩn – tất cả đều có thể và sẽ đánh giá nhầm, mắc sai sót, lơi lệch vì mệt mỏi. Máy móc thì khác, nếu được cài đặt chính xác và chưa bị hao mòn, chúng gần như không bao giờ mắc lỗi. Những chiếc máy đó có thể thực hiện các công đoạn phức tạp mà trước đây chỉ dành riêng cho bàn tay của người thợ lành nghề (như những chiếc máy do Henry Maudslay chế tạo để sản xuất cụm ròng rọc cho hải quân ở Portsmouth), gần như đảm bảo được sự chính xác và hoàn thiện trong sản phẩm. Cỗ máy này đã cung cấp thứ mà một sử gia gọi là “tay nghề chắc chắn... mà ở đó thành quả được định trước và không thể thay đổi một khi quá trình sản xuất bắt đầu.”
Và những gì mà North và Hall có khả năng làm được, một cách độc lập với nhau, là tạo ra các máy công cụ có độ chắc chắn như thế. Simeon North ở Middletown đã tạo ra một trong những máy phay kim loại đầu tiên ở Mỹ, trong chớp mắt loại bỏ việc giũa và kiểm tra lặp đi lặp lại chán ngắt, thay vào đó đặt một dao cắt chạy trên băng chuyền để xử lý các mẩu kim loại thừa, đồng thời dùng một hỗn hợp dầu-nước để làm mát dao cắt và chi tiết gia công trong quá trình gọt giũa, bào nhẵn lẫn tạo hình.
John Hall, làm việc cách đó 800 km về phía nam, tại một xưởng kim khí của chính phủ ngay bên cạnh nhà máy vũ khí Harpers Ferry, sau đó đã cải tiến chiếc máy phay này[∗] và chế tạo một loạt dụng cụ có tên là khuôn rèn-dập, đặt ở phía trước các máy phay. Một thanh sắt dài nóng đỏ, còn mềm dẻo, được rèn giữa hai khuôn kim loại đã tôi cứng, một khuôn cố định, một khuôn được nâng lên và thả xuống nhiều lần trên thanh sắt kẹp giữa (nên được gọi là rèn dập) cho đến khi được định hình một cách đại khái – chẳng hạn như hình nòng súng. Chi tiết gia công sau khi được tạo hình thô sẽ được công nhân chuyển đến máy phay.
Sử dụng nhiều dao cắt được thiết kế khác nhau gắn cố định ở đầu máy phay, các công nhân sẽ cắt và tỉa thanh sắt đã rèn thành nòng súng. Tiếp theo, họ cắt các rãnh trên nòng và cho ra thành phẩm là một cấu phần trọng tâm của khẩu súng, ở mỗi công đoạn, từ rèn nòng súng, xẻ rãnh cho đến tạo hình nòng, John Hall đều sử dụng dưỡng kiểm – ông sử dụng ít nhất 63 chiếc, nhiều hơn bất kỳ kỹ sư nào trước đó, để đảm bảo khả năng tốt nhất có thể rằng mỗi cấu phần của một khẩu súng sẽ đồng nhất với cấu phần tương tự ở tất cả các khẩu khác – và đạt được dung sai chặt chẽ chưa từng có: để kíp súng hoạt động, chỉ cần dung sai là 1/5 của 1 mm; nhưng để đảm bảo cho kíp súng không những hoạt động mà còn có tính đổi lẫn, dung sai gia công phải đạt 1/50 của 1 mm. Sau khi nòng súng được tạo hình, kiểm tra và kiểm nghiệm thêm một lần nữa, theo những tiêu chuẩn ngặt nghèo nhất và những thông số chính xác nhất, công việc còn lại chỉ là gắn kíp vào nòng và lắp toàn bộ tổ hợp này vào báng súng gỗ – đây là khi thành viên cuối cùng của bộ ba kỹ sư công nghệ chính xác đầu tiên của nước Mỹ, Thomas Blanchard xuất hiện.
Năm 1817, ở quê nhà Springfield, Massachusetts, Blanchard đã phát minh ra máy tiện chuyên làm khuôn giày. Đây là một sáng kiến thiên tài: ông chỉ cần đặt một khuôn giày bằng kim loại vào chiếc máy của mình, nối một máy vẽ truyền với một loạt lưỡi dao, và gắn khuôn kim loại vào một khoanh gỗ tần bì có hình dạng bất kỳ – chính là khuôn giày cố định tương lai sau khi đi qua một loạt lưỡi dao của máy tiện. Xoay khuôn kim loại, lần theo đường nét của nó với các thanh vẽ truyền, và để các đầu còn lại của máy vẽ truyền lần lượt đè các lưỡi dao vào khối gỗ – thế là xong! Trong chưa đầy 90 giây, khối gỗ đã biến thành một phiên bản chính xác của khuôn kim loại, nhưng bằng gỗ thay vì bằng kim loại, sẵn sàng “ra lò” từ cỗ máy và được chuyển tới các thợ đóng giày.
