Những Người Tiên Phong - Chương 1

ADA, NỮ BÁ TƯỚC XỨ LOVELACE

Khoa Học Nên Thơ

Tháng 5 năm 1833, Ada Byron 17 tuổi đã là một trong số các thiếu nữ được vào diện kiến hoàng gia Anh. Mọi người trong gia đình sợ rằng với bản tính hay lo lắng và tự chủ của mình, cô sẽ khó mà cư xử đúng mực, nhưng cuối cùng thì mẹ cô cũng bảo “Tạm được”. Buổi tối hôm đó, trong số những người mà Ada đã gặp có Công tước xứ Wellington – một người cương trực, thẳng thắn khiến cô ngưỡng mộ, và Talleyrand – vị đại sứ Pháp 79 tuổi, người đã để lại cho cô ấn tượng về một “con khỉ già”.

Là con gái hợp pháp duy nhất của thi hào Byron [2] , Ada thừa hưởng tâm hồn lãng mạn của cha, một phẩm chất mà mẹ cô đã cố gắng kiềm chế bằng cách cho cô học thêm môn toán. Sự kết hợp này đã hình thành nên trong Ada một tình yêu dành cho thứ mà cô gọi là “nền khoa học nên thơ”, chiếc cầu kết nối trí tưởng tượng mang màu sắc nổi loạn với niềm đam mê những con số của cô lại với nhau. Đối với nhiều người, bao gồm cả cha cô, sự nhạy cảm, tinh tế của thời đại Lãng mạn hoàn toàn đối lập với sự hào hứng với công nghệ của cuộc Cách mạng Công nghiệp. Thế nhưng Ada lại khá thoải mái khi đứng ở vị trí giao điểm của hai thời đại này.

Vì thế, không có gì ngạc nhiên khi buổi ra mắt lần đầu tại hoàng gia, dẫu hào nhoáng nhưng lại không ấn tượng với Ada bằng một sự kiện hoành tráng khác mà cô tham dự vài tuần sau đó trong mùa giao lưu [3] ở London. Ở đó, Ada đã gặp Charles Babbage, một nhà khoa học, toán học kiệt xuất 41 tuổi, góa vợ và có ảnh hưởng lớn trong đời sống xã hội London. Mẹ cô kể lại với một người bạn rằng: “Ada hài lòng với bữa tiệc nó tham gia hôm thứ Tư hơn bất cứ cuộc hội họp nào của giới quý tộc. Ở đó, con bé đã gặp một vài người thuộc giới khoa học và nó rất có hứng thú với Babbage.”

Những cuộc hội họp hào hứng do Babbage tổ chức hằng tuần với số lượng khách mời có khi lên đến 300 người là nơi để các vị quý tộc với chiếc áo đuôi tôm kiểu cách, các vị phu nhân với bộ váy kim tuyến kết giao cùng các nhà văn, nhà thơ, nhà tư bản công nghiệp, diễn viên, nhà chính trị, nhà thám hiểm, nhà thực vật học, cùng rất nhiều “nhà khoa học” khác, một từ “mới” mà bạn bè của Babbage đặt ra. Bằng việc đưa các học giả khoa học vào lĩnh vực cao quý này, Babbage đã “thành công trong việc khẳng định địa vị xã hội của đội ngũ này thông qua khoa học”, một nhà địa chất học nổi tiếng nhận xét.

Những buổi tối nhộn nhịp với các hoạt động khiêu vũ, đọc sách, chơi cờ và diễn thuyết, đi kèm với đó là rất nhiều hải sản, thịt gia cầm, những đồ uống nước ngoài và các món tráng miệng có kem. Các quý bà thì trình diễn các hoạt cảnh tĩnh, trong đó họ mặc những trang phục tái hiện các bức họa nổi tiếng. Các nhà thiên văn học cài đặt kính viễn vọng, những nhà nghiên cứu trưng bày các sáng kiến điện và từ của họ, còn Babbage thì cho phép khách khứa chơi đùa với những con búp bê cơ khí của ông. Trọng tâm của các đêm hội – đồng thời cũng là một trong những động cơ khiến Babbage tổ chức chúng – là màn trình diễn của ông về một phần mẫu của chiếc Máy Sai phân, một cỗ máy tính cơ khổng lồ mà ông đang lắp đặt trong một nhà xưởng chịu lửa ngay bên cạnh nhà ông. Babbabe thường trình diễn mô hình máy như biểu diễn một vở kịch. Ông quay tay cầm của máy trong lúc máy tính toán một dãy số, và khi khán giả bắt đầu thấy nhàm chán thì ông cho họ thấy phương thức trên có thể thay đổi đột ngột ra sao dựa trên những câu lệnh đã được mã hóa bên trong cỗ máy. Những ai tỏ ra hứng thú đặc biệt sẽ được mời đi qua sân để tới nhà xưởng, nơi chiếc máy hoàn chỉnh đang được xây dựng.

Máy Sai phân của Babbage có thể giải được các phương trình đa thức và nó đã gây ấn tượng với mọi người ở nhiều góc độ khác nhau. Bá tước xứ Wellington cho rằng nó sẽ giúp ích trong việc phân tích các biến mà một vị tướng có thể đối mặt trước khi ra trận. Phu nhân Byron, mẹ của Ada, ngạc nhiên khi thấy nó là một “cỗ máy biết suy nghĩ.” Còn đối với Ada, người sau này sẽ đưa ra một ghi chú nổi tiếng rằng máy móc không bao giờ có thể thực sự suy nghĩ, một người bạn cùng đi đến buổi trình diễn máy với họ thuật lại rằng: “Tuy còn trẻ, nhưng cô Byron đã hiểu được cách hoạt động của cỗ máy và nhìn thấy vẻ đẹp tuyệt vời của phát minh này.”

Tình yêu dành cho cả thơ ca và toán học đã giúp Ada nhìn thấy vẻ đẹp trong một cỗ máy tính. Cô chính là một hình mẫu của kỷ nguyên khoa học lãng mạn, mà đặc điểm nổi bật là sự nhiệt tình dành cho các phát minh và khám phá. Trong cuốn The Age of Wonder (Kỷ nguyên của phép màu), Richard Holmes viết rằng đó là giai đoạn đã đưa “sự mãnh liệt của trí tưởng tượng và sự hứng khởi vào công việc khoa học. Nó được thúc đẩy bởi một lý tưởng chung về sự quyết tâm cao độ, thậm chí là liều lĩnh, của cá nhân đối với hoạt động khám phá.”

Nói ngắn gọn, thời đại đó không giống thời đại của chúng ta bây giờ. Những tiến bộ của cuộc Cách mạng Công nghiệp như động cơ hơi nước, máy dệt cơ và điện báo đã làm biến đổi thế kỷ XIX theo cách hệt như những tiến bộ của cuộc Cách mạng Kỹ thuật số – máy vi tính, vi mạch và Internet – đã và đang làm biến đổi cuộc sống của chúng ta vậy. Nằm ở trung tâm của cả hai thời đại này là những nhà phát minh, những người đã kết hợp trí tưởng tượng và niềm đam mê với công nghệ diệu kỳ, một sự kết hợp đã tạo nên “nền khoa học nên thơ” của Ada và tạo nên thứ mà thi sĩ Richard Brautigan của thế kỷ XX gọi là “những cỗ máy của sự duyên dáng đáng yêu”.

Huân Tước Byron

Ada thừa hưởng tâm hồn thơ ca và bản tính nổi loạn của cha, nhưng ông không phải là nguồn gốc tạo nên tình yêu dành cho máy móc của bà. Trên thực tế, ông là một Luddite [4]. Trong bài phát biểu đầu tiên của mình ở Viện Quý tộc vào tháng 2 năm 1812, khi Byron 24 tuổi, ông đã lên tiếng ủng hộ những người đi theo Ned Ludd, người đã nổi loạn chống lại những chiếc máy dệt cơ. Với thái độ đầy miệt thị và mỉa mai, Byron đã chế giễu chủ các nhà máy xay ở Nottingham khi đó đang vận động thông qua một đạo luật theo đó việc phá hủy các máy dệt tự động sẽ bị kết tội tử hình. Ông tuyên bố: “Những chiếc máy đó có lợi cho họ vì chúng thay thế cho nhu cầu phải thuê một số lượng người lao động, và do đó những người này sẽ bị đẩy vào cảnh chết đói. Trong bóng tối của sự ngu dốt, thay vì vui mừng trước những tiến bộ về nghệ thuật mang lại lợi ích cho nhân loại, những người lao động bị đào thải này lại cho rằng họ là vật hi sinh cho những tiến bộ của máy móc kỹ thuật.”

Hai tuần sau, Byron giới thiệu hai đoạn đầu tiên trong bài trường thi Childe Harold’s Pilgrimage (Cuộc hành hương của chàng thiếu niên Harold). Bài thơ miêu tả những chuyến lang thang của ông qua Bồ Đào Nha, Malta và Hy Lạp, đây là bài thơ mà như lời kể của ông sau này, “một buổi sáng tôi thức dậy và thấy mình nổi tiếng”. Đẹp đẽ, đầy cám dỗ, nhiều rắc rối cùng những cuộc phiêu lưu tình ái, qua bài thơ ông đang sống cuộc đời của một anh hùng đậm chất Byron, đồng thời tạo nên một nguyên mẫu điển hình trong thơ của mình. Ông trở thành thi sĩ được ngưỡng mộ trong giới văn chương London và được mời dự tiệc tới ba lần một ngày, trong đó đáng nhớ nhất là buổi khiêu vũ xa hoa do Phu nhân Caroline Lamb tổ chức.

Mặc dù Phu nhân Caroline Lamb đã kết hôn với một nhà quý tộc rất có quyền lực trên chính trường (người này về sau đã trở thành thủ tướng), nhưng bà vẫn yêu Byron cuồng nhiệt. Tuy cho rằng bà “quá gầy” nhưng ông vẫn bị cuốn hút bởi sự không rõ ràng về giới tính – một điều rất phi truyền thống – của bà (bà thích ăn vận giống một người hầu nam). Họ đã có một cuộc tình đầy sóng gió, và sau khi mọi chuyện kết thúc, bà vẫn tiếp tục theo dõi ông. Phu nhân Caroline Lamb từng có một lời tuyên bố nổi tiếng rằng ông là một kẻ “điên loạn, xấu xa và nguy hiểm cho những ai biết hắn”. Ông quả đúng là người như vậy, và bà cũng thế.