Một trong những hệ quả đơn giản của quy trình sản xuất trên vẫn còn tồn tại trong cuộc sống thường nhật ngày nay, cụ thể là trong cỡ giày. Với khả năng biến một khối gỗ thô thành một khuôn giày với kích thước định trước trong một khoảng thời gian ngắn và lặp đi lặp lại, Blanchard có thể cung cấp khuôn giày cho các thợ đóng giày theo nhiều kích cỡ khác nhau nhưng vô cùng chính xác – dài 7 inch, 9 inch, và nhiều kích cỡ nữa. Trước đó, giày được để ngẫu nhiên trong các thùng lớn và khách hàng sẽ phải lần mò cho đến khi tìm được một đôi vừa vặn và tương đối thoải mái. Giờ đây, khách hàng chỉ cần yêu cầu một đôi giày cỡ 7, 11, hoặc 5.
Báng súng sau đó cũng được sản xuất theo cùng nguyên tắc như vậy. Blanchard nhanh chóng được mời tới làm việc ở Xưởng vũ khí Springfield khổng lồ và đang phát triển gần đó, đồng thời được yêu cầu cải biên chiếc máy tiện khuôn giày của ông để làm ra các bộ phận bằng gỗ của súng. Các bộ phận này tuy phức tạp hơn khuôn giày, nhưng được cái chúng chỉ có duy nhất một kích cỡ. Vì thế, Blanchard đã làm một khuôn báng súng bằng kim loại (một hình dạng đặc biệt, theo đúng nghĩa là một bàn chân có cấu trúc độc nhất vô nhị) và lại đặt nó lên máy tiện, nối với máy vẽ truyền như trước đây. Sau đó, ông bật trình điều khiển xoay, thứ được mô tả là “một tạo vật kỳ lạ... thoạt trông không giống máy tiện, mà giống một máy nông nghiệp thô sơ,” rồi khởi động quy trình sản xuất báng súng hàng loạt mà Springfield sẽ còn sử dụng trong hơn nửa thế kỷ tiếp theo. Thomas Blanchard đã khôn ngoan đăng ký bằng sáng chế cho nguyên lý máy tiện của mình, và cấp phép cho một công ty ở thị trấn Chicopee gần đó sản xuất nó. Tiền bản quyền không ngừng đổ về túi nhà phát minh và Blanchard đã an hưởng tuổi già trong dư dả.
Ban lãnh đạo của Xưởng vũ khí Harpers Ferry cực kỳ nhiệt tình chào đón tất cả những phát minh mới này – tuy tọa lạc ở vị trí hẻo lánh, xưởng vũ khí này lại cởi mở với đổi mới hơn so với “người anh em” lớn hơn, bận bịu hơn của nó ở Springfield, nơi Blanchard làm việc và Simeon North thường xuyên lui tới. Gần như chắc chắn, Harpers Ferry là nơi đầu tiên trên đất Mỹ và có lẽ là trên toàn thế giới sử dụng những kỹ thuật gia công chính xác và quy trình sản xuất hàng loạt để sản xuất vũ khí cho quân đội quốc gia. Để thực hiện việc này, xưởng đã sử dụng hàng loạt công nghệ và sáng kiến mới. Nó sử dụng các sản phẩm của máy làm báng súng của Blanchard; máy phay, gá kẹp và khuôn rèn dập của John Hall; quy trình sản xuất kíp súng do Honoré Blanc phát minh và Simeon North hoàn thiện. Từ sắt được luyện ở Connecticut tới những khẩu súng hoàn thiện có mùi dầu hạt lanh (ở báng súng gỗ tần bì) và dầu máy (ở nòng và kíp), nước Mỹ đã có những tạo vật sản xuất dây chuyền cơ khí đúng nghĩa đầu tiên trên thế giới. Chúng là đồ Mỹ, và chúng là súng, đúng như tiên đoán của Lewis Mumford. Không những thế, chúng đã hoàn toàn được sản xuất bằng máy, “từ kíp, báng cho tới nòng”.