Tại bữa tiệc của Phu nhân Caroline, Huân tước Byron còn chú ý đến một cô gái khá nhút nhát và theo hồi tưởng của ông thì “ăn mặc giản dị hơn”. Annabella Milbanke, 19 tuổi, xuất thân từ một gia đình giàu có và nhiều chức tước. Đêm trước bữa tiệc, cô đã đọc bài thơ Cuộc hành hương của chàng thiếu niên Harold và có nhiều cảm xúc pha trộn. Cô viết: “Chàng có một khí chất riêng. Chàng xuất sắc trong việc miêu tả những cảm xúc sâu lắng.” Khi nhìn thấy Huân tước Byron đi ngang qua căn phòng tại bữa tiệc, trong lòng cô trào dâng những cảm xúc đối lập nhau. Cô viết thư cho mẹ kể rằng: “Con không tìm cách làm quen với chàng, vì tất cả phụ nữ ở đó đều đang ve vãn chàng một cách lố bịch và cố gắng tìm kiếm một lời châm biếm của chàng. Con không mong có được một chỗ giữa những tình nhân của chàng. Con không dâng hiến gì trước ngôi đền của chàng thiếu niên Harold, nhưng con sẽ không từ chối làm quen với chàng nếu cơ hội đó xuất hiện.”

Và rốt cuộc, cơ hội làm quen cũng đến với cô. Sau khi được giới thiệu chính thức với Annabella, Bryon liền cho rằng có thể cô sẽ là một người vợ phù hợp. Đối với ông, đây là một trường hợp hiếm hoi khi lý trí lấn át sự lãng mạn. Annabella không khơi dậy ở ông niềm đam mê, nhưng cô thuộc tuýp phụ nữ có thể chế ngự những đam mê ấy và bảo vệ ông khỏi những sự quá độ của mình – đồng thời cô còn có thể giúp ông trả hết gánh nặng nợ nần. Ông cầu hôn cô qua một lá thư thiếu lửa nhiệt tình. Cô thông thái khước từ. Ông lao vào những cuộc tình vụng trộm và bất chính, trong đó có Augusta Leign, chị gái cùng cha khác mẹ với ông. Tuy nhiên, một năm sau, Annabella nối lại quan hệ. Byron, lúc này càng lún sâu vào nợ nần đồng thời cũng mong mỏi tìm cách kiểm soát thói ăn chơi của mình, nhìn thấy lý do – mà cũng có thể là sự lãng mạn – trong mối quan hệ đầy khả thi này. Ông thú nhận với dì của Annabella rằng: “Chỉ có một cuộc hôn nhân, và phải là một cuộc hôn nhân chóng vánh, mới có thể cứu vớt được tôi. Nếu có thể với tới được cháu gái của bà thì tôi sẽ chọn nàng; bằng không, tôi sẽ chọn bất kỳ người phụ nữ đầu tiên nào không có vẻ sẽ nhổ nước bọt vào mặt tôi.” Có những lúc Huân tước Byron không phải là người lãng mạn. Ông và Annabella kết hôn vào tháng 1 năm 1815.

Byron khởi đầu cuộc hôn nhân theo phong cách đậm chất Byron của mình. “Tôi đã quan hệ với Phu nhân Byron trên ghế sô-pha trước bữa tối”, ông viết về ngày cưới của mình như vậy. Hai tháng sau, khi họ tới thăm chị gái cùng cha khác mẹ của Byron, cuộc hôn nhân của họ vẫn tốt đẹp vì khi đó Annabella đang mang thai. Tuy nhiên, trong chuyến thăm này, Annabella bắt đầu nghi ngờ tình cảm giữa Byron và Augusta đã vượt quá giới hạn tình chị em, đặc biệt khi Byron nằm trên ghế sô-pha rồi bảo cả Annabella và Augusta lần lượt hôn mình. Cuộc hôn nhân của họ bắt đầu rạn nứt.

Annabella từng được dạy kèm môn toán – điều khiến Huân tước Byron thấy buồn cười – và trong thời gian hai người tìm hiểu, ông từng lấy sự thiếu thiện cảm với tính chính xác của những con số ra làm trò cười. Ông viết: “Anh biết 2 cộng 2 là 4, và nếu có thể thì anh cũng sẽ rất vui lòng chứng minh điều đó. Tuy nhiên anh phải thú thực rằng, nếu bằng một cách biến đổi nào đó mà anh có thể biến 2 cộng 2 bằng 5 thì anh sẽ vui hơn nhiều.” Thời gian đầu, ông còn trìu mến gọi cô là “nàng công chúa của những hình bình hành.” Tới khi cuộc hôn nhân của họ bắt đầu xấu đi, ông điều chỉnh lại hình ảnh toán học đó: “Chúng ta giống như hai đường thẳng song song, được kéo dài bên nhau mãi mãi nhưng không bao giờ gặp nhau.” Về sau, trong khổ thơ đầu tiên của bài trường ca Don Juan, ông chế nhạo cô rằng: “Môn khoa học yêu thích của cô ta là toán học… Cô ta là một cái máy tính biết đi.”

Sự kiện con gái đầu lòng của họ chào đời vào ngày 10 tháng 12 năm 1815 cũng không cứu vãn được cuộc hôn nhân này. Đứa bé được đặt tên là Augusta Ada Byron, trong đó tên chính Augusta được đặt theo tên người chị cùng cha khác mẹ quá mến yêu của Byron. Khi Phu nhân Byron đã chắc chắn về sự phản bội của chồng mình, bà bắt đầu gọi con gái bằng tên đệm. Năm tuần sau đó, bà chất hành lý lên xe và bỏ về điền trang của cha mẹ với Ada còn ẵm ngửa trên tay.

Ada không bao giờ gặp lại cha mình nữa. Vào tháng 4 năm đó, Huân tước Byron cũng đi ra nước ngoài sau khi Phu nhân Byron gửi những bức thư đầy tính toán đến nỗi ông phải đặt cho bà biệt danh là “Phù thủy Medea của toán học”, trong đó bà đe dọa sẽ tố cáo những mối quan hệ được cho là loạn luân và đồng giới của ông nhằm đạt được một thỏa thuận ly thân cho bà quyền giám hộ đứa con.

Phần mở đầu của khổ thơ thứ ba trong trường thi Chàng thanh niên Harold viết vài tuần sau đó được lấy cảm hứng từ Ada:

Con có khuôn mặt của mẹ con không, con của ta?

Ada! Đứa con gái duy nhất của dòng họ ta và của trái tim ta?

Lần cuối cùng nhìn vào đôi mắt xanh của con, ta thấy chúng đang mỉm cười

Và rồi chúng ta chia tay.

Byron viết những dòng này khi ông đang ở trong một căn biệt thự ven hồ Geneva cùng với nhà thơ Percy Bysshe Shelly và người vợ tương lai, Mary. Trời mưa dầm dề. Bị mắc kẹt trong nhà nhiều ngày, Byron rủ họ sáng tác truyện kinh dị. Ông viết truyện về một con ma cà rồng, một trong những tác phẩm văn học đầu tiên về đề tài này. Nhưng câu truyện của Mary, Frankenstein or The Modern Prometheus (Frankenstein hay Thần Prometheus hiện đại), mới trở thành một tác phẩm kinh điển. Dựa trên một tích thần thoại Hy Lạp kể về vị thần đã tạo ra một con người sống bằng đất sét và lấy trộm lửa từ các vị thần để con người sử dụng,Frankenstein là câu chuyện về một nhà khoa học đã biến một cỗ máy nhân tạo thành một con người biết suy nghĩ. Đây là một lời cảnh báo về sự phát triển của công nghệ và khoa học. Đồng thời, nó cũng đặt câu hỏi mà về sau sẽ có liên quan đến Ada: các máy móc nhân tạo liệu có thể suy nghĩ thật sự?

Đoạn thơ thứ ba của Chàng thiếu niên Harold kết thúc bằng lời dự đoán của Byron rằng, Annabella sẽ tìm cách để Ada không biết gì về cha mình. Và quả thực như vậy. Trong nhà mẹ con họ có một bức chân dung của Huân tước Byron, nhưng Annabella che nó lại, và Ada chưa từng nhìn thấy bức chân dung đó cho đến khi cô 20 tuổi.

Ngược lại, Huân tước Byron luôn đặt ảnh của con gái trên bàn làm việc bất kể ông ở đâu, và trong những lá thư của mình, ông thường hỏi thăm tin tức hoặc xin ảnh của con. Lúc Ada lên bảy tuổi, Byron viết thư cho Augusta hỏi: “Giá mà chị có thể hỏi han từ Phu nhân B một vài lời miêu tả về tính tình của Ada… Con bé có giàu trí tưởng tượng không? Nó có giàu đam mê không? Em chỉ hy vọng Chúa đừng ban cho nó tâm hồn thi sĩ – có một gã ngốc trong gia đình là đủ lắm rồi.” Phu nhân Byron đáp lại rằng Ada sở hữu một trí tưởng tượng “được vận dụng chủ yếu trong sự liên hệ với khả năng thiên phú về máy móc của cô bé.”

Trong thời gian đó, sau khi đã lang thang khắp nước Ý, Byron tiếp tục viết và phiêu du trong hàng loạt những cuộc tình, ngày càng trở nên chán nản, cuối cùng ông quyết định đăng lính tham gia vào quân đội Hy Lạp trong cuộc chiến giành độc lập từ đế quốc Ottoman. Byron đi thuyền đến Missolonghi, nơi ông nhận nhiệm vụ chỉ huy một nhóm phiến quân và chuẩn bị tấn công một pháo đài của Thổ Nhĩ Kỳ. Tuy nhiên, trước khi tham chiến, Byron bị một trận cảm lạnh nặng và bệnh tình của ông càng diễn biến xấu đi khi bác sĩ quyết định chữa trị bằng phương pháp trích máu. Vào ngày 19 tháng 4 năm 1824, ông qua đời. Người phục vụ của ông kể lại, những lời nói cuối cùng của ông là: “Ôi con gái yêu quý tội nghiệp của ta! Ada yêu quý! Lạy Chúa, hãy cho con nhìn thấy con bé! Xin Người hãy mang lời cầu chúc của con đến cho con bé.”

ADA

Phu nhân Byron muốn đảm bảo rằng Ada lớn lên sẽ không giống cha mình, và một trong những chiến lược của bà là cho cô học toán thật nhiều, như thể đó là liều thuốc giải độc cho trí tưởng tượng thi ca. Lúc lên năm, Ada tỏ ra yêu thích môn địa lý, nhưng bà Bryon đã ra lệnh thay thế môn học đó bằng những giờ học toán bổ sung, và không lâu sau, cô giáo tự hào thông báo lại rằng: “Con bé có thể thực hiện chính xác các phép cộng gồm năm hoặc sáu hàng số.” Tuy vậy, bất chấp những nỗ lực đó, Ada vẫn có một số thiên hướng giống cha. Khi trở thành một thiếu nữ, cô đã có quan hệ yêu đương với một gia sư của mình. Khi bị phát hiện và gia sư bị đuổi, Ada định bỏ nhà đi theo tình nhân. Không những thế, tâm tính cô còn thay đổi thất thường, từ vui sướng chuyển sang buồn rầu, ủ dột, và cô còn chịu nhiều chứng bệnh khác nữa, cả về thể chất lẫn tâm lý.

Ada chấp nhận lời thuyết phục của mẹ rằng việc vùi mình vào toán học sẽ giúp cô chế ngự những thiên hướng của cha. Sau mối quan hệ nguy hiểm với gia sư và được gợi cảm hứng từ Máy Sai phân của Babbage, ở tuổi 18, cô đã quyết định sẽ bắt đầu hàng loạt các bài học mới. Cô viết cho gia sư mới: “Em cần phải chấm dứt ý nghĩ sống để hưởng thụ. Em thấy rằng giờ đây chỉ có sự chuyên tâm vào các môn khoa học mới có thể giữ cho trí tưởng tượng của em khỏi đi rông… Có lẽ, điều đầu tiên em phải làm là theo một khóa toán học.” Giáo viên của cô đồng ý và kê đơn: “Em đã đúng khi cho rằng lúc này, giải pháp và chỗ nương náu chính của em là một khóa học có yêu cầu cao về trí tuệ. Với mục đích như vậy thì không môn học nào có thể sánh được với môn toán.” Ông còn kê thêm đơn thuốc hình học Euclid, tiếp đến là một liều lượng giác và đại số. Cả hai cùng cho rằng điều đó sẽ giúp cho bất kỳ ai thoát khỏi niềm đam mê về nghệ thuật hay lãng mạn.

Mối quan tâm dành cho công nghệ của Ada được khơi dậy khi mẹ cô đưa cô theo trong một chuyến đi khắp vùng trung du vốn phát triển về công nghiệp của Anh để thăm thú các nhà xưởng và máy móc mới. Ada đặc biệt ấn tượng với chiếc máy dệt tự động sử dụng thẻ đục lỗ để điều hướng việc tạo hoa văn trên vải, và cô đã phác họa một bức vẽ miêu tả cách hoạt động của nó. Cha của Ada từng có một bài diễn thuyết nổi tiếng trước Viện Quý tộc Anh để bênh vực các Luddite, những người thợ đã đập phá những chiếc máy dệt như vậy vì sợ rằng công nghệ có thể gây hại cho con người. Nhưng Ada thì lại dùng những lời lẽ nên thơ để tán dương chúng và nhìn ra mối liên hệ giữa chúng với một thứ sau này được gọi là máy vi tính. “Chiếc máy này nhắc tôi nhớ đến Babbage và thiên tài cơ khí của ông”, cô viết.

Mối quan tâm của Ada với ngành khoa học ứng dụng được kích thích mạnh mẽ hơn khi cô gặp một trong số rất ít những nhà nữ toán học và khoa học tên tuổi của Anh, Mary Somerville. Lúc này, Somerville vừa viết xong một trong những tác phẩm lớn của mình, cuốn sách On the Connexion of the Physical Sciences (Về mối liên kết giữa các ngành Khoa học Vật lý), trong đó bà liên kết quá trình phát triển của các ngành thiên văn học, quang học, điện, hóa học, vật lý học, thực vật học và địa chất học vào với nhau [5]. Được xem là tác phẩm tiêu biểu cho thời kỳ đó, cuốn sách mang đến một cảm giác nhất quán về những nỗ lực khám phá phi thường đang diễn ra. Bà tuyên bố trong câu mở đầu: “Sự tiến bộ của khoa học hiện đại, đặc biệt là trong vòng năm năm qua, thật sự rất đáng chú ý bởi một xu hướng đơn giản hóa các quy luật của tự nhiên và thống nhất các ngành nghiên cứu riêng biệt trên cơ sở các nguyên lý chung.”

Somerville đã trở thành nguồn cảm hứng, người bạn, người thầy và người cố vấn cho Ada. Bà thường xuyên gặp mặt, gửi cho Ada những quyển sách toán học, đặt ra nhiều bài toán để Ada giải và kiên nhẫn giải thích các đáp án đúng. Somerville cũng là một người bạn tốt của Babbage. Trong suốt mùa thu năm 1834, bà và Ada thường xuyên tham dự các buổi tụ họp vào tối thứ Bảy của Babbage. Con trai của Somerville là Woronzow Greig cũng nhiệt tình giúp Ada ổn định cuộc sống bằng việc gợi ý cho một người bạn học cũ của mình ở Đại học Cambridge rằng có lẽ cô sẽ trở thành một người vợ thích hợp – hoặc chí ít thì cũng thú vị.

William King là một nhân vật khá nổi bật trong xã hội, kinh tế ổn định, thông minh, trầm tĩnh và anh ít nói bao nhiêu thì Ada sôi nổi bấy nhiêu. Giống như cô, William cũng là một sinh viên chuyên ngành khoa học, nhưng anh tập trung vào khía cạnh thực tế nhiều hơn là thơ ca. Mối quan tâm chính của William là các lý thuyết về luân canh mùa vụ và những tiến bộ kỹ thuật trong ngành chăn nuôi gia súc. Chỉ vài tuần sau khi gặp Ada, anh ngỏ lời cầu hôn và Ada đã đồng ý. Mẹ cô, với những lý do mà chắc chỉ có các nhà tâm thần học mới có thể hiểu được, lại quyết định phải nói cho William biết chuyện Ada từng tìm cách bỏ nhà đi theo gia sư của mình. Dù biết việc này, William vẫn sẵn sàng đi đến hôn nhân, và đám cưới được tổ chức vào tháng 7 năm 1835. Phu nhân Byron đã gửi thư cho con gái mình: “Đức Chúa lòng lành, Người đã rất nhân từ khi vừa ban cho con một cơ hội tránh khỏi những con đường nguy hiểm, vừa ban cho con một người bạn đời, một người che chở cho con.” Bà còn nói thêm rằng Ada nên tận dụng cơ hội này để nói lời chia tay với tất cả “những đức tính lập dị, đồng bóng và vị kỷ” của cô.

Đây là cuộc hôn nhân được tiến hành dựa trên sự tính toán hợp lý. Với Ada, đây là cơ hội để cô có một cuộc sống ổn định và bình lặng. Quan trọng hơn, nó giúp cô thoát khỏi sự phụ thuộc vào người mẹ độc đoán của mình. Còn với William, nó đồng nghĩa với việc anh sẽ có được một người vợ cá tính và thú vị đến từ một gia đình giàu có và nổi tiếng.

Anh họ của Phu nhân Byron, Viscount Melbourne (người đã không may mắn khi kết hôn với Phu nhân Caroline Lamb lúc này đã qua đời), bây giờ là Thủ tướng và theo sắp xếp của ông, trong danh sách tấn phong trong lễ đăng quang của Nữ hoàng Victoria, William sẽ trở thành Bá tước xứ Lovelace. Như vậy, vợ anh sẽ trở thành Ada, nữ Bá tước xứ Lovelace. Vì thế, danh xưng đúng của cô là Ada hay Phu nhân xứ Lovelace, tuy nhiên, ngày nay cô được biết đến nhiều hơn với tên gọi Ada Lovelace.

Vào lễ Giáng sinh năm 1835, Ada nhận được một bức chân dung khổ lớn vẽ cha mình do mẹ cô gửi tới. Bức tranh này của họa sĩ Thomas Phillips thể hiện chân dung nhìn nghiêng đậm chất lãng mạn của Huân tước Byron, với đôi mắt đăm đắm hướng về phía chân trời và trang phục truyền thống của người Albania, gồm chiếc áo khoác nhung đỏ, thanh kiếm nghi thức và mũ đội đầu. Suốt bao nhiêu năm qua, bức tranh vẫn được treo phía trên lò sưởi trong nhà của ông bà Ada, nhưng nó đã bị phủ lên bằng một tấm vải xanh kể từ ngày cha mẹ cô chia tay. Bây giờ thì Ada không những được phép thấy nó mà còn được giao phó quyền sở hữu nó cùng với cây bút và giá để bút của cha.

Mấy tháng sau đó, khi đứa con trai đầu lòng của nhà Lovelace chào đời, mẹ Ada thậm chí còn làm một việc gây bất ngờ hơn nữa. Tuy không mấy thiện cảm với những ký ức về người chồng quá cố, nhưng bà vẫn đồng ý cho Ada đặt tên đứa bé là Byron, và Ada đã làm như vậy. Ada sinh thêm một cô con gái vào năm tiếp theo và với ý thức trách nhiệm, cô đặt tên con là Annabella theo tên mẹ mình. Sau đó, Ada mắc phải một chứng bệnh kỳ lạ khiến cô phải nằm liệt giường trong nhiều tháng. Sức khỏe của cô hồi phục đủ để cô sinh thêm đứa con thứ ba, một cậu con trai và đặt tên là Ralph. Nhưng tình trạng sức khỏe của cô vẫn rất xấu. Ada mắc các vấn đề về đường tiêu hóa, hô hấp và bệnh tình của cô còn xấu đi do hệ quả của việc điều trị bằng cồn thuốc phiện, morphine và các dạng thuốc giảm đau khác, khiến tâm trạng cô trở nên thất thường và thi thoảng xuất hiện ảo giác.

Ada càng bất ổn hơn trước sự xuất hiện của một tấn bi kịch cá nhân lạ lùng ngay cả khi so với tiêu chuẩn của gia đình Byron. Tấn bi kịch này liên quan đến Medora Leigh, con gái của người chị cùng cha khác mẹ, đồng thời cũng là tình nhân của Byron. Theo những lời đồn thổi được nhiều người thừa nhận thì Medora là con gái của Byron. Có vẻ như Medora quyết tâm chứng tỏ rằng sự sa đọa là truyền thống của gia đình mình. Cô ngoại tình với chồng của em gái, sau đó bỏ sang Pháp cùng anh ta và họ có với nhau hai đứa con ngoài giá thú. Trong một hành động tự cho rằng mình đúng, Phu nhân Byron đã sang Pháp để cứu Medora, sau đó bà tiết lộ cho Ada biết về chuyện loạn luân của cha mình.