CỘNG ĐỒNG SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP còn non trẻ của nước Mỹ cũng cho ra đời những sản phẩm khác ngoài súng, phần lớn nhằm phục vụ mục đích hòa bình. Một Oliver Evans đang chế tạo máy xay xát lúa mì; Isaac Singer đã đưa công nghệ chính xác vào việc sản xuất máy khâu; Cyrus McCormick chế tạo máy gặt, máy xén, sau đó là máy gặt đập liên hợp; còn Albert Pope sản xuất xe đạp cho đại chúng. Tuy miền đông bắc Hoa Kỳ vẫn nổi tiếng là vựa vũ khí của đất nước – các miền đồng bằng của sông Connecticut từ lâu đã được biết đến là Thung Lũng Súng vì nơi đây tập trung tất cả các nhà sản xuất súng (và hầu hết vẫn còn ở đây): Colt, Winchester, Smith & Wesson, Remington – nó chẳng mấy chốc nổi danh nhờ nhiều sản phẩm khác, bởi cùng thời điểm này, các thành phố và thị trấn thung lũng của nước Mỹ vừa đón chào thêm một ngành công nghiệp chính xác cao nữa.
Những người chế tạo ra các cỗ máy có chức năng sản xuất các cấu phần nhỏ của vũ khí (cò, bệ khóa nòng, lò xo lẫy bảo hiểm) nhận ra họ có thể dễ dàng điều chỉnh các máy tiện và máy phay của mình để sản xuất bánh răng, trục chính, dây cót và những cấu phần thiết yếu của một chiếc đồng hồ. Và thế là khu vực này trở nên nổi tiếng với việc sản xuất đồng hồ, hàng loạt thế hệ những chiếc đồng hồ Mỹ chính xác trong chế tạo và đôi khi chính xác cả về thời gian, nhưng luôn tinh xảo.
Tôi viết những dòng này theo nhịp kêu tích tắc của chiếc đồng hồ 30 ngày treo trong bếp của hãng Seth Thomas, sản xuất trong những năm 1920 ở Plymouth, Connecticut. Đây là một tạo vật thực tiễn mà duyên dáng, và dân Shaker hẳn sẽ làm ra một chiếc đồng hồ tương tự nếu họ quan tâm đến các mốc thời gian khác ngoài bình minh và hoàng hôn. Đây không phải là chiếc đồng hồ duy nhất, căn nhà nông trại cổ này còn có nhiều chiếc khác nữa treo rải rác khắp nơi, phần lớn là đồng hồ tám ngày, năm chiếc trong số đó cần được lên dây cót mỗi sáng Chủ nhật, một chiếc có hai xi lanh xâm xấp thủy ngân trên con lắc. Ở sảnh có một đồng hồ quả lắc thân dài sản xuất ở Winchester, Connecticut mà tôi mua vì nó trùng tên với mình, nhưng cũng đem lại một chút phiền toái: nó có tuổi thọ hơn một thế kỷ và bánh răng làm bằng gỗ nên rất nhạy với sự thay đổi của nhiệt độ và độ ẩm xung quanh. Tuy nhiên, những chiếc đồng hồ khác thì cũng ít nhiều đáng tin, miễn là tôi lên dây cho chúng một cách đồng bộ thì chúng vẫn sẽ chạy và đổ chuông đúng giờ. Duy chỉ có một chiếc trong bếp, từng là đồng hồ nhà ga của Công ty Đường sắt Anh, thất thường và đôi khi chưa hết tuần đã đòi được lên dây một cách khó hiểu.
Dù vậy, điều tôi đặc biệt yêu thích ở những chiếc đồng hồ cổ là: tuy chính xác trong chế tạo (bánh răng được làm với dung sai vài phần nghìn của 1 inch, mô men lò xo, khối lượng quả nặng và chiều dài thanh lắc đều được tính toán và sản xuất chính xác), chúng lại không mấy chính xác trong việc đếm giờ. Một trong những niềm vui vào buổi sáng Chủ nhật của tôi là chỉnh đồng hồ, đẩy kim này ra trước một phút, kéo kim kia lùi lại một phút, và riêng chiếc đồng hồ quả lắc thân dài thì phải lùi lại đến mười phút vì nó chạy quá nhanh.