Đoạn “lịch sử kỳ lạ và khủng khiếp nhất” này dường như không khiến Ada bất ngờ. Cô viết cho mẹ: “Con không hề ngạc nhiên chút nào. Mẹ chỉ xác nhận lại những gì mà bao năm nay con gần như chắc chắn.” Không những không tức giận, ngược lại, dường như cô còn thấy hào hứng một cách kỳ lạ trước thông tin này. Cô tuyên bố rằng mình có thể hiểu được sự phản kháng quyền lực đó của cha. Nhắc đến “tài năng bị sử dụng sai lầm” của cha, cô viết cho mẹ rằng: “Nếu cha có truyền lại cho con một chút nào trong cái thiên tài đó, con sẽ dùng nó để tìm ra những sự thật và những nguyên tắc vĩ đại. Con nghĩ cha đã giao lại cho con nhiệm vụ này. Con cảm nhận được điều đó một cách mãnh liệt và con sẽ rất vinh dự nếu được thực hiện nó.”

Một lần nữa, Ada lại tiếp tục công việc nghiên cứu toán học để trấn tĩnh bản thân. Cô tìm cách thuyết phục Babbage làm gia sư cho mình. Trong lá thư gửi Babbage, cô viết: “Tôi có một cách học khác thường và tôi nghĩ phải có một người khác thường mới có thể dạy tôi được.” Có thể do sử dụng các loại thuốc giảm đau hoặc do những gì đã được dạy dỗ, hoặc cũng có thể là do cả hai, Ada dần dần có một quan điểm có phần cường điệu về tài năng của bản thân và bắt đầu coi mình là một thiên tài. Cô viết cho Babbage: “Đừng cho là tôi kiêu ngạo, nhưng tôi tin rằng khi theo đuổi những sở thích đó, tôi có thể tiến bao xa tùy ý muốn, và ở đâu có mối quan tâm – mà tôi có thể nói là niềm đam mê, xét theo những gì tôi dành cho chúng – thì tôi ngờ rằng ở đó sẽ luôn tồn tại một phần nào đó của thiên tài bẩm sinh.”

Babbage từ chối yêu cầu của Ada, và có lẽ đây là một hành động sáng suốt. Quyết định này đã giúp gìn giữ tình bạn giữa hai người để dành cho một sự hợp tác quan trọng hơn gấp nhiều lần, và nhờ đó Ada cũng tìm được một gia sư toán học hàng đầu để thay thế: Augustus De Morgan, một quý ông nhẫn nại, người tiên phong trong lĩnh vực logic ký hiệu. Ông đã đưa ra một ý tưởng mà sau này Ada sẽ vận dụng và mang lại một ý nghĩa lớn, theo đó một phương trình đại số có thể áp dụng cho những thứ khác nữa chứ không chỉ riêng với những con số. Mối quan hệ giữa các ký hiệu (ví dụ như a + b = b + a) có thể thuộc về một logic vận dụng được với những thứ không phải là con số.

Ada chưa bao giờ là một nhà toán học vĩ đại như những người thần thánh hóa cô đã khẳng định. Nhưng cô là một người ham học, có thể hiểu hầu hết các khái niệm cơ bản trong tính toán, và với sự nhạy cảm nghệ thuật của mình, cô thích hình dung ra sự thay đổi của những quỹ đạo và những đường cong mà các phương trình mô tả. De Morgan khuyên cô tập trung vào nguyên tắc làm việc thông qua các phương trình, nhưng cô lại hào hứng với việc thảo luận các khái niệm cơ bản hơn. Tương tự với hình học, cô thường yêu cầu những phương thức trực quan để hình dung các vấn đề, như là giao điểm của các đường tròn trên một hình cầu đã chia hình cầu đó thành rất nhiều hình dạng khác nhau như thế nào.

Khả năng thưởng thức vẻ đẹp toán học của Ada là một tài năng vượt quá sự hiểu biết của nhiều người, bao gồm cả những người tự cho mình là trí thức. Ada nhận ra toán học là một ngôn ngữ đáng yêu, thứ ngôn ngữ miêu tả sự hài hòa của vũ trụ và đôi khi cũng khá thi vị. Bất chấp những nỗ lực của mẹ, cô vẫn là con gái của cha mình, sự nhạy cảm thơ ca cho phép cô mường tượng về một phương trình như một nét cọ phác ra một góc vẻ đẹp lộng lẫy về mặt vật lý của tự nhiên, cũng giống như việc cô có thể hình dung ra “đại dương có màu rượu u tối” hay một người phụ nữ “bước đi trong nhan sắc, giống như màn đêm”. Nhưng sức hấp dẫn của toán học còn đi sâu hơn nữa, nó mang yếu tố tâm linh. Theo cô, toán học “tạo nên thứ ngôn ngữ mà chỉ cần thông qua nó chúng ta có thể thể hiện những hiện thực vĩ đại của thế giới tự nhiên”, và nó cho phép chúng ta miêu tả một cách sinh động “những biến đổi của mối quan hệ qua lại” diễn ra trong quá trình sáng tạo. Nó là “công cụ mà thông qua đó, trí tuệ yếu ớt của con người có thể hiểu được một cách hiệu quả những công trình của Đấng Sáng tạo.”

Khả năng vận dụng trí tưởng tượng vào khoa học là đặc thù của cuộc Cách mạng Công nghiệp cũng như cuộc cách mạng máy vi tính, và Ada sẽ trở thành vị thần bảo trợ cho khả năng này. Như cô từng nói với Babbage, cô có thể hiểu được mối liên hệ giữa thơ ca và phân tích theo những cách còn vượt xa hơn cả tài năng của người cha. Cô viết: “Tôi không tin rằng cha tôi từng là (hoặc lẽ ra đã có thể là) một Nhà Thơ, hay tôi sẽ là một Nhà Phân Tích; bởi đối với tôi, hai điều này luôn đi cùng với nhau, không thể tách rời.”

Ada nói với mẹ rằng việc cô quay lại với toán học đã kích thích khả năng sáng tạo ở cô và dẫn đến một “sự mở rộng mênh mang của trí tưởng tượng, đến mức con đoán chắc rằng nếu như tiếp tục việc học thì sẽ đến lúc con trở thành một Nhà Thơ.” Toàn bộ khái niệm về trí tưởng tượng, đặc biệt là khi nó được vận dụng vào công nghệ, đã kích thích sự hiếu kỳ của cô. Trong một bài viết năm 1841, cô đặt câu hỏi: “Trí tưởng tượng là gì? Nó là khả năng kết hợp. Nó đưa các sự việc, dữ kiện, ý tưởng, khái niệm lại gần với nhau trong những hợp thể mới, độc đáo, vô tận và luôn thay đổi… Đó là thứ đã xâm nhập vào các thế giới vô hình xung quanh chúng ta, các thế giới của khoa học.”

Khi đó, Ada tin rằng cô sở hữu những khả năng đặc biệt, thậm chí là siêu nhiên, thứ mà cô gọi là “cảm nhận bằng trực giác về những điều bị che giấu”. Quan điểm phóng đại về tài năng của bản thân khiến Ada theo đuổi những khát vọng vốn xa lạ đối với một phụ nữ quý tộc và một người mẹ trong những năm đầu của thời đại Victoria. Trong một bức thư gửi mẹ vào năm 1841, cô viết: “Con tin mình sở hữu các phẩm chất phù hợp để trở thành nhà phát minh nổi bật về những thực tại bị ẩn giấu trong tự nhiên. Con có thể liên kết các tia sáng từ khắp nơi trong vũ trụ thành một tiêu điểm lớn.”

Với tâm thế như vậy, cô đã quyết định liên lạc lại với Charles Babbage, người tổ chức các bữa tiệc của giới văn nghệ sĩ mà cô đã tham gia lần đầu tiên từ tám năm về trước.

Charles Babbage và những cỗ máy

Ngay từ thuở nhỏ, Charles Babbage đã quan tâm đến những cỗ máy có thể thực hiện các công việc của con người. Khi còn là một cậu bé, ông thường được mẹ đưa đi thăm nhiều phòng trưng bày và các bảo tàng kỳ diệu mọc lên ở khắp London vào đầu những năm 1800. Ở một phòng trưng bày như vậy tại quảng trường Hanover, người chủ, khéo thay lại có tên là Merlin [6], mời cậu bé Babbage lên thăm xưởng làm việc của mình ở tầng gác mái, nơi có rất nhiều con búp bê máy được gọi là “automata”. Trong đó có một con búp bê vũ công cao khoảng 30cm, có thể cử động cánh tay duyên dáng và một tay giữ một con chim biết vẫy đuôi, vỗ cánh và há mỏ. Khả năng diễn tả cảm xúc và tính cách của búp bê Tiểu thư Bạc khiến Babbage rất thích thú. Ông nhớ rằng “đôi mắt của nó đầy ắp trí tưởng tượng”. Nhiều năm sau, ông nhìn thấy Tiểu thư Bạc ở một cuộc bán đấu giá phá sản và mua lại nó. Nó trở thành một trò mua vui trong các bữa tiệc tối của Babbage, nơi ông tôn vinh những điều kỳ diệu của công nghệ.

Ở Đại học Cambridge, Babbage kết bạn với một nhóm, trong đó có John Herschel và George Peacock, những người bất mãn với phương pháp giảng dạy môn toán ở đó. Họ thành lập một câu lạc bộ lấy tên là Hội Giải tích và hội này tổ chức một chiến dịch vận động nhà trường loại bỏ các ký hiệu toán học sử dụng dấu chấm do Newton, cựu sinh viên của trường tạo ra, và thay vào đó, sử dụng các ký hiệu của Leibniz trong đó dx và dy được dùng làm đại diện cho các gia số vi phân, và do đó được gọi là ký hiệu “d”. Babbage đặt tiêu đề cho bản tuyên ngôn của họ là The Principles of pure D-ism in opposition to the Dot-age of the University (Những nguyên tắc của chủ nghĩa D thuần túy đối lập với thời đại Dấu chấm của trường Đại học). Ông là một người dễ cáu giận nhưng lại có khiếu hài hước.

Một hôm, Babbage ngồi trong phòng của Hội Giải tích làm việc với một bảng các hàm logarit có nhiều sai sót. Herschel hỏi ông đang nghĩ gì. Babbage trả lời: “Ước gì những phép toán này được máy hơi nước thực hiện.” Trước ý tưởng về việc dùng máy móc để lập bảng các hàm logarit, Herschel đáp: “Cũng khả thi đấy chứ.” Năm 1821, Babbage bắt đầu chú tâm vào việc chế tạo ra một chiếc máy như thế.

Trong nhiều năm, nhiều người đã nghĩ đến ý tưởng chế tạo ra những cỗ máy dùng để tính toán. Vào những năm 1640, Blaise Pascal, nhà toán học và triết gia người Pháp, đã chế tạo ra một cỗ máy tính cơ giúp cho công việc giám sát thuế của cha mình bớt cực khổ và nhàm chán. Cỗ máy có những bánh xe kim loại gắn nan hoa với các số từ 0 đến 9 trên vành của chúng. Để cộng hay trừ các con số, người sử dụng sẽ dùng một chiếc bút để quay một số, giống như cách dùng điện thoại quay số, sau đó lại quay chữ số tiếp theo; có một phần lõi để nhớ hoặc mượn một đơn vị khi cần thiết. Đây là cỗ máy tính đầu tiên được cấp bằng sáng chế và trở thành sản phẩm thương mại.

Ba mươi năm sau, Gottfried Leibniz, nhà toán học và triết gia người Đức, đã cố gắng cải tiến cỗ máy của Pascal với một chiếc “bàn tính từng bước” có khả năng thực hiện được cả phép nhân và phép chia. Cỗ máy này có một trục quay tay gắn một bộ răng khớp với các bánh xe tính toán. Tuy nhiên, Leibniz lại gặp phải một vấn đề mà sau này sẽ trở thành một chủ đề lặp đi lặp lại trong thời đại kỹ thuật số. Khác với Pascal, một kỹ sư khéo tay có thể kết hợp các lý thuyết khoa học với tài năng cơ khí, Leibniz hầu như không có năng khiếu kỹ thuật và ông cũng không tập hợp xung quanh mình những người giỏi về lĩnh vực này. Bởi thế, giống như nhiều nhà lý thuyết lớn thiếu những người cộng tác về thực tiễn, ông không thể tạo ra các phiên bản tin cậy cho cỗ máy của mình. Dẫu vậy, ý tưởng cốt lõi của ông, được gọi là bánh xe Leibniz, vẫn có sức ảnh hưởng đến các thiết kế máy tính trong suốt thời của Babbage.

Babbage có biết đến các cỗ máy của Pascal và Leibniz, nhưng ông muốn tạo ra một thứ gì đó phức tạp hơn thế. Babbage muốn xây dựng một phương pháp dùng máy cơ để tính toán các hàm logarit, sin, cosin và tang [7]. Để làm được điều này, ông dựa theo một ý tưởng của nhà toán học người Pháp Gaspard de Prony trong những năm 1790. Để lập các bảng hàm logarit và lượng giác, de Prony đã chia các phép toán thành những bước đơn giản chỉ bao gồm phép cộng và phép trừ. Sau đó, ông lại đưa ra các chỉ dẫn dễ hiểu để các nhóm công nhân, những người hầu như không biết về toán học có thể thực hiện được những nhiệm vụ đơn giản này và chuyển tiếp câu trả lời của họ cho nhóm công nhân tiếp theo. Nói cách khác, ông đã tạo ra một dây chuyền lắp ráp, một sáng tạo tuyệt vời của thời đại công nghiệp đã được phân tích một cách ấn tượng trong phần mô tả của Adam Smith về việc phân công lao động ở một nhà máy chế tạo đinh ghim. Babbage biết đến phương pháp này của de Prony trong một chuyến đi đến Paris, khi trở về, ông viết: “Đột nhiên tôi nghĩ đến ý tưởng áp dụng phương pháp tương tự vào công trình lớn lao mà tôi đang trăn trở để chế tạo các hàm logarit như nhà máy chế tạo những chiếc đinh ghim vậy.”

Babbage nhận ra rằng ngay cả các bài toán phức tạp cũng có thể được chia thành các bước để tính “sai phân hữu hạn” thông qua các phép cộng trừ đơn giản. Ví dụ, để lập bảng các giá trị bình phương 12, 22, 32, 42, … ta có thể liệt kê những số đầu tiên theo thứ tự: 1, 4, 9, 16,… Những số này được xếp vào cột A. Bên cạnh đó, ở cột B, ta có thể tính được sai phân giữa các số đó, trong trường hợp này là 3, 5, 7, 9, … Cột C sẽ liệt kê sai phân giữa từng số trong cột B, tức là 2, 2, 2, 2, … Sau khi được đơn giản hóa như vậy, có thể đảo ngược quá trình này và giao việc cho những người lao động chưa qua đào tạo. Một người sẽ phụ trách nhiệm vụ thêm 2 vào số cuối cùng ở cột B rồi chuyển kết quả sang cho người khác, và người này sẽ cộng kết quả đó vào số cuối cùng ở cột A, như vậy sẽ tạo ra số tiếp theo trong dãy các số chính phương.

Babbage đã nghĩ ra một cách để cơ khí hóa quá trình này, và ông đặt tên cho nó là Máy Sai phân. Cỗ máy này có thể lập bảng bất kỳ hàm đa thức nào và là một phương pháp kỹ thuật số để giải gần đúng các phương trình vi phân.

Mô hình Máy Sai phân

Mô hình Máy Giải tích

Chiếc máy dệt Jacquard

Bức chân dung Joseph-Marie Jacquard (1752-1834) bằng lụa được dệt từ máy Jacquard.

Cỗ máy đó hoạt động như thế nào? Máy Sai phân sử dụng các trục dọc gắn các ổ đĩa có thể quay đến bất kỳ số nào. Chúng được gắn vào các bánh răng có thể quay được để cộng hoặc trừ số đó vào một ổ đĩa trên trục liền kề. Cỗ máy này còn có thể “lưu trữ” kết quả tạm thời trên một trục khác. Điều phức tạp nhất ở đây là làm thế nào để “nhớ” và “mượn” khi cần, như khi chúng ta dùng bút để tính các phép tính như 36 + 19 và 42 - 17. Dựa trên các cỗ máy của Pascal, Babbage đã nghĩ ra một vài thiết bị thông minh, cho phép các bánh răng và trục có thể xử lý các phép tính.

Về mặt ý tưởng, cỗ máy này là một kiệt tác đích thực. Babbage thậm chí còn nghĩ ra cách để máy có thể lập một bảng các số nguyên tố lên đến 10 triệu. Chính phủ Anh rất ấn tượng với cỗ máy này, chí ít là lúc đầu. Năm 1823, họ cấp cho ông 1.700 bảng Anh để khởi động dự án, về sau, họ còn rót thêm hơn 17.000 bảng (gấp đôi chi phí chế tạo một chiếc tàu chiến) vào cỗ máy trong suốt thập kỷ mà Babbage đã dành để chế tạo nó. Nhưng dự án gặp phải hai vấn đề: Thứ nhất, Babbage và kỹ sư mà ông tuyển dụng không đủ kỹ năng để vận hành cỗ máy; thứ hai, ông bắt đầu mơ tưởng đến một thứ khác tốt hơn.

Ý tưởng mới của Babbage được hình thành vào năm 1834. Đó sẽ là một chiếc máy tính đa năng có thể thực hiện nhiều chức năng khác nhau dựa trên các câu lệnh đã được lập trình sẵn. Nó có thể thực hiện một tác vụ, sau đó được chuyển sang thực hiện một tác vụ khác. Nó thậm chí có thể tự ra lệnh cho mình chuyển đổi giữa các tác vụ – tức là thay đổi “cách thức hoạt động” theo giải thích của Babbage – dựa trên những tính toán bên trong của mình. Babbage gọi tên chiếc máy dự kiến này là Máy Giải tích. Ông đã đi trước thời đại mình cả trăm năm.

Máy Giải tích là sản phẩm từng được Ada Lovelace gọi là “Khả năng Kết hợp” trong bài viết về trí tưởng tượng. Babbage đã kết hợp các phát minh xuất hiện trong nhiều lĩnh vực khác, một mẹo thường thấy ở nhiều nhà phát minh lớn. Ban đầu, ông dùng một chiếc trống kim loại gắn những chiếc que nhọn để kiểm soát việc xoay của các trục. Thế nhưng sau đó, giống như Ada, ông nghiên cứu kỹ lưỡng chiếc máy dệt tự động do một người Pháp có tên Joseph-Marie Jacquard phát minh vào năm 1801 – chiếc máy đã làm thay đổi cả ngành dệt. Những chiếc máy dệt tạo nên hoa văn cho vải bằng cách sử dụng những chiếc móc để nhấc một số sợi dọc lên, sau đó một chiếc que sẽ luồn sợi ngang xuống phía dưới. Jacquard đã nghĩ ra phương pháp dùng các tấm thẻ đục lỗ để điều khiển quá trình này. Các lỗ sẽ quyết định ở mỗi lần dập máy, móc và que nào sẽ được kích hoạt, từ đó tự động tạo ra các họa tiết phức tạp. Mỗi lần con thoi được thả ra để tạo một đường sợi mới, một chiếc thẻ đục lỗ sẽ được kích hoạt.

Ngày 30 tháng 6 năm 1836, Babbage đã viết vào cuốn sổ mà ông gọi là “Sổ ghi chép” một ý tưởng mà sau này sẽ trở thành một mốc quan trọng trong thời kỳ tiền sử của máy vi tính: “Giả sử chiếc máy dệt của Jacquard thay thế cho những chiếc trống.” Sử dụng những chiếc thẻ đục lỗ thay cho những chiếc trống thép có nghĩa là có thể đưa vào một số lượng không giới hạn các câu lệnh. Ngoài ra, có thể điều chỉnh chuỗi các tác vụ, khiến cho việc thiết kế một chiếc máy đa năng linh hoạt và có thể lập trình được trở nên dễ dàng hơn.

Babbage mua một bức chân dung của Jacquard để treo ở phòng khách nhà mình. Bức tranh phác họa chân dung nhà sáng chế ngồi trên một chiếc ghế bành, tay cầm một đôi thước cặp đặt trên các thẻ đục lỗ hình chữ nhật, đằng sau là chiếc máy dệt. Babbage mua vui cho các vị khách của mình bằng cách hỏi họ đoán xem bức tranh làm bằng chất liệu gì, và hầu hết mọi người đều nghĩ đây là một tuyệt phẩm chạm khắc. Sau đó, ông mới tiết lộ rằng nó thật ra là một tấm thảm lụa mịn dệt từ 24.000 hàng chỉ, mỗi hàng do một thẻ đục lỗ điều khiển. Khi Hoàng thân Albert, phu quân của Nữ hoàng Victoria đến dự một trong những bữa tiệc của Babbage, ông hỏi tại sao Babbage lại có hứng thú với tấm thảm này, Babbage trả lời: “Nó sẽ hỗ trợ rất nhiều cho việc giải thích bản chất cỗ máy tính của tôi – chiếc Máy Giải tích.”

Tuy nhiên, rất ít người nhận ra vẻ đẹp của cỗ máy mới mà Babbage đề xuất. Chính phủ Anh cũng không có ý định tài trợ cho nó. Tuy đã rất cố gắng, song Babbage hầu như cũng không gây được sự chú ý gì nhiều trong cả giới báo chí bình dân lẫn các tạp chí khoa học.