Một trong những bộ phim tôi thích nhất khi còn bé là The Fallen Idol, một bộ phim thuộc thể loại hình sự giật gân có bối cảnh là phòng khách của giới thượng lưu do Carol Reed đạo diễn. Phần lớn tình tiết diễn ra bên trong Đại sứ quán Pháp ở London. Tôi vẫn còn nhớ một phân cảnh: trong khi một nhóm cảnh sát vạm vỡ đang thu thập chi tiết liên quan đến một vụ giết người ghê rợn, người lên dây cót đồng hồ vào buổi sáng Chủ nhật đã xuất hiện và bắt tay làm việc của mình trên những chiếc đồng hồ quý phái của đại sứ quán, tất cả đều được mạ vàng và tráng men, giống như những gì tôi làm với bộ sưu tập đồng hồ có phần khiêm tốn hơn của mình. Đóng vai này là Hay Petrie, một diễn viên có dáng người nhỏ bé gốc Dundee. Trong phim, Petrie sử dụng một chiếc đồng hồ quả quýt để kiểm tra những chiếc đồng hồ của đại sứ quán, đó được cho là chiếc đồng hồ hoàn hảo. Trùng hợp thay, chiếc đồng hồ tham chiếu tiêu chuẩn mà tôi dùng cũng là một chiếc đồng hồ quả quýt của hãng Ball, lên dây hằng ngày và sai lệch khoảng mười giây mỗi tuần. Cứ khoảng một tháng một lần, tôi lại phải hiệu chỉnh giờ cho nó theo đồng hồ chủ của Đài Quan trắc Hải quân Hoa Kỳ, mà chiếc đồng hồ này đến lượt mình lại căn cứ vào một chuỗi đồng hồ nguyên tử xêsi đặt trong một tòa nhà được bảo vệ ở Boulder, Colorado[∗].
Tuy vào bữa sáng ngày Chủ nhật, tất cả các đồng hồ của tôi đều được đồng bộ hóa, nhưng chỉ một hai ngày sau là chúng đã hơi vênh nhau. Đến ngày thứ Tư, tôi sẽ nằm trên giường, lắng nghe những chiếc đồng hồ thông báo không phải một nửa đêm mà nhiều nửa đêm: chúng “bất đồng trong hòa hảo”, tương tự như khi Harriet Vane nghe những chiếc đồng hồ của Oxford đổ chuông trong cuốn tiểu thuyết Gaudy Night. Khi viết những dòng đó, tác giả Dorothy Sayers có ý ca ngợi những sai lệch nhỏ, vô hại nhưng lại có thể đem đến cho con người những niềm vui kỳ lạ và lớn lao, như trong trường hợp của tôi.
Đối với những người bình thường và coi trọng sự hợp lý, chính xác quá mức hoặc lệ thuộc vào sự chính xác là không cần thiết, và các nhà sản xuất đồng hồ ở New England hiểu rõ điều này. Họ hiểu những cấu phần đổi lẫn khiến hoạt động sản xuất trở nên dễ dàng hơn nhiều trước đây, và họ có thể tạo ra sản phẩm vừa nhanh vừa (quan trọng hơn cả với khách hàng) rẻ. Họ cũng biết việc giữ đúng thời gian thật ra không phải là yếu tố quan trọng nhất, tuy thái độ này mâu thuẫn hoàn toàn với chức năng của một chiếc đồng hồ.
Sản xuất súng thì phải vừa chính xác vừa chuẩn xác – mạng sống của người lính phụ thuộc vào sự ổn định và độ tin cậy của vũ khí – nhưng một chiếc đồng hồ trong một gia đình hồi đầu thế kỷ XIX, thì chủ yếu mang tính trang trí và bổ trợ cho những mốc thời gian truyền thống như thời gian bò từ đồng về chuồng, thời gian trẻ con cần ăn sáng, tiếng còi tàu hơi nước, tiếng chuông nhà thờ. Đồng hồ sản xuất ở Mỹ, bắt buộc phải khác đồng hồ mà John Harrison làm cho Hội đồng Kinh độ ở Anh thế kỷ trước: chúng tượng trưng cho sự ra đời của tầng lớp trung lưu, tương tự như máy khâu và máy giặt, hai sản phẩm cũng được chế tạo cùng thời điểm tại Thung lũng Connecticut.
Những chiếc đồng hồ có giá cả phải chăng, dễ sửa chữa, chạy tương đối chính xác là thứ khách hàng muốn, và chúng là sản phẩm của công nghệ chính xác. Một vị khách tới thăm miền Tây nước Mỹ vào giữa thế kỷ XIX đã viết: “Ở Kentucky, ở Indiana, ở Illinois, ở Missouri, và ở mọi thung lũng nhỏ của Arkansas, cũng như ở những ca-bin không có lấy một chiếc ghế để ngồi, chắc chắn vẫn luôn có một chiếc đồng hồ Connecticut.” Có lẽ chúng ta không phải ngạc nhiên đến thế. Những chiếc đồng hồ Connecticut là một trong những thắng lợi của hệ thống Mỹ, một hệ thống sản xuất mà tất cả các nước công nghiệp trên thế giới đều thèm muốn (bao gồm cả Anh, một quốc gia vẫn dõng dạc tuyên bố mình là nhà tiên phong của công nghệ chính xác và sự hoàn hảo).