Nhưng ông vẫn tìm được một người tin mình. Ada Lovelace đánh giá cao ý tưởng về một chiếc máy đa năng. Quan trọng hơn, cô còn hình dung ra một thuộc tính có thể khiến nó trở thành một điều tuyệt diệu: Nó không những có thể xử lý các con số mà còn có thể xử lý bất kỳ ký hiệu nào, bao gồm cả ký hiệu trong âm nhạc và nghệ thuật. Cô nhận ra sự thi vị trong một ý tưởng như vậy, và quyết tâm khích lệ người khác cùng nhận thấy điều đó.

Cô đã gửi hàng loạt bức thư cho Babbage, trong đó có những bức có giọng điệu khá xấc xược, dù Babbage lớn hơn cô đến 24 tuổi. Trong một bức thư, cô miêu tả một trò chơi với 26 viên bi. Mục tiêu của trò chơi này là thực hiện các bước nhảy để cuối cùng chỉ còn lại một viên bi duy nhất. Cô đã chơi thành thục trò này nhưng muốn rút ra một “công thức toán học… để từ đó xây dựng nên cách giải, đồng thời có thể đưa công thức này vào một thứ ngôn ngữ ký hiệu”. Sau đó, cô đặt câu hỏi: “Tôi có giàu trí tưởng tượng quá so với ông không? Tôi nghĩ là không.”

Mục đích của cô là được làm việc cùng với Babbage trên cương vị đối tác truyền thông và cộng sự của ông để tranh thủ sự ủng hộ xây dựng cỗ Máy Giải tích. Đầu năm 1841, trong một bức thư gửi ông, cô viết: “Tôi nóng lòng muốn được nói chuyện với ông. Tôi sẽ cho ông gợi ý về điều mà tôi muốn nói. Tôi nghĩ rằng vào thời điểm nào đó trong tương lai… trí não của tôi có thể sẽ do ông tạo ra, và tuân theo một vài mục đích cũng như kế hoạch của ông. Nếu tôi có thể hữu ích hay có thể để ông sử dụng, thì đấy, trí não của tôi sẽ thuộc về ông.”

Một năm sau, một cơ hội trời cho xuất hiện.

Những phụ chú của nữ Bá tước Lovelace

Trong quá trình tìm kiếm người ủng hộ Máy Giải tích, Babbage đã nhận lời đến trình bày trước Hội nghị các Nhà Khoa học Ý ở Turin. Ông đã thu hút sự quan tâm của một kỹ sư quân đội trẻ tuổi, đại úy Luigi Menabrea, người sau này sẽ trở thành Thủ tướng Ý. Tháng 10 năm 1842, với sự giúp đỡ của Babbage, Menabrea xuất bản một bài báo bằng tiếng Pháp mô tả chi tiết về cỗ máy.

Một người bạn gợi ý Ada dịch lại bài báo của Menabrea cho tờ Scientific Memoirs, một tạp chí xuất bản định kỳ chuyên đăng tải các bài viết khoa học. Đây là cơ hội để cô hỗ trợ Babbage và thể hiện tài năng của mình. Sau khi hoàn thành, cô báo tin cho Babbage biết. Ông hết sức vui mừng song cũng có phần ngạc nhiên. Ông kể lại: “Tôi hỏi tại sao cô ấy không tự viết một bài về chủ đề mà mình đã hết sức quen thuộc.” Đáp lại, cô nói mình chưa từng nghĩ đến việc đó. Thời ấy, phụ nữ thường không xuất bản các bài viết khoa học.

Babbage đã gợi ý cô nên bổ sung một số ghi chú vào bài viết của Menabrea và ý kiến này đã được cô hưởng ứng nhiệt tình. Cô bắt tay vào viết một phần có tên Notes by the Translator (Những phụ chú của người phiên dịch) và nó được hoàn thành với 19.136 từ, dài gấp đôi bài viết gốc của Menabrea. Phụ chú được đứng tên “A.A.L” – viết tắt của Augusta Ada Lovelace – không lâu sau nó trở nên nổi tiếng hơn cả bài báo gốc, và nó giúp cô trở thành một nhân vật biểu tượng trong lịch sử tin học.

Khi Ada viết những phụ chú tại điền trang của mình ở Surrey vào mùa hè năm 1843, cô và Babbage đã trao đổi rất nhiều thư từ qua lại, và đến mùa thu năm đó, hai người lại có vô số cuộc gặp gỡ sau khi cô trở về nhà ở London. Một cuộc tranh cãi nhỏ liên quan đến chuyên môn và giới tính đã diễn ra xoay quanh chủ đề về mức độ đóng góp của mỗi người. Trong hồi ký của mình, Babbage đã ghi nhận phần lớn công lao cho cô: “Chúng tôi đã bàn luận về phần minh họa để đưa vào giới thiệu, trong đó tôi có đề xuất một số, nhưng sự lựa chọn hoàn toàn do cô ấy quyết định. Đối với việc dùng đại số để giải các bài toán cũng vậy, ngoại trừ những phần liên quan đến số Bernoulli mà tôi đã đề nghị được đỡ phần việc rắc rối đó cho phu nhân Lovelace. Cô ấy đã gửi lại phần đó để tôi sửa vì phát hiện ra một sai lầm nghiêm trọng mà tôi mắc phải trong quá trình thực hiện.”

Trong Phụ chú, Ada phân tích về bốn khái niệm mà âm hưởng của chúng còn vang đến một thế kỷ sau, khi máy vi tính cuối cùng cũng được ra đời. Khái niệm đầu tiên là về một chiếc máy đa năng không những có thể thực hiện một tác vụ đã cài đặt sẵn, mà còn có thể lập trình và tái lập trình để thực hiện một số lượng không giới hạn các tác vụ khả biến khác. Nói cách khác, cô đã hình dung về chiếc máy vi tính hiện đại. Khái niệm này là trọng tâm của Phụ chú A, phần chỉ ra sự khác biệt giữa Máy Sai phân đầu tiên của Babbage và Máy Giải tích mới mà ông đề xuất. Trước tiên, cô giải thích rằng mục đích của cỗ máy là tính toán các bảng hàng hải: “Hàm số có phần tích phân mà Máy Sai phân được xây dựng để lập bảng là ∆7ux = 0. Ngược lại, Máy Giải tích không chỉ đơn thuần được dùng để lập bảng các kết quả cho một hàm cụ thể nào, mà là để phát triển và lập bảng cho bất kỳ hàm nào.”

Cô viết rằng điều này được thực hiện nhờ “việc vận dụng nguyên lý mà Jacquard đã lập ra để xếp đặt, thông qua phương tiện là các thẻ đục lỗ, các họa tiết phức tạp nhất trong việc sản xuất ra những loại vải dệt.” Ada còn nhận ra tầm quan trọng của việc này hơn cả Babbage. Nó đồng nghĩa với chiếc máy có thể giống với loại máy vi tính mà chúng ta quen thuộc ngày nay: một chiếc máy không chỉ đơn thuần thực hiện một nhiệm vụ số học cụ thể mà còn có thể là một chiếc máy đa năng. Cô giải thích:

Các giới hạn về số học đã bị phá vỡ ngay khi ý tưởng sử dụng những tấm thẻ xuất hiện. Máy Giải tích không đứng chung hàng với những “cỗ máy tính toán” đơn thuần. Nó có một vị trí riêng của mình. Khi tạo ra một cơ chế có thể kết hợp những ký hiệu tổng quát trong những chuỗi đa dạng với quy mô không giới hạn, tức là ta đã thiết lập được một liên kết hợp nhất giữa những hoạt động vật chất với các quá trình trí tuệ trừu tượng.

Tuy những câu chữ trên có phần vụn vặt, nhưng chúng xứng đáng được đọc một cách cẩn thận. Chúng miêu tả đặc tính cơ bản của những chiếc máy vi tính hiện đại. Và Ada đã làm sinh động khái niệm đó bằng những diễn đạt hoa mỹ nên thơ. Cô viết: “Máy Giải tích dệt nên các họa tiết đại số, giống như chiếc máy Jacquard dệt nên các họa tiết hoa lá.” Khi đọc Phụ chú A, Babbage rất thích thú và không hề sửa chữa gì. Ông yêu cầu: “Xin đừng thay đổi nó.”

Khái niệm đáng chú ý thứ hai của Ada xuất phát từ những mô tả này về chiếc máy đa năng. Cô nhận ra rằng các hoạt động của nó không nhất thiết chỉ giới hạn trong toán học và các con số. Dựa trên phần mở rộng của de Morgan về đại số sang logic hình thức, cô chỉ ra rằng một chiếc máy giống như Máy Giải tích có thể lưu trữ, thao tác, xử lý và thực hiện bất cứ điều gì có thể được truyền đạt bằng các ký hiệu như: các từ, logic và âm nhạc.

Để giải thích khái niệm này, cô đã cẩn thận định nghĩa một thao tác máy vi tính là gì: “Có thể lý giải một cách thỏa đáng rằng với từ ‘thao tác’, chúng tôi muốn chỉ đến bất kỳ quá trình nào làm thay đổi mối tương quan của hai hay nhiều thứ, bất kể đó là loại quan hệ gì.” Cô cho biết, một thao tác máy vi tính có thể thay đổi mối quan hệ không chỉ giữa các con số mà còn giữa bất kỳ những ký hiệu nào có quan hệ logic với nhau. “Ngoài các con số, nó còn có thể tác động đến những thứ khác, nếu các đối tượng có mối tương quan cơ bản có thể được biểu diễn bằng các đối tượng khoa học trừu tượng của các thao tác.” Về lý thuyết, Máy Giải tích thậm chí còn có thể thực hiện các thao tác trên các ký hiệu âm nhạc: “Giả sử những mối quan hệ cơ bản của các âm thanh trầm bổng trong khoa học hòa âm và sáng tác âm nhạc có thể tuân theo những cách thể hiện và phối hợp như vậy, thì khi đó cỗ máy có thể soạn được những đoạn nhạc đầy công phu và mang tính khoa học ở bất kỳ độ phức tạp nào.” Nó chính là khái niệm “nền khoa học nên thơ” đậm chất Ada: một bản nhạc công phu và khoa học được sáng tác bởi một chiếc máy! Cha cô hẳn cũng phải rùng mình.

Nhận thức này sẽ trở thành tư tưởng cốt lõi của thời đại kỹ thuật số: bất kỳ nội dung, dữ liệu hoặc thông tin dạng nào – âm nhạc, văn bản, hình ảnh, số, ký hiệu, âm thanh, video – đều có thể được biểu diễn dưới dạng kỹ thuật số và được thao tác bởi máy móc. Ngay cả Babbage cũng không thể bao quát điều này một cách đầy đủ, bởi ông chỉ tập trung vào các con số. Nhưng Ada nhận thấy rằng các chữ số trên các bánh răng có thể đại diện cho những thứ khác ngoài các định lượng toán học. Như vậy, cô đã thực hiện một bước nhảy vọt về mặt nhận thức từ những chiếc máy tính toán đơn thuần sang những chiếc máy mà ngày nay chúng ta gọi là máy vi tính. Doron Swade, một sử gia máy vi tính chuyên nghiên cứu những cỗ máy của Babbage, đã tuyên bố đây là một trong những di sản mang tính lịch sử của Ada. Ông cho biết: “Nếu chúng ta tìm kiếm và sàng lọc lịch sử cho bước ngoặt đó thì bước ngoặt này rõ ràng đã được Ada thực hiện trong bài viết năm 1843 của mình.”

Đóng góp thứ ba của Ada, trong bản phụ chú cuối cùng mang tên Phụ chú G, là chỉ ra chi tiết từng bước một về hoạt động của cái mà ngày nay chúng ta gọi là một chương trình máy vi tính (hay một thuật toán). Ví dụ được cô sử dụng là một chương trình để tính các số Bernoulli [8], một dãy số vô hạn cực kỳ phức tạp, dưới nhiều dạng khác nhau, các số này giữ một vai trò quan trọng trong lý thuyết về số.

Để chỉ ra cách tạo số Bernoulli của Máy Giải tích, Ada đã mô tả một chuỗi các phép tính, sau đó vẽ biểu đồ trình bày cách mã hóa từng phép tính vào máy. Trong quá trình thực hiện việc này, cô đồng thời đã góp phần đưa ra các khái niệm về những chương trình con (một chuỗi các câu lệnh thực hiện một tác vụ cụ thể, chẳng hạn như tính cosin hay tính lãi kép, và chúng có thể được nhúng vào một chương trình lớn hơn khi cần thiết) và một vòng lặp đệ quy (một chuỗi các câu lệnh có thể tự lặp lại chính nó) [9]. Có thể thực hiện các việc trên bằng cơ cấu dùng thẻ đục lỗ. Cô lý giải rằng cần có 75 thẻ đục lỗ để tạo ra một con số, và sau đó quá trình này được lặp đi lặp lại để con số đó được đưa trở lại vào quá trình trên nhằm tạo ra số tiếp theo. Ada viết: “Rõ ràng chính 75 thẻ biến số đó có thể sẽ được lặp lại để tính toán mọi số tiếp theo.” Cô đã hình dung ra một thư viện các chương trình con được sử dụng thường xuyên, thứ mà những người thừa kế trí tuệ của cô, bao gồm những phụ nữ như Grace Hopper tại Harvard và Kay McNulty, Jean Jennings tại Đại học Pennsylvania, sẽ tạo ra vào một thế kỷ sau đó. Ngoài ra, vì cỗ máy của Babbage còn có thể thực hiện việc nhảy tới và lui trong một chuỗi các thẻ chứa câu lệnh dựa trên các kết quả trung gian mà nó tính được, do đó nó đã đặt nền móng cho cái mà ngày nay chúng ta gọi là rẽ nhánh có điều kiện, tức là tự chuyển sang một nhánh câu lệnh khác nếu thỏa mãn các điều kiện cụ thể nào đó.

Babbage đã giúp Ada tính toán các số Bernoulli, song các bức thư cho thấy cô cũng tham gia sâu vào việc thực hiện chi tiết. Vào tháng 7, chỉ vài tuần trước khi bản dịch và các phụ chú đến hạn gửi in, cô viết thư cho Babbage: “Tôi đã kiên trì lao vào và sàng lọc cho đến cùng mọi phương pháp để suy ra các số Bernoulli. Tôi rất buồn khi bị mắc kẹt vào bãi lầy và sự phiền toái với những con số này, đến nỗi tôi không thể hoàn thành công việc trong ngày hôm nay… Tôi đang rơi vào một trạng thái rối trí khó cưỡng lại được.”

Khi những rắc rối đó được giải quyết, cô bổ sung thêm một đóng góp nữa, và đóng góp này phần lớn là công lao của cô: một bảng và một biểu đồ thể hiện chính xác từng bước cách đưa thuật toán vào máy vi tính, bao gồm hai vòng lặp đệ quy. Đó là một danh sách được đánh số thứ tự các câu lệnh, bao gồm các thanh ghi đích, các phép toán, và các chú thích – thứ có lẽ là quen thuộc với những nhà lập trình C++ ngày nay. Cô viết cho Babbage: “Tôi đã làm việc liên tục cả ngày và rất thành công. Ông sẽ vô cùng thích thú Bảng và Biểu đồ này, vì chúng đã được thực hiện hết sức cẩn thận.” Khi nghiên cứu tất cả các bức thư trao đổi, có thể thấy rõ rằng cô đã tự mình lập nên bảng đó; sự hỗ trợ duy nhất là từ chồng cô, một người không am hiểu về toán học nhưng vẫn sẵn lòng chép lại cẩn thận bằng bút mực những gì cô đã hoàn thành bằng bút chì. Cô viết cho Babbage: ”Hiện giờ, Bá tước Lovelace đang có lòng tốt viết lại tất cả bằng bút mực giúp tôi. Tôi đã phải làm bằng bút chì.”

Chủ yếu dựa trên cơ sở biểu đồ này, cùng với quá trình phức tạp để suy ra các số Bernoulli, Ada đã được những người hâm mộ vinh danh là “nhà lập trình máy vi tính đầu tiên trên thế giới”. Hơi khó để biện hộ, vì ít nhất về mặt lý thuyết, Babbage đã nghĩ ra hơn 20 cách giải thích về các quá trình cỗ máy trên có thể thực hiện. Nhưng không một giải thích nào trong số đó được công bố và cũng không có mô tả rõ ràng về phương thức trình tự hoạt động. Vì vậy, có thể công bằng mà nói rằng thuật toán và những mô tả lập trình chi tiết để tạo ra các số Bernoulli là chương trình máy vi tính đầu tiên được công bố. Và tên họ viết tắt ở cuối ấn phẩm này là của Ada Lovelace.

Trong Phụ chú, Ada còn đưa ra một khái niệm quan trọng khác, gợi cho câu chuyện về Frankenstein mà Mary Shelley viết khi bà cùng chồng trải qua kỳ nghỉ cuối tuần cùng Huân tước Byron. Khái niệm này đặt ra điều mà tới tận ngày nay vẫn còn là một chủ đề siêu hình hấp dẫn nhất liên quan đến máy vi tính, đến trí tuệ nhân tạo: Liệu máy móc có thể tư duy?

Ada tin là không thể. Cô khẳng định rằng một cỗ máy giống như cỗ máy của Babbage có thể thực hiện các hoạt động khi được ra lệnh, tuy nhiên nó không thể tự nghĩ ra các ý tưởng hay có các ý định riêng của mình. Cô viết trong Phụ chú: “Máy Giải tích không có ý định khởi tạo ra bất kỳ thứ gì. Nó có thể làm bất cứ điều gì nếu chúng ta biết cách ra lệnh cho nó thực hiện. Nó có thể thực hiện các phân tích, nhưng nó không hề có năng lực dự đoán bất kỳ mối liên hệ mang tính phân tích hay chân lý nào cả.” Một thế kỷ sau, lời khẳng định này sẽ được nhà tiên phong về máy vi tính Alan Turing đặt tên là “Sự phản bác của Phu nhân Lovelace” (Chương 3).

Ada muốn công trình của mình được nhìn nhận là một công trình khoa học nghiêm túc chứ không đơn thuần chỉ là một bài viết vận động công chúng, vì vậy ngay ở phần mở đầu của Phụ chú, cô đã khẳng định rằng cô sẽ “không nêu quan điểm” về thái độ do dự của chính phủ trong việc tiếp tục tài trợ cho các nỗ lực của Babbage. Điều này khiến Babbage không hài lòng. Ông đã viết một bài dài để công kích chính phủ. Ông muốn Ada bổ sung bài viết này vào Phụ chú, nhưng không đề tên ông, coi như đây là quan điểm của cô. Tuy nhiên, Ada đã từ chối. Cô không muốn công trình của mình bị dung hòa.

Babbage đã trực tiếp gửi phần bổ sung của mình tới tạp chí Scientific Memoirs mà không hề thông báo cho Ada. Các biên tập viên của tờ tạp chí này quyết định đăng riêng nó và đề nghị ông nên “can đảm” ký tên thật. Babbage có thể là người dễ mến khi ông muốn thế, nhưng giống như hầu hết các nhà phát minh, đôi khi ông cũng có thể trở nên cáu bẳn, ngang bướng và cố chấp. Kiến nghị của các biên tập viên khiến ông tức giận. Ông viết thư cho Ada yêu cầu cô rút lại bài viết của mình. Lúc này, lại đến lượt Ada nổi giận. Cô viết thư cho ông với cách xưng hô thường thấy giữa các quý ông: “Thưa ngài Babbage đáng kính của tôi, việc rút lại bản dịch và Phụ chú là một việc làm đáng hổ thẹn và vô lý.” Cô kết thúc bức thư bằng câu: “Hãy yên tâm rằng tôi là người bạn tốt nhất của ngài, nhưng tôi không bao giờ có thể hay sẵn lòng ủng hộ ngài hành động theo những nguyên tắc mà tôi cho rằng không chỉ sai lầm mà còn là tự sát.”

Babbage nhượng bộ và đồng ý đăng riêng bài viết của mình trong một số khác. Hôm đó, Ada đã phàn nàn với mẹ:

Con đã bị làm phiền và bị ép buộc theo một cách rất khó hiểu bởi cách hành xử của ngài Babbage… Con rất lấy làm tiếc khi phải đưa ra kết luận rằng ông ấy là một trong những người khó giao du, ích kỷ và quá đáng nhất mà con biết… Con đã tuyên bố thẳng với Babbage rằng không có một sức mạnh nào có thể buộc con phải dính dáng vào các cuộc cãi cọ của ông ấy hay trở thành công cụ phát ngôn của ông ấy… Ông ấy đã rất giận dữ. Con thì không hề khoan nhượng và bình tĩnh.

Phản ứng của Ada đối với cuộc tranh cãi này là một bức thư kỳ quặc dài 16 trang, tràn đầy sự giận dữ gửi tới Babbage, qua đó thể hiện một cách sống động tính khí thất thường, sự hân hoan, những ảo tưởng và cả niềm đam mê của cô. Cô tán dương và mắng mỏ ông, ca ngợi và phỉ báng ông. Có chỗ cô so sánh các động cơ của họ: “Nguyên tắc không thỏa hiệp của tôi là phải đặt tình yêu sự thật và Chúa lên trước danh vọng và vinh quang. Nguyên tắc của ông là yêu sự thật và Chúa; nhưng ông còn yêu danh vọng, vinh quang và thanh danh hơn thế.” Cô khẳng định rằng cô coi sự nổi tiếng chắc chắn sẽ đến của mình mang bản chất cao quý: “Tôi muốn góp sức mình để diễn giải Đấng Toàn năng và các luật lệ của Người… Nếu có thể trở thành một trong những nhà tiên tri xuất sắc nhất của Người, tôi sẽ xem đó là một vinh quang không nhỏ.”

Sau khi đưa ra mọi lý lẽ, Ada đề xuất với ông một thỏa thuận: hai người nên phát triển mối quan hệ cộng tác cả về công việc kinh doanh lẫn chính trị. Cô sẽ vận dụng các mối quan hệ và ngòi bút đầy sức thuyết phục của mình để hỗ trợ nỗ lực xây dựng Máy Giải tích của ông nếu – và chỉ nếu – ông để cô kiểm soát mọi quyết định kinh doanh của ông. Ada viết: “Ông là lựa chọn đầu tiên mà tôi ngỏ ý muốn được cống hiến cả công sức và trí tuệ của mình. Đừng khinh suất mà từ chối chúng.” Bức thư có những đoạn nghe giống một bản ghi các điều khoản đầu tư mạo hiểm hay một thỏa thuận tiền hôn nhân, được hoàn thiện bằng khả năng của những quan tòa. Cô viết: “Ông sẽ có nghĩa vụ phải tuân theo toàn bộ những phán đoán của tôi (hay của bất kỳ ai mà lúc này ông muốn chỉ định làm trọng tài, bất kỳ khi nào chúng ta xảy ra mâu thuẫn) trong mọi vấn đề thực tiễn.” Đổi lại, cô hứa sẽ “trao cho ông những đề nghị rõ ràng và giá trị trong khoảng vài năm để thực hiện cỗ máy của ông”.

Bức thư này có lẽ sẽ khiến người đọc phải ngạc nhiên, bởi nó không hề giống những bức thư khác được Ada viết trước đó. Nó là một minh chứng cho thấy những tham vọng lớn lao của Ada đôi khi đã lấn át cả chính cô như thế nào. Tuy nhiên, cô xứng đáng có được sự tôn trọng trên cương vị một người đã vượt lên trên những kỳ vọng đối với nền tảng xuất thân và giới tính của mình, và bất chấp những rắc rối mà các thành viên ưa dằn vặt trong gia đình mang đến, để cống hiến hết mình cho những kỳ tích toán học phức tạp mà hầu hết chúng ta không bao giờ dám hoặc có thể thử (chỉ riêng các số Bernoulli cũng có thể khiến nhiều người trong chúng ta nản lòng). Những nỗ lực toán học rất ấn tượng và kho kiến thức đầy ắp trí tưởng tượng của Ada diễn ra trong bối cảnh tấn kịch của Medora Leigh cùng hàng loạt chứng bệnh khiến cô phải phụ thuộc vào thuốc phiện, những điều càng làm trầm trọng thêm tính khí thất thường của cô. Cuối bức thư gửi Babbage, cô giải thích: “Bạn thân mến của tôi, nếu ông biết được những điều buồn bã và kinh khủng mà tôi đã và đang trải qua – theo những cách mà ông không thể tưởng tượng nổi – hẳn ông sẽ hiểu rằng phần nào những sự nặng nề trong thư là xuất phát từ tâm trạng của tôi.” Tiếp theo, sau một chút vòng vo để nêu ra một ý kiến nhỏ về việc sử dụng tính toán những sai phân hữu hạn để suy ra các số Bernoulli, cô ngỏ ý xin lỗi vì “lá thư này thật là một vết nhơ đáng buồn” và buồn rầu hỏi, “Liệu ông có muốn giữ lại cô gái bé nhỏ này để phục vụ mình hay không?”

Ada tin tưởng rằng Babbage sẽ chấp nhận đề nghị trở thành đối tác kinh doanh của mình. Cô viết thư cho mẹ: “Ông ấy hiểu rõ lợi ích khi được ngòi bút của con phụng sự nên có lẽ ông ấy sẽ khuất phục, dẫu rằng con yêu cầu những sự nhượng bộ rất lớn. Nếu ông ấy bằng lòng với những đề nghị của con, con sẽ có thể đưa ông ấy ra khỏi những rắc rối và giúp hoàn thiện chiếc máy.” Thế nhưng, Babbage lại nghĩ mình nên từ chối. Ông đến gặp Ada và từ chối tất cả các điều kiện. Và dù không bao giờ hợp tác trong khoa học nữa, mối quan hệ giữa họ vẫn được duy trì. Vào tuần kế tiếp, Ada lại viết thư cho mẹ: “Con nghĩ bây giờ Babbage và con còn là bạn bè thân thiết hơn bao giờ hết.” Tháng sau đó, Babbage cũng đồng ý đến thăm điền trang của cô và trong một bức thư gửi cho cô, ông thân mật gọi cô là “Phù thủy của các con số” và “Người Thông dịch thân mến và đáng ngưỡng mộ của tôi”.

Cũng trong tháng 9 năm 1843, cuối cùng bản dịch và Phụ chú của cô cũng xuất hiện trên Scientific Memoirs. Cô nhận được vô số lời khen ngợi từ bạn bè, và cô đã có thể tin rằng, giống như người hướng dẫn của mình là Mary Somerville, cô sẽ được giới khoa học và văn học nhìn nhận nghiêm túc. Bài viết này cuối cùng đã khiến cô cảm thấy mình như “một con người hoàn toàn chuyên nghiệp. Tôi thực sự đã có sự gắn bó với một nghề nghiệp hệt như ngài rồi”, cô viết thư cho một luật sư.

Điều đó không thành hiện thực. Babbage không có thêm kinh phí dành cho những chiếc máy của mình, chúng không bao giờ được hoàn thành, còn ông thì chết trong nghèo khó. Về phần phu nhân Lovelace, cô không xuất bản một bài viết khoa học nào khác nữa. Thay vào đó, cuộc đời của cô cũng bắt đầu xuống dốc. Cô trở thành một kẻ nghiện cờ bạc và thuốc phiện. Sau đó, cô có quan hệ tình cảm với một người bạn cờ bạc. Gã đã tống tiền cô, buộc cô phải mang đồ trang sức của gia đình đi cầm cố. Trong năm cuối cùng của cuộc đời, cô vật vã, đau đớn chống chọi với căn bệnh ung thư tử cung và liên tục bị xuất huyết. Năm 1852, cô qua đời ở tuổi 36. Theo một nguyện vọng cuối đời của mình, cô được an táng ở miền quê, bên cạnh người cha thi sĩ mà cô chưa từng biết mặt, người cũng qua đời ở cùng độ tuổi với cô.

Cuộc Cách mạng Công nghiệp được đặt cơ sở trên hai khái niệm vĩ đại mà sâu sắc bởi sự đơn giản của chúng. Các nhà sáng chế đã nghĩ ra nhiều cách thức để đơn giản hóa những nỗ lực của mình bằng việc chia chúng ra thành những nhiệm vụ nhỏ và dễ dàng hơn để có thể thực hiện trên các dây chuyền lắp ráp. Sau đó, khởi đầu từ ngành công nghiệp dệt, các nhà sáng chế đã tìm ra cách cơ giới hóa các khâu để có thể thực hiện bằng máy móc, phần nhiều trong số đó chạy bằng những động cơ hơi nước. Dựa trên các ý tưởng của Pascal và Leibniz, Babbage đã cố gắng vận dụng hai quá trình này vào việc tính toán, tạo ra một phiên bản cơ cho máy vi tính hiện đại. Bước nhảy vọt về mặt nhận thức quan trọng nhất của ông là ở chỗ những chiếc máy như vậy không nhất thiết chỉ có thể được thiết lập để thực hiện một quá trình duy nhất, mà chúng có thể được lập trình và tái lập trình thông qua việc sử dụng các thẻ đục lỗ. Ada nhận ra vẻ đẹp và tầm quan trọng của ý tưởng thú vị này, và cô cũng mô tả một ý tưởng còn hấp dẫn hơn bắt nguồn từ đó: những chiếc máy như vậy có thể xử lý không chỉ các con số mà bất cứ thứ gì có thể được biểu diễn bằng những ký hiệu.

Qua nhiều năm, Ada Lovelace đã được tôn vinh như một biểu tượng nữ quyền và như một người tiên phong trong lĩnh vực máy vi tính. Chẳng hạn, Bộ Quốc phòng Mỹ đã đặt tên cho ngôn ngữ lập trình hướng đối tượng bậc cao của họ là Ada. Tuy nhiên, bà cũng bị chỉ trích là ảo tưởng, phù phiếm và chỉ là một người đóng góp ít ỏi vào bản Phụ chú mang tên viết tắt của bà. Như chính bà đã viết trong Phụ chú, phần nói về Máy Giải tích nhưng bằng những ngôn từ phần nào cho thấy danh tiếng không ổn định của bà: “Với bất kỳ chủ đề mới nào, chúng ta thường có xu hướng, trước tiên là đánh giá quá cao những gì chúng ta thấy thú vị hay đáng chú ý; và rồi tiếp theo, như một phản ứng tự nhiên, lại hạ thấp giá trị thực sự của chủ đề đó.”

Trên thực tế, những đóng góp của Ada vừa sâu sắc lại vừa đầy cảm hứng. Hơn cả Babbage hay bất kỳ cá nhân nào khác trong thời đại của mình, bà đã nhìn thấy trước một tương lai trong đó máy móc sẽ trở thành đối tác của trí tưởng tượng con người, cùng con người dệt nên những tấm thảm đẹp như những sản phẩm được tạo ra từ chiếc máy dệt Jacquard. Sự trân trọng nền khoa học nên thơ đã khiến bà ca tụng một chiếc máy tính toán đã bị nền khoa học chính thống đương thời bác bỏ, và bà đã hiểu có thể vận dụng sức mạnh xử lý của một thiết bị như vậy đối với bất kỳ dạng thông tin nào. Như vậy, Ada, Nữ bá tước xứ Lovelace đã góp phần gieo những hạt giống cho một thời đại kỹ thuật số sẽ đơm hoa kết trái sau đó 100 năm.

Vannevar Bush (1890-1974), và chiếc Máy Phân tích Vi sai của ông tại Viện Công nghệ Massachusetts.

Alan Turing (1912-1954), tại Trường Sherborne năm 1928.

Claude Shannon (1916-2001) năm 1951.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.